1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của bộ luật lao động đến người sử dụng lao động và người lao động trong bối cảnh đại dịch covid 19

9 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện các công việc nhàm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, t

Trang 1

TẤC ĐỘNG CÙA Bộ LUẬT LAO ĐỘNG ĐẾN NGƯỜI sử DỤNG

LAO ĐỘNG VA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG

BỚI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID - 19

Bùi Văn Bằng * , Nguyễn Thị Hồng Thúy ** ,

Đoàn Thị Huệ *** , Nguyên Anh Tuân

* Thạc sĩ, Trường Đại học Tài chính - Quàn trị kinh doanh, Email: bang.tcqtkd@gmail.com

" Thạc sĩ, Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh, Email: hongthuy.ufba@gmail.com

**’ Thạc sĩ, Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh, Email: doanhuedhtm@gmail.com

""Thạc sĩ, Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh, Email: nguyenanhtuan.ufba@gmail.com

Ngày nhận bài: 19/01/2022

Ngày nhận bài sửa: 20/02/2022

Ngày duyệt đăng: 06/03/2022

Tóm tắt: Đại dịch Covid-19 bùng phát đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến tỉnh mạng, sức khỏe của con người và kinh tế - xã hội của đất nước Chính phủ áp dụng mạnh các biện pháp giãn cách xã hội đã khiến cho tình hình lao động việc làm và thất nghiệp có dấu hiệu bị ảnh hưởng tiêu cực nặng nề, hàng chục vạn doanh nghiệp đã tạm ngừng kỉnh doanh, giải thế vì dịch bệnh, tình trạng chẩm dứt họp đồng lao động trong thời điểm dịch bệnh vẫn tiến triển theo chiều hướng khó lường Trong bài viết này, tác giả phân tích những tác động, ảnh hưởng của Bộ luật Lao động năm 2019 đến người sử dụng lao động và người lao động trong bổi cảnh đại dịch Covid- 19, đề cập một sổ điểm bẩt cập, hạn chế khiển cho người sử dụng lao động và người lao động gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi thực thi các quy định của Bộ luật và nêu một sổ kiến nghị hoàn thiện pháp luật lao động.

IMPACT OF LABOR CODE TO EMPLOYERS AND EMPLOYEES

IN THE CONFIGURATION OF co VID-19 PANDEMIC

health and the country's socio-economic development The government's strong application of social distancing measures has caused the labor, employment and unemployment situation to show signs of being severely negatively affected, tens of thousands of businesses have suspended business or been dissolved because of the epidemic, the situation of termination of labor contracts during the time of the epidemic is still progressing in an unpredictable direction In this article, the author analyzes the impacts and influences of the Labor Code in 2019 on employers and employees in the context of the Covid-19 pandemic, mentioning a number of inadequacies and limitations The mechanism causes many difficulties for employers and employees when implementing the provisions of the Code and makes a number of recommendations to improve the labor law.

Keywords: Labor Code; Enterprise; Covid — 19; Labor; Labor contract; Job.

Số 25 tháng 3 năm 2022 55 Tạp chí Tài chính - Quản trị kinh doanh

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Đại dịch Covid-19 bùng phát trên diện rộng

đã đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức

khỏe con người và kinh tế - xã hội của đất nước,

đặc biệt làm gia tăng nghèo đói và tăng tỷ lệ thất

nghiệp ở quy mô toàn cầu Riêng tại Việt Nam

đã và đang trải qua bốn làn sóng lây nhiễm

Covid -19 nghiêm trọng, khiến hoạt động kinh

doanh, sản xuất bị ngưng trệ Tính đến tháng

01/2022, toàn cầu có hơn 326.961.733 ca nhiễm

được ghi nhận khoảng 5,4 triệu ca tử vong,

riêng tại Việt Nam đã có hơn 2.023.546 ca

nhiễm và 35.609 ca tử vong, dịch Covid-19 bao

phủ hầu hết các tỉnh, thành của Việt Nam [2],

Trước diễn biến phức tạp, khó lường của dịch

Covid-19, chính quyền các quốc gia hiện đang

phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ dịch bệnh

nói chung và chính quyền Việt Nam nói riêng

đã đề cao phương án chấp nhận hy sinh lợi ích

kinh tế trước mắt để ưu tiên bảo vệ tính mạng,

sức khỏe của người dân, thậm chí áp dụng các

biện pháp giãn cách xã hội cục bộ hoặc trên

diện rộng, cách ly người với người, địa phương

với địa phương nhằm kiên quyết ngăn chặn và

đẩy lùi dịch bệnh

Ngày 01/2/2020, Thủ tướng Chính phủ ban

hành Quyết định số 173/QĐ-TTg năm 2020 về

công bố dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng

mới của vi rút Corona gây ra Tiếp đến, ngày

01/4/2020, Quyết định số 447/QĐ-TTg năm

2020 công bố dịch Covid -19 do Thủ tướng

Chính phủ ban hành thay thế Quyết định số

173/QĐ-TTg đã ghi nhận Covid -19 là dịch

bệnh truyền nhiễm tại Việt Nam và ban hành

một số biện pháp phòng, chống dịch gây ảnh

hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp và việc

làm như tổ chức cách ly y tế và kiểm soát ra,

vào vùng có dịch Quyết định số 447/QĐ-TTg

cùng với hai Chỉ thị số 15/ CT-TTg ngày

27/3/2020 và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày

31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã thể hiện

các biện pháp mạnh mẽ, chấp nhận thiệt hại

kinh tế đế ưu tiên bảo vệ sức khỏe của người

dân, như cách ly toàn xã hội, tạm đình chỉ hoạt

động các cơ sở kinh doanh dịch vụ trên địa bàn,

trừ các cơ sở kinh doanh các loại hàng hóa, dịch

vụ thiết yếu và hạn chế việc di chuyển của

người dân

Tuy vậy, việc áp dụng mạnh các biện pháp giãn cách xã hội đã khiến cho các doanh nghiệp

ở nước ta hoạt động cầm chừng, người lao động thiếu việc làm và thất nghiệp ở nước ta bị ảnh hưởng nặng nề và có xu hướng tăng nhanh Theo số liệu thống kê sơ bộ có 19% doanh nghiệp đã tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô; 98% lao động khu vực du lịch, dịch vụ nghỉ việc; 78% lao động ngành vận tải, giày da, dệt may bị giảm việc làm, giãn việc hoặc ngừng việc; 98% lao động hàng không tạm nghỉ việc Hàng triệu lao động đã và đang bị ảnh hưởng nặng nề, đặc biệt là lao động giản đơn có thu nhập thấp và không thường xuyên Trong tháng 02/2020 số người thất nghiệp trên cả nước đã nộp hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm thất nghiệp khoảng 47,1 nghìn người, tăng 63,26% so với tháng 01/2020 [7], Quý II năm 2020, lực lượng lao động của Việt Nam giảm 2,2 triệu so với quý I và giảm 2,4 triệu người so với cùng kỳ năm ngoái Tỷ lệ thất nghiệp 2,73% cao nhất trong 10 năm qua và tỷ lệ tham gia thị trường lao động giảm sâu hơn ở khu vực nông thôn và lực lượng lao động nữ Đến hết tháng 6/2020, Việt Nam có 30,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên

bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch Covid-19, bao gồm: mất việc, giảm giờ làm, giảm thu nhập [8], Các doanh nghiệp áp dụng giải pháp cắt giảm lao động đã diễn ra trên diện rộng Trong số 21.517 doanh nghiệp tham gia khảo sát, doanh nghiệp “tạm ngừng hoạt động do dịch”, biện pháp “cắt giảm lao động từ 75% đến dưới 100%” được lựa chọn nhiều nhất với tỷ lệ 24% Chính sách “không cắt giảm lao động, cho lao động nghỉ tạm thời không hưởng lương lúc dịch chưa được kiểm soát” cũng được nhiều doanh nghiệp lựa chọn với tỷ lệ 23% Tỷ lệ các doanh nghiệp “duy trì sản xuất kinh doanh” lựa chọn 2 chính sách tương ứng trên lần lượt là 5%

và 13% Đối với doanh nghiệp “duy trì sản xuất kinh doanh”, chính sách với lao động phổ biến nhất mà các doanh nghiệp này lựa chọn là

“không cắt giảm lao động và duy trì chính sách lương, phúc lợi như trước và “không cắt giảm lao động nhưng giảm giờ làm/giảm lương” với

tỷ lệ lựa chọn lần lượt là 27% và 24% Nhóm doanh nghiệp “tạm ngừng hoạt động do dịch” thực hiện chính sách “không cắt giảm lao động

và duy trì chính sách lương” chỉ đạt tỷ lệ 6%, ít

Số 25 tháng 3 năm 2022 56 Tạp chí Tài chính - Quản trị kỉnh doanh

Trang 3

hơn 1/4 so với tỷ lệ này ở các doanh nghiệp

“duy trì sản xuất kinh doanh” Tỷ lệ doanh

nghiệp “tạm ngừng hoạt động do dịch” có khả

năng thực hiện chính sách “không cắt giảm lao

động nhưng giảm giờ làm/giảm lương” là 16%,

bằng khoảng 3/5 so với với tỷ lệ này ở các

doanh nghiệp “duy trì sản xuất kinh doanh”[l]

Thu nhập bình quân tháng của lao động quý II

năm 2021 đạt 6,1 triệu đồng, giảm 226 nghìn

đồng so với quý trước, hầu hết các ngành kinh

tế đều ghi nhận mức giảm thu nhập bình quân

của người lao động (NLĐ) so với quý I năm

2021 [6] Trong số 26.378 người tham gia

khảo sát trả lời đang có việc, 45% số người trả

lời cho biết tiền lương của họ giữ nguyên, số

lao động trả lời được tăng lương chiếm tỷ lệ

rất nhỏ khoảng 0,4% Gần 19% số người trả

lời cho biết họ có việc làm nhưng tiền lương

giảm 50% Bên cạnh đó, 13,6% lao động đang

có việc trả lời tiền lương của họ bị giảm 20%

và lý do này tập trung vào nhóm lao động đang

duy trì làm việc online, số lao động có việc

làm nhưng lương giảm tới 80% hoặc nhận

lương tùy thuộc vào sản phẩm làm ra trong

tháng chiếm tỷ lệ tương ứng lần lượt là 4.5%

và 11,7% [1],

Trong bối cảnh đó, Bộ luật Lao động năm

2019 (BLLĐ năm 2019) có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/01/2021 đã có tác động đối với

quan hệ lao động thể hiện trên nhiều mặt tích

cực cũng như tiêu cực Trong bài viết này tác

giả trích dẫn một số điều khoản trong BLLĐ

năm 2019 có thể giúp cho người sử dụng lao

động (NSDLĐ) và NLĐ duy trì quan hệ lao

động trong thời điểm Covid -19, tránh phải kết

thúc quan hệ lao động Mặt khác, còn tồn tại

một số bất cập trong các quy định của BLLĐ

năm 2019 khiến cho các bên trong quan hệ lao

động gặp phải khó khăn, vướng mắc khi thực

hiện các biện pháp linh hoạt, dẫn đên nguy cơ

phải chấm dứt quan hệ lao động hoặc tạo điều

kiện cho bên NSDLĐ lợi dụng để chấm dứt

quan hệ lao động

2 Tác động, ảnh hương của Bộ luật Lao

động năm 2019 đến người sử dụng lao động

và người lao động trong bối cảnh đại dịch

Covid -19

2.1.1 Quyền đơn phương chấm dứt họp đồng lao động cùa người sử dụng lao động

Đại dịch Covid - 19 khiến người sử dụng lao động (NSDLĐ) rất khó khăn trong việc duy trì hoạt động kinh doanh, sản xuất của mình như bình thường, kể cả khi là cơ sở kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu Do đó, nhu cầu cắt giảm chi phí để giữ cho doanh nghiệp được tồn tại qua các đợt giãn cách, cách ly trở thành một trong những biện pháp “sống còn” của doanh nghiệp, mà chi phí nhân sự luôn là vấn

đề được ưu tiên quan tâm Pháp luật lao động

đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) của NSDLĐ trong tình hình doanh nghiệp khó khăn vì các lý do gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bởi các yếu

tố ngoại lực Cụ thể điểm c, Khoản 1 Điều 36 BLLĐ năm 2019 quy định: "Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiếm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người

sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc; ”[5]

Lý do bất khả kháng khác thuộc một trong các trường họp sau đây [3]:

- Do địch họa, dịch bệnh;

- Di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

So sánh với phiên bản Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2012, BLLĐ năm 2019 quy định trường hợp dịch bệnh để phát sinh quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ phải là

“dịch bệnh nguy hiểm”, còn BLLĐ năm 2012 chỉ quy định là “dịch bệnh” [4], Sự thay đổi này cho thấy BLLĐ năm 2019 giới hạn chặt chẽ hơn quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ so với BLLĐ năm 2012

Xét trong bối cảnh dịch Covid -19, Quyết định số 219/QĐ-BỴT ngày 29/01/2020 của Bộ

Y tế Việt Nam đã bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định tại Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, theo đó, Quyết định số

Số 25 tháng 3 năm 2022 57 Tạp chí Tài chính - Quản trị kinh doanh

Trang 4

219/QĐ-BYT quy định các hoạt động phòng,

chống dịch Covid -19 được thực hiện theo quy

định đối với bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy

hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán

rộng và tỷ lệ từ vong cao (thuộc nhóm A theo

quy định tại Luật Phòng, chống bệnh truyền

nhiễm nãm 2007) Do đó, các doanh nghiệp

hoàn toàn có thể áp dụng điểm c, Khoản 1 Điều

36 BLLĐ năm 2019 để thực hiện quyền đon

phương chấm dứt HĐLĐ đối với NLĐ, tức là

trong tình hình dịch Covid-19, việc chấm dứt

hay không quan hệ lao động thuộc quyền tự

quyết định của NSDLĐ

Việc chấm dứt quan hệ lao động trên diện

rộng trong thời điểm dịch Covid -19 gây hậu

quả nặng nề cho chính sách việc làm, tạo gánh

nặng đối với hệ thống an sinh xã hội quốc gia

và nhiều hệ lụy đến kinh tế - xã hội Cho nên

cần phải xem việc chấm dứt HĐLĐ là biện pháp

cuối cùng trong lúc doanh nghiệp tìm kiếm các

biện pháp ứng phó với dịch Covid -19 và nếu

có áp dụng thì cũng phải theo một trình tự chặt

chẽ để bảo đảm thu nhập và các quyền lợi hợp

pháp khác của NLĐ

Bên cạnh cơ chế cho phép NSDLĐ có quyền

đơn phương chấm dứt HĐLĐ, BLLĐ năm 2019

còn quy định một số biện pháp linh hoạt nhằm

duy trì quan hệ lao động, giữ việc làm trong và

sau thời điểm dịch Covid -19, gồm: Thỏa thuận

nghỉ không lương; Thỏa thuận trả lương ngừng

việc; Trả lương chậm; Thỏa thuận tạm hoãn

thực hiện họp đồng lao động; Thỏa thuận về địa

điểm làm việc

2.1.2 Làm thêm giờ trong trường hợp đặc

biệt

Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian

người lao động làm việc ngoài giờ làm việc

bình thường đã được quy định trong pháp luật,

thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao

động Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc

biệt, trong đó có trường hợp dịch bệnh nguy

hiểm người sử dụng lao động không phải hoàn

toàn tuân theo đầy đủ các quy định đó

Tại Điều 108 Làm thêm giờ trong trường

hợp đặc biệt: “Người sử dụng lao động có

quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào

bất kỳ ngày nào mà không bị giới hạn về số giờ

làm thêm theo quy định tại Điều 107 của Bộ

luật này và người lao động không được từ chối trong trường họp sau đây:

1 Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật;

2 Thực hiện các công việc nhàm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức,

cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động”

Như vậy, trong trường hợp dịch bệnh nguy hiểm thì người sử dụng lao động:

- Có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào; có quyền quyết định

số giờ làm thêm mà không bị giới hạn bời quy định của pháp luật

- Có nghĩa vụ trả lương làm thêm giờ cho người lao động theo quy định của pháp luật

2.1.3 Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động

Vấn đề về chuyển lao động là một trong những vấn đề tất yếu xảy ra trong quan hệ lao động, đó là trường hợp mà người lao động đang làm một công việc được thỏa thuận trong hợp đồng phải chuyển sang vị trí hoặc công việc khác theo ý chí của người sử dụng lao động trong khuôn khổ các lý do mà pháp luật quy định Mặc dù việc điều chuyển xuất phát từ ý chí của người sử dụng lao động, và mặc dù nó được điều chinh bởi luật nhưng ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống của người lao động Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ

và đảm bảo việc làm cho người lao động nên pháp luật lao động cũng quy định rất chặt chẽ

về các trường hợp người sử dụng lao động được điều chuyển công việc cho người lao động và quyền lợi của người lao động được hưởng khi

bị điều chuyển Theo quy định của pháp luật lao động, khi ký kết họp đồng lao động các bên phải tuân thủ theo nội dung hợp đồng đã ký kết Nếu có sự thay đổi khi thực hiện họp đồng cần phải có sự đồng ý của các bên Một trong số các trường họp đặc biệt, đó là khi gặp khó khăn đột xuất do dịch bệnh nguy hiểm Đây là một trong

Số 25 tháng 3 năm 2022 58 Tạp chí Tài chính - Quản trị kinh doanh

Trang 5

những trường hợp được quy định tại Điều 29

Bộ luật Lao động năm 2019 Chuyển người lao

động làm công việc khác so với hợp đồng lao

động Đối với trường hợp này, người sừ dụng

lao động:

- Được quyền tạm thời chuyển người lao

động làm công việc khác so với hợp đồng lao

động nhưng không được quá 60 ngày làm việc

cộng dồn trong 01 năm; trường họp chuyển

người lao động làm công việc khác so với họp

đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn

trong 01 năm thì chỉ được thực hiện khi người

lao động đồng ý bằng văn bản

- Có nghĩa vụ: Phải báo cho người lao động

biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo

rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù

hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động;

phải trả lương cho người lao động theo công

việc mới, nếu tiền lương của công việc mới thấp

hon tiền lưong của công việc cũ thì phải trả

nguyên tiền lưong của công việc cũ trong thời

hạn 30 ngày làm việc Đối với công việc mới,

thì tiền lưong phải trả ít nhất phải bằng 85% tiền

lưong của công việc cũ nhưng không thấp hon

mức lưong tối thiểu; phải trả lưong ngừng việc

theo quy định của pháp luật nếu người lao động

không đồng ý tạm thời làm công việc khác so

với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc

cộng dồn trong 01 năm

2.2. Đối với người lao động

2.2.1 Quyền của người lao động khi chuyên

làm công việc khác so với hợp đồng lao động

Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều

29, Bộ luật Lao động năm 2019 Chuyển người

lao động làm công việc khác so với hợp đồng

lao động: “ (2) Khi tạm thời chuyển người lao

động làm công việc khác so với hợp đồng lao

động quy định tại Khoản 1, Điều này, người sử

dụng lao động phải báo cho người lao động biết

trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời

hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù họp

với sức khỏe, giới tính của người lao động (3)

Người lao động chuyển sang làm công việc

khác so với hợp đồng lao động được trả lương

theo công việc mới Neu tiền lương của công

việc mới thấp hơn tiền lương của công việc cũ

thì được giữ nguyên tiền lương của công việc

cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc Tiền lương

theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% tiền lương của công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu (4) Người lao động không đồng ý tạm thời làm công việc khác so với họp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm mà phải ngừng việc thì người sử dụng lao động phải trả lương ngừng việc theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật này”

Như vậy, trong trường hợp dịch bệnh, người lao động khi chuyển làm công việc khác so với họp đồng lao động có quyền:

- Được người sử dụng lao động báo trước ít nhất 03 ngày làm việc khi tạm thời chuyển làm công việc khác so với hợp đồng lao động;

- Được thông báo rõ thời hạn làm tạm thời

và được bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của người lao động;

- Được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu;

- Được trả lương ngừng việc (nếu người lao động không đồng ý tạm thời làm công việc khác

so với hợp đồng lao động quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong 01 năm mà phải ngừng việc) như sau:

+ Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu; + Trường họp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu

2.2.2 Quyền cùa người lao động trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chẩm dứt hợp đồng lao động

Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động với lý do dịch bệnh sau khi đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp chỗ sản xuất, giảm chỗ làm việc thì người lao động có các quyền sau đây:

- Được báo trước:

Số 25 tháng 3 năm 2022 59 Tạp chí Tài chính - Quản trị kỉnh doanh

Trang 6

+ ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động

không xác định thời hạn;

+ ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động

xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến

36 tháng;

+ ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng

lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12

tháng và đối với trường hợp người lao động bị

ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối

với người làm việc theo họp đồng lao động

không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06

tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp

đồng lao động xác định thời hạn ó thời hạn từ

12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn

họp đồng lao động đối với người làm việc theo

họp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn

dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi

phục

+ Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc

thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo

quy định của Chính phủ

- Được trợ cấp thôi việc: Trợ cấp thôi việc

được trả với mức: Mỗi năm làm việc được trợ

cấp một nửa tháng tiền lương (áp dụng cho

người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ

12 tháng trở lên)

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc

là tống thời gian người lao động đã làm việc

thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời

gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất

nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội

và thời gian làm việc đã được người sử dụng

lao động chi trả trợ cấp thôi việc

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền

lương binh quân theo hợp đồng lao động của 06

tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc

2.2.3 Làm thêm giờ trong trường hợp đặc

biệt

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 108 Làm

thêm giờ trong những trường hợp đặc biệt, Bộ

luật Lao động năm 2019: “2 Thực hiện các

công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài

sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng

ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn,

dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường

họp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức

khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động”

Như vậy, pháp luật coi làm thêm giờ khi có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra là một trong những trường họp đặc biệt Khi làm thêm giờ, người lao động:

- Có quyền được hưởng lương làm thêm giờ: Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau: Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; Vào ngày nghỉ

lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ

có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày; Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương làm ban đêm, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết

- Có nghĩa vụ: Tuân theo yêu cầu của người

sử dụng lao động về làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào và số giờ làm thêm, người lao động không được từ chối

2.2.4 Người lao động được đơn phương chẩm dứt hợp đồng không cần lý do

Ảnh hưởng của dịch bệnh thời gian vừa qua

đã khiến nhiều doanh nghiệp buộc phải cắt giảm lao động Điều này sẽ gây khó khăn rất lớn cho việc tìm kiếm nguồn lao động trở lại của các doanh nghiệp khi phục hồi sản xuất sau dịch bệnh, đặc biệt là đối với các ngành nghề yêu cầu lao động có tay nghề, chuyên môn nhất định như cơ khí, điện tử Riêng đối với các doanh nghiệp gắn liền hoạt động sản xuất phía nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An với đặc thù sử dụng nhiều lao động nhập cư từ các địa phương khác, việc thực hiện phương châm “3 tại chỗ” của doanh nghiệp sẽ có hạn chế dễ xảy ra việc lây lan dịch bệnh Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp cũng đã chủ động thực hiện phương án cho người lao động làm việc từ xa Sau gần hai năm phòng chống dịch Covid -19, khái niệm làm việc từ xa, làm việc tại nhà đã dần trở nên quen thuộc với người

Số 25 tháng 3 năm 2022 60 Tạp chí Tài chính - Quản trị kinh doanh

Trang 7

lao động, nhiều doanh nghiệp cũng đã tranh thủ

chuyển đổi số và áp dụng công nghệ để quản lý

sao cho duy trì được công việc một cách tốt

nhất Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn rất nhiều

ngành nghề khác vẫn đang bị ảnh hưởng

nghiêm trọng, bởi căn cứ quy định tại Khoản 1,

Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019, một số

không nhỏ người lao động đã quyết định chọn

quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

không cần lý do và đã rời bỏ các thành phố lớn

về quê tránh dịch Riêng thành phố Hồ Chí

Minh, đầu tàu kinh tế của cả nước trong nhiêu

tháng nay đã phải khựng lại vì thành phố buộc

phải thực hiện chống dịch thông qua các lệnh

phong tỏa, giãn cách chặt chẽ chưa từng có, sô

lao động bị mất việc quá lớn chưa từng xảy ra

ở nước ta

3 Một số bất cập của Bộ luật Lao động

năm 2019 quy định đối với người sử dụng lao

động và người lao động trong bối cảnh đại

dịch Covid 19

Một là, BLLĐ năm 2019 chưa làm rõ thế nào

là “đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn

buộc phải giảm chỗ làm việc” theo quy định tại

điểm c, Khoản 1 Điều 36 BLLĐ năm 2019

Theo đó, NSDLĐ có quyền đơn phương chấm

dứt HĐLĐ trong trường hợp dịch bệnh nguy

hiểm, tuy nhiên phải chứng minh ràng mình đã

tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc

phải giảm chỗ làm việc, vấn đề là “mọi biện

pháp khắc phục” ở đây chỉ các biện pháp khắc

phục khó khăn về kinh tế hay các biện pháp nỗ

lực duy trì việc làm cho người lao động, trường

hợp vì áp dụng các biện pháp khắc phục khó

khăn kinh tế mà buộc phải cắt giảm nhân sự,

chấm dứt việc làm trong khi vẫn có thể duy trì

quan hệ lao động thì có được xem là đã tìm mọi

biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm

chỗ làm việc không? Hơn nữa, việc NSDLĐ

tuân thủ, chấp hành những chính sách giãn cách

xã hội, tạm dừng hoạt động sản xuất, kinh

doanh, phong tỏa cục bộ hoặc toàn bộ địa

phương thì có được xem là đã tìm mọi biện

pháp khắc phục không? Đây là một quy định

mang tính chất định tính, không rõ ràng, cho

nên quyền quyết định đã tìm mọi biện pháp

khắc phục hay chưa sẽ thuộc về Tòa án Mặt

khác, quy định này cũng khiến không ít doanh

nghiệp gặp khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng và giải thích cho việc đơn phương châm dứt HDLD

Hai là, mặc dù BLLĐ năm 2019 thể hiện chính sách tạo điều kiện thuận lợi đối với hoạt động tạo việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm; hoạt động sản xuất, kinh doanh thu hút nhiều lao động Đồng thời, tạo điều kiện cho NSDLĐ áp dụng nhiều biện pháp linh hoạt trong việc giảm áp lực chi phí nhân sự để duy trì doanh nghiệp và bảo toàn việc làm Tuy nhiên điều khoản quy định về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp dịch bệnh nguy hiểm của NSDLĐ chưa thể hiện rõ nỗ lực giảm thiểu việc chấm dứt quan hệ lao động trong trường hợp dịch bệnh nguy hiểm như Covid -19 Cụ thể, khi rơi vào trường hợp “buộc phải giảm chỗ làm việc”, BLLĐ năm 2019 đã cho phép NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt việc làm mặc dù

để đảm bảo quan hệ việc làm, NSDLĐ không nên và nhất thiết sử dụng quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà có thể ưu tiên áp dụng các biện pháp linh hoạt nhằm giảm nhân sự tạm thời, hoãn, giảm chi phí tiền lương nhưng vẫn duy trì được hoạt động sản xuất - kinh doanh và quan hệ lao động như thỏa thuận nghỉ không hưởng lương, tạm hoãn thực hiện hợp đồng,

Ba là, thực tiễn phòng, chống Covid -19 cho thấy phương án bố trí người lao động làm việc

từ xa, làm việc tại nhà luôn được chính quyền khuyến khích Tuy nhiên, theo quy định pháp luật, để áp dụng giải pháp làm việc từ xa, người lao động và NSDLĐ phải đạt được thỏa thuận theo Điều 28 BLLĐ năm 2019, tức là trường hợp một trong hai bên không chấp nhận thỏa thuận thi phương án làm việc từ xa, làm việc tại nhà không thể thực hiện

Bổn là, BLLĐ năm 2019 chưa có cơ chế

chuyên biệt để Chính phủ can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính nhằm cấm NSDLĐ chấm dứt HĐLĐ trong thời điểm dịch bệnh Do đó, trong thời điểm Covid -19, Nhà nước không thể can thiệp bằng phương thức mệnh lệnh để giảm thiểu việc chấm dứt quan hệ lao động gây gia tăng thất nghiệp, tạo gánh nặng đối với hệ thống

an sinh xã hội quốc gia Trong khi đó, một số nước mặc dù phải gánh chịu tình trạng dịch

Số 25 tháng 3 năm 2022 61 Tạp chí Tài chính - Quản trị kỉnh doanh

Trang 8

bệnh diễn biến nghiêm trọng hơn Việt Nam rất

nhiều lần nhưng vẫn có cơ chế cho phép cơ

quan hành chính ban hành văn bản pháp luật

cấm việc NSDLĐ sa thải/chấm dứt việc làm đối

với người lao động, như Trung Quốc và Ấn Độ

4 Một số kiến nghị

Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền cần giải

thích, làm rõ hoặc hướng dẫn về việc “đã tìm

mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải

giảm chồ làm việc” theo quy định tại điểm c,

Khoản 1 Điều 36 BLLĐ năm 2019

Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại

điểm c, Khoản 1 Điều 36 BLLĐ năm 2019 theo

hướng quy định buộc NSDLĐ phải áp dụng các

biện pháp linh hoạt trước khi sừ dụng quyền

đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp

dịch bệnh nguy hiểm Trường họp NSDLĐ và

người lao động không đạt được thỏa thuận hoặc

NSDLĐ không đủ khả năng thanh toán chi phí

tiền lương, nhân sự thì mới áp dụng tới biện

pháp cuối cùng là chấm dứt việc làm

Thứ ba, cần sửa đổi, bổ sung quy định pháp

luật lao động theo hướng các bên trong quan hệ

lao động có thể làm việc từ xa, làm việc ở nhà

trong trường họp dịch bệnh nguy hiểm và có

văn bản hành chính của Nhà nước về việc hạn

chế đi lại, áp dụng các biện pháp giãn cách xã

hội, cách ly y tế, mà không cần phải đạt được

thỏa thuận giữa các bên

Thứ tư, cần tiếp thu kinh nghiệm từ thực tiễn

phòng, chống dịch của các nước vừa hứng chịu

hậu quả nặng nề của dịch bệnh Covid -19, vừa

có nguồn nhân lực lao động dồi dào như: Trung

Quốc, Án Độ trong việc giảm thiểu tối đa có thể

việc chấm dứt lao động, cho phép cơ quan hành

chính ban hành mệnh lệnh ngăn chặn việc chấm

dứt quan hệ lao động

Thứ năm, Bộ luật Lao động năm 2019 mặc

dù có nhiều quy định điểm mới tiến bộ góp phần

bảo vệ quyền lợi của người lao động nhưng sự

thay đổi của Bộ luật Lao động năm 2019 về

quyền đơn phương chấm dứt họp đồng lao động

của người lao động là chưa thật sự phù hợp

Việc Bộ luật Lao động năm 2019 cho người

lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp

đồng lao động một cách khá tự do sẽ có tác

động nhất định đen đời sống kinh tế - xã hội

trong tương lai Bởi vì, sự cho phép này sẽ tạo tâm lý ỷ lại và tình trạng nhảy việc từ phía người lao động có thể diễn ra một cách khó kiếm soát Điều này dẫn đến sự thiếu ổn định trong quan hệ lao động- tiền đề cần thiết cho sự

on định hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng, xã hội nói chung Mặt khác, sự cho phép này dường như cũng gây nên một tình trạng bất bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động Vì vậy, thiết nghĩ cần có những văn bản hướng dẫn bổ sung thủ tục nhằm kiểm soát việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hay bổ sung chế tài bồi thường thiệt hại trong trường họp việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động gây thiệt hại cho người sử dụng lao động hay trong trường họp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không vì bất kỳ lý

do gì được ghi nhận tại Khoản 2, Điều 35 của

Bộ luật Lao động năm 2019 thì họ sẽ không được hưởng bảo hiếm thất nghiệp Đồng thời, cần phải có những văn bản để giải thích hợp lý hơn quy định tại Điều 22 của Bộ luật Lao động năm 2019 để đảm bảo tính khả thi trong việc thực hiện trên thực tế

5 Kết luận

Đại dịch Covid - 19 xảy ra đã và đang tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến các doanh nghiệp và người lao động ở nước ta Từ một số điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 cho thấy những yếu tố bên ngoài như đại dịch toàn cầu dịch Covid-19 cũng có mối liên quan và có những tác động trực tiếp đến quan hệ lao động tại Việt Nam hiện nay Các quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 đang được áp dụng trong bối cảnh dịch bệnh covid-19 đã và đang còn diễn biến phức tạp, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động đã được giải quyết hài hòa dựa vào các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 đồng thời khắc phục một

số hạn chế, bất cập của BLLĐ năm 2012, bổ sung các kiến nghị nhàm hoàn thiện pháp luật cũng được trình bày với mong muốn pháp luật lao động Việt Nam ngày càng hoàn thiện và đi vào cuộc sống, đáp ứng những đòi hỏi mang tính thời đại của xã hội, mà trước mắt là giải quyết hợp lý nhằm duy trì quan hệ lao động trong và sau thời điểm dịch Covid -19

Số 25 tháng 3 năm 2022 62 Tạp chí Tài chính Quản trị kinh doanh

Trang 9

Tài liệu tham khảo

1 Ban Kinh tế Trung ương (2021), Kết quả khảo sát tình hình doanh nghiệp và người lao động

trong bối cảnh đại dịch Covỉd -19.

2 Bộ Y tế, Trang tin về dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19

https://ncov.moh.gov.vn/ (17/01 /2022)

3 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2019 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động

4 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Lao động (Luật số: 10/2012/QH13) ngày 18 tháng 06 năm 2012, Hà Nội

5 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Bộ luật Lao động (Luật số:

45/2019/QH14) ngày 20 tháng 11 năm 2019, Hà Nội

6 Tổng cục Thống kê (2021), Báo cảo tác động của dịch Covid-19 đến tình hình lao động việc

làm quý 11/2021

7.https://www.gso.gov.vn/wpcontent/uploads/2021/07/baocaocovid_Q2.2021_final.docx

8.http://www.tapchicongsan.org.vn/kinh-te/-/2018/816502/mot-so-danh-gia-tac-dong-xa-hoi- cua-dai-dich-covid-19.aspx

9.http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Tu-105-chi-tra-tien-ho-tro-lao-dong-tu-do-bi-anh-huong-

CO VID 19/394750 vgp

Số 25 tháng 3 năm 2022 63 Tạp chí Tài chính - Quản trị kinh doanh

Ngày đăng: 29/10/2022, 17:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w