^NGHẼ THUẬTMÔI QUAN HỆ GIỮA ĐỒNG DAO DÂN GIAN VỚI THƠ THIẾU NHI HIỆN ĐẠI TRẤN THỊ MINH * Qua nhikhảo sát, Việt Nam mấychúng thậptôi nhậnkỷ qua thấy,có sự thâm thơthiếu nhập cùanhiều yếut
Trang 1^NGHẼ THUẬT
MÔI QUAN HỆ GIỮA ĐỒNG DAO DÂN GIAN VỚI THƠ THIẾU NHI HIỆN ĐẠI
TRẤN THỊ MINH *
Qua nhikhảo sát, Việt Nam mấychúng thậptôi nhậnkỷ qua thấy,có sự thâm thơthiếu
nhập cùanhiều yếutố;trong đó, ảnhhưởng củađồng
daokhásâuđậm.Khôngchỉmangđếnchothơ thiếu
nhi cảm hứng sáng tạo vô
tận, những mô thức đồng
dao dân gian được tái cấu
trúc còn có ýnghĩa xác lập
một quan niệm văn chương
mớimẻ,coi trọngtinh thần
tự dovà vẻ đẹp hồn nhiên,
vô tư, rấtthích hợp với trẻ
em Theo chúng tôi, mối
quan hệ giữa đồng dao với
thơ thiếu nhi hiện đạikhông
chỉ là mối quan hệ có tính
tự nhiên trong thực tiễn
sáng tạo nghệ thuậtmàcòn
được xây dựng trên những
nền móng cơ sở vững chắc
1 Cơ sở xã hội - văn hóa
Ở Việt Nam, trước 1945, văn học thiếu nhi
chưa thực sựhình thành; ngoài một số tác phẩm
mang tính chất sáchgiáo khoa như Tam tự kinh,
Minh tâm bảo giám để giáohuấn lễ giáo, đạo đức
phong kiến cho thiếu nhi, trẻem chủyếu tiếp xúc
với văn học dân gian Từ thuở còn nằm nôi, các
em được nghe tiếng hát ru của bà, của mẹ Lớn
hơn, những đứa trẻgắn bó với nhau quanhững trò
chơi trong sinh hoạt cộng đồng Gắn liền với trò
chơi là nhữngbài hát đồng dao nhằmtăng sự hào
hứng, phấn khởi Các em vui chơi, diễn xướng
đồng dao trongsinh hoạt gia đình, trong công việc
lao độnghay trongmôitrườngthiênnhiên khoáng
đạt Không chỉ đáp ứng nhu cầu vui chơi ca hát,
Chua đat đèn bề dày nhu vãn học thiếu nhi nuoc ngoài, vãn học thiếu nhi Việt Nam phài đến sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mói thục sụ trò thanh một bộ phạn có tổ chúc ò tám vĩ mô và dần dán dạt đuọc su ổn định về
đinh huong, ngày càng phong phú vé nội dung,
trong dó tho là mãng sáng tác quan trọng.
Trài qua quá trinh phát triền, đèn nay, đội ngũ sáng tác tho cho thiếu nhi ngày càng đuoc
bổ sung, sô luọng tác phẩm dồi dào, có nhũng tác phẩm dạt đèn độ kết tinh nghệ thuật,
chinh phục dõng đào bạn đọc.
đồng dao cũng chính là những bài học sơ khai dành chotrẻ
Như vậy, đồng daolàthểloạigắn liền với trẻ thơ,
đi sâu vào tâmthức người Việt từ thuở xa xưa Khi
văn học viết cho trẻ em
hình thành, đặc biệt ở lĩnh
vực thơ ca, bản thân người
sáng tác đã có ý thức tiếp nhận đồng dao, ý thức này càng về sau càng rõnét Từ
Bài hát trẻ con (1936) của Nam Hương, Nhi đồng lạc viên (1936) của Nguyễn Văn Ngọc đến những tập thơ ra đời sau 1945 như
Mấy vần tươi sáng (1952, khuyết danh), Chú bò tìm bạn (1956) của Phạm Hổ,
Thấy cái hoa nở (1962)của
Võ Quảng,Góc sân và khoảng trời(1968) của Trần
Đăng Khoa, Thi ca bình dãn (1969) cũa Nguyễn Tấn Long, Chồng nụ chồng hoa (1970)của Định
Hải, Trâu lá đa (1975)củaLữHuyNguyên, Chim
gọi mùa (1977) của Quang Huy, Bầu trời trong quả trứng (1996) của Xuân Quỳnh, Giấcmơ buổi sáng
(2012) của Nguyễn Lãm Thắng, Ra vườn nhặt nắng
(2016) củaNguyễn Thế Hoàng Linh đềumangdấu
ấn tư duy đồng dao ở các mức độ đậm nhạt khác
nhau Có thể nói, tìm đến kinh nghiệm đồng dao trước hết xuấtphát từ nhu cầutự thâncủa thơthiếu
nhi để nó thực sự trở thành món ăn tinhthần hấpdẫn
vớitrẻem
Tuy nhiên,ưong một số giai đoạn, do điều kiện
lịch sử đặc biệt, đấtnước bị chia cắt bởi chiến tranh,
trẻ emnước ta khi đó sớm phải chia sẻ lo toan với
Trang 2iết cho các em nghiêngnhiều
ỊC CÓ phần lộ liễu Trong bài Quần Phương nhận xét: “Nói c
đảm bảo Trong thơ viết cho
có cảm giác chúng ta dùng
lúc cũng phải nhẫn nhục như
ặcnghe bố mẹmắng mỏ Cái
Thơ ca mẫu giáo (2), hay ngô
cđộđôthị hóa, hiện đại hóa
:ủa các em,vừa mởra những hình thức giải trí ra đờikèm
(ộng đồng xã hội Quanniệm trẻ em bịlý tưởng hóa
(ẫnđến văn chương \
vềcái cao cả, lý tính, rhơ thiếu nhi đôi khi bị gò ép
bởi chức năng giáo d
J"hơ cho tuổi thơ, Vũ
hung, người cầm bú thời nàyđều thích giáo dục
r gười đọc, lúc nào ctng nhămnhăm sứ mệnh dạy
c0 Đối với những ngrờibé tuổi hơnmình thì quyền
cạydỗ ấy càng được
các em hôm nay tôi
cuyền hành nàyhơi nhiều và đôi khi cũng thiếu tế
nhị Trẻemđọcthơ đôi
r ghe giảng đạođức hc 1
hứng thú thưởng thic văn chương không còn
mấy” (1).Chẳng hạn:
b ló mải mêngắm màu
ti ọngcủa công/Xem (ti xemlại mà không móvào”
( jà xem tranh - Trích Thơ ca mẫu giáo (2), hay ngô
nghê kiểu “Cảm ơn cac bác các anh/ Lưng vai rắn
k íiỏe như cành với cây’
Thời kỳmở cửa, tc I
cìng văn hóa truyền tl ông,ngoại nhập vừathuhẹp
sần chơi truyền thống
tiò chơi mới lạ.Nhiều
theo cả mặt lợi và mát hại Văn hóa nghe - nhìn
đmg xâm nhập vào tìng ngõ ngách Trẻ ở nông
tl ôn cũng đang dần lần bắt theo nhịp sống nơi
tl ành thị, dần xa với 1 lài hát đồng dao vàtrò chơi
dàn gian lànhmạnh, s ạ đô thị hóa, hiện đại hóa và
te c độ pháttriển của 1 lềnkinh tế thị trường đã và
đang lấn át hình ảnh thân quen của làng quêViệt
Nam, khiến trẻ em Xí
tr xớc đây vốn là máu tlitquê hương Thêmvào đó,
mộtkhuynhhướng của nhiều bậc cha mẹ hiệnnay
muốn con mìnhtrở tlí'
khiến các emchịu thêm áp lực học hànhvàmất đi
quyền vuichơi
Thực tếcho thấy, m ít khi sânchơi của trẻkhông
còn nhiều và hưởng tiêm những phương tiện kỹ
thaật hiện đại, thôngminh hơn thì dẫn đến các em
già dặn hem, do đó
mờ nhạt dần đi Tỷ
tr<vănhọcthiếunhi n ang tính “trítuệ”, tính “luận
bà 1
cỉi
“Gà giò vào điểm xem tranh/
xanhsắc hồng/ Nhưng vì biết
lạ với nhữngtruyền thống
ành “thần đồng” từ tấm bé
ííức sống của đồng dao cũng
ệ thuậnvới sự hiểu biết của
sẽ
bị
n” với trẻ em rõ hơn Đối diện với sựcạnhtranh
a truyềnthôngđại ch úng,giới sángtác nhận thấy
cầ|n tăng cường chất c ím xúc, sự trong sáng, hồn
nt iên để thơ “là bàn tay lôi cuốnvà nâng đỡ các em”
(C hế Lan Viên) Trong nhiều kinh nghiệm cũ được
kích hoạt, kinh nghiệm về đồngdao mang đến cho
họ bàihọc sáng tác quýbáu Cách thức kế thừa, khai
thác đồng dao không chì thừ thách bộc lộ tài năng,
cá tínhcủa người cầmbútmà còn cho thấy sự vận
động của quanniệm văn chương, quan niệm con
người ở mỗi thời đại,mỗi cộng đồng
Thực tiễn sáng tác cũng cho thấy, sự tái sinh
mô thức đồng dao hay một số khía cạnh nghệ
thuật đồng dao là một hiện tượng đang phổ biến trong văn hóa, văn học hiệnđại, đặcbiệt là trong thơ thiếu nhi và được thể nghiệm thành công qua sáng tác củacác nhà thơtừPhạm Hổ, Võ Quảng, Nhược Thủy, Xuân Quỳnh, Định Hải, Lữ Huy
Nguyên, Trần Đăng Khoa đến Ngô Thị Bích
Hiền, Hoài Khánh, Nguyễn LãmThắng, Vi Thùy Linh,Nguyễn Thế Hoàng Linh Do tính chấthồn
nhiên, phóng túng, tự do của đồng dao màkinh nghiệmnày thuộc về một dòng mạch vănchương thời kỳ đổi mới: quanniệm văn chươngnhư “trò chơi”.Nó thể hiện khát vọng tự do sáng tạo, vượt
thoát khỏi những khuôn khổchậtchội củathứ văn học trang nghiêm, trịnh trọng, của xu hướng lý tưởng hóa con người, căn bệnh duy ý chí Mặt
khác, tính trò chơi của đồng dao rất phù hợp với
tâm lý, nhu cầu phát triển thểchấtvà tâm hồntrẻ, như Vưgôtxki từngnhậnra, có hai điềuđáng ngạc
nhiên trong nghệ thuật trẻ em, trong đó, điềuthứ
nhất, “Đấy là sựcó mặt sớm của một xu hướng chuyên biệt mànghệthuậtđòihỏi và rõ ràng làxu hướng này sẽ chỉ ra sự gần gũi về tâm lý giữa nghệ
thuật và trò chơi đốivớitrẻem” (3) Theo đó, con người được thỏamãn nhu cầu tìm lại bản nguyên, nhữngniềm vui trong trẻo, vô vụ lợi tuổi ấuthơ,
tìm được niềm vui sống từtiếng cười đùa vui, tìm được tình yêunghệ thuật qua trò chơi với ngôntừ Điều này cho thấy, sự vận động tư duy văn học
thiếu nhi nói chung, thơ thiếu nhi nói riêng luôn
phản chiếu sự vận động của quan niệm về con
người và không tách rời xu hướng phát triển chungcủa văn họcdân tộc
2 Đặc điểm tâm lýtuổi thơ CoocnâyTrucôpxki - tác giả của nhiềutác phẩm
thơđược trẻ em yêuthíchđã đúc kết bí quyết làm
thơ haycho các emdựatrênhainguyên tắc lớn “một
là học tập vốn cổ, hai làhọc tập các em”(4) Học tập “vốn cổ”của nhân dân bởi đó là kho tàng kinh nghiệm nghệ thuật phong phú đã được chaông đúc kếttrong chiều dài lịch sử Học tập“các em” bởi trẻ
Số 503 Tháng 7-2022 85
Trang 3emvừalà đốitượng phản ánh,vừa là đối tượng tiếp
nhậnthơ thiếu nhihướng tới, phải viết những điều
các em thích thú,quan tâm, có thể tiếp nhận được
Điều này chứngtỏ, tâm lý học trẻ em vớitâmlýsáng
tạonghệ thuật có quanhệ tươnghồ; tuy nhiên, vấn
đề này không phải lúc nào cũng được nhìn nhận
đúng đắn
Trước đây, từngtồn tại quan niệm cho rằng trẻ
em làbản sao thu nhỏ của người lớn Chúng là đối
tượng bé nhỏ, yếu đuối, dễ nắm bắt, cần được uốn
nắn, thậm chí“quy phục” theo chuấn mực củangười
lớn: “Từlâutrẻem vẫn được coi nhưmột người lớn
thu nhỏ lại, một người lớn bé bỏng với mộtcơ cấu
bị rút nhỏ lại,mà taphải làm cho nó lớnlên một cách
đồng bộ.Vì yếu đuối và ngu dại, nó cần quy phục
sức mạnh toàn năng của các huynh trưởng Họ
nghiêng minhxuống vàban ơn cho nó( )để dẫn
nó tới trình độ hoàn thiệncủa họ ” (5) Cách hiểu
lệchlạc này dẫn đến “văn học cho trẻ nhỏ mải mê
với chủnghĩa giáo dục thực dụng, dường nhưkhông
còn độc lập, tựdo sángtạo nữa Nó, vềbản chất, là
giáohuấn” (6)
Từ cuối TK XIX, đặc biệt trongTK XX, khoa
học nghiêncứutâmlý trẻ em trên thế giới phát triển
rất mạnh với nhữngcông trình dày dặn, công phu
của Ellenkey (Thụy Điển), J Piaget (Thụy Sỹ),
L.Vưgôtxki (Nga),Phrơt (Áo) Trongtácphẩm có
tính chấtdự báo Thế kỷ của trẻ em (1900), Ellenkey
cho rằngtrẻ emtrước kia có vị tríngoài xã hội, TK
XX phảiđặt trẻ em vào vị trí trung tâm, trẻ em phải
cóvaitrò tích cực, phải đượcnhìn nhận một cách độ
lượng J Piaget đưa ra thuyết “tự kỷ trung tâm”
khẳng địnhýthức tự chủ củatrẻ em, đặc biệt ởlứa
tuổi mầm non Trẻ luôn lấyminh làm trung tâm để
nhìn nhận, giao tiếp với thế giới Ở Việt Nam, có
nhữngcôngtrình nghiên cứugiátrị như: Ngây thơ -
Một số suy nghĩ về tăm lý và giáo dục trẻ em, Lòng
con trẻ: Tâm lý học trẻ em, Tâm lý trẻ em hiếu theo
phân tâm học (Nguyễn Khắc Viện); Một so vấn
đề tâm lý học, Tâm lý học Vugôtxki (Phạm Minh
Hạc);Điều cần biết về sự phát triển của trẻ thơ,
Tâm lý học trẻ em lứa tuoi mầm non (từ lọt lòng
đến sáu tuổi)(Nguyễn Ánh Tuyết)
Tâm lý học hiện đại khẳng định, trẻem cần được
nhìn nhận như một thực thể sốngđộng, có thế giới
riêng biệt: “Trẻem khôngphải là trẻ con Bởi trẻ con
thì vụngdại, ngờ nghệch Trẻemlà một lớp người
Đã là một lớp người thì đấy làmột tổng thể hoàn
chỉnh Đấy là giọt nước thunhỏ của vũtrụmộtcách
kỳ ảo và tuyệtvời Chỉ có người lớn chưa hiểu trẻ
em -và sự thiếusót đó đángbị phêphán,khôngthể kếttội trẻ em không hiểu người lớn”(7) Tâmhồn
trẻ em chứa đựng một thế giới bí ẩn, kỳlạmàngười lớn cầnchiêm ngắm, khám phá Bởi thế,người viết
cho thiếunhi không chỉ mangthiênchức củamột nghệ sĩ màcònphải có thêm thiên chức củanhà tâm
lý, nhà sưphạm Thoát ly tâm sinh lý trẻ, không
thâmnhậpvàocuộc sống vui chơi, sinhhoạthọctập
của trẻ sẽ khó thànhcông trong sáng tác văn họccho các em nói chung và thơ cho các em nói riêng
Ngược lại, người viết càngnắmđược đặcđiểm tâm sinh lý các em, amhiểu sâu sắc từng lứatuổi càng
có cơ hội cho tác phẩm củahọ trở thành tác phẩm
hay Điều này đòi hỏi mỗi tác phẩm cần có sựkết
họp hàihòa trên cơ sở hòa giải giữa cảmquanngười
lớn với cảm quan tuổithơ, “đừng nênbắt trẻ conlàm
đồng niên với mình quá sớm” (Phan Quế), về vấn
đềnày, Thạch Lam cũng từng tâm niệm: “Người ta chớ lầm tưởng là viếtcho trẻ con thi viết thế nào
cũngđược ( ) Nếu cứ muốn giữ địavịmình, giữ
địa vị “người lớn” để dẫn trẻ đi tìm hiểucuộc đời,
để gây dựngtrí xét đoán, làm nảynởtình cảm của trẻ thìnhà văn ít khiđượcthành công Viếtcho trẻ
đọc, trước hết là đứng thay vào chỗ trẻ, là tựlàm
mình trẻ lại, tìm lại cái trí tò mò tỉ mỉ, cái lý luận thẳng thắn và nhất là cái độclậptự do lạlùng của trí não trẻ con” (8) Khi nhận định như thế nghĩalà,giới
sáng tác cũng đã thấy chỗ hạn chế của thứ văn
chương không phản ánh đúngbản chất hồn nhiên củatrẻ thơ, áp đặt chân lý củangười lớn nêntrẻ thấy
không hấp dẫn
Từphát hiện của tâm lý học,soi vào đồng daovà thơ thiếu nhi, có thể thấy rằng: tuycó nhữngkhác biệt nhấtđịnh về vấn đề tác giả,về phương thứclưu truyền, diễn xướng,nhưng đồng dao và thơ thiếu nhi
có chung một điểm tựa: cùng hướng về đối tượng trẻ
em, cùng dựa trên nền tảng tâm lý trẻ em để sáng tác.Đối tượng thẩm mỳ đặc biệt này có nhu cầu, sở thích,đặc trưngtâm lý riêngquyđịnhviệc lựachọn
nội dung phản ánh cũng như hình thức nghệ thuật để
cấu trúc tác phẩm
Khác vớimột số thể loạivănhọc dân gian như thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện
ngụ ngôn do người lớn sáng tác nhưng công chúng thưởng thức có thể là người lớn, có thể là
trẻem thi với đồng dao, kểcả do người lớn tham
Trang 4g-ralà tácphẩm phải gần hoặc thích hợp với nhãn quan của :hế giới đồng dao, tác giả
-tư duy trẻ thơ, nắmbắttâm
nghĩ theo lýtrí và tình cảm tác,bởitrong sáng, hồn nhiên c
thơchânthực vậy Nếu để
chânthực Nhữngángvãn
tim trẻ thơ cả” (9)
lẳm tâmlý tuổi thơ,chúng tôi
asángtác vẫn luônphải lấytrẻ em làm đối tượng
hướngđến Điều đó c) nghĩa là, sáng tác làm sao
đế các em có thể cảm nhận được, hiểu được và
tlích thú Yêucầuđặt
tràng hoặc giốnghoặc
trẻ Đe gia nhập vào
n mời lớnđã học cách
1} trẻ thơ để sáng tác
Đồng dao được tre nhỏ yêu thích bởi cái đẹp
trong đồng daoluôngắ 1 liền vớicảm nghĩ, cách nói,
eachhát, cách diễn xư íng,cách chơi của thiếu nhi
bhà thơ hiện đại vận di mg tư duy đồng daovàosáng
téc thơ cũngphải làm toát lên được cái đẹp đó Nghĩa
là, phải tránh cách SU}
ơla người lớn khi sáng 1
bản tính của trẻ the ở mọithời Phải chăng, đó
lính là Đồng tăm thuyết màLýChất - nhà văn, nhà
hr tưởng đời Minhtừngkhởixướng: “Kìa trái tim
ttẻ thơ là tráitim ngâ}
n lất trái tim trẻ thơ,tứ: là để mất trái tim chân thực
V ì mất luôn cả người
c lương hay nhất trong thiên hạ chưa bao giờ lại
k lông nảy sinh từ trái
Xuất phát từ đặcđi
n lận thấy sự vậndụnị đồng dao trong sángtác thơ
c 10thiếunhi và thơcho ngườilớn hoàntoàn không
iống nhau Với thơ
tpường hợp Trần Dần, Bùi Giáng, Nguyễn Trọng
lạo, Trần Nguyễn Anh các tácgiả chủ yếu mượn
hình thức đồng dao cể làm lại văn bản, biến thơ
thành tròchơi nhằm mục đích chống lại bệnh công
thức, giáo điều, bệnh1hánhhóathi ca, đưa thơvào
SÌU trong các vùng mờ của tiềm thức, vô thức,
n lừng giấc mơ, mộng
Mùa sạch - thi phẩm độcđáo của Trần Dầncónhiều
đoạn gợi liên tưởng đến kiểu cấu trúc ngôn ngữ
đồng dao: “Chim sạcli thôngthênh trời sạch/Mây
mùa thànhthạch/ Tôi íi trên đường sạch/ Ngôi sao
quê sáng bạch/Ao nhà con cáthạch/ Tôi về một
mạch/Tôi về tôi tắm Si ich aota” HayĐồng dao cho
người lớn của Nguyễi TrọngTạo tiếp nối thể vãn
bốn của đồng dao để lí.mmớitrongthểtám chữ, âm
diệu chơi vơi nghe nh Irời rạc, không diễnđạt một
nội dung gì cụthể: “Có cánh rừng chết vẫn xanh
tong tôi/ Có con nguời sống mà như qua đời/ Có
câu trả lời biến thành câu hỏi/ Có kẻ ngoại tình ngỡ
1;I tiệc cưới” Ngượclại,vớithơ thiếu nhi, khai thác
ồng dao chủyếunhằm mục đích tôn vinhcáiđẹp
cho người lớn, tiêu biểu là g
mị,hư ảo Chẳng hạn,trong
d<
hồn nhiên, tươi non, tinh khiết, giúpcác em giải tỏa
áp lực lao động, học hành Các em sẽ không bị hoang mangbởi giọngtriết lý sâu sắc, không chán ngấy bởi những bài học giáo dục trịnh trọng mà
đượcđánh thức niềm vuichơigiỡn,trítưởng tượng phóng túng và những liên tưởng bất ngờ về mặt
này, đồng dao đã cho chúng ta hiểu sâu hơn nhu cầu thưởng thức nghệthuật của trẻ cũngnhư trao cho nghệ sĩ chiếc chìakhóa để có thểmở rộng cánh cửa tâm hồn của những bạn đọc nhỏ tuổi
3 Quy luật sáng tạo nghệ thuật
Mối quan hệgiữa tư duy đồng dao và thơthiếu
nhi nằm trong mối quan hệ giữa vănhọc dân gian và
vănhọc viết - mốiquan hệ tựnhiên, đã trở thành quy luật của bất kỳ nền văn học dân tộc nào
Văn học dân gian làmột trong hai bộ phận hợp thành nền văn học dân tộc Hơnnữa,văn học dân
gian ra đời sớm hơn văn học viết, đó là bộ phận mở đường, đặt nền móng cho văn học viết sau này Vì
thế, để có cái nhìn thấuđáo về bản chất của nềnvăn học dântộc, chúng takhông thể không xét đến vai trò quan trọngcủa văn họcdân gian đốivớisự hình thành, phát triển của vănhọc viếtvàngược lại Trong lịch sử, văn học dân gian và văn họcviết vừa tồn tại độc lập vừa nương tựavào nhau, vừa “đốilập” vừa dunghòavềcác mặt khuynhhướng tư tưởng, quan
niệm thẩm mỹ,đề tài, thể loại, chịu sựquy định của những quyluậtchung về hoạt động sáng tạođểcuối cùng tạo nên bức tranh hài hòa của một nền nghệ
thuật ngôn từ
Đối chiếu với đồng dao và thơthiếunhi, chúng tôi nhận thấy đây là hai hìnhthái nghệthuậtngôn
từ độc lập, hìnhthành, tồn tại và phát triểntrong
những điều kiện không giống nhau nhưng hai bộ phận này có mốiquanhệchặtchẽ vớinhau, có sự
tácđộng lẫn nhau Đồng dao và thơ thiếu nhi đều thuộc về loạihình thơ ca nên giữa chúng có những nét gần gũi về bảnchấtthể loại, phương pháp phản
ánh, tư duy nghệthuật, chức năng tư tưởng thẩm
mỹ Mặt khác, đồng dao và thơ thiếu nhi cùng hướng đến một đối tượng, đó là trẻ em Vì vậy,
chúng còn chịusựquyđịnh của các yếu tố tâmsinh
lý, đặc điểm tư duy, nhận thức, khảnăng cảm thụ
và tiếp nhận văn học của lứa tuối thiếunhi.về mặt
này, có thể thấy, tư duy đồng dao có nhiều điểm trùng khítvới tư duytrẻem như Vavilôp đã chỉ ra:
“Có nhiều điểmgiốngnhau giữacảm nghĩ của trẻ
em,của người nguyên thủy và của thi sĩ” Vận dụng
Số 503 Tháng 7-2022 87
Trang 5NGHỆ THUẬT
đồngdao,nắm vàhiểu được những đặcđiểm đó sẽ
giúp các nhà thơhiệnđại sáng tácđược những bài
thơđi vào đời sống tinh thầntrẻ em, được các em
yêuthích Tất nhiên, việc học tập đó thành công
đếnđâucònphụ thuộc vào mứcđộ sáng tạo, năng
lực cách tân, là bản lĩnh và tài năng của mỗi người
Nhữngnhà thơviếtcho thiếunhi thànhcông phần
lớn đều là những người biếttìm vetruyền thống
văn học dângian nói chung,đồngdao nói riêng để
tiếp thu và sángtạo Bởi thế, cóthể khẳng định, mối
quan hệ giữa thơthiếu nhi với tư duy đồng dao
cũnglà quy luật tất yếu, từ đó có thểxem xét,đánh
giá mức độ tiếp thu, ảnh hưởng tư duy đồngdao
trong sángtácthơ thiếunhi
Ke thừa, họctậpkinhnghiệm củađồng dao, các
nhà thơ hiện đại đãlựachọn từ kiểu tư duy dân dã này
nhữnghình thức thể hiệnphù hợp với nội dung tác
phẩm Trongquá trình sángtạo, cóngườisử dụng triệt
để hình thức câu thơ ngắn, nhịp điệu vuinhộnnhư
Phạm Hổ, Xuân Tửu,Nhược Thủy ; có người mượn
thể thơ, kết cấu đồngdaolồng ghép trong đó những
hình ảnh mới của cuộcsống hiệnđạihôm nay như Võ
Quảng, Thái Hoàng Linh, NguyễnLãm Thắng ; có
người khai thác mô hình trò chơi để tổ chức nên
những trò chơi bằng ngôn từ cho trẻ như Lừ Huy
Nguyên, Quang Huy, Định Hải, Dương Thuấn ; có
người dựa trêncơchế tưởng tượng, liêntưởngcủa
đồng dao đưa ranhững kiến giảibấtngờ như Nguyễn
ThếHoàngLinh, ViThùyLinh Tuy cùng chịu ảnh
hưởng của các môthức đồng dao, nhưng mồi tác giả
lại có cách thể hiện riêng, hấp dẫn Vìthế, mối quan
hệ giữatư duy đồng dao với thơthiếu nhi không chỉ
là quy luật kế thừa - tiếpbiến trong sáng tạo nghệ
thuật mà cònphản ánh quy luật giao thoa thể loại
trong vănhọc hiện đại Các thểloạicóthểkhông tồn
tại ở trạng thái đơn nhất mà ít nhiều đềucó sựcải dạng
như Kun-đê-ra từng nói: thời hiện đại, mỗi tácphẩm
đềutựlàmra đặc điểmthể loại của mình
Nhìn từ góc độ rộng, phương thức sángtạonghệ
thuật nàykhông chỉ in bóng trong thơ ca màcòn
trong nhiều áng văn xuôiviết cho thiếu nhi.Những
tác phấm nhưKỉnh vạn hoa, Cho tôi xin một vé đi
tuổi thơ, Lá nằm trong lá, Tôi thấy hoa vàng trên
cỏ xanh (NguyễnNhật Ánh); Vừa nhắm mắt vừa
mở cửa so, Một thiên nằm mộng (Nguyễn Ngọc
Thuần);Khúc đồng dao lấm láp (Kao Sơn) tạo
được ấntượng chính một phần nhờ chất thơ, chất
đồng dao đậmđà trong đó Qua trang viết, các tác
giả muốn khơi gợi ở bạn đọc cảmxúchồn nhiên, tự
do, khát vọng tìm về thiên đường tuổithơ đã mất,
đồng thời bồi đắp những tình cảm tốt đẹp, thánh
thiện mà con người luôn cố gắng hướng tới Đó là
tình yêu cuộcsống,là sự yêu thương, độ lượng với mọi người và vớichínhmình, là sống giản dị và trọn vẹn với tất cả nhữngcái xấu, cái tốt đang diễn ra xung quanh hằng ngày,hằng giờ Đó cũng chính là
cái nhìn lạc quan giữa cõi đời phức tạp, cái nhìn đậm chất trẻ thơtatừng bắt gặptrong đồng daoxưa Đây
là bàng chứng về sứcsống mãnh liệt của vănhóa dân gian trong vănhóa, vănhọc hiệnđại, qua đó thể hiện khát vọng tự do, nhu cầu khai phóng trí tưởng tưọng,
sự quayvề vớibảnthểnguyênsơ của conngười Với một số tácgiả,việckế thừa,sáng tạomô thức tưduy
đồng daođưa vào tác phấm còn góp phần hình thành
một nét phongcáchriêng
Tómlại,với tư cách là hìnhthứcthơcađầu tiên dành cho trẻ, đồngdao thực sự là “cuốn bách khoa củanhững tri thức nghệ thuật thơca” (M.Gorki) của
nhân dân, để lại nhiều bài học sáng tác quý báu cho thơ thiếunhi hiện đại Mối quan hệ giữa thơ thiếu nhi với tư duy đồng dao phảnánhquátrình giao lưu
tự nhiên, qua đó mồi cá nhân chắtlọc, kế thừa, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm của tậpthể để làm mới cho sáng tác của chính mình Đặt trong mối
tương quan, hai bộ phận thơ canày có thể bổ sung cho nhau, xâm nhập,chuyển hóa lẫnnhau, thúc đẩy nhau cùngphát triển ■
T.T.M
1,2, 3,4, 7, 9 Vân Thanh, Văn học thiếu nhi Việt Nam, Tư liệu nghiên cứu, lý luận, phê bình, tiểu luận, tập I, Nxb Kim
Đồng, 2003, tr.699, 301, 382, 623, 769, 820, 769.
3 L.x Vưgốtxki, Tâm lý học nghệ thuật Hoài Lam dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981, ư.344.
5, 6 Nhiều tác giả, Văn học và trẻ em, Nxb Kim Đồng, Hà Nội, 1982, tr.3O, 32.
8 Thạch Lam, Tuyển tập Thạch Lam, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.310.
9 Khâu Chấn Thanh, Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển
Trung Quốc Mai Xuân Hải dịch, Nxb Văn học Hà Nội, 2001,
tr 113.
Tài liệu tham khảo
1 Bùi Mạnh Nhị (chủ biên), Văn học dân gian những
câng trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003.