1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỳ vọng của người sử dụng lao động và nhận thức của người học về kỹ năng, kiến thức sinh viên ngành kế toán, kiểm toán

4 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỳ vọng của người sử dụng lao động và nhận thức của người học về kỹ năng, kiến thức sinh viên ngành kế toán, kiểm toán
Tác giả Nguyễn Thị Nhinh
Người hướng dẫn Nguyễn Ngọc Hà, Trương Thị Ọuỳnh Trang, Nguyền Trà Vinh
Trường học Trường Đại học Thương Mại
Chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán
Thể loại Nghiên cứu tổng quan
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 444,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NghiỀn CŨÌ1 ưao flổivà nhận thức của người học về kỹ năng, kỉếii thức sinh viên ngành Kế toán, Kiểm toán Nguyễn Ngọc Hà - Trương Thị Ọuỳnh Trang - Nguyền Trà Vinh * Biên tập: 29/01/2022

Trang 1

NghiỀn CŨÌ1 ưao flổi

và nhận thức của người học về kỹ năng, kỉếii thức

sinh viên ngành Kế toán, Kiểm toán

Nguyễn Ngọc Hà - Trương Thị Ọuỳnh Trang - Nguyền Trà Vinh * Biên tập: 29/01/2022

Duyệt đăng: 13/02/2022

Tóm tắt

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 sẽ ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nói riêng, trong đó lĩnh vực kế toán cũng không nằm ngoài xu hướng, số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng, đồng nghĩa với nhu cầu nhân lực kế toán ngày càng lớn Việc nhận diện các yếu tố vè kiến thức và kỹ năng của sinh viên ngành kế toán

sẽ là yếu tố cần thiết để đánh giá việc đáp ứng yêu cầu, trong cả khía cạnh đào tạo và tuyển dụng từ các doanh nghiệp Chính vì vậy, bài viết trình bày nghiên cứu tổng quan về kỳ vọng của người sử dụng lao động, cùng với nhận thức của người học về kỹ năng và kiến thức của sinh viên ngành kế toán, kiểm toán Từ việc tổng quan các nghiên cứu tiền nhiệm, là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu về khoảng cách đánh giá giữa nhà tuyển dụng

và sinh viên ngành kế toán, trong các nghiên cứu tiếp theo.

Từ khóa: kế toán, kiểm toán, khoảng cách kỳ vọng, kỹ năng, kiến thức.

Abstract

The process of deepening international economic integration with the significant growth in the industrial revolution 4.0 It will affect the of fields of professional activities in particular Besides, the field of accounting is not out of the trend The increasing number of businesses means that the demand for accounting human resources is increas­ ing Identifying factors on knowledge and skills of accounting students will be an essential element to evaluate the satisfaction of requirements in both training and recruitment aspects from businesses Thus, the article presents

an overview of the employer's expectations, along with the learners' perception of the skills and knowledge of ac­ counting and auditing students From the overview of previous studies, it is the fundamental for building a research model on the evaluation gap between employers and accounting students in future studies.

Key words: Accounting, Auditing, Skills, Knowledge

1 Đặt vấn đề

Một trong những vấn đề quan

trọng hiện nay là,sinh viên tốt nghiệp

cần đáp ứngđược yêu cầucủaxã hội,

nghĩa là đáp ứng được nhu cầu của

nhà tuyển dụng Điều này đòi hỏi,

sinh viên khôngnhững cần trang bị

chắc chắn kiến thức chuyên môn

ngành đàotạo, mà cần thiết phải thích

ứng nhanh với các kỹ năng, công

nghệ ngày càng caocủa xã hội.Trong

đào tạo, ngành kế toán, kiềm toán

được chia ra thành nhiều học phần, có

mối quan hệ một cách tổng thể để

cungcấp cho sinh viên hệ thống kiến

thứccầncó, đáp ứng được sự đa dạng

ngành nghề của các doanh nghiệp

hiện nay

Xuhướng đối với vai tròcủa kế toán, kiểm toán trong môi trường kinh doanh thay đổi, đặt ra câu hỏi

về những kỹnăngnàođược ưu tiên hàng đầu của nhu cầu thị trường hiện nay Quá trình chuyểnđổi của sinh viên tốt nghiệp đại học sang nơi làm việc đã trở nên dài hơn, phức tạp và khó khăn hơn Hiện nay,thế giới đang toàn cầuhóa, sinh viên tốt nghiệp ngành kếtoán, kiểm toán được kỳ vọng sẽ sờ hữu tập hợp nhiềulượngkiếnthức, kỳnăng chungvà đạo đức nghềnghiệpđêcó thể đáp ứng yêu cầu của nơi làm việc cũngnhư các nhà tuyển dụng

*Trường Đại học Thương Mại

Năng lựckế toán là không đủ cho đào tạo kế toán chuyên nghiệp và đôi khi cần được bổ sung bởi các năng lựckhácnhư tư duy sáng tạo, học tập thường xuyên,kỹ năng công nghệ thông tin và kỹ năng truyền thông, Khoảng cách giữa cáckỹ năng,kiến thức mà các cá nhân thực

sự sở hữu và cáckiến thức, kỹ năng cần thiếtcho nơi làm việc vẫnđang

là câu hỏi thiết thực mà các nhà nghiên cứuquan tâmnhất lúc này

Do đó, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, đề cập đến khoảng cách về kiến thức và kỷ năng của sinh viên ngành kế toán,

®Tạp chí ^Kếtoán & <sKiểm toán số tháng 3/2022 11

Trang 2

Nghiên CUÌJ trao flổi

kiếm toángiữa người sừ dụng lao

động vàngười học hiệnnay

2 Tồng quan nghiên cứu

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Các nghiên cứu về khoảngcách

kỳ vọng, cũng đã đề cập đến trong

nhiều nghiên cứu Hon mộtnửatrong

số cácnhà tuyển dụng cũngtin rằng,

các trường đại học đang chuẩn bị đầy

đù kỹ năng cho sinh viên, mặc dù

điều này dường như đã được kiểm

duyệt bời mộtý kiến giữa các nhà

tuyển dụng Các trường đại học có

được thưonghiệu tốtđược coilàcác

trường đại học đã đào tạo ra những

sinh viên tốtnghiệp có năng lực, để

đáp ứng nhucầu thị trường củangười

sư dụng lao động và nền kinh tế

(Parvu, Ipate,&Mitran, 2014) Trong

bốicảnh mới, sứmệnh củatrường đại

họcđã thay đôi và kiến thức cũng như

kỳ năng không còn đượccoi làsố ít

Ngày nay, vớisự phát triển ngày

càng quan trọng của công nghệ

thông tin trong môi trường thời đại

mới,vai trò củakế toán và kiếm toán

không hề đongiản Họ không chilà

những người chuân bị báo cáo tài

chính, kiêm toán và kê toán còn

đóng vai trò là người hồtrợ thông tin

(Yasin,Bayes & Czuchry, 2005) Sự

phát triển của côngnghệ thông tin

làm cho tính chất của công việc thay

đổi rấtnhanh, sinh viên tốt nghiệp

cần đạt được các thuộc tính mà có

thêgiúp họkhôngchi làm còng việc

tươngứng với ngànhhọc,mà còn có

the học hỏi thêm các kỹ năng mới và

kiến thức mới

Cácnghiên cứu trước đây cũngđã

ghi nhận một “khoảng cách kỳ vọng”

màtheo đó, sinh viên tốt nghiệp rời

khoi các trườngđại học không có các

kỹ nàngvà thuộc tính mà nhà tuyển

dụng mong đợi (Botes, 2009), (Jack-

ling & de Lange, 2009), (Low và cộng sự,2013),(Marshallvà cộng sự, 2010) Như mộtcách đểphân tích rõ hon về khoáng cách, được xác định trong các nghiên cứu trước đây (Bùi

và Porter, 2010) đã phát triển một khuôn khổ toàn diện, để giải thích khoáng cách giữa các kỳ năngvà kiến thứcđượcmong đợigiữasinhviên tốt nghiệp theo nghề vànhậnthứcsở hữu các kỹnăngnày.Cáctácgia giai thích rằng, cấutrúccủa khoang cách làbao gồm sự khác biệt về kỳ vọng của người sửdụng lao động và nhà giáo dục liênquan đến năng lực cần đạt được (khoảngcáchkỳ vọng), hạnche trong hiệuquà cua giáo dục kếtoán (khoangcách hạn chế)vàsựkhác biệt trong những năng lực mà các nhà giáo dụcmong đợi cóđược, bởi sinh viên tốt nghiệp vàcác nhà tuyểndụng tin rằng sinh viên tốtnghiệp thực sự sờ hữu (khoảng cáchhiệusuất)

Đốn năm (2015, Yee Ting Ngoo cùng các cộngsự) làKuiMingTiong

và Wei Fong Pok đã nghiên cứu về cầu nối, nhằm mục đích thu hẹp khoảng cách về kỹ năngnhận thức giữa nhà tuyển dụng và sinh viên tốt nghiệp ngành ke toán, ở Malaysia

Khoảng cách lớnnhất về thuộc tính được ưu tiên hàngđâu giữa nhà tuyên dụngvàsinh viêntốtnghiệp đượctìm thấy là có tới 5 cấp độ khác nhau trong kỹ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề, khà năng tiếp tục

và tập trung hoàn thành nhiệm vụ được giao: về kỹ nàng kỳ thuật, chì có thuếvà kiểm toáncó xếp hạng tương

tự từcả nhà tuyển dụng và sinhviên tốtnghiệp; trong khi ba kỹ năngkỳ thuật còn lại kếtoántàichính, kế toán quản trị và hệ thống thông tin có thứ hạng ưu tiên khác nhau, giữa nhà tuyển dụng và sinhviên Nguồn cung cấpsinhviêntốt nghiệpđược yêu cầu

điều chinh để đáp ứng nhu cầu thị trườngngày càng gia tăng, cải thiện

cà kỹ năng mềm và kỹ năng kỳ thuật

đề sinh viên có thể có những công việcvàcơ hội tốthơn

Ngoài ra, trong nghiêncứu định tính của (Nikitina & Furuoka, 2012) kếtquảcho thấy rằng, các kỳ năngmềm có tác độngnhiều hơn trong việc thu hẹp khoảng cách nhận thức giữa nhà tuyên dụng và sinhviên tốt nghiệp

Có rất nhiều mối quantâm của các nhà hoạch định chính sách và các đối tác xà hội trên khấp châu Âu, về khoảng cách giữa kỳ năng màngười lao động sởhữu và nhu cầu của thị trường lao động Năm (2013, Mo­ hamed Faker Klibi vàAhmed Atef Oussii) nghiên cứu về kỳ vọng của nhà tuyển dụng có phù hợp với nhận thức của sinh viên hay không Ket quả của bàiviết,nhằmphân tích nhận thức của sinhviên về các kỹnăngcần thiếtvà cốgắngđưa họ đếngần hơn với kỳ vọng của nhà tuyển dụng Trong trườnghợp tạiĐại học Tunisia, cho thấycó sự tồn tại giữa cáckhoảng cách có thể là kết quà của sự thiếu giao tiếpgiữa sinh viênvà các chuyên gia Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù

có một sựđồng nhất giữa nhận thức cùa cả hai nhóm nhưng vẫn xuấthiện một số khoảng cách đáng kể “Kỹ nănggiao tiếp cơ bản”, “kỹ nănggiải quyết vấn đề”, “kiến thức kế toán tài chính và báo cáo tài chính”, “năng lực chuyênmôn” là những thuộc tính ít xuất hiện khoảngcách, khi màđược

cà hai đánh giá là những kỹ năng quan trọng nhất Trong khi sinhviên không đánh giá cao về các kỹ năng lãnh đạo thì nhà tuyên dụng lại xem đây là kỹ năngquantrọng hàng đầu Nghiên cứu năm (2018,Atanasko Atanasovski cùng Zorica Bozhi-

78 -I(ỊỊ) chí 'Ké toán &‘ KKiểnt toán số th áng 3/2022

Trang 3

Nghiên cihi trao dổi

novska Lazarevska) đã điều trahiệu

quả nhận thức củagiáo dục kế toán tại

các trường đại học, để phát triển

những kỹ năngquan trọng ở mức độ

phù hợp.Xem xét sự khácbiệt,đãxác

định giữa tầm quan trọng của nhận

thức sinh viên vềsở hữu kiến thức và

kỹnâng nhất định trong số các sinh

viên tốt nghiệp, nghiên cứu vào kỳ

vọng của nhà tuyển dụng cho thấy

những khoảng cách và đề ra giải

pháp, để cóthể cải thiện chấtlượng

chương trình giáo dục và quá trình

tuyến dụng cũngnhư sự sẵn sàng làm

việc củasinh viên tốt nghiệp.Các nhà

tuyên dụng và sinh viên đồngýrằng,

quá trình giáo dục và chương trình

cần cải tiến để chophép phát triểntốt

hơn những kỹ năng chuyên môn và

kỹ năng chung của sinh viên tốt

nghiệpmới ra trường

Năm(2016,MaryLow cùng cộng

sự)làVida Botesvà DavidDela

Rue-Jackie Allen, dựa trên những phát

hiện một số các khuyếnnghị chính đã

được thực hiện, bao gồmnhiều hơn

các các kỹnăng trong giáo dục kế

toán thông qua việc kết hợp các

Ị nghiên cứu tình huống thực tế các vấn

đề trong chương trình kế toán, liên

quan đến thảo luậnnhómvà thiết lập

các báo cáo bằng văn bản, các bài

thuyết trình kinh doanh cho “khách

hàng” của họ cũng như tiếp tục

khuyến khích các cơ hội thực tập

trong các trình độ đại học Nghiên

cứu này pháthiện ra rằng,phần lớn

nhà tuyếndụng hài lòngvới sinhviên

tốt nghiệpkếtoánvà kỳ vọngcủahọ

làđược đáp ứng

Qua các nghiêncứu nước ngoài,

về khoảng cách giữa người học và

kỳ vọng của người sử dụng lao

động Nhóm tác giả thấy rằng, vẫn

xuất hiện khoảng cách, khác biệt

đáng kểgiữa nhận thức và kỳ vọng

Người học đánh giá cao kiến thức chuyên môn, cũngnhư các trường đại học chú trọng cung cấp kiến thức cho sinh viên thay vì đào tạo sâu hơn các kỹ năng khác như: giao tiếp, lãnh đạo, kỹ năng thôngtin,kỹ năng giải quyết vấn đề đúngvới kỳ vọng củangười sử dụng lao động

2.2 Các nghiên cứu Việt Nam

Các quan điểm truyền thống ở ViệtNam cho rằng, các trường đại học giáo dục và đào tạo nhằm hướngtới cho sinh viên làmviệc lâu dài là không còn thích hợp, trong bối cảnh hiện nay Vai trò truyền thống của các trườngđại học, trong việctruyềnđạtkiến thức đã thay đổi

đểtậptrung nhiềuhơn vào nhu cầu của xã hội "Kiến thức được hệ thống hóa" có được từviệc giảng dạy giáotrình ở các trườngđại học,

cóthế mâu thuẫnvới kiếnthức cần thiết tại nơi làm việc thực tế Giống như những nơi khác trên thế giới, các nhà tuyển dụng ở Việt Nam cũng mong muốn thuộc tính tốt nghiệp của sinh viên, phù hợp với nơi làm việc hiện đại

Các nghiên cứu trong nước về khoảng cách, giữa kỳ vọng của người sử dụng lao động và nhận thức của người học vẫn còn hạn chế Có thể kể đến nghiên cứu của (Mai Thị Quỳnh Lan vàcộng sự, 2018) Khảo sát sinh viên tại Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả mong đợi rằng, việc đánh giá từcác nhà tuyển dụng đối với các chương trình đàotạo cùngvới sự tựđánh giácủa sinh viên tốtnghiệp, sẽ đưa ra hiểu biết về kỳ vọng củathị trường cho sinh viêntốt nghiệp Tác giả nhận thấy rằng, hiện nay các trường đại học ở Việt Nam cung cấp chương trình và các kỹ năng cần thiết chưa đầy đủ, thực tế phản ánh sinh viên

ViệtNam tốt nghiệp không có các thuộc tínhcần thiếtđể đáp ứng các yêucầu củanơi làm việc, cũng như yêu cầu của các nhà tuyểndụng Nghiên cứu của (Mai Thị Quỳnh Lan và cộng sự, 2018) vẫn chưađi sâu vềkhoảng cách kỳ vọng,khi mà chú trọng phân tíchchươngtrình đào tạoở các trường đại họcViệt Nam có đáp ứng với kỳvọng của nhà tuyển dụng hay không? Trong khi nguồn gốc xuất phát khoảng cách kỳ vọng nhận thấy là, giữa nhận thức của người học - sinhviên với người sử dụng laođộng- nhà tuyển dụng Trên cơ sở các nghiên cứu tiền nhiệm trong nướcvà ngoài nước,các yếu tố đolường đếnkhoảng cáchgiữa nhận thức của ngườihọc vàkỳ vọng của người sử dụng lao động, được tổng hợp ởBảngl

3 Kết luận

Việc nghiên cứu khảo sát khoảng cách giữa kỳ vọng của người sử dụng lao động và người học về kỹ năng và chuyên môn của sinh viênngành kế toán, kiểm toán

là cần thiết, trong giai đoạn hiện nay Để có được kết quả khảo sát tiếp theo này, trước hết cần khái quáttìm hiểu các nghiêncứu về vấn

đềnày Các nghiên cứu đưa ra nhiều các kiến thức và kỹ năng mà yêu cầu một sinh viên ngành kế toán, kiểm toán hiện nay cần đáp ứng được, liên quan đến kỹ năng chuyên môn, kỹ năngtư duy phản biện, kỹ nănggiaotiếp, kỹ năng đánhgiá và phân tích, Các nội dung nghiên cứu này được đưa vào mô hình nghiên cứu tiếp theo, để giúp sinh viên không ngừng nâng cao nhận thức nghề nghiệp và vai trò của nghề nghiệp ở mức cao hơn Bên cạnh đó, giúp người sử dụng lao

hạp chi 'õKểtoán &<Kưỉm toán số tháng 3/2022 79

Trang 4

Nghiền cihi tran rtl

Bảng 1: Tổng hợp nghiên cứu

STT Yếu tố đo lường

khoảng cách

Nguồn

1 Kỹ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề

+ Yee Ting Ngoo và cộng sự (2015) + Mohamed Faker Klibi và Ahmed Atef Oussii (2013) + Mai Thị Quỳnh Lan và cộng sự (2018)

2 Kỳ năng chuyên môn + Yee Ting Ngoo và cộng sự (2015)

+ Mohamed Faker Klibi và Ahmed Atef Oussii (2013)

3 Kỹ năng chung + Mohamed Faker Klibi và Ahmed Atef Oussii (2013)

+ Mai Thị Quỳnh Lan và cộng sự (2018)

4 Kỹ năng mêm

+ Mohamed Faker Klibi và Ahmed Atef Oussii (2013) + Nikitina & Furuoka (2012)

+ Yee Ting Ngoo và cộng sự (2015)

5 Khả năng tiếp tục và hoàn

thành nhiệm vụ

+ Yec Ting Ngoo và cộng sự (2015) + Mai Thị Quỳnh Lan và cộng sự (2018)

6 Kỹ năng công nghệ thông tin

+ Mai Thị Quỳnh Lan và cộng sự (2018) + Mohamed Faker Klibi và Ahmed Atef Oussii (2013) + Yee Ting Ngoo và cộng sự (2015)

7 Kỹ nàng giao tiếp

+ Mohamed Faker Klibi và Ahmed Atef Oussii (2013) + Mai Thị Quỳnh Lan và cộng sự (2018)

+ Yee Ting Ngoo và cộng sự (2015)

8 Kỹ năng tài chính + Mohamed Faker Klibi và Ahmed Atef Oussii (2013)

9 Kỹ năng lãnh đạo

+ Mohamed Faker Klibi và Ahmed Atef Oussii (2013) + Mai Thị Quỳnh Lan và cộng sự (2018)

+ Yee Ting Ngoo và cộng sự (2015)

(Nguồn: nhỏm tác giả tổng hợp)

động cónhững tiêu chí phù hợp khi

đánh giángườihọc, trong giai đoạn

chuyển từ môitrường học đến làm

việc thực tế.n

Tài liệu tham khào

1 Atanasko Atanasovski, Zorica Bozhi-

novska Lazarevska, (2018), “Accounting

Students’ and Employers' Perceptions on

Employability Skills in the SEE Country ”.

2 Botes, V L, (2009), “The perception

of the skills required and displayed by man­

agement accountants to meet future chal­

lenges

3 Bui, B., & Porter, B, (2010), “The ex ­

pectation-performance gap in accounting

education: an exploratory study Accounting

Education: An International Journal ” 19

(1), 23-50.

4 Jackling, B., & de Lange, p, (2009),

“Do accounting graduates ’ skills meet the

expectations of employers? A matter of con­

vergence or divergence Accounting Educa­

tion: An International Journal” 18(4-5), 369-85.

5 Low, M., Samkin, G & Liu, c, (2013), “ Accounting Education and the Provision of Soft Skills: Implications of the recent NZICA CA Academic requirement changes ” E-Joumal of Business Education

& Scholarship of Teaching, 7(1), 1-33.

6 Mai Thị Quỳnh Lan, (2018), “ Skill Gap from Employers ” Evaluation: The Case of Graduates from Vietnam National University, Hanoi ”

7 Marshall, p, Dombroski, R., Gamer, R., & Smith, K., (2010), “The accounting education gap" CPA Journal, 80(6), 6-10.

8 Mary Low, Vida Botes, David Dela RueJackieAllen, (2016), “Accounting Em ­ ployers” Expectations The Ideal Account ­ ing Graduates.

9 Mohamed Faker Klibi and Ahmed Atef Oussii, (2013), “Skills and Attributes Needed for Success in Accounting Career:

Do Employers ' Expectations Fit with Stu­

dents’ Perceptions? Evidence from Tunisia ”

10 Nikitina L., Furuoka E, (2012),

“ Sharp Focus on Soft Skills: A Case Study

of Malaysian University Students’ Educa­ tional Expectations ” Educational Research for Policy and Practice, pp.207-224.

11 (Parvu, I, Ipate, D.M., & Mitran, P.C) “Identification of Employability Skills- Starting Point for the Curriculum Process" Economics, Management, and Financial Markets, pp 237-246, 2014.

12 (Yasin, M.M., Bayes, P.E and Czuchry, A.J) “The Changing Role of Ac­ counting in Supporting the Quality and Customer Goals of Organizations: An Open System Perspective ” International Journal of Management, 22, 323-331, 2005.

13 (Yee Ting Ngoo, Kui Ming Tiong, Wei Fong Pok) “Bridging the Gap of Per­ ceived Skills between Employers and Ac­ counting Graduates in Malaysia ’ ’American Journal of Economics, 2015.

ỄLÍ.-Ể ỉụp chi 'Ké toán, (S' 'Kiểm toán, số tháng 3/2022

Ngày đăng: 08/11/2022, 15:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w