TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Pháp luật chuyên ngành liên quan đến đấu giá Kỳ thi chính Chuyên đề: Quy định của pháp luật về đấu giá tài sản thi hành án dân sự trong Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn hiện hành, những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và đề xuất các giải pháp khắc phục BÀI ĐIỂM CAO Lưu ý: Tài liệu chỉ mang tính chất tham khảo
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
-TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Pháp luật chuyên ngành liên quan đến đấu giá
Kỳ thi chính
Chuyên đề: Quy định của pháp luật về đấu giá tài sản thi hành án dân sự trong Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn hiện hành, những khó khăn,
vướng mắc trong thực tiễn và đề xuất các giải pháp khắc phục
Họ và tên: Sinh ngày tháng năm
Số báo danh:
Lớp:
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 20
MỤC LỤC
Trang
I Pháp luật về đấu giá tài sản thi hành án dân sự 3
1 Tài sản thi hành án dân sự được bán đấu giá 3
2 Thủ tục bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự 4
f Giảm giá tài sản để tiếp tục đưa ra bán đấu giá trong
trường hợp bán đấu giá không thành
10
g Thanh toán tiền trúng đấu giá và giao tài sản đấu giá
thành
11
h Chuyển quyền sử hữu – sử dụng tài sản cho người mua
được tài sản đấu giá
12
II Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng pháp luật về đấu giá tài sản thi hành án dân sự
và đề xuất các giải pháp khắc phục
12
Trang 31 Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn 13
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
01 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung
năm 2014
Luật THADS
sản
Trang 5NỘI DUNG ĐỀ TÀI PHẦN 1 MỞ ĐẦU
Tài sản thi hành án dân sự là loại tài sản đầu tiên được đưa ra đấu giá theo quy định pháp luật và đã được ghi nhận trong Luật thương sự tố tụng để thi hành trong các Tòa Nam án Bắc kỳ năm 19341 Tiếp đó, khung pháp lý cho hoạt động đấu giá tài sản
ở Việt Nam được quy định trong Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành Đây là những văn bản đầu tiên của nước ta quy định về hoạt động đấu giá nói chung2
Như vậy, pháp luật về đấu giá tài sản tại Việt Nam hình thành từ nhu cầu phát mãi tài sản để thi hành án Việc bán các tài sản này thông qua hình thức đấu giá sẽ đảm bảo được quyền lợi cho cả người có nghĩa vụ thi hành án và người được thi hành án (tài sản được bán với giá cao nhất có thể), giúp bảo đảm thi hành được những quyết định, bản án có hiệu lực của Toà án
Hiện nay, tài sản thi hành án dân sự là một trong những loại tài sản đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đấu giá tái sản, việc tìm hiểu quy định của pháp luật về đấu giá tài sản thi hành án dân sự trong Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn hiện hành là cần thiết đối với mỗi Đấu giá viên Mặt khác, việc nghiên cứu lý thuyết cùng những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn và đề xuất các giải pháp khắc phục
sẽ giúp Đấu giá viên nâng cao được chuyên môn nghiệp vụ của mình, góp phần giúp hoạt động đấu giá tài sản ở Việt Nam ngày càng trở nên chuyên nghiệp, hiệu quả
PHẦN 2 NỘI DUNG
I Pháp luật về đấu giá tài sản thi hành án dân sự
1 Tài sản thi hành án dân sự được bán đấu giá
Điều 71 Luật THADS quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành án3 Theo
đó, chỉ có đối với biện pháp thứ 3 về “kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án” thì cơ quan thi hành án mới được thực hiện các biện pháp xử lý tài sản Đối với các biện pháp cưỡng chế thi hành án còn lại mang tính trực tiếp, cụ thể và không quy định về việc bán đấu giá tài sản
1 Nguyễn Thị Minh (2012), “Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về bán đấu giá tài sản ở Việt Nam”,
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 12, 27-35.
2 Học viện tư pháp (2020), Giáo trình nghiệp vụ đấu giá tài sản (tập 1 – phần chung), Nxb Tư Pháp, Hà Nội, 11.
3 Điều 71 Luật Thi hành án dân sự quy định:
“Điều 71 Biện pháp cưỡng chế thi hành án
1 Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
2 Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
3 Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
4 Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
5 Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
6 Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định”.
Trang 6Luật THADS cho phép bán tài sản đã kê biên theo hai hình thức là bán đấu giá
và bán không qua thủ tục đấu giá4 Tuy nhiên, theo khoản 4 Điều 101 Luật THADS,
chỉ có loại “tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng”
thì mới được bán không qua thủ tục đấu giá Việc xác định giá trị tài sản được hướng dẫn bởi khoản 2 Điều 27 Nghị định 62/2015/NĐ-CP, theo đó, giá trị tài sản tính theo
“giá trị từng động sản; đối với vật cùng loại, vật đồng bộ là tổng giá trị các động sản
đó trong một lần tổ chức bán để thi hành một việc thi hành án” Có thể thấy, hầu hết
các loại tài sản đã kê biên sẽ được bán theo thủ tục đấu giá, chỉ trừ tài sản giá trị nhỏ (bán đấu giá sẽ tốn chi phí đấu giá nhiều hơn giá trị thu được) hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng (cần phải bán ngay, nếu đấu giá sẽ mất nhiều thời gian dẫn đến tài sản hư hỏng)
Như vậy, có thể hiểu tài sản thi hành án dân sự được bán đấu giá phải là những tài sản đã thực hiện kê biên Việc kê biên tài sản là thủ tục đầu tiên hết sức quan trọng
để xác định tài sản kê biên có đủ điều kiện để đưa ra đấu giá hay không
2 Thủ tục bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự
a Kê biên tài sản
Kê biên tài sản là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án Kê biên là thủ tục tiền đề cho việc đấu giá tài sản thi hành án
Thứ nhất, về thẩm quyền kê biên tài sản Người có thẩm quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án là Chấp hành viên được giao thi hành bản án, quyết định
đó, căn cứ theo điều khoản cụ thể về kê biên từng loại tài sản theo Luật THADS như Điều 75, khoản 1 Điều 84, Điều 88 đến Điều 97 Luật THADS, Mục 4 Công văn số 4967/BTP-TCTHADS năm 2014
Thứ hai, về điều kiện kê biên tài sản Điều kiện tiên quyết là tài sản được kê biên phải thuộc quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng đối với quyền sử dụng đất) của người phải thi hành án, kể cả tài sản này đang do bên thứ ba giữ Điều kiện tiếp theo liên quan đến việc tự nguyện thi hành án theo Điều 9 Luật THADS, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi
hành án, do đó cần phải xác định “người phải thi hành án không tự nguyện thi hành”
thì chấp hành viên mới được thực hiện kê biên tài sản (vì kê biên là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án) Việc xác định người phải thi hành án có tự nguyện thi hành án hay không được căn cứ theo Điều 45 Luật THADS, theo đó, thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án Sau thời hạn này
mà người phải thi hành án không tự nguyện thì chấp hành viên mới được quyền kê biên tài sản (trừ trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng
4 Khoản 1 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
Trang 7ngay biện pháp kê biên tài sản mà không cần chờ hết thời hạn 10 ngày như trên, theo khoản 2 Điều 45 Luật THADS) Khi kê biên tài sản, Chấp hành viên cũng cần lưu ý điều kiện về giá trị tài sản, theo đó, tài sản được kê biên phải có giá trị tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án và các chi phí cần thiết khác (trừ trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án
mà tài sản đó không thể phân chia được hoặc việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản, và trừ trường hợp người được thi hành án tự nguyện đề nghị kê biên), căn
cứ theo khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP
Thứ ba, về các tài sản không được kê biên Tại Điều 87 Luật THADS quy định các loại tài sản không được kê biên, bao gồm:
- Tài sản bị cấm lưu thông theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức
- Tài sản sau đây của người phải thi hành án là cá nhân:
Số lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập, thu hoạch mới;
Số thuốc cần dùng để phòng, chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;
Vật dụng cần thiết của người tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm;
Đồ dùng thờ cúng thông thường theo tập quán ở địa phương;
Công cụ lao động cần thiết, có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của người phải thi hành án và gia đình;
Đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho người phải thi hành án và gia đình
- Tài sản sau đây của người phải thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
Số thuốc phục vụ việc phòng, chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục vụ bữa ăn cho người lao động;
Nhà trẻ, trường học, cơ sở y tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải là tài sản để kinh doanh;
Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm môi trường
Như đã nêu ở trên, các tài sản được bán đấu giá theo quy định của Luật THADS
là các tài sản đã được kê biên, bởi vì các tài sản trên không được thực hiện kê biên, do
đó cũng không thể đưa ra đấu giá theo quy định của Luật THADS
Trang 8Thứ tư, về trình tự thủ tục kê biên tài sản Chấp hành viên thực hiện cưỡng chế
kê biên tài sản theo trình tự thủ tục tương ứng với từng loại tài sản quy định tại các Điều 70 đến Điều 74, Điều 87 đến Điều 97 Luật THADS, Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP Cần lưu ý rằng việc kê biên phải được lập thành biên bản cưỡng chế kê biên tài sản, ghi rõ thời điểm kê biên (giờ, ngày, tháng, năm), thông tin của Chấp hành viên thực hiện kê biên, của Đương sự hoặc người được uỷ quyền, người lập biên bản, người làm chứng và người có liên quan đến tài sản, diễn biến của việc kê biên, mô tả tình trạng tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng Biên bản kê biên có chữ ký của đương sự hoặc người được uỷ quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, chấp hành viên và người lập biên bản5
b Định giá và định giá lại tài sản đã kê biên
Để có căn cứ xác định giá khởi điểm đưa ra bán đấu giá thì các tài sản thi hành
án dân sự phải được định giá theo trình tự, thủ tục tại Điều 98 Luật THADS Thời điểm định giá tài sản là ngay khi kê biên tài sản hoặc sau khi kê biên tài sản, cụ thể như sau:
- Thứ nhất, đối với trường hợp đương sự thoả thuận được giá tài sản ngay khi
kê biên tài sản, Chấp hành viên tiến hành lập biên bản ghi nhận thoả thuận đó và giá tài sản do đương sự thoả thuận sẽ là giá khởi điểm bán đấu giá Hoặc đương sự không thoả thuận giá cụ thể mà thoả thuận về lựa chọn một tổ chức định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó6, tổ chức thẩm định giá này có thể cùng hoặc không cùng địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản
kê biên7 Như vậy, trong thi hành án dân sự, việc các đương sự thoả thuận về giá khởi điểm hoặc thoả thuận về lựa chọn tổ chức định giá được ưu tiên Nếu các bên đương
sự không thoả thuận được thì Chấp hành viên mới tiến hành các cách thức định giá khác (trừ trường hợp có quyết định thi hành án chủ động)
- Thứ hai, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên trong các trường hợp8:
Đương sự không thoả thuận được về giá và không thoả thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá;
Tổ chức thẩm định giá do đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;
5 Học viện tư pháp (2020), Giáo trình nghiệp vụ đấu giá tài sản (tập 1 – phần chung), Nxb Tư Pháp, Hà Nội,
377.
6 Khoản 1 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
7 Khoản 1 Điều 25 Nghị định 62/2015/NĐ-CP.
8 Khoản 2 Điều 98 Luật Thi hành án dân sự năm 2008
Trang 9 Thi hành phần bản án, quyết định trong trường hợp ra quyết định chủ động thi hành án, theo điểm c khoản 2 Điều 98 và khoản 1 Điều 36 Luật THADS (tuy nhiên tại Luật THADS sửa đổi năm 2014, Điều 15 đã sửa
đổi, bổ sung khoản 1 Điều 36 thành “Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này Thời hạn ra quyết định thi hành án theo yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án”).
Tuy nhiên,trường hợp không ký được hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản kê biên, Chấp hành viên có thể lựa chọn và ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá ngoài địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản kê biên, theo khoản 1 Điều 26 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP
- Thứ ba, đối với trường hợp vẫn không thể xác định giá thông qua hai cách trên (đương sự không thoả thuận được về giá, không ký được hợp đồng dịch vụ với bất kỳ
tổ chức thẩm định giá nào) hoặc đối với tài sản tươi sống, mau hỏng, giá trị nhỏ (dưới 10.000.000 đồng) Chấp hành viên có thể xác định giá thông qua cách thức quy định tại khoản 3 Điều 98 Luật THADS, Điều 26 Nghị định 62/2015/NĐ-CP:
Tham khảo ý kiến của cơ quan tài chính cùng cấp hoặc cơ quan chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực của tài sản kê biên trước khi xác định giá của tài sản kê biên (lập thành văn bản hoặc biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn đó) Trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Chấp hành viên mà cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn không có ý kiến bằng văn bản thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có văn bản đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo các cơ quan chuyên môn có ý kiến để Chấp hành viên xác định giá tài sản kê biên
Xác định tài sản kê biên có giá trị nhỏ bằng cách so sánh tài sản giống hệt hoặc tương tự chưa qua sử dụng có giá mua bán trên thị trường không quá 10.000.000 đồng (tại thời điểm định giá)
Sau khi đã thực hiện thủ tục định giá tài sản kê biên, không phải trong mọi trường hợp sẽ xác định được ngay giá khởi điểm để đưa ra bán đấu giá, bởi vì Luật THADS cho phép định giá lại tài sản kê biên theo các trường hợp tại khoản 1 Điều 99,
cụ thể:
- Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật THADS dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản (đối với trường hợp này, khi phát hiện vi phạm thì sẽ tiến hành định giá lại, không giới hạn số lần định giá lại);
Trang 10- Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản (trong trường hợp này yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần
và chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản)
Thủ tục định giá lại được tiến hành giống với thủ tục định giá theo khoản 2 và khoản 3 Điều 98 Luật THADS
Sau khi tiến hành định giá và định giá lại (nếu có), tài sản thi hành án dân sự được xác định giá khởi điểm để đưa ra bán đấu giá Điều này phù hợp với quy định tại
điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 8 Luật Đấu giá tài sản: “Giá khởi điểm của tài sản đấu giá được xác định trước khi ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản” và đối với tài sản thi hành án dân sự thì “giá khởi điểm được xác định theo quy định của pháp luật áp dụng đối với loại tài sản đó”.
c Bán đấu giá và xử lý kết quả bán đấu giá
Như đã phân tích ở trang 4, tuy rằng Luật THADS cho phép bán tài sản đã kê biên không qua thủ tục đấu giá nhưng chỉ áp dụng đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản tươi sống, mau hỏng Do đó, có thể xác định rằng hầu hết các tài sản thi hành án hiện nay đều phải bán thông qua thủ tục đấu giá
Về chủ thể tổ chức bán đấu giá được thực hiện như sau:
- Tổ chức bán đấu giá thực hiện đối với tài sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản9 Tổ chức bán đấu giá tài sản là phải đáp ứng quy định tại khoản 12 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản năm 2016, đó là Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và doanh nghiệp đấu giá tài sản
- Chấp hành viên bán đấu giá đối với trường hợp tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc trường hợp tài sản thi hành án
là động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng10
Về thủ tục lựa chọn tổ chức đấu giá và ký hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản(theo khoản 2 Điều 101 Luật THADS):
- Đầu tiên, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày định giá, đương sự có quyền thoả thuận về tổ chức bán đấu giá, nếu thoả thuận được thì chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ án đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu giá do đương sự thoả thuận
- Tiếp theo, nếu hết thời hạn 05 ngày làm việc mà các đương sự không thoả thuận được về tổ chức bán đấu giá Chấp hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản (trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày định giá)
9 Khoản 2 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.
10 Khoản 3 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.