1. Trang chủ
  2. » Tất cả

THI HÀNH án dân sự tuấn

15 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 676,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Bài thi hết học phần HỌ TÊN BÙI ANH TUẤN MSSV 060 LỚP VB1K3 MỞ ĐẦU Việc công tác thi hành án được quy định chi tiết và c[.]

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN:

LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Bài thi hết học phần

HỌ TÊN : BÙI ANH TUẤN

MSSV : 060

LỚP : VB1K3

Trang 2

MỞ ĐẦU

Việc công tác thi hành án được quy định chi tiết và cụ thể trong Luật Thi hành án dân sự đã tạo ra một khung pháp lý quan trọng để việc thi hành án được thi hành một cách nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Một trong các thay đổi giúp Luật thi hành án dân sự phát huy được vai trò của mình đó là quy định thêm các biện pháp bảo đảm Vậy để tìm hiểu rõ hơn các quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành về nguyên tắc thỏa thuận trong thi hành án dân sự, về thẩm quyền thi hành án dân dự, về thời hiệu thi hành án dân sự, em đã chọn nghiên cứu về đề tài này cho bài tiểu luận của mình

I Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành về nguyên tắc thỏa thuận trong thi hành án dân sự

 Chủ thể có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự

Điều 6 Luật Thi hành án dân sự chỉ quy định “đương sự” có quyền thỏa thuận thi hành án, trong khi theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thi hành án dân sự thì đương sự bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án Điều này đồng nghĩa với việc chỉ có người được thi hành án và người phải thi hành án là có quyền thỏa thuận thi hành

án Trong khi đó, khoản 2, 3 điều 3 Luật thi hành án năm 2014 lại quy định, người được thi hành và người phải thi hành án là các cá nhân, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích hoặc phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành

Như vậy, có thể kết luận, đối tượng có thể thực hiện thỏa thuận thi hành án bao gồm: những cá nhân, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích hoặc phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành

 Nội dung của các quy định về thỏa thuận thi hành án

a Quy định về nguyên tắc thỏa thuận thi hành án dân sự

Theo Điều 6 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì các đương sự có quyền thoả thuận về việc THA, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm pháp luật và không trái đạo đức xã hội Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ - CP quy định thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí

Trang 3

THA thì Chấp hành viên, thừa phát lại có quyền từ chối nhưng phải lập biên bản và nêu rõ

lý do Do đó, nguyên tắc thỏa thuận THADS của đương sự được quy định như sau:

Thứ nhất, thỏa thuận TNADS là sự tự nguyện của các bên nhằm mục đích thi hành bản án, quyết định dân sự đã tuyên Khi THA, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận với nhau có nghĩa là các đương sự đã tự lựa chọn, quyết định thực hiện bản án, quyết định dân sự bằng cách hòa giải và thương lượng với nhau Khi thỏa thuận, người phải THA và người được THA và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gặp gỡ, trao đổi một cách

tự nguyện Mặt khác, trong quá trình thỏa thuận, các bên đều có quyền bình đẳng đưa ra những quan điểm để giải quyết vấn đề một cách hợp lý Các bên có thể trao đổi, thể hiện ý chí của mình một cách trung thực, thẳng thắn và hợp tác Các hành vi lừa dối, ép buôc, dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực là không thể chấp nhận được trong khi thỏa thuận THA Hay nói cách khác, việc thỏa thuận THADS của các đương sự chỉ được công nhận nếu sự thỏa thuận xuất phát từ ý chí tự nguyện

Thứ hai, khi các đương sự thỏa thuận với nhau thì theo quy định tại Điều 6 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP thì nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Quy định này của LTHADS hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật dân sự Tại điểm b khoản 1 Điều 122 BLDS năm 2005 và điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS năm 2015 quy định một trong những điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật là: “Mục đích

và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội” Pháp luật là quy tắc xử sự do Nhà nước đặt ra nhằm bắt buộc mọi công dân phải tuân thủ Pháp luật nước ta được xây dựng trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân Hệ thống các quy phạm pháp luật chính là hành lang pháp lý để bảo đảm tính hợp pháp trong hoạt động của mỗi công dân

Vì vậy, mọi sự thỏa thuận của các đương sự trong THADS không vi phạm điều cấm của pháp luật là một nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định

Sự tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt buộc trong đời sống xã hội cho nên mọi thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật đều không có giá trị pháp lý Đạo đức là giá trị tinh thần được hình thành theo thời gian, được mọi người thừa nhận và tự nguyện thực hiện Đạo

Trang 4

đức được điều chỉnh bằng lương tâm mỗi người và bằng dư luận xã hội Đạo đức giúp cho mỗi người có một cơ sở để lựa chọn sự chuẩn mực trong hành vi của mình Do vậy, thỏa thuận của các đương sự trong THADS phải bảo đảm không trái với đạo đức xã hội Nếu thỏa thuận của đương sự trái với đạo đức xã hội thì pháp luật sẽ không thừa nhận những nội dung đó Tuy nhiên, “đạo đức xã hội” là một khái niệm trừu tượng, phụ thuộc vào quan niệm, lối sống của mỗi người và vào điều kiện của từng vùng miền nên để thực hiện không trái với những chuẩn mực đạo đức trên thực tế còn có nhiều vướng mắc

Thứ ba, nguyên tắc thỏa thuận không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ

ba Người thứ ba được hiểu là “người không tham gia hoặc không phải là đại diện tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, nhưng có lợi ích liên quan” Thỏa thuận của các đương

sự được Nhà nước khuyến khích, được cơ quan, tổ chức THADS tạo điều kiện thuận lợi nhưng các đương sự không được lợi dụng để làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba

Nguyên tắc này được thể hiện tại điểm c khoản 1 Điều 50 LTHADS sửa đổi, bổ sung năm 2014 Theo đó, Thủ trưởng cơ quan THADS, trưởng phòng thừa phát lại phải ra

quyết định đình chỉ THADS trong trường hợp: Đương sự có thoả thuận bằng văn bản

hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự không tiếp tục việc thi hành án, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba Ngoài ra, tại khoản 4 Điều 5 NĐ 62/2015/NĐ-CP cũng có

quy định tương tự: Trường hợp thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo

đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí THS thì Chấp hành viên có quyền từ chối nhưng phải lập biên bản và nêu rõ lý do”.

Pháp luật nước ta luôn tôn trọng sự thỏa thuận, tự định đoạt của các đương sự, tuy nhiên, trong quá tình thỏa thuận các bên không được lợi dung nguyên tắc nhân đạo trên của Nhà nước mà có những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba Sự tôn trong, thiện chí là nền tảng cho thành công của quá tình thỏa thuận, đó cũng là yếu tố để các bên đặt lòng tin và cùng nhau giải quyết tranh chấp, hướng tới lợi ích chung của toàn xã hôi, tuyệt đối không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người xung quanh

Trang 5

II Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật thi hành án dân sự hiện hành về thẩm quyền thi hành án dân dự

Các quy định về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008 gồm13/183 điều (Khoản 5 Điều 20, khoản 3 Điều 31, Khoản 2 Điều 45 và 04 điều tại  Mục 1 Chương IV, từ Điều 66 đến Điều 69, Khoản 1 Điều 130, Điểm a, b Khoản

2 Điều 140, Khoản 1 và 2 Điều 146, Điều 175, khoản 2 Điều 176 và Khoản 2 Điều 177)

đã được quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể tại Điều 9, Điều 10, Điều 11 của Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ Qua thực tế thi hành Luật Thi hành án dân sự năm 2008, các Chấp hành viên rất hạn chế áp dụng các biện pháp bảo đảm vì quá trình áp dụng gặp không ít khó khăn, vướng mắc như hình thức áp dụng biện pháp bảo đảm tạm giữ chưa rõ ràng, sự phối hợp hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức thiếu hiệu quả, thời hạn phong tỏa tài sản quá ngắn không  phù hợp với thời hạn tự nguyện thi hành án

Vì thế, nhằm khắc phục các bất cập của Luật Thi hành án dân sự 2008 và thực tiễn tổ chức thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành án, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2014, có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/7/2015 đã sửa đổi, bổ sung 06 Điều liên quan đến biện pháp bảo đảm thi hành

án, cụ thể là Điểm a khoản 1 Điều 7, điểm a khoản 1 Điều 7b, khoản 3 Điều 31, Điều 67, Điều 68 và Điều 69 Vấn đề này đã được hướng dẫn và quy định chi tiết tại 08 điều gồm Điều 13, Điều 15, Điều 18, Điều 19, Điều 20, Điều 23, Điều 34 và Điều 38 của Nghị định

số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.   

Để đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật, cũng như hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác thi hành án dân sự Đặc biệt, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã có hiệu lực thi hành đã thật sự phát huy được hiệu quả tích cực, tạo hành lang pháp lý cho cơ quan thi hành án dân sự, góp phần tích cực trong việc giải quyết việc thi hành án được nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đồng thời Chấp hành viên cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Nhà nước giao, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự

Trang 6

Trình độ dân trí, nền kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng phát triển, vì vậy, tính tất yếu tình trạng tranh chấp dân sự cũng ngày càng gia tăng Ngoài dạng tranh chấp phổ biến là tranh chấp về hợp đồng dân sự thì các tranh chấp đất đai, chia thừa kế, chia tài sản khi ly hôn cũng chiếm một tỷ lệ lớn Do đó, số lượng bản án, quyết định cần phải được thi hành ngày càng nhiều

Trong những năm qua, lãnh đạo, cán bộ, công chức thi hành án dân sự đã nỗ lực phấn đấu để nâng cao kết quả, hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, nhờ đó đã đạt được một số kết quả nhất định Nhìn chung tỷ lệ bản án, quyết định được thi hành xong chiếm một tỷ lệ khá cao Việc tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Để đạt được kết quả này, các Chấp hành viên đã tiến hành hướng dẫn, giáo dục, thuyết phục các bên đương sự tự nguyện thi hành án Tuy nhiên, cũng có rất nhiều trường hợp đương sự không tự nguyện thi hành nên Chấp hành viên phải áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án

Luật Thi hành án dân sự có quy định về các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự cho thấy sự cần thiết và quan trọng của các biện pháp này đối với công tác thi hành án dân

sự nhằm ngăn chặn không cho đương sự tẩu tán tài như phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự; tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, nhằm buộc người phải thi hành án có trách nhiệm trong việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình, làm cho công tác thi hành án ngày càng đạt hiệu quả cao Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành

án ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình thi hành án, ngay cả trong trường hợp chưa xác định được chủ sở hữu của tài sản, khi áp dụng biện pháp bảo đảm Chấp hành viên không cần phải thông báo trước cho đương sự, tránh được việc đương sự có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, góp phần nâng cao tỷ lệ thi hành án trong những năm qua Trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án được quy định trong Luật Thi hành án dân sự nhanh chóng về thời gian, đơn giản về thủ tục tạo thuận lợi cho Chấp hành viên có thể thực hiện ngay việc phong tỏa tài khoản hay tạm giữ tài sản Kịp thời ngăn chặn hành vi hủy hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, đảm bảo cho cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành án trong những

Trang 7

trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án Đối với biện pháp phong tỏa tài khoản, tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản nếu không có thông tin chính xác đầy đủ về chủ tài khoản, chủ sở hữu, sử dụng tài sản thì không thể ra quyết định phong tỏa tài khoản hoặc quyết định tạm dừng việc đăng

ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản hoặc ra quyết định phong tỏa không đúng đối tượng và quyết định này không thể thực hiện được Do đó, khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án thì Chấp hành viên hoặc người yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm cần tiến hành xác minh, thu thập thông tin làm cơ sở cho việc ra quyết định

áp dụng các biện pháp bảo đảm đúng quy định Mặc dù mức độ tác động của bỉện pháp bảo đảm thi hành án không mạnh như biện pháp cưỡng chế nhưng tính chất đe dọa sẽ ảnh hưởng đến uy tín, quyền tài sản, gây áp lực tâm lý của người phải thi hành án, làm cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành giúp cho quá trình thi hành án diễn ra nhanh chóng, thuận lợi Việc giải quyết nhanh gọn, đạt hiệu quả các việc thi hành án thực sự mang ý nghĩa to lớn, tiết kiệm được thời gian, chi phí, công sức; góp phần ổn định quan

hệ xã hội, đồng thời nâng cao ý thức pháp luật của đương sự

Trong quá trình áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án bên cạnh những thuận lợi, còn có một số khó khăn cần được cơ quan có thẩm quyền, sự phối hợp của các ban ngành, Ban Chỉ đạo thi hành án chỉ đạo, hướng dẫn, phối hợp để trong quá trình thi hành án thống nhất và đạt hiệu quả Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm do Chấp hành viên ký trong trường họp cần ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản nhằm trốn tránh việc thi hành án Trường hợp đương sự có đơn yêu cầu thi hành án và đơn yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm thì tại thời điểm này Thủ trưởng cơ quan thi hành án đồng thời là Chấp hành viên ra quyết định thi hành án là người ký quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, sau đó phân cho Chấp hành viên giải quyết việc thi hành án Có trường hợp cho rằng quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án là do Chấp hành viên trực tiếp giải quyết việc thi hành án ký, do đó trường hợp đương sự gửi đơn yêu cầu thi hành án kèm theo yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, sau đó phân công cho Chấp hành viên giải quyết việc thi hành án Chấp hành viên được phân công giải quyết thì sẽ ký quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án Một bản án, quyết định của Tòa án có được thi hành trên thực tế hay không phụ

Trang 8

thuộc rất nhiều vào việc đương sự có điều kiện thi hành án không Tuy nhiên, khi đương

sự có điều kiện thi hành án thì chưa chắc điều kiện đó sẽ được thi hành, nếu pháp luật không có các biện pháp bảo đảm vì họ có thể tẩu tán, hủy hoại tài sản mà họ đang có trước khi Chấp hành viên tiến hành các biện pháp cưỡng chế để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án

Khi áp dụng biện pháp bảo đảm phong tỏa tài khoản, việc thu thập thông tin về tài khoản của người phải thi hành án do người được thi hành án, Chấp hành viên tiến hành việc xác minh gặp nhiều khó khăn do các quy định về bảo mật thông tin khách hàng của

tổ chức tín dụng, ngân hàng, Kho bạc nhà nước Có tổ chức tín dụng, ngân hàng chưa chịu hợp tác trong việc cung cấp thông tin cho người được thi hành án Điều 176 Luật Thi hành án dân sự chỉ quy định trách nhiệm của Kho bạc nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong thi hành án dân sự chứ không quy định cụ thể việc xử lý khi các tổ chức trên không thực hiện trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật

Về thời hạn áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự: Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định về thời hạn áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đối với biện pháp phong tỏa tài khoản thì Khoản 3 Điều

67 Luật Thi hành án dân sự quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phong toả tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa theo quy định của Luật này Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự quy định tại Khoản 5 Điều 68 Luật Thi hành án dân

sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định tại chương IV của Luật này; trường hợp có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án nhưng đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình thì Chấp hành viên phải ra quyết định trả lại tài sản, giấy tờ cho người có quyển tờ hữu, sử dụng Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định tại Chương IV của Luật này; trường hợp có căn cứ xác định tài sản không

Trang 9

thuộc sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải ra quyết định chấm dứt việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Có thể nói, việc quy định thời hạn áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án là cần thiết Sau khi hết thời hạn quy định thì Chấp hành viên buộc phải tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để thi hành án Điều này sẽ đảm bảo việc thi hành án được thực hiện liên tục, nhanh chóng, bảo vệ quyền lợi cho đương sự Tuy nhiên, quy định thời hạn áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án với thời hạn nhất định, không có trường hợp ngoại lệ thì trong một số trường hợp thực tế đã gây ra không ít khó khăn cho Chấp hành viên khi giải quyết việc thi hành án Sau khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án thì trong nhiều trường hợp Chấp hành viên phải tiến hành xác minh tài sản, thông tin về tài sản rồi sau đó mới quyết định có kê biên, xử lý tài sản hay không

Tại Điều 89 Luật Thi hành án dân sự quy định trước khi kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký Trong trường hợp này thời hạn xác minh, cung cấp thông tin không phải hoàn toàn phụ thuộc Chấp hành viên mà còn phụ thuộc vào các cơ quan có liên quan trong việc cung cấp thông tin Việc trả lời xác minh, cung cấp thông tin cho cơ quan thi hành án dân sự của những cơ quan có liên quan không phải lúc nào cũng nhanh chóng kịp thời, đúng thời hạn quy định Có những trường hợp cơ quan thi hành án phải chờ công văn trả lời của các cơ quan trong một thời gian, có khi chậm vài ngày đến vài tháng

Như vậy, trong trường hợp trên Chấp hành viên không thể tiến hành cưỡng chế cũng như không thể ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án vì chưa có

đủ các căn cứ cần thiết Thực tế công tác thi hành án cho thấy không phải trường hợp nào khi đã tiến hành áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án cũng sẽ dẫn đến việc cưỡng chế thi hành án vì mặc dù khi Chấp hành viên chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành

án nhưng các bên đương sự vẫn có thể tiến hành các thỏa thuận về biện pháp và thời gian thi hành án Trong trường hợp các bên đương sự đã thỏa thuận được phương thức và thời gian thi hành án mà thời gian đó dài hơn thời hạn áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án

Trang 10

thì Chấp hành viên vẫn không thể ra quyết định cưỡng chế vì phải tôn trọng sự thỏa thuận của các đương sự, đồng thời cũng không có căn cứ để ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án tự nguyện yêu cầu chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án và chịu trách nhiệm về yêu cầu đó

Từ những trường hợp trên cho thấy Chấp hành viên có thể vi phạm thời hạn áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án hay không khi đã hết thời hạn áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo luật định mà Chấp hành viên chưa có đủ căn cứ điến hành các bước tiếp theo, như áp dụng biện pháp cưỡng chế hay chấm dứt áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án thì quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án có còn hiệu lực thi hành nữa hay không? Đây là những vấn đề còn bất cập mà Chấp hành viên gặp phải trong quá trình tổ chức thi hành án, vì vậy mặc dù đã có quy định của pháp luật nhưng Chấp hành viên chưa mạnh dạn khi áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Quy định về phong tỏa tài khoản có nhiều cách hiểu khác nhau Có ý kiến cho rằng khi phong tỏa tài khoản Chấp hành viên chỉ phong tỏa đầu ra, có như vậy tiền vào tài khoản vẫn hoạt động bình thường mới đủ điều kiện để khấu trừ số lượng tiền để thi hành

án, chỉ khi việc khấu trừ tiền thi hành án đủ thì mới chấm dứt phong tỏa Ý kiến khác cho rằng phong tỏa tài khoản là phong tỏa toàn bộ tài khoản cả đầu vào và đầu ra, tuy nhiên, ý kiến này không thỏa đáng vì chỉ được áp dụng khi tài khoản có đủ tiền cần khấu trừ, bất hợp lý đối với tài khoản chưa có đủ tiền

Về lực lượng hỗ trợ Chấp hành viên khi tiến hành thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự Hoạt động tác nghiệp của Chấp hành viên trong quá trình thi hành án dân

sự là hoạt động mang tính nhạy cảm vì tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của đương

sự, đa phần các vụ việc Chấp hành viên không nhận được sự hợp tác từ phía người phải thi hành án

Vì vậy, Chấp hành viên rất cần sự hỗ trợ từ phía các cơ quan, tổ chức có liên quan nhưng thực tế cho thấy khi Chấp hành viên yêu cầu lực lượng công an xã, trưởng ấp, khu phố hỗ trợ việc tạm giữ tài sản, giấy tờ thì lực lượng này không phối hợp, một mặt do ngại va chạm với người dân tại địa phương, mặt khác họ cho rằng việc tạm giữ tài sản, giấy tờ không thuộc trách nhiệm, quyền hạn của họ, họ không thực hiện khi không có sự chỉ đạo của cấp trên Không có sự hỗ trợ của các lực lượng tại chỗ dẫn đến việc tạm giữ

Ngày đăng: 09/11/2022, 14:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w