Thi hành án dân sự, từ thực tiễn Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương Thi hành án dân sự, từ thực tiễn Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương Thi hành án dân sự, từ thực tiễn Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO MẠNH HÙNG
THI HµNH ¸N D¢N Sù, Tõ THùC TIÔN CHI CôC
THI HµNH ¸N D¢N Sù HUYÖN NINH GIANG, TØNH H¶I D¦¥NG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO MẠNH HÙNG
THI HµNH ¸N D¢N Sù, Tõ THùC TIÔN CHI CôC
THI HµNH ¸N D¢N Sù HUYÖN NINH GIANG, TØNH H¶I D¦¥NG
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8380101.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MẬU TUÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Đào Mạnh Hùng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 9
1.1 Khái niệm, đặc trưng, ý nghĩa thi hành án dân sự 9
1.1.1 Khái niệm 9
1.1.2 Đặc trưng 12
1.1.3 Ý nghĩa 15
1.2 Nội dung và tiêu chí đánh giá thi hành án dân sự 19
1.2.1 Nội dung 19
1.2.2 Tiêu chí đánh giá 20
1.3 Điều kiện bảo đảm thi hành án dân sự 20
Chương 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG 23
2.1 Khái quát về huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương 23
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, hệ thống chính trị 23
2.1.2 Khái quát về Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương 28
2.2 Kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân thi hành án dân sự ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương 29
2.2.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 29
2.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 36
Trang 5Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ Ở HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG 58
3.1 Mục tiêu, yêu cầu và quan điểm 58
3.1.1 Mục tiêu, yêu cầu 58
3.1.2 Quan điểm 60
3.2 Giải pháp bảo đảm thi hành án dân sự ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương 64
3.2.1 Giải pháp chung 64
3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể 79
KẾT LUẬN 97
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa
xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta khẳng định mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; con người có cuộc sống
ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” [4]
Để thực hiện thành công mục tiêu đó, Đảng ta xác định một trong những phương hướng cơ bản là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương,
kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tội phạm
và tệ nạn xã hội
Một trong những đặc trưng quan trọng của Nhà nước pháp quyền là vị trí tối thượng của pháp luật Điều này, đòi hỏi mọi chủ thể trong xã hội phải tôn trọng và hành động tuân thủ pháp luật Trong hệ thống pháp luật thì hiến pháp là đạo luật gốc, có giá trị tối cao, quy định những vấn đề cơ bản, cốt lõi của quốc gia Ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp năm 2013 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014, đây là sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng của đất nước Hiến pháp năm 2013 thể hiện những nội dung mới quan trọng của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Hiến pháp năm 2013 đã tạo lập nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc và ổn định cho việc tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động các lực lượng xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước; tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn
Trang 9vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể chế hóa sâu sắc hơn quan điểm bảo vệ, tôn trọng quyền con người, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế Đồng thời, bảo đảm để Hiến pháp có sức sống lâu bền, bảo đảm hiệu lực, tính ổn định của Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Hiến pháp năm 2013, lần
đầu tiên ghi nhận “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Có thể nói, trong thực tiễn, vị trí thượng tôn của pháp luật chỉ có thể đạt được khi pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh và được các tổ chức, cá nhân tuân thủ một cách nghiêm túc, triệt để Pháp luật nghiêm minh
là điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương, ổn định, qua đó, góp phần quan trọng củng cố niềm tin của Nhân dân vào công lý, sự tiến bộ và tính ưu việt của chế độ Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, còn xảy ra xung đột trên các lĩnh vực như lao động, đất đai, môi trường, tài nguyên Tòa án, thiết chế có nhiệm vụ bảo vệ công lý, là một cơ chế hữu hiệu giải quyết thỏa đáng, kịp thời, triệt để những mâu thuẫn, xung đột, hướng mọi thành viên xã hội vào yêu cầu tôn trọng lợi ích của nhau trên cơ sở pháp luật Vì vậy, hoạt động xét xử của tòa án là hoạt động trực tiếp bảo vệ tính thiêng liêng và hiệu lực của pháp luật
Trang 10Thi hành bản án, quyết định của Tòa án là khâu hiện thực hóa phán quyết của Tòa án vào thực tiễn cuộc sống; công tác này có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ và thực thi công lý, xây dựng một xã hội trật tự, kỷ cương và ổn định Hoạt động thi hành án (THA) nói chung, thi hành án dân sự (THADS) nói riêng không chỉ góp phần trực tiếp, tích cực vào việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội; góp phần tháo gỡ khó khăn, khơi thông, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh thông qua hoạt động thu hồi
nợ, giảm nợ xấu và mở rộng tín dụng, bảo vệ quyền chủ nợ và thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng hay nâng cao an sinh xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trong những ngày đầu của Nhà nước cách mạng, để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, hoạt động THA đã sớm trở thành công cụ quan trọng của chính quyền nhân dân và được quy định ngay tại Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/7/1946 và Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 Tầm quan trọng của hoạt động thi hành án nói chung, THADS nói riêng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN tiếp tục được khẳng định thông qua Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân năm 1960 và năm 1981, Pháp lệnh THADS năm 1989, năm 1993
và năm 2004, Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và năm 2015, Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, tầm quan trọng của hoạt động THADS trong đời sống xã hội tiếp tục được ghi nhận tại các văn bản chính trị - pháp lý cao nhất như Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hiến pháp năm 2013,
Trang 11Qua hơn 75 năm xây dựng và trưởng thành hệ thống cơ quan THADS (19/7/1946 – 19/7/2020), ngành tư pháp nói chung, hệ thống THADS nói riêng hoàn toàn có thể tự hào về chặng đường đầy gian khó để có thể xác định cho mình một chỗ đứng, một vị thế, một mô hình tổ chức phù hợp, phản ánh đúng vị trí, vai trò, đồng thời phát huy hiệu quả của hoạt động THADS trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Những thành tựu nổi bật cần phải kể đến, đó là hành lang pháp lý trên các mặt công tác THADS ngày càng đầy đủ, toàn diện; tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ được kiện toàn, từng bước ngang tầm với nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao; cơ chế quản
lý, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ, hiệu quả, phù hợp hơn với tổ chức bộ máy của
hệ thống ngành dọc, tập trung, thống nhất từ trung ương tới địa phương; trụ
sở, kho vật chứng, trang thiết bị làm việc ngày càng đầy đủ, thể hiện vị thế của cơ quan bảo vệ pháp luật, và đặc biệt là kết quả THADS về việc và về tiền cơ bản đều đạt và vượt chỉ tiêu của Quốc hội, Chính phủ giao và có xu hướng bền vững qua các năm
Tuy nhiên trước yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới, công tác THADS bộc lộ nhiều hạn chế, tổng số việc còn phải thi hành chuyển sang kỳ sau qua các năm tuy có giảm nhưng vẫn cao; số lượng án có điều kiện nhưng chưa tổ chức thi hành xong; số không có điều kiện thi hành án, nhất là về tiền vẫn chiếm tỷ lệ cao so với tổng số tiền phải thi hành; một số vụ án tham nhũng, thu hồi tài sản cho Nhà nước, giá trị phải thi hành lớn nhưng khả năng thi hành thấp; lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo còn nhiều; một số vụ việc phức tạp kéo dài, được dư luận quan tâm chưa được giải quyết dứt điểm; tình hình
vi phạm kỷ cương, kỷ luật vẫn còn là vấn đề phải đặc biệt quan tâm… Ngành
tư pháp nói chung, hệ thống THADS nói riêng phải tập trung khắc phục những hạn chế, yếu kém, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, đoàn kết vượt qua khó khăn, thách thức, không ngừng nỗ lực vươn lên giải quyết tốt những
Trang 12vấn đề bức thiết của cuộc sống, góp phần duy trì, củng cố tính nghiêm minh của pháp luật với mục tiêu cuối cùng là “công lý phải được thực thi”
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề và yêu cầu thực tiễn công tác,
học viên chọn đề tài: “Thi hành án dân sự, từ thực tiễn Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương” là đề tài luận văn thạc sĩ luật
học, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Hành chính (định hướng ứng dụng)
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua vấn đề THA nói chung, THADS nói riêng được nhiều người quan tâm và được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Qua nghiên cứu nắm bắt thực tiễn, học viên tiếp cận được một số công trình nghiên cứu khoa học sau:
- Phan Văn Khải (2003), “Thi hành án dân sự có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc bảo vệ pháp chế, duy trì kỷ cương phép nước”, Tạp chí Dân
chủ và Pháp luật, số đặc biệt 10 năm công tác thi hành án dân sự
- Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp, Báo cáo và các đề xuất
của Star Việt Nam về dự thảo Bộ luật Thi hành án của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
- Claude Brenner, Gs trường Đại học tổng hợp Panthéon - Assas, Cộng
hòa Pháp (2006), “Lựa chọn mô hình tổ chức thi hành án phù hợp với điều
kiện của mỗi quốc gia” Nguồn: Vụ pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp,
Tài liệu tham khảo dự thảo Luật Thi hành án dân sự
- Vụ pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp, Star - Việt Nam, “Đề xuất
của Star đối với việc sửa đổi dự thảo Luật Thi hành án dân sự”
- Trần Xuân Tiền (2014), “Vai trò của luật sư trong việc nâng cao hiệu
lực, hiệu quả công tác thi hành án, góp phần bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp”,
nguồn: nang-cao-hieu-luc-hieu-qua-cong-tac-thi hành án -gop-phan-bao-ve-quyen-
Trang 13http://dongdoilaw.vn/news/hoat-dong/vai-tro-của-luat-su-trong-việc James F Harrigan (2005), “Báo cáo và các đề xuất của Star Việt Nam
về dự thảo Bộ luật thi hành án”
- Nguyễn Quang Thái (2008), “Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt
động thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học
- Nguyễn Thanh Thủy (2008), “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân
sự ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học
- Nguyễn Nhàn, Bàn về vấn đề thỏa thuận thi hành án dân sự
ảnh hưởng đến quyền, lợi ịch hợp pháp của người th ứ ba, nguồn:
http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=805, truy cập ngày 24/04/2019
- Hoàng Thị Thanh Hoa & Nguyễn Văn Nghĩa, Quy định pháp luật về
phí thi hành án dân sự hiện nay ở Việt Nam và liên hệ một vài quy định quốc
tế có liên quan, nguồn: http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/Nghien
CuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=843, truy cập ngày 05/5/2018
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn
đề về lý luận và thực tiễn trong công tác THADS Trong đó, nhiều công trình
đã đề cập, phân tích vị trí, vai trò của cán bộ làm công tác THADS trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động THADS Các kết quả nghiên cứu này,
là nguồn tư liệu vô cùng quý giá để học viên nghiên cứu, hoàn thiện đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về THADS; đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng THADS ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, từ đó đề xuất một số quan điểm, giải pháp bảo đảm THADS ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đáp ứng nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
Trang 14- Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng THADS ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương giai đoạn từ 2015 đến nay; qua đó, chỉ ra những ưu, khuyết điểm và những nguyên nhân của những ưu, khuyết điểm đó
- Đề xuất quan điểm, giải pháp bảo đảm THADS ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương nói riêng, THADS cấp huyện nói chung đáp ứng yêu cầu hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận, thực tiễn về THADS, THADS ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về phương diện nội dung: hoạt động THADS của cơ quan THADS huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
- Về phương diện không gian: huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
- Về phương diện thời gian: từ năm 2015 - 2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở những quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; đồng thời, luận văn còn được thực hiện trên cơ sở bám sát các chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác tư pháp nói chung, THADS nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, kết hợp với các phương pháp luận khác như: Phân tích tổng hợp, tổng kết thực tiễn, đánh giá, thống kê, so sánh v.v
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa về phương diện lý luận: Đề tài góp phần làm sáng tỏ và
bổ sung những vấn đề lý luận THADS
6.2 Ý nghĩa về phương diện thực tiễn: Đánh giá khách quan, khoa học
về thực trạng, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, đồng thời đề
ra và luận giải những quan điểm, giải pháp bảo đảm THADS ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Kết quả nghiên cứu luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu liên quan đến THADS
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Thi hành án dân sự
Chương 2: Thực trạng Thi hành án dân sự ở huyện Ninh Giang, tỉnh
Hải Dương
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm Thi hành án dân sự ở
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc trưng, ý nghĩa thi hành án dân sự
1.1.1 Khái niệm
Trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn hoạt động của bộ máy Nhà nước, còn có ý kiến khác nhau về khái niệm thi hành án (THA) nói chung và thi hành án Dân sự (THADS) nói riêng, nhưng tựu chung những ý kiến đó đều thể hiện rõ ở hai quan niệm cơ bản:
Quan niệm thứ nhất cho rằng, THA là một giai đoạn của tố tụng, vì:
"Có xét xử thì phải có THA, THA dựa trên cơ sở của công tác xét xử Xét xử
và THA là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ công lý".Quan điểm này thừa nhận "không phải mọi hoạt động trong quá trình THA và quyết định của tòa án đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật tố tụng " nhưng lại cho rằng THA "thực chất là hoạt động tố tụng của tòa án, của các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền nhằm bảo đảm cho bản án và quyết định của tòa án được thi hành một cách chính xác, kịp thời"
Quan niệm thứ hai cho rằng, THA là dạng hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước Theo quan niệm này thì tố tụng là quá trình tiến hành giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật; quá trình này trải qua nhiều giai đoạn nhưng các giai đoạn có liên quan mật thiết với nhau trong thể thống nhất
và xét xử là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng cho nên bản án, quyết định của toà án là kết quả cuối cùng đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài học viên cho rằng, THA không thể là giai đoạn của tố tụng, bởi vì thi hành án có mục đích khác với mục đích của
tố tụng Điều này thể hiện ở chỗ, mục đích của tố tụng là xác định các chứng
cứ để khôi phục lại trạng thái ban đầu của sự việc Nói cách khác, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra để trên cơ sở đó đưa ra
Trang 17cách giải quyết vụ việc theo đúng các quy định của pháp luật Với mục đích
đó, toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo quy trình hết sức chặt chẽ và phải bảo đảm các nguyên tắc như bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền
và lợi ích của người tham gia tố tụng và khi có phán quyết của toà án thì quá trình tố tụng kết thúc Trong khi đó, THA là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật Vì vậy, có thể nói một cách hình ảnh rằng, tố tụng là quá trình đi tìm chân lí để áp dụng công lí (pháp luật); còn THA là quá trình thực thi chân lí bằng công lí Ở đây chân lí đã rõ, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử rõ ràng, THA chỉ nhằm thực hiện các bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật Quá trình này có thể do các chủ thể bị THA tự giác thi hành hoặc do các cơ quan có thẩm quyền (không phải chỉ có tòa án) buộc các chủ thể đó phải thi hành
Hiện nay, ở Việt Nam có 5 loại hình thi hành án: Dân sự, hình sự, kinh
tế, lao động, hành chính Bên cạnh những điểm chung, mỗi loại hình thi hành
án lại có những đặc điểm riêng và trong không ít trường hợp chúng có sự đan xen lẫn nhau Chính sự đan xen này làm nảy sinh những vướng mắc về mặt lí luận Chẳng hạn như việc phạt tiền, tiêu huỷ tang tài vật trong án hình sự; việc nhận người làm việc lại trong án lao động có thuộc phạm vi thi hành án dân
sự không? Phạm vi thi hành án dân sự có phải chỉ là những vấn đề có liên quan đến tài sản và bồi hoàn hay bao gồm tất cả những vấn đề có tính dân sự? Những vấn đề liên quan đến bán đấu giá tài sản, tuyên bố phá sản có thuộc phạm vi thi hành án dân sự không? Tình hình đó đòi hỏi phải nghiên cứu cơ
sở lí luận cho việc xác định tính đặc thù và phân định giới hạn của mỗi loại hình thi hành án để từ đó xác định nội dung, nguyên tắc, phương pháp và biện pháp phù hợp cho mỗi loại hình đồng thời xây dựng mô hình tổ chức và quản
lí thi hành án hợp lí và có hiệu quả
Trang 18Thi hành án là dạng hoạt động chấp hành, quản lý và thể hiện rõ tính
chất hành chính, vì vậy, nó phải thuộc chức năng của quyền hành pháp Là dạng hoạt động chấp hành vì THA chỉ được tiến hành trên cơ sở các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và trong khuôn khổ luật định; toàn bộ quá trình THA với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định của toà án và theo các quy định cụ thể của pháp luật Là dạng hoạt động quản lý
vì THA là sự tác động tới đối tượng phải THA để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của toà án; phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, tôn trọng kỉ luật nhà nước và trở thành người lương thiện (đối với những người bị kết án phạt tù) Để thực hiện các hoạt động chấp hành và quản lí nói trên, phương pháp thuyết phục, giáo dục có ý nghĩa quan trọng nhưng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thi hành có tính chất đặc thù (trong thi hành án hình sự đó là phương pháp chủ yếu và có tính tiên quyết)
Còn có ý kiến cho rằng, thi hành án là dạng hoạt động mang tính hành
chính - tư pháp vì: Thứ nhất, căn cứ để thi hành án là các bản án và quyết định của toà án; thứ hai, có sự tham gia của các cơ quan tư pháp (theo nghĩa
rộng) vào quá trình thi hành án Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, cái bản chất trong thi hành án là tính chất chấp hành, quản lý và phương pháp bắt buộc, nghĩa là tính hành chính là cái nổi trội, cơ bản Vì vậy, có thể dùng "cái gạch ngang" giữa hành chính và tư pháp để phản ánh bản chất của thi hành
án Vấn đề đặt ra là có thể xác định được mức độ (liều lượng) của tính hành chính và tính tư pháp trong thi hành án hay không? Thật khó có thể xác định
rõ được điều này Tuy nhiên, thực tiễn cũng đã cho thấy rằng, đặc điểm của mỗi loại hình thi hành án cũng như của mỗi nhóm vụ việc trong từng loại hình
Trang 19thi hành án quy định mức độ của tính hành chính và tính tư pháp Theo chúng tôi, trong thi hành án, tính tư pháp luôn thể hiện ở mức độ hạn chế hơn so với tính hành chính
Từ những nội dung trên, qua nghiên cứu và thực tiễn học viện cho rằng,
“Thi hành án dân sự là một loại hình thi hành án, là hoạt động của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định của tòa án và cơ quan
có thẩm quyền nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân”
Thi hành án dân sự là hoạt động quản lý hành chính đặc thù, nó có những đặc trưng riêng có
1.1.2 Đặc trưng
Thi hành án dân sự có những đặc điểm cơ bản sau:
Một là, thi hành án dân sự là quá trình diễn ra sau quá trình xét xử của
toà án Bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án Vì vậy, có thể nói không có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt động THA Tuy nhiên, THADS lại không phải là giai đoạn tố tụng (cuối cùng); bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật không phải là cơ sở duy nhất để tiến hành các hoạt động THA; THADS đòi hỏi những nguyên tắc, thủ tục và cách thức hoạt động riêng Ví dụ, để có thể tiến hành các hoạt động THA thì phải có quyết định thi hành án và phải dựa trên những quy định cụ thể về THA
Hai là, thi hành án dân sự là dạng hoạt động có tính chấp hành, vì thi
hành án chỉ được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật quy định nhằm thực hiện các các bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, ở đây tính chất chấp hành trong THA có những nét riêng thể hiện ở
chỗ: thứ nhất, nó chủ yếu do cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) hay đối tượng phải THA tiến hành; thứ hai, cơ sở để tiến hành các hoạt động THA bao gồm
Trang 20các quy định của pháp luật (được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật) và bản án, quyết định của toà án (văn bản áp dụng pháp luật) đã có hiệu
lực pháp luật; thứ ba, mục đích cuối cùng của hoạt động THA là bảo đảm cho
các nội dung của các bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật được thực thi chứ không phải là ra các văn bản áp dụng pháp luật hoặc các quyết định có tính điều hành, nét đặc trưng của cơ quan hành chính
Ba là, thi hành án dân sự là dạng hoạt động có tính quản lý vì thi hành
án luôn đòi hỏi các yếu tố kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử lý nhằm tác động tới các đối tượng phải THA để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của toà án, phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục họ
có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, tôn trọng kỉ luật nhà nước và trở thành người lương thiện (đối với những người bị kết án phạt tù) Ở đây, tính chất quản lý cũng có đặc trưng riêng về chủ thể quản lý, đối tượng và khách thể quản lý; phạm vi và phương pháp quản lý
Bốn là, trong thi hành án dân sự, phương pháp thuyết phục, giáo dục có
ý nghĩa quan trọng nhưng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc phải thi hành có tính chất đặc thù Ngay cả trong trường hợp người phải thi hành án tự nguyện thực thi hành nghĩa vụ của mình thì cũng là vì họ hiểu rằng toà án đã phán xét, sự thực đã được làm sáng tỏ và nếu không thi hành thì họ sẽ phải chịu các biện pháp cưỡng chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Năm là, có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình THA, nhất là trong
việc tổ chức thi hành các bản án và quyết định của toà án có những nội dung phức tạp Thực tế cho thấy, trong THA vai trò của các cơ quan có thẩm quyền
là rất quan trọng, nhất là các cơ quan THA nhưng trong nhiều trường hợp nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp với cơ quan hành pháp
và có sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng thì việc thi hành các bản án phức tạp khó đạt được kết quả tốt
Trang 21Sáu là, việc thi hành án kết thúc trong các trường hợp sau đây:
1 Đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình;
2 Có quyết định đình chỉ thi hành án;
3 Có quyết định trả đơn yêu cầu thi hành án
Theo quy định tại Điều 52, Luật THADS, căn cứ việc thi hành án đương nhiên kết thúc trong trường hợp:
1 Có xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là trong trường hợp đương sự hoặc thân nhân của họ không có đơn đề nghị xác nhận và cơ quan thi hành án không xác nhận về việc đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình thì việc thi hành án có được coi là kết thúc hay không?
Ví dụ: Trong trường hợp bản án tuyên A phải trả cho B 100 triệu đồng Sau quá trình Chấp hành viên vận động, thuyết phục thi hành án, A đã trả cho
Trang 22B làm 02 lần, mối lần 50 triệu Việc thi hành án kết thúc khi B nhận đủ 100 triệu đồng theo bản án tuyên, lúc này đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa
vụ của mình Tuy nhiên, A hoặc B không đề nghị cơ quan thi hành án xác nhận bằng văn bản về kết quả thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án theo bản án đã thực hiện xong.Vậy việc thi hành án trong trường hợp này đã kết thúc chưa?
Rõ ràng việc thi hành án đối với vụ việc trên đã kết thúc, cơ quan thi hành án trong trường hợp này đã chấm dứt trách nhiệm tổ chức thi hành án nhưng không có Giấy xác nhận kết quả thi hành án Ở đây phải hiểu rộng về xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự không phải chỉ là giấy xác nhận bằng văn bản khi đương sự có yêu cầu mà xác nhận bằng nhiều cách khác nhau, ví
dụ như Phiếu chi tiền cho người được thi hành án trong trường hợp trả tiền, biên bản thỏa thuận trong trường hợp đương sự thỏa thuận thi hành án; biên bản cưỡng chế giao nhà, trả nhà có chữ ký của các bên hoặc của người được thi hành án có xác nhận của thành phần tham gia cưỡng chế trong trường hợp trả nhà, biên bản giao nhận tài sản trúng đấu giá trong trường hợp kê biên, bán đấu giá tài sản đảm bảo thi hành án Do vậy, phải khẳng định việc thi hành
án đã kết thúc trong những trường hợp đương sự đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ cũng như khi có các căn cứ đình chỉ việc thi hành án theo quy định tại Điều 50 Luật THADS Đồng thời, xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự theo Điều 52 Luật THADS không phải chỉ là giấy xác nhận trong trường hợp đương sự có yêu cầu cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án
Sau khi việc thi hành án kết thúc thì trách nhiệm của Chấp hành viên còn phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để hoàn thiện hồ sơ kết thúc thi hành án để đưa vào lưu trữ theo quy định
1.1.3 Ý nghĩa
Khi bàn về vai trò, ý nghĩa của hoạt động THADS, nguyên Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải cho rằng:
Trang 23Thi hành án Dân sự là công việc có nhiều khó khăn, phức tạp nhưng
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì kỷ cương phép nước Việc thi hành án tác động trực tiếp đến các lợi ích vật chất và tinh thần của người phải thi hành án và người được thi hành án, đến danh dự,
uy tín của người này và gia đình họ [8]
Cùng quan điểm như vậy, Giáo sư James F Harrigan, chuyên gia tư vấn pháp lý cho cơ quan thi hành án San Francisco, California, Hoa Kỳ cho rằng:
Việc thi hành các bản án của quốc gia là yếu tố quan trọng nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật Tất cả các hệ thống pháp luật đều dựa vào các Tòa án để giải thích pháp luật bằng cách áp dụng pháp luật
để giải quyết tranh chấp liên quan đến cá nhân, tổ chức và nhà nước Việc thực hiện các quyết định đã xem xét của Tòa án đạt được bằng
nỗ lực pháp luật và sự tham gia của các bên tranh chấp chỉ được công nhận trong việc thi hành các bản án của Tòa án được đưa ra để giải quyết các tranh chấp Việc thi hành đó, tiếp theo quá trình, là một phần không kém quan trọng Nếu bản án không được thi hành,
có nghĩa pháp luật mà bản án căn cứ vào không có ý nghĩa trên thực
tế Vì lý do đó, có một khái niệm riêng giữa hệ thống luật chung và Luật Dân sự khác là bản án phải được coi là chung thẩm, có giá trị ràng buộc, và có thể thi hành ngay sau khi ban hành, và việc thi hành
án là quyền ưu tiên cao nhất của một hệ thống pháp luật [7]
Có thể khái quát ý nghĩa của hoạt động THADS qua mấy điểm sau:
Một là, đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án, quyết định về mặt thực tế
Để đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho các đương sự cũng như đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án, quyết định, cơ quan THA phải áp dụng các biện pháp THA để tổ chức thi hành các phán quyết này Việc áp dụng các biện
Trang 24pháp THADS của cơ quan thi hành án là để đảm bảo: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” theo đúng quy định tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013
Với tính chất đặc thù của THADS là hoạt động liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau trong xã hội và thường liên quan đến quyền sở hữu tài sản của công dân, vì vậy, THADS dễ dẫn đến xâm phạm quyền con người, quyền công dân, do đó cần phải có cơ chế giám sát, kiểm tra đối với hoạt động THADS Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hiện nay có rất nhiều
cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện việc kiểm tra, giám sát, như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, Ban chỉ đạo thi hành án , bên cạnh đó
là quyền kiểm sát của Viện kiểm sát, điều này đảm bảo cho hoạt động thi hành án được thực hiện có hiệu quả, đúng pháp luật, song cần có quy định phù hợp hơn, hạn chế sự can thiệp không có căn cứ pháp luật vào hoạt động thi hành án của chấp hành viên
Hai là, thi hành án dân sự là công cụ quan trọng để bảo vệ quyền lợi
của người được thi hành án được xác định trong bản án, quyết định
Pháp luật THADS quy định và bảo vệ quyền được tự nguyện, quyền được thỏa thuận trong thi hành án cho các đương sự, bởi thực chất của việc THADS là việc tổ chức và thực thi các phán quyết có nguồn gốc về pháp luật nội dung là luật tư Trong mọi giai đoạn của quá trình thi hành án, đương sự đều có quyền thỏa thuận, định đoạt các vấn đề liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong bản án, quyết định Đây là một quyền quan trọng của đương sự trong THADS “Vấn đề dân sự, thương sự cốt ở hai bên, đó là nguyên tắc xuyên suốt, chỉ yêu cầu Nhà nước can thiệp khi họ không thể tự giải quyết Việc tự giải quyết không chỉ làm giảm gánh nặng của cơ quan thi hành án, mà còn làm tăng tình đoàn kết giữa hai bên Nhất là truyền thống của
Trang 25Việt Nam khuyến khích hòa giải ở bất kỳ giai đoạn nào Do đó, theo chúng tôi nghĩ cần giữ nguyên tắc để các bên thi hành án tự nguyện thi hành, khi bên phải thi hành cố tình không thực hiện, bên được thi hành án có yêu cầu thì cơ quan thi hành án mới vào cuộc”
Không giống như nhiều nước trên thế giới quy định Tòa án là cơ quan
có thẩm quyền ra quyết định thi hành án, ở Việt Nam, thẩm quyền này được giao cho cơ quan THADS Mặc dù thẩm quyền ra quyết định và tổ chức thi hành án khác nhau, tuy nhiên, điểm chung trong pháp luật các nước, đó là đảm bảo kiểm soát việc sử dụng biện pháp chế tài trong THADS - chỉ Nhà nước mới có quyền thực hiện cưỡng chế thi hành án Nhà nước giao cho cơ quan THADS, chấp hành viên thực hiện Mọi cá nhân, tổ chức khác không được phép sử dụng quyền lực để buộc người khác thực hiện nghĩa vụ của họ nếu pháp luật không cho phép
Khi bàn về cưỡng chế thi hành án, Giáo sư Claude Brenner, trường Đại học Panthéon - Assas cho rằng:
Trong một nhà nước pháp quyền, cơ quan quyền lực nhà nước là cơ quan duy nhất có thẩm quyền thực hiện cưỡng chế thi hành án Do
đó, cưỡng chế thi hành án chỉ liên quan đến các cơ quan quyền lực nhà nước Khi tiến hành cưỡng chế thi hành, cơ quan quyền lực nhà nước cần có sự hỗ trợ của quyền lực công Các cá nhân không thể thao túng hoạt động này, cũng như không thể làm sai lệch việc tổ chức thực hiện cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật Bởi đây là hoạt động dựa trên cơ sở quyền lực [2]
Ba là, góp phần nâng cao chất lượng của bản án, quyết định
Thông qua kết quả thi hành án, công tác xét xử được củng cố, bản án, quyết định được đảm bảo thi hành trong thực tế, đồng thời thông qua việc áp dụng các biện pháp thi hành án, nếu có sai sót trong bản án, quyết định được
Trang 26thi hành, cơ quan thi hành án sẽ có những kiến nghị thích hợp, giúp cho cơ quan ra bản án, quyết định có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm trong việc áp dụng pháp luật, nhằm nâng cao chất lượng của bản án, quyết định
Bốn là, nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân
Việc tự nguyện thi hành án, đặc biệt là những trường hợp đương sự thỏa thuận được với nhau trong việc thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định, sẽ tác động tích cực đến quyền lợi của các bên đương sự: Bên được thi hành án sớm khôi phục lại quyền lợi của mình; bên phải thi hành án có thể giảm được một phần nghĩa vụ theo bản án, quyết định, giảm được các thiệt hại so với trường hợp cơ quan thi hành án tổ chức thi hành, như giảm các chi phí cưỡng chế thi hành án, lãi suất chậm thi hành án Với những ý nghĩa như vậy, sẽ thúc đẩy các đương sự ý thức tự nguyện trong việc thi hành án, cũng như thái độ, ý thức khi thỏa thuận với nhau trong việc thực hiện quyền, nghĩa
vụ trong bản án, quyết định, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân
1.2 Nội dung và tiêu chí đánh giá thi hành án dân sự
1.2.1 Nội dung
Nội dung THADS rất rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động từ khi ra quyết định THA cho đến khi giải quyết xong tất cả các vấn đề của người phải THA, nghĩa là đến khi các đương sự hay người bị kết án trở lại trạng thái bình thường Có ý kiến khác lại cho rằng nội dung THA chỉ giới hạn ở việc thực thi về mặt pháp luật các nội dung thể hiện trong các bản án, quyết định của toà án Ví dụ, trong THADS khi người THA đã thực hiện xong nghĩa vụ được xác định trong bản án hay quyết định của toà án là xong còn hậu quả xã hội có liên quan đến các đương sự thì họ phải tự lo liệu hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức giải quyết theo thủ tục khác Trong thi hành án phạt
tù, thi hành án sẽ kết thúc khi người bị kết án tù đã chấp hành xong hình
Trang 27phạt tù hoặc được đặc xá Tình trạng của người này sau khi ra tù thế nào được giải quyết theo thủ tục khác Chúng tôi nghiêng về quan niệm thứ hai, bởi vì bất cứ dạng hoạt động nào cũng chỉ có giới hạn của nó Đối với thi hành án, nếu mở rộng giới hạn của nó như quan niệm thứ nhất thì khó có thể bảo đảm được tính hiện thực cuả nó
1.2.2 Tiêu chí đánh giá
Một là, bản án, quyết định của tòa án được thực thi một cách đầy đủ,
kịp thời; quyền và lợi ích của các bên được đảm bảo - công lý được thực thi
Hai là, quy trình THADS được thực hiện đúng quy định của pháp luật
Ba là, không có khiếu nại, khiếu tố về việc vi phạm pháp luật trong quá
trình thi hành án
Bốn là, ý thức pháp luật của các bên đương sự nói riêng và của xã hội
nói chung được nâng lên
Năm là, kỷ cương, kỷ luật trong xã hội được củng cố, xác lập
1.3 Điều kiện bảo đảm thi hành án dân sự
Một là, bản án, quyết định của tòa án phải có tính khả thi Đây là điều
kiện tiền đề quan trọng; đòi hỏi Hội đồng xét xử khi đưa ra phán quyết phải tính đến phương diện khả thi của bản án, quyết định Có thể khẳng định hoạt động THADS xuất phát và gắn liền với hoạt động xét xử của Tòa án Xét xử
và thi hành án là hai mặt của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Xét xử là tiền đề của thi hành án, không có xét xử thì không có thi hành án Ngược lại, thi hành án tiếp nối với xét xử làm cho bản án, quyết định
có hiệu lực trên thực tế nên có tác dụng củng cố kết quả xét xử Do vậy, một bản án, quyết định được tuyên đầy đủ, rõ ràng, chính xác, phù hợp thực tế, là
cơ sở để đảm bảo hiệu quả của hoạt động THADS, ngược lại, nếu tuyên không chính xác, không đầy đủ, rõ ràng hoặc không phù hợp tình hình thực
tế, sẽ gây khó khăn rất lớn cho hoạt động THADS, nhiều trường hợp bế tắc,
Trang 28không thi hành được Vì vậy, cần phải: (i) Nâng cao năng lực, trình độ cho cán bộ thẩm phán, rèn luyện ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, thường xuyên mở lớp đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức các cuộc họp rút kinh nghiệm, khen thưởng, xử lý kỷ luật kịp thời; (ii) Xử lý trách nhiệm của thẩm phán trong việc ra bản án, quyết định nhưng bị sửa, bị hủy, chậm chuyển giao hoặc chậm giải thích bản án, quyết định
Hai là, sự phối hợp nhịp nhàng, trách nhiệm của các chủ thể có liên
quan trong việc tổ chức thực hiện các khâu công việc, đặc biệt trong việc xác minh điều kiện thi hành án của chủ thể phải thi hành án
Ba là, ý thức pháp luật của xã hội ở mức cao; trong đó đặc biệt là ý
thức thượng tôn pháp luật, coi trọng công lý của các bên đương sự, nhất là bên phải thi hành án cao thì có tác động rất tích cực tới việc bảo đảm thi hành
án hiệu lực, hiệu quả Khi ý thức pháp luật cao thì các bên dễ dàng thỏa thuận trong việc chấp hành phán quyết của tòa án Khi đó, hiệu lực, hiệu quả thực thi bản án, quyết định của tòa án sẽ rất tốt; không chỉ đảm bảo tính kịp thời, nhanh chóng, đảm bảo lợi ích vật chất cho các chủ thể mà còn tạo ra sự đồng thuận xã hội cao, giữ gìn kỷ cương, phép nước
Bốn là, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và đạo đức nghề
nghiệp của đội ngũ Chấp hành viên được nâng cao Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của Chấp hành viên thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn và kiểm tra hoạt động tổ chức thi hành
án của họ, đồng thời có chế độ, chính sách phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao để họ yên tâm công tác, không bị ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành án dân sự
Năm là, nâng cao trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự, đặc biệt là đối với các tổ chức tín dụng và các cơ quan, tổ chức có liên quan để họ nhận thức rõ Chấp hành viên là người có thẩm quyền
Trang 29yêu cầu tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin về tài khoản, tài sản của khách hàng và nghĩa vụ thực hiện quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản; quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án để thi hành án theo quy định của pháp luật
Sáu là, cần cơ cơ chế hợp tác quốc tế sâu, rộng hơn nữa trong lĩnh vực
tư pháp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc xác minh điều kiện thi hành án
và thực hiện quy trình, thủ tục thi hành án nói chung, THADS nói riêng
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Ở HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1 Khái quát về huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, hệ thống chính trị
Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,30C, nhiệt độ cao nhất ở mùa hè không quá 24°C, giờ nắng trung bình hàng năm là 1524 giờ, lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm, độ ẩm trung bình là 85 - 87% Hải Dương được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển Hệ thống giao thông: gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt; Phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh Hải Dương đã quy hoạch 10 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.719 ha Với chính sách thông thoáng, ưu đãi các nhà đầu tư trong
và ngoài nước, với lợi thế vị trí thuận lợi, Hải Dương đã thu hút nhiều nhà đầu
tư vào khu công nghiệp Hải Dương có 12 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Hải Dương, thị xã Chí Linh và 10 huyện: Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Ninh Giang, Gia Lộc, Tứ Kỳ, Thanh Miện, Cẩm Giàng và Bình Giang
Ninh Giang là một huyện phía Đông Nam của tỉnh Hải Dương, nằm
bên bờ sông Luộc và tiếp giáp với các tỉnh Thái Bình, Hải Phòng ở phía Nam
Trang 31của huyện; phía Bắc giáp hai huyện Gia Lộc và Tứ Kỳ; phía Tây giáp
huyện Thanh Miện; phía Đông giáp huyện Tứ Kỳ Thời Pháp thuộc dân số phủ lỵ Ninh Giang có khoảng 7.000 người, gốc gác từ nhiều vùng: Hải Phòng, Bắc Thái, Thái Bình, Hà Nội xong gốc Hà Nam là chủ yếu Người Hoa cũng đến lập nghiệp ở đây có khoảng 100 hộ Hoa Kiều Người Hoa thường lập thành bang riêng của họ
Ngày 16/10/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Nghị quyết
số 788/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Hải Dương Theo đó, sáp nhập xã Hồng Thái vào xã Hồng
Dụ, sáp nhập xã Ninh Thành vào xã Tân Hương, sáp nhập xã Hưng Thái vào
xã Hưng Long, sáp nhập xã Văn Giang vào xã Văn Hội, sáp nhập các xã Ninh Hòa và Quyết Thắng vào xã Ứng Hòe, sáp nhập các xã Hoàng Hanh và Quang Hưng vào xã Tân Quang Theo đó, tính đến nay, huyện Ninh Giang có
1 thị trấn và 19 xã
Không nổi tiếng về du lịch nhưng Ninh Giang cũng có một vài đền chùa mang đậm dấu ấn lịch sử như: Đền quan tuần Tranh (hay còn gọi là đền Tranh) là một trong những ngôi đền lớn và nổi tiếng ở Ninh Giang, Chùa Chuông, Đình Làng Xuyên Hử, Đình Làng Xuyên Hử là nơi thờ Vị Thành Hoàng của Làng, trong kháng chiến chống Pháp người dân địa phương đã che giấu cán bộ cách mạng tại đây người dân còn tháo dỡ Đình Làng lấy vật liệu làm cầu Đồng Bình phục vụ kháng chiến Tháng 3/2006 được sự đồng ý của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương đình làng Xuyên Hử đã được tái tạo lại
Địa phận xã Tân Phong thuộc huyện Ninh Giang trước đây có rất nhiều các di tích đình, chùa, miếu mạo Đặc biệt đình Chuông với những cây cột gỗ lim hai người ôm và những phiến đá xanh lát hè nặng hàng chục tấn, Chùa Chuông với rất nhiều tượng phật Hiện nay đình chùa đã bị phá hết (trong cải cách văn hoá), thời gian gần đây, người dân đã phục dựng lại chùa Chuông ở
Trang 32một vị trí khác nhưng các tượng thì đã không còn (đã bị thiêu hủy trong cải cách văn hoá) Năm 2005 chính quyền địa phương đã tổ chức khai quật tại nơi chôn những pho tượng phật của chùa Chuông cũ và thu giữ được rất nhiều di vật cổ gồm vài chục ngôi tương gỗ không còn nguyên vẹn nhưng những đường nét điêu khắc trên tượng của người xưa được xem là rất tinh tế và đẹp thì vẫn còn gần như nguyên vẹn Hiện số tượng phật này vẫn được cất giữ tại chùa Chuông mới
Trung tâm huyện Ninh Giang cách thành phố Hải Dương 30 km về phía Bắc, có các tuyến đường bộ quan trọng của tỉnh nối Ninh Giang với thành phố Hải Dương và nối đường 17A, 20A với quốc lộ 5, quốc lộ 10 đi các tỉnh lân cận như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, đó là những thị trường lớn, là trung tâm hỗ trợ đầu tư, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ và thông tin cho Ninh Giang Ninh Giang có mạng lưới giao thông tương đối tốt thuận lợi trong việc giao lưu, trao đổi hàng hoá thương mại với các huyện trong tỉnh cũng như tạo môi trường tốt cho các nhà đầu tư trong và
ngoài nước vào sản xuất kinh doanh
Với tính chất là huyện thuần nông, phần lớn người dân vẫn làm nông nghiệp, trong thời gian qua, đặc biệt là nhiệm kỳ 2016-2020,huyện Ninh Giang
đã tập trung xây dựng chương trình hành động và kế hoạch triển khai thực hiện dựa trên những lợi thế sẵn có Kết quả triển khai thực hiện: tổng giá trị sản xuất (theo giá thực tế) trong 5 năm 2016 - 2020 là 46.837 tỷ đồng, tăng 3,18 lần so với giai đoạn 2010 - 2015 và tăng 1,8 lần so với mục tiêu đại hội; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 17,2%/năm Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 18%/năm (mục tiêu tăng 5% trở lên) Đến năm 2020, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn huyện là 1.361,82 ha, sản lượng thủy sản thu hoạch ước đạt 8.700 tấn/năm, tăng bình quân 7% /năm Trên địa bàn huyện đã xuất hiện nhiều mô hình về kinh tế trang trại, mang lại hiệu quả kinh tế cao Tổng giá trị sản xuất
Trang 33nông nghiệp 5 năm ước đạt 10.715 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân đạt 3,5%/năm Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đến năm 2020 ước đạt 145,3 triệu đồng/ha, tăng 21,3 triệu đồng/ha so với năm 2015
Trong giai đoạn 2015-2020, toàn huyện đã huy động được 1.056,17 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách là 505,57 tỷ đồng, vốn nhân dân đóng góp 119,4 tỷ đồng, vốn huy động xã hội hóa và các nguồn vốn khác 431,2 tỷ đồng cho xây dựng nông thôn mới Đến hết năm 2019, số tiêu chí trung bình toàn huyện đạt 18,5 tiêu chí/xã, tăng 4,8 tiêu chí/xã so với cuối năm 2015 Đến năm 2020, 100% số xã trong huyện đạt chuẩn nông thôn mới, huyện cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới
Huyện Ninh Giang đã thực hiện có hiệu quả “Sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị ở xã, thị trấn giai đoạn 2016 - 2020”; thực hiện việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế; sắp xếp, sáp nhập các thôn, khu dân cư; sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã; kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan tham mưu của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp theo các nghị quyết của Trung ương và chỉ đạo của Tỉnh ủy được thực hiện quyết liệt, đạt kết quả tích cực; kết quả đã sắp xếp, sáp nhập 18 thôn, khu dân cư thành 9 thôn, khu dân cư (giảm 9 thôn, khu dân cư); sắp xếp 14 đơn vị hành chính cấp xã, thành 6 đơn vị (giảm 8 đơn vị) Ninh Giang là địa phương
có số xã được sáp nhập nhiều nhất tỉnh, với 6 xã mới được thành lập
Công tác tổ chức cán bộ được Đảng bộ huyện Ninh Giang quan tâm thực hiện đồng bộ ở các khâu, các bước theo đúng quy định, hướng dẫn của Trung ương, của Tỉnh ủy Đã tập trung xây dựng và rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cả cấp huyện và cơ sở; kiện toàn công tác cán bộ ở cả hai cấp huyện, xã bảo đảm kịp thời, đúng quy trình, quy định; nhận xét đánh giá, bố trí, sử dụng, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân
Trang 34chuyển cán bộ, giới thiệu cán bộ ứng cử được thực hiện đảm bảo dân chủ, công khai, đúng nguyên tắc
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được thường xuyên quan tâm, trình
độ lý luận chính trị, chuyên môn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp
và cán bộ, công chức, viên chức được nâng lên Chính sách đối với cán bộ được thực hiện đầy đủ, kịp thời Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, việc thẩm định về tiêu chuẩn chính trị phục vụ công tác kết nạp đảng, công tác bổ nhiệm,
đề bạt, giới thiệu cán bộ ứng cử được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định
Thực hiện tốt Quy chế tiếp xúc đối thoại của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với nhân dân; trong nhiệm kỳ đã tổ chức 176 cuộc tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân Qua đó, góp phần củng cố, tăng cường sự thống nhất, đồng thuận trong
xã hội, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân
Hoạt động của Hội đồng nhân dân hai cấp huyện, xã có nhiều đổi mới, từng bước khẳng định được vai trò là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương Vai trò giám sát trong hoạt động của Hội đồng nhân dân (HĐND) hai cấp ngày càng được nâng lên, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành pháp Trong nhiệm kỳ, HĐND hai cấp huyện, xã
đã tổ chức 743 cuộc giám sát trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và cải cách hành chính Các kỳ họp của HĐND được đổi mới và nâng cao chất lượng về nội dung, công tác chuẩn bị, tổ chức và điều hành, công tác thẩm tra, hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn, công tác ra nghị quyết… Vai trò đại diện của đại biểu HĐND hai cấp được thực hiện tốt hơn
Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân hai cấp huyện, xã đã quan tâm đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao năng lực quản lý, điều hành; có nhiều giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực Kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh, tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy phát
Trang 35triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Trong giai đoạn phát triển tiếp theo, huyện Ninh Giang tiếp tục khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế của địa phương; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; phát triển toàn diện, bền vững kinh tế, văn hóa - xã hội; thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Xây dựng, củng cố quốc phòng, quân sự địa phương; giữ vững
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng huyện Ninh Giang phát triển nhanh và bền vững Phấn đấu đến năm 2030, Ninh Giang cơ bản đạt các tiêu chí đô thị loại IV
Từ những nét khái quát nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã có những bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt Hệ quả tất yếu của sự phát triển là khi trình độ dân trí, nền kinh tế, văn hóa, xã hội ngày càng phát triển thì tình trạng tranh chấp dân sự cũng ngày càng gia tăng Ngoài dạng tranh chấp phổ biến là tranh chấp về hợp đồng dân sự thì các tranh chấp đất đai, chia thừa kế, chia tài sản khi ly hôn cũng chiếm một tỷ
lệ lớn Do đó, số lượng bản án, quyết định cần phải được thi hành ngày càng nhiều Trách nhiệm này, đặt nặng lên vai những người thực hiện nhiệm vụ THADS huyện Ninh Giang
2.1.2 Khái quát về Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
Tổng số cán bộ, công chức, lao động của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang là 11 biên chế, trong đó: cán bộ, công chức là 08, hợp đồng
68 là 03; về cơ cấu số lượng: chấp hành viên trung cấp 02, Chấp hành viên sơ cấp 01 (trong đó có Chi cục trưởng và 02 Phó Chi cục trưởng); thư ký thi hành án: 01; kế toán: 01; thủ kho: 01; văn thư: 01; về giới tính: nam: 5, nữ: 6;
về trình độ: đại học: 5; cao đẳng: 4; trung cấp: 2; khác; về trình độ lý luận
Trang 36chính trị: Cao cấp Lý luận chính trị: 0; Trung cấp lý luận chính trị - hành chính: 4; sơ cấp chính trị: 02
Trong những năm qua, lãnh đạo, cán bộ, công chức Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đã nỗ lực phấn đấu để nâng cao kết quả, hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, nhờ đó đã đạt được một số kết quả nhất định Nhìn chung tỷ lệ bản án, quyết định được thi hành xong chiếm một tỷ lệ khá cao Việc tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Để đạt được kết quả này, các Chấp hành viên đã tiến hành hướng dẫn, giáo dục, thuyết phục các bên đương sự tự nguyện thi hành án
2.2 Kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân thi hành án dân sự
ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
2.2.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân
2.2.1.1 Kết quả đạt được
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả luận văn khảo sát kết quả hoạt động của Chi cục THADS huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2015-2019 Kết quả cụ thể như sau:
Một là, công tác chỉ đạo, lãnh đạo điều hành
Lãnh đạo Chi cục THADS huyện Ninh Giang tổ chức triển khai, quán triệt đầy đủ, kịp thời các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng ủy các cấp, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, các văn bản chỉ đạo chuyên ngành đến cán
bộ, đảng viên trong chi bộ, cơ quan, xây dựng kế hoạch công tác và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả kế hoạch công tác hàng năm cũng như kế hoạch công tác từng vụ việc cụ thể Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nghiêm Quy chế làm việc của Chi cục, đảm bảo kỷ cương, kỷ luật công vụ Cán bộ, công chức, lao động chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, quy chế làm việc của cơ quan, có
ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết, tự giác, nỗ lực, trách nhiệm, không ngừng
Trang 37rèn luyện về mọi mặt, đặc biệt là về tư cách đạo đức, phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao
Hai là, công tác kiểm tra
Chi cục THADS huyện Ninh Giang tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm tra tự kiểm tra các mặt hoạt động của cơ quan, nhất là công tác chuyên môn nghiệp vụ nhằm hạn chế thấp nhất những sai sót, vi phạm dẫn đến đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân Công tác thi hành án dân sự của huyện trong những năm qua cơ bản đảm bảo đúng quy định của pháp luật, ít có sự sai sót,
vi phạm Thực hiện đầy đủ, kịp thời, chính xác chế độ thông tin, thống kê, báo cáo, công tác tài chính kế toán, tiếp nhận, quản lý, theo dõi, xử lý tang vật vụ
án, công tác văn thư lưu trữ và các nhiệm vụ có liên quan khác theo đúng quy định của pháp luật
Ba là, công tác thi hành án dân sự
Bảng 2.1: Kết quả thi hành án dân sự về việc
Tổng
số phải THA
lý
Tổng
số
Số có điều kiện giải
Số chưa
có điều kiện giải
Đã giải quyết xong
Tỷ lệ (%)
Số chuyển
Trang 38Bảng 2.2: Phân tích kết quả giải quyết xong
(Nguồn: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương)
Bảng 2.3: Kết quả thi hành án dân sự về tiền
Số có điều kiện thi hành
Tỷ
lệ (%)
Số chưa
có điều kiện thi hành
Tỷ
lệ (%)
Đã giải quyết xong
Tỷ
lệ (%)
Số chuyển
Trang 396 2 5 2 5 1 8 9 7 4 6
Tổng
(Nguồn: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương 2019)
Trang 40Bảng 2.4: Phân tích kết quả giải quyết xong
(Nguồn: Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương)
(Thời điểm từ 01/10 năm trước đến 30/9 năm sau)
Bốn là, công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
- Công tác tiếp công dân
Thực hiện sự chỉ đạo của Cục THADS tỉnh Hải Dương và Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Ninh Giang, Chi cục THADS huyện Ninh Giang đã thực hiện đầy đủ các quy định về việc tiếp công dân theo Luật tiếp công dân và quy chế tiếp dân, bố trí nơi tiếp công dân thuận tiện; có bảng nội quy tiếp công dân; đặt hòm thư để cán bộ và công dân đóng góp ý kiến, hàng ngày đều
cử cán bộ có trách nhiệm trực tiếp công dân theo quy định
Các văn bản pháp luật liên quan đến công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo đều được lãnh đạo Chi cục tổ chức triển khai đến toàn thể cán bộ công chức, lao động trong đơn vị; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa và hỗ trợ trực tuyến trong công tác THADS
- Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về THADS: giai đoạn
2015-2019, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang không có đơn thư khiến nại - tố cáo của tổ chức, công dân về THADS