1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa năng lực đổi mới, năng lực tích hợp và kết quả hoạt động kinh doanh nghiên cứu điển hình tại các doanh nghiệp bán lẻ việt nam

21 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, năng lực tích họp của DNBL được tiếp cận trong nghiên cứu này tập trung vào khá năng phối kết hợp trên các kênh bán lẻ cùa DNBL để cải thiện hoạt động quản trị thông tin năng lực

Trang 1

Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á Năm thứ 33, Số 1 (2022), 44-64

TABESTạp chí H;h4n aa Kinh tè vi Kinh íoanh Cháu A

www.jabes.ueh.edu.vn

http://www.emeraldgrouppublishing.com/services/publishing/jabes/

Mối quan hệ giữa năng lực đổi mới, năng lực tích hợp và kết quả

hoạt động kinh doanh - Nghiên cứu điển hình tại các doanh nghiệp

bán lẻ Việt Nam

NGUYỄN PHƯƠNG LĨNH'3'*, NGUYỄN ĐỨCNHUẬN a

■ Tác già liên hệ.

Email: linhnguyen@tmu.edu.vn (Nguyễn Phương Linh), nhuan.nd@tmu.edu.vn (Nguyễn Đức Nhuận).

Trích dẫn bài viết: Nguyễn Phương Linh, & Nguyễn Đức Nhuận (2022) Mối quan hệ giữa năng lực đổi mới, năng lực tích hợp và kết quả hoạt động kinh doanh - Nghiên cứu điến hình tại các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế vồ Kinh doanh

và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu Kết quả nghiên cứu đã chí ra vai trò tiền đề cúa nàng lực đối mới dịch vụ trong việc nuôi dưỡng và thúc đấy năng lực quản trị thông tin tích hợp và nàng lực xúc tiến tích hợp Đồng thời, năng lực quàn trị thông tin tích hợp và năng lực xúc tiến tích hợp là những yếu tố quan trọng giúp cài thiện đáng kẽ’ kết quả hoạt động kinh doanh cúa doanh nghiệp bán lẻ

Abstract

On the underpinning theories of the Resource-Based View and Dynamic Capability View, this study aims to investigate the impact of innovative capability on integrative capability and the integrative

Trang 2

Nguyễn Phương Lỉnh & Nguyễn Đức Nhuận (2022) JABES 33(1) 44-64

capability's effect on retailer performance For retail enterprises, innovative capability focuses on innovating retail services (service innovative capability - SIC); integrative capability concentrates on integrative information management capability (INF) and integrative promotion capability (PRO) By surveying 197 Vietnamese retail enterprises and employing PLS-SEM to analyze data, the research findings show that SIC plays a premise role in developing INF and PRO Besides that, both INF and PRO are found to be important capabilities

to significantly improve the performance of retail enterprises

1 Giới thiệu

Thị trường bán lé Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường hấp dẫn nhất toàn cầu với quy mô dân số cao, thu nhập và sức mua cùa người dân tăng mạnh (Keamey, 2017) Bên cạnh những cơ hội đó, sự gia tăng nhanh chóng cùa các doanh nghiệp bán lẻ (DNBL) nước ngoài, sự thay đổi trong thị hiếu và thói quen mua sắm của người tiêu dùng, sự tác động của công nghệ thông tin và Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) cũng như những ảnh hường tiêu cực từ thiên tai, dịch bệnh được xem là những thách thức lớn đặt ra cho toàn ngành bán lè Việt Nam nói chung và cho các DNBL nội địa nói riêng Trước những biến động đó, các DNBL Việt Nam cần nhanh chóng tạo lập và phát triển các năng lực động đê tăng cường kha năng chu động trong thích ứng với các điều kiện môi trường, từ đó duy tri các lợi thế cạnh tranh, góp phần đạt được kết quả hoạt động kinh doanh như

kỳ vọng

Để tồn tại và phát triên, các doanh nghiệp cần tạo lập và nuôi dưỡng thành công các lợi thế cạnh tranh trên cơ sở khai thác tối ưu các nguồn lực và năng lực Lý thuyết nguồn lực (Resource-Based View

- RBV) cùa Bamey (1991) đã chì rõ nguồn của lợi thế cạnh tranh là các nguồn lực, năng lực cốt lõi

mà có đặc điếm là mang lại giá trị (Value), hiếm (Rarity), khó bat chước (Inimitability), và không thê thay thế (Non-Substitutability) Trong điều kiện biến động mạnh mẽ và khó lường của các tác nhân môi trường bên ngoài, các doanh nghiệp phái liên tục thay đối, cải tiến và tìm cách liên kết các nguồn lực, năng lực một cách hiệu quả; một mặt giúp duy trì và nuôi dưỡng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, mặt khác, góp phần giúp doanh nghiệp thích ứng với các điều kiện khách quan mới Lý thuyết năng lực động ra đời trên cơ sở kế thừa và phát triển lý thuyết RBV, giúp doanh nghiệp giải quyết bài toán duy trì lợi thế cạnh tranh trong điều kiện thị trường biến động và thay đôi (Teece và cộng

sự, 1997)

Nghiên cứu này thực hiện xem xét và đánh giá năng lực động cùa DNBL dưới hai khía cạnh: Nàng lực đôi mới và năng lực tích hợp (Teece và cộng sự, 1997; Eisenhardt & Martin, 2000; Wang & Ahmed, 2007; Menon & Mohanty, 2008; Cao, 2011) Năng lực đổi mới tập trung vào việc thay đôi, cải tiến, làm mới và sáng tạo các sàn phẩm/ dịch vụ, hoạt động, quy trình của doanh nghiệp đê thích nghi với điều kiện mới (Wang & Ahmed, 2004; Maldonado-Guzman và cộng sự, 2019) Năng lực tích hợp giải quyết bài toán về sự phối hợp liên kết giữa các nguồn lực, năng lực trong nội bộ doanh nghiệp để tạo nẽn năng lực cộng sinh, góp phần gia tăng sức cạnh tranh cùa doanh nghiệp trên thị trường (Protogerou và cộng sự, 2012; Rehman & Saeed, 2015) Với đặc thù là một loại hình doanh

Trang 3

Nguyễn Phương Linh & Nguyễn Đức Nhuận (2022) JABES 33(1) 44-64

nghiệp dịch vụ thương mại, việc đồi mới sáng tạo của doanh nghiệp bán lé (DNBL) thường liên quan nhiều đến các nỗ lực đôi mới sáng tạo dịch vụ bán le (Grawe và cộng sự, 2009) Đồng thời, các hoạt động tích hợp thường được tập trung triển khai nhằm phối kết hợp các kênh xúc tiến truyền thông và

đa dạng hóa thông tin cung cấp cho khách hàng (Oh và cộng sự, 2012; Zhang và cộng sự, 2018) Do vậy, năng lực tích họp của DNBL được tiếp cận trong nghiên cứu này tập trung vào khá năng phối kết hợp trên các kênh bán lẻ cùa DNBL để cải thiện hoạt động quản trị thông tin (năng lực quản trị thông tin tích hợp) và hoạt động xúc tiến truyền thông (năng lực xúc tiến tích họp) Với vai trò đó, gắn với các DNBL, năng lực đối mới dịch vụ đóng vai trò là yếu tố nền tảng, cho phép DNBL đôi mới và tìm ra các phương thức bán lè mới, để từ đó giúp các năng lực quản trị thông tin tích hợp và năng lực xúc tiến tích hợp được triền khai hiệu quả, và giúp cải thiện kết qua hoạt động kinh doanh cho DNBL Các nghiên cứu về chú đề này mặc dù đã được thực hiện tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, nhưng với khách thể nghiên cứu là các doanh nghiệp trong lĩnh vực bán lẻ lại ít được quan tâm Bên cạnh đó, những nghiên cứu về từng chủ đề cụ thể cũa năng lực đổi mới, năng lực quản trị thông tin tích hợp và năng lực xúc tiến tích hợp nói riêng mặc dù đã được thực hiện nhưng kho lý thuyết và thực nghiệm còn ít những nghiên cứu xem xét mối quan hệ giữa năng lực đổi mới tới năng lực quàn trị thông tin tích hợp và năng lực xúc tiến tích hợp, và sự tác động của hai năng lực tích hợp này tới kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và DNBL nói riêng Do vậy, cần thực hiện một nghiên cứu nhàm xem xét mối quan hệ và cơ chế tác động của năng lực đôi mới tới năng lực quàn trị thông tin tích họp và năng lực xúc tiến tích họp, và sự ành hường cùa hai nhóm năng lực tích hợp này đến kết quả hoạt động kinh doanh cùa các DNBL Trên cơ sở các phát hiện từ nghiên cứu, cần đưa ra các khuyến nghị nhàm cài thiện kết quả hoạt động kinh doanh của các DNBL Việt Nam thông qua việc nuôi dưỡng các năng lực đồi mới, năng lực quàn trị thông tin tích hợp và năng lực xúc tiến tích họp

2 Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu

2.1 Lý thuyết về năng lực động

Tính “động” (Dynamic) được Teece và Pisano (1994) lần đầu đưa ra thảo luận để đề cập đến sự thay đổi của môi trường Theo Teece và cộng sự (1997), định nghĩa về thuật ngữ “động” là “khả năng làm mới các năng lực để đạt được sự đồng dư với môi trường thay đồi” Như vậy, tính “động” đề cập đến những thay đổi xuất phát từ cả các yếu tố bên ngoài và điều kiện nội bộ của doanh nghiệp Sự thay đôi bên ngoài là những thay đổi khách quan mà thông qua đó, các hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp cần biến đoi để thích ứng tốt nhất với những điều kiện "động” từ bên ngoài

Lý thuyết về năng lực động được phát trién dựa trên nền tảng lý thuyết nguồn lực RBV cúa Bamey (1991) Trong điều kiện môi trường kinh doanh biên động nhanh và mạnh, việc tạo dựng, duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phai có sự năng động và linh hoạt để thay đổi, sáng tạo và làm mới các nguồn lực và năng lực, giúp thích ứng hiệu quả với sự thay đổi của môi trường (Zahra và cộng sự, 2006) Trên cơ sờ giải thích các đặc điểm của tính “động”, Teece và cộng sự (1997) đã đưa ra khái niệm về nãng lực động là “kha năng cùa doanh nghiệp để tích hợp, xây dựng,

và tái định hình các năng lực bẽn trong và bên ngoài, để phúc đáp nhanh chóng với các thay đồi cùa môi trường” (Teece và cộng sự, 1997, trang 516) Đồng quan điểm đó, các nghiên cứu sau này đã tiếp tục làm làm rõ hơn quan diêm về năng lực động và cùng chì ra vai trò quan trọng của nàng lực động

Trang 4

Nguyễn Phương Linh & Nguyễn Đức Nhuận (2022) JABES 33(1) 44-64

trong việc duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp (Eisenhardt & Martin, 2000; Wang

& Ahmed, 2007; Barreto, 2010) Bên cạnh những yêu cầu thay đôi khách quan, chính những áp lực đối mới từ nội bộ doanh nghiệp cũng được Winter (2003) chì ra là những tiền đề quan trọng để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển các năng lực động Năng lực động là một dạng năng lực đặc biệt, được xem như là dạng năng lực bậc cao, đóng vai trò kết nối và phối hợp các năng lực thông thường và cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Winter, 2003; Zahra và cộng sự, 2006).Nghiên cứu này tiếp cận năng lực động theo quan điểm của Teece và cộng sự (1997) và coi năng lực động là một dạng năng lực đặc biệt, cho phép doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh và duy trì được kết quá hoạt động kinh doanh như mong muốn Với vai trò đó, năng lực động trước hết phái là một năng lực

có tính giá trị (Value), hiếm (Rarity), khó bắt chước (Inimitability), và không thể thay thế (Non- Substitutability) Nói cách khác, nâng lực động phải đạt được tiêu chuẩn VRIN mà lý thuyết RBV đã đưa

ra khi xem xét và đánh giá năng lực cốt lõi của doanh nghiệp Khái niệm năng lực động cua Teece và cộng

sự (1997) đã chỉ rõ hai nhiệm vụ quan trọng của năng lực động là: (1) Tái định hình; và (2) tích họp các nguồn lực, năng lực Năng lực tái định hình (năng lực đôi mới) tập trung vào việc thay đôi, làm mới và sáng tạo các hoạt động, quy trinh, sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp (Teece và cộng sự, 1997; Eisenhardt

& Martin, 2000; Wang & Ahmed, 2007; Menon & Mohanty, 2008) Năng lực tích hợp đề cập đến khả năng phối kết hợp các nguồn lực và năng lực nội bộ để phúc đáp kịp thời và hiệu quả với môi trường (Teece

và cộng sự, 1997; Menon & Mohanty, 2008; Cao, 2011; Jiang và cộng sự, 2015; Rehman & Saeed, 2015) Với đặc diêm và vai trò đó, nghiên cứu này thực hiện phân tích năng lực động trên hai khía cạnh: Đối mới sáng tạo và tích họp các nguồn lực, năng lực, góp phần duy trì lợi thế cạnh tranh để từ đó cải thiện kết quà hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Gắn với khách thề nghiên cứu là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ, năng lực đổi mới được xem xét trên khía cạnh làm mới và phát triển các dịch vụ cung ứng cho khách hàng, góp phần đáp ứng nhu cầu thị trường và thích ứng với những thay đổi từ bên ngoài (Grawe và cộng sự, 2009) Năng lực tích họp cùa DNBL được xem xét dưới lăng kính của các nỗ lực phối kết hợp các kênh xúc tiến truyền thông và quán trị thông tin tích hợp

2.2 Năng lực đôi mới

Năng lực đổi mới đề cập đến việc phối họp và sử dụng các tri thức, kinh nghiệm (Rodriguez- Serrano & Martín-Armario, 2019) để tạo ra các ý tưởng mới (Hii & Neely, 2000), các quy trình/ hệ thống mới (Crossan & Apaydin, 2010) hay các sản phẩm/ dịch vụ mới (Kogut & Zander, 2000), từ

đó mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và các bên liên quan (Hilman & Kaliappen, 2015; Maldonado- Guzman và cộng sự, 2019) Năng lực đổi mới được xem là một yếu tố đặc thù và riêng biệt của mỗi doanh nghiệp (Nguyễn Phúc Nguyên, 2016); là phưong tiện làm thay đổi doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh (Birchall & Tovstiga, 2005; Nguyễn Trần Sỹ, 2013; Zang & Li, 2017); và làm tăng kết quà kinh doanh của doanh nghiệp (Calantone và cộng sự, 2004; Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang, 2009; Saunila và cộng sự, 2014; Hilman & Kaliappen, 2015; Maldonado-Guzman và cộng sự, 2019) Thông qua việc tạo ra những ý tưởng hoặc những sản phâm dịch vụ mới, năng lực đối mới và sáng tạo có thế giúp doanh nghiệp phản ứng lại với những thay đổi

từ trong nội bộ doanh nghiệp cũng như từ môi trường bên ngoài (Danneels, 2002; Terziovski, 2010; Huang và cộng sự, 2016) Điều này cho thấy năng lực đổi mới và sáng tạo có tính giá trị, hiếm, khó bắt chước và không thể thay thế Nói cách khác, năng lực đổi mới đạt yêu cầu VRIN Do vậy, năng lực đối mới và sáng tạo là một dạng cúa năng lực động

Trang 5

Nguyễn Phương Linh & Nguyễn Đức Nhuận (2022) JABES 33(1) 44-64

Nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu về chủ đề năng lực đổi mới trên nhiều khía cạnh khác nhau như: Đôi mới hành vi (Behaviour Innovation), đôi mới sản phâm (Product Innovation), đồi mới quy trinh (Process Innovation), đổi mới thị trường (Market Innovation), hay đối mới chiến lược (Strategic Innovation) (Wang &Ahmed, 2004; Wu và cộng sự, 2007; Hilmi và cộng sự, 2010; da Costa và cộng sự, 2018) Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về năng lực đổi mới thường đặt trọng tâm vào việc đổi mới sản phâm hàng hóa mà ít quan tâm hơn tới các nghiên cứu về đôi mới sản phâm dịch vụ (Grawe và cộng

sự, 2009) Với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nói chung và kinh doanh bán lẻ nói riêng, việc nghiên cứu, ứng dụng và cung ứng các dịch vụ bán lẻ mới, cải tiến có vai ưò và ý nghĩa quan trọng, cho phép các doanh nghiệp tìm ra các phương thức kinh doanh mới đế đáp ứng được với những thay đôi trong thị hiếu

và nhu cầu của khách hàng; từ đó, góp phần duy trì được khả năng cạnh ưanh và đạt được kết quả hoạt động kinh doanh như kỳ vọng Với đặc thù của khách thể nghiên cứu, bài viết này tiếp cận năng lực đổi mới cùa DNBL theo khía cạnh năng lực đối mới sàn phẩm dịch vụ theo quan điểm của Grawe và cộng

sự (2009)

Nêu như đôi mới sáng tạo sàn phẩm hàng hóa được thể hiện thông qua việc thay đồi, cải tiến hoặc làm mới sàn phâm thông qua thiết kế và sản xuất (Damanpour & Gopalakrishman, 2001) thì việc đổi mới sáng tạo sản phâm cùa các doanh nghiệp dịch vụ nói chung và DNBL nói riêng lại tập trung nhiều vào việc tìm

ra các ý tưởng mới để cải thiện một cách hiệu quâ dịch vụ cung ứng (Chen, 2011), góp phần sáng tạo giá trị và đáp ứng nhu cầu của khách hàng (Grawe và cộng sự, 2009) Chính vì vậy, O’Sullivan và Dooley (2009) đã coi năng lực đổi mới dịch vụ như là khả năng sáng tạo những thay đồi có giá trị với dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng cho khách hàng Những yêu cầu cao hơn của khách hàng về các giá trị họ mong muốn nhận được như cải thiện chất lượng và hạ giá thành chính là những yếu tố then chốt thúc đấy năng lực đổi mới dịch vụ của DNBL phát triển (Victorino và cộng sự, 2005) Năng lực đổi mới dịch vụ quan tâm tới việc cải thiện khả năng ứng dụng công nghệ và kỹ thuật vào các dịch vụ bán lé mới, góp phần tạo

ra các dịch vụ bán lẻ tùy chỉnh phù họp với từng khách hàng cụ thề (Grawe và cộng sự, 2009)

2.3 Năng lực quán trị thông tin tích hợp và năng lực xúc tiến tích họp

Năng lực tích hợp đề cập đến khà năng thu nhận, phối hợp và triển khai một cách chiến lược các nguồn lực sẵn có từ các đối tác bên ngoài đê đạt được các tham vọng và định hướng phát triển của doanh nghiệp (Jiang và cộng sự, 2015) Năng lực tích hợp cho phép doanh nghiệp đạt được sự phối hợp và tương tác hiệu quả giữa các nguồn lực khác nhau bằng cách chuyến đổi chúng thành các kỳ năng đặc biệt, giúp doanh nghiệp sáng tạo giá trị và thích ứng với các điều kiện môi trường bên ngoài (Wang và cộng sự, 2004) Với vai ưò và chức năng đó, năng lực tích hợp được thừa nhận như là một dạng của năng lực động (Teece và cộng sự, 1997; Eisenhardt & Martin, 2000; Menon & Mohanty, 2008; Protogerou và cộng sự, 2012; Rehman & Saeed, 2015) Bằng các nồ lực phối tích hợp với bên ngoài, doanh nghiệp có thể triển khai các chiến lược kinh doanh mà nếu chì khai thác các nguồn lực nội bộ, doanh nghiệp khó có thể thành công (Jiang và cộng sự, 2015) Lợi ích đạt được từ việc tích họp là tạo ra sự phối kết hợp mới cho các nguồn lực theo cách đặc biệt cùa riêng doanh nghiệp và khó có thể bị các đối thù cạnh ưanh sao chép hoặc bắt chước;

từ đó góp phần mang lại giá trị cao hơn thông qua việc nuôi dưỡng và phát triển lợi thế cạnh ưanh của doanh nghiệp (Holcomb và cộng sự, 2009)

Tùy thuộc vào mục tiêu của mỗi doanh nghiệp mà việc tích họp nguồn lực có thể được thực hiện tại các lĩnh vực khác nhau Bên cạnh các chủ đề nghiên cứu về tích hợp chuỗi cung ứng hay tích hợp Marketing được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện thì tích họp đa kênh dựa trên việc ứng dụng công nghệ thông tin đê truyền thông sản phẩm/ dịch vụ cũng là một mảng nghiên cứu được quan tâm trong

Trang 6

Nguyễn Phương Linh & Nguyễn Đức Nhuận (2022) JABES 33(1) 44-64

giai đoạn hiện nay Các DNBL có xu hướng thiết lập, vận hành và đa dạng hóa các kênh bán lẻ khác nhau như: Kênh bán hàng qua cửa hàng/ siêu thị (kênh bán hàng vật lý), kênh bán hàng qua Catalogs

và tổng đài điện thoại, kênh bán hàng trực tuyến, kênh bán hàng trên nền tảng công nghệ (Cao & Li, 2018) Do vậy, việc nỗ lực triển khai các hoạt động phối tích hợp đồng nhất trên tất cả các kênh bán hàng đóng vai trò rất quan trọng với các DNBL (Agnihotri, 2015) Trong đó, nuôi dưỡng và phát triển năng lực tích hợp đa kênh truyền thông và giới thiệu sản phẩm được xem là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm của tích hợp đa kênh, giúp DNBL quàng bá, truyền tải và cung cấp các thông tin tới khách hàng nhanh hơn, thuận tiện hơn với chi phí tốt hơn (Bendoly và cộng sự, 2005; Oh và cộng sự, 2012; Zhang và cộng sự, 2018) Oh và cộng sự (2012) đã chỉ ra 6 yếu tố của năng lực tích họp đa kênh, gồm: (1) Năng lực xúc tiến tích hợp (Integrated Promotion), (2) năng lực quản trị thông tin giao dịch (Integrated Transaction Information Management), (3) năng lực quản trị thông tin sản phẩm và giá cả (Integrated Product and Pricing Information Management), (4) năng lực truy cập thông tin tích họp (Integrated Information Access), (5) năng lực hoàn thành đơn hàng tích hợp (Integrated Order Fulfillment), và (6) nàng lực dịch vụ khách hàng tích hợp (Integrated Customer Service) Gắn với khách thể nghiên cứu là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc tích hợp đa kênh của các doanh nghiệp thường được phản ánh nhiều hơn trên hai khía cạnh năng lực quản trị thông tin sản phẩm và giá cả tích hợp (Integrated Product and Pricing Information Management, sau đây gọi tắt là năng lực quản trị thông tin tích hợp) và năng lực xúc tiến tích họp (Integrated Promotion) Với những lý do đó, nghiên cứu này thực hiện tiếp cận năng lực tích hợp của các DNBL trên hai khía cạnh: Năng lực quản trị thông tin tích hợp, và năng lực xúc tiến tích họp

• Năng lực quản trị thông tin tích họp (Integrated Product and Pricing Information Management)

Năng lực quản trị thông tin tích họp (năng lực quản trị thông tin sàn phẩm và giá cả tích hợp) đề cập tới khả năng cung cấp đầy đủ và nhất quán các thông tin về sản phẩm trên tất các kênh bán hàng của DNBL (Oh và cộng sự, 2012) Các thông tin như: Mô tả sản phẩm, liệt kê danh mục mặt hàng, công bố giá bán hay triển khai các chương trình giảm giá cần phải được thực hiện đồng loạt và thống nhất trên toàn kênh (Daniel & Wilson, 2003) Năng lực quàn trị thông tin tích họp cho phép DNBL cung cấp công khai và minh bạch các thông tin sàn phẩm tới khách hàng cũng như làm giảm những nhầm lẫn có thể gặp phải từ những thông tin không nhất quán giữa các kênh - điều có thể dẫn tới những mâu thuẫn và sai lệch trong thông tin được tiếp nhận bởi khách hàng (Oh và cộng sự, 2012)

về phía người tiêu dùng, việc triến khai hiệu quả năng lực quản trị thông tin tích hợp cho phép khách hàng có thể dễ dàng tìm kiếm và thu nhận được các thông tin cũng như giá cả của từng sản phẩm ở bất kỳ kênh bán hàng nào của DNBL mà họ tiếp cận (Zhang và cộng sự, 2018) Từ đó, người tiêu dùng có thể được hưởng những quyền lợi và ưu đãi như nhau trên tất cả các kênh bán hàng của DNBL

• Năng lực xúc tiến tích họp (Integrated Promotion)

Năng lực xúc tiến tích hợp đề cập tới khả năng của DNBL trong việc cung cấp và triển khai đồng thời

và thống nhất các chương trình truyền thông cũng như các hoạt động xúc tiến tới khách hàng (Jiang và cộng sự, 2015) Bằng việc triển khai các hoạt động truyền thông xúc tiến tích họp, các chiến dịch quảng cáo hay các chương trình cộng đồng của kênh bán hàng này có thể được truyền tải trên các kênh bán hàng khác (Oh và cộng sự, 2012) Khi triển khai các hoạt động xúc tiến tích họp, DNBL cho phép khách hàng

dễ dàng tìm kiếm và tiếp nhận các thông điệp truyền thông và xúc tiến của DNBL (Zhang và cộng sự,

Trang 7

Nguyễn Phương Linh & Nguyễn Đức Nhuận (2022) JABES 33(1) 44-64

2018) Lợi ích mang lại từ việc khai thác hiệu quả năng lực xúc tiến tích hợp là gia tâng nhận thức của khách hàng về sự có mật cũa các loại hình kênh bán hàng khác nhau cùa DNBL; đồng thời, khuyến khích khách hàng trài nghiệm đa dạng các kênh bán hàng đó (Bahn & Fischer, 2003)

2.4 Ket quà hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quà hoạt động kinh doanh được xem là một biến phụ thuộc quan trọng và được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về quan trị doanh nghiệp (March & Sutton, 1997) Ket quà hoạt động kinh doanh đề cập đến hệ thống chỉ số giúp doanh nghiệp chuyển đổi từ các chiến lược kinh doanh thành các kết quả có thể thực hiện được Kết quả hoạt động kinh doanh có thể được đo lường bàng cả các chỉ số tài chính và phi tài chính (Hall (2008) trích dẫn trong Franco-Santos và cộng sự (2012)) Trong

đó, việc đo lường kết quà hoạt động kinh doanh dựa trên việc đánh giá các kết qua tài chính được nhiều tác giả quan tâm và sử dụng hon cả Arend (2014) và Torres và cộng sự (2018) đã chi ra một

số thang đo tài chính phổ biến để đo lường cho kết quà hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gồm: Lợi nhuận, doanh thu, lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI), lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), doanh thu, tốc độ tăng trường của doanh nghiệp, thị phần, quy mô thị trường, vị thế cạnh tranh Dựa trên các chi

số tài chính, doanh nghiệp có thê đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu cũng như tiềm năng tăng trưởng của mình

2.5 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

2.5.1 Giá thuỵêt nghiên cứu

• Năng lực đỏi mới dịch vụ, năng lực quàn trị thông tin tích họp và năng lực xúc tiên tích hợp cua DNBL

Các nghiên cứu trước thường chi ra mối quan hệ giữa năng lực đôi mới và năng lực tích hợp dưới khía cạnh năng lực tích hợp đóng vai trò tiền đề giúp khai thác hiệu quá năng lực đôi mới (Oh và cộng

sự, 2012; Jiang và cộng sự, 2015; Helfat & Raubitschek, 2018) Ở khía cạnh ngược lại, năng lực đổi mới dịch vụ với vai trò là thay đồi, cái tiến, làm mới và sáng tạo các dịch vụ bán lẻ cho DNBL, tạo ra những phương thức bán lẻ mới đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hon và phù hợp với điều kiện thị trường hon (Kumar & Venkatesan, 2005; Grawe và cộng sự, 2009; Chen 2011) Sự bùng nô của công nghệ thông tin đã mờ ra những cơ hội mới cho DNBL trong việc đối mới sáng tạo và đa dạng hóa các phương thức bán lẻ trên nền tàng ứng dụng công nghệ thông tin (Nguyễn Phương Linh, 2019) Trong khi đó, năng lực tích hợp cho phép DNBL phối hợp các hoạt động xúc tiến truyền thông và quản trị thông tin trên các kênh bán hàng khác nhau để cùng sáng tạo và cung ứng giá trị cho khách hàng (Zhang và cộng sự, 2018) Chính vì vậy, để năng lực xúc tiến và quản trị thông tin tích họp được khai thác hiệu quả, các DNBL cần thúc đẩy quá trình đối mới sáng tạo và đa dạng hóa các loại hình dịch

vụ bán lẻ Nói cách khác, năng lực đôi mới nói chung và năng lực đổi mới dịch vụ cùa các DNBL nói riêng đóng vai trò là yếu tố nền tảng góp phần nuôi dưỡng và phát triền năng lực xúc tiến tích hợp và năng lực quán trị thông tin tích họp Vì những lý do đó, nghiên cứu này đưa ra già thuyết về mối quan

hệ giữa nàng lực đổi mới dịch vụ với năng lực tích hợp, cụ thẻ là năng lực xúc tiến tích họp và năng lực quàn trị thông tin tích hợp như sau:

Hi: Năng lực đoi mới dịch vụ có ảnh hưởng tích cực đến năng lực xúc tiến tích hợp cùa DNBL ỉh: Năng lực đoi mới dịch vụ có ảnh hường tích cực đen năng lực quản trị thông tin tích hợp cùa DNBL.

• Nàng lực quản trị thông tin tích hợp, năng lực xúc tiến tích họp và kết quả hoạt động kinh doanh của DNBL

Trang 8

Nguyễn Phương Linh & Nguyễn Đức Nhuận (2022) JABES 33(1) 44-64

Các nghiên cứu trước đây đà chỉ ra mối quan hệ tích cực và đáng kể của năng lực tích hợp với kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Rai và cộng sự, 2006; Vanpoucke và cộng sự, 2014) Với tiếp cận dưới lăng kính của truyền thông xúc tiến tích hợp và quản trị thông tin tích hợp, năng lực tích hợp được xem là một trong những yếu tố quan trọng giúp các DNBL tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng cùng như cải thiện được kết quả hoạt động kinh doanh (Cao & Li, 2015; Tagashira

& Minami, 2019) Việc cung cấp đầy đủ, nhanh chóng và nhất quán các thông tin về sản phẩm tại đồng loạt các kênh bán hàng trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin một mặt giúp DNBL tiết kiệm chi phí, mặt khác giúp gia tăng doanh số bán hàng thông qua việc cho phép khách hàng tìm kiếm và tiếp cận thông tin về sản phẩm để đẩy nhanh quá trình mua hàng (Goraya và cộng sự, 2020) Các hoạt động xúc tiến tích hợp giúp DNBL truyền tải các thông điệp truyền thông cũng như các chương trình quảng cáo, khuyến mại nhanh hơn, thuận tiện hơn với chi phí thấp hơn đến khách hàng; từ đó, gia tăng nhận thức cũng như kích thích khách hàng trải nghiệm các hoạt động mua sắm nhiều hơn, góp phần cài thiện đáng kể kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Zhang và cộng sự, 2018) Có thể thấy, các nghiên cứu trước đây đều thừa nhận việc DNBL khai thác hiệu quả năng lực tích hợp nói chung cũng như năng lực xúc tiến và quản trị thông tin tích hợp giúp cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh Do vậy, giả thuyết về mối quan hệ của năng lực xúc tiến tích hợp và năng lực quản trị thông tin tích hợp với kết quả hoạt động kinh doanh của DNBL được phát biểu như sau:

H3: Năng lực xúc tiến tích hợp có ảnh hưởng tích cực đến kết quà hoạt động kinh doanh cùa DNBL.

Hc Năng lực quàn trị thông tin tích hợp có ảnh hưởng tích cực đến kết quả hoạt động kinh doanh của DNBL 2.5.2 Mô hình nghiên cứu

Từ các giả thuyết được xác lập, mô hình nghiên cứu được xây dựng như sau:

Hình 1 Mô hình nghiên cứu

3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Nghiên cứu này thực hiện điều tra khảo sát các DNBL Việt Nam để kiềm định mô hình giả thuyết nghiên cứu Do việc nghiên cứu tổng thể mẫu rất tốn kém và không khả thi nên nghiên cứu thực hiện phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên Theo đó, các DNBL Việt Nam được lựa chọn từ Danh

Trang 9

Nguyễn Phương Linh & Nguyễn Đức Nhuận (2022) JABES 33(1) 44-64

sách hội viên của Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam (AVR, 2020) Đê đám báo các doanh nghiệp được lựa chọn khảo sát có thể đánh giá tốt được van đề nghiên cứu thì mẫu nghiên cứu được chọn lọc theo ba tiêu chí sau: (1) Được thành lập và đăng ký kinh doanh tại Việt Nam và không bao gôm các DNBL có yếu tố nước ngoài; (2) thời gian thành lập DNBL là từ năm 2017 trở về trước; và (3) hiện đang kinh doanh bán le dưới hình thức siêu thị tông họp, siêu thị mini/ cứa hàng tiện lợi và siêu thị chuyên doanh Đe thu thập được dữ liệu chính xác và khách quan, nghiên cứu tiến hành phát báng hói kháo sát đến đối tượng là các nhà quàn trị cấp trung hoặc cấp cao cua doanh nghiệp Việc lựa chọn các nhà quàn trị cấp trung trở lên là do: (1) Các nhà quan trị cấp trung và cấp cao là những người chịu trách nhiệm chính cho kết qua hoạt động kinh doanh cùa doanh nghiệp; do vậy, họ là những người nắm rõ nhất thực trạng cua doanh nghiệp; và (2) các nhà quản trị câp trung và cấp cao là những người trực tiếp hoạch định và quản trị triền khai các chiến lược của doanh nghiệp; vì vậy, việc lựa chọn đối tượng trả lời khao sát này cho phép nhóm tác già có được nguồn thông tin chính xác và có tính bao quát cao Bên cạnh đó, yếu tố về thời gian công tác/ thời gian nắm giữ vị trí đưong nhiệm cũng anh hưởng tới chất lượng phiếu trá lời Do vậy, để đam bảo tính tin cậy cùa dữ liệu thu thập, nhóm tác già chọn đối tượng trá lời kháo sát là những nhà quàn trị trong DNBL có vị trí quàn lý từ cấp trung trơ lên, có thâm niên công tác ớ vị trí đương nhiệm từ một năm trớ lên, và mồi nhà quản trị sẽ đại diện trả lời cho một DNBL mà họ đang công tác

Việc thu thập dữ liệu được thực hiện bằng cà phương pháp tiếp cận trực tiếp và gián tiếp Nhóm tác giá tiến hành gọi điện, gửi email mời ưà lời câu hoi Khi được sự đồng ý ưa lời, nhóm tác giá xin hẹn gặp trực tiếp và gùi phiếu khao sát đế nhà quản trị tra lời (tiếp cận trực tiếp) Với hình thức gián tiếp, nhóm tác gia gửi bang hỏi qua đường bưu điện hoặc qua email và thiết kế bàng hoi dưới dạng Google Form Đê táng tỳ

lệ phan hồi, nhóm tác giả thực hiện gọi điện và gửi email nhắc nhớ, mời nhà quán trị ưả lời Việc khão sát được thực hiện ưong thời gian từ tháng 8 đến tháng 10/2020 Trong tông số 500 phiếu được gứi đi, tổng

số phiếu họp lệ thu về là 197 phiếu, chiếm 39,4% số phiếu được phát ra

Các đặc điểm mầu nghiên cứu được phản tích thống kê mô ta trên phần mêm SPSS 23 Ket qua thống kê mô tá mẫu khảo sát được thể hiện trong Bảng 1 Xét về số năm thành lập cúa DNBL tham gia khảo sát, có 27,9% có thời gian thành lập từ 3 năm đến dưới 5 năm; 33,0% có thời gian thành lập

từ 5 năm đến dưới 10 năm về quy mô, số DNBL tham gia khảo sát có quy mô nhỏ và vừa (có quy

mô nhàn sự từ 10 đến dưới 300 người) chiếm 61,4% về loại hình kinh doanh, có 44/197 DNBL kinh doanh theo hình thức siêu thị tồng hợp; 49/197 DNBL kinh doanh theo hình thức siêu thị mini/ cứa hàng tiện lợi; và 104/197 DNBL hoạt động dưới hình thức siêu thị chuyên doanh

Sô năm hoạt động của DNBL Việt Nam

3-dưới 5 năm 55 27,9 27,9 27,9 5-dưới 10 năm 65 33,0 33,0 60,9

10 năm trờ lên 77 39,1 39,1 100.0

Trang 10

Nguyễn Phương Linh & Nguyễn Đức Nhuận (2022) JABES 33(1) 44-64

Tần suất Ty lệ Tỷ lệ %

họp lệ

Tỷ lệ % tích lũy

Quy mô cùa DNBL Việt Nam

10-dưới 50 người 46 23,3 23,4 23,4 50-dưới 300 người 75 38,1 38,1 61,4

301 người trở lên 76 38.6 38,6 100,0

Loại hình kinh doanh ctìa DNBL Việt Nam

DNBL theo hình thức siêu thị tổng hợp 44 22,3 22,3 22,3 DNBL theo hình thức siêu thị mini/cừa hàng

tiện lợi 49 24,9 24,9 27,2DNBL theo hình thức siêu thị chuyên doanh 104 52,8 52,8 100,0 Tổng cộng 197 100,0 100,0

3.2 Thang đo nghiên cứu

Các thang đo cho từng biến được kế thừa và phát triển từ các bộ thang đo đã được kiếm định của các nghiên cứu trước đây Đặc điếm cấu trúc của các biến như sau: Biến năng lực đối mới dịch vụ và kết quả hoạt động kinh doanh có đặc điếm là biến phản ánh bậc 1 (lst-Order Reflective Construct); biến năng lực quản trị thông tin tích hợp và năng lực xúc tiến tích họp có đặc điếm là biến cấu tạo bậc

1 (lst-Order Formative Construct) Trong đó, bộ thang đo cho năng lực đổi mới dịch vụ (SIC) được

kế thừa từ Grawe và cộng sự (2009) với 5 biến quan sát được mã hóa từ SIC1 đến SIC5 Năng lực quản trị thông tin tích họp và năng lực xúc tiến tích họp được kế thừa từ bộ thang đo của Oh và cộng

sự (2012), được ký hiệu lần lượt là INF và PRO Mặc dù đây là hai năng lực được Oh và cộng sự (2012) coi như các biến cấu tạo (Formative Constructs) nhung kết quả đánh giá mô hình đo lường cấu tạo (Formative Measurment Assessment) của Oh và cộng sự (2012) lại cho thấy mức độ giải thích chưa mạnh mẽ của các biến quan sát (Formative Indicators) tới hai biến cấu tạo là INF và PRO Với việc coi năng lực quàn trị thông tin tích hợp và năng lực xúc tiến tích họp là hai năng lực quan trọng chịu tác động cúa năng lực đổi mới để từ đó cải thiện kết quả hoạt động kinh doanh của DNBL Việt Nam, nghiên cứu kỳ vọng hai năng lực này có thế phản ánh mạnh mẽ khă năng phối kết hợp các hoạt động mô tả, trưng bày thông tin sản phẩm giá cả cũng như triển khai đồng thời các hoạt động xúc tiến trên tất cả các kênh bán lẻ của DNBL Nguyễn Minh Hà và Vũ Hữu Thành (2020) đề xuất có thể xem xét thay đôi mô hình cấu tạo sang mô hình phản ánh nhằm kỳ vọng mức độ giải thích cao hơn Chính

vì vậy, trong nghiên cứu này, hai năng lực quản trị thông tin tích họp (INF) và năng lực xúc tiến tích họp (PRO) được lựa chọn với đặc điểm là biến phản ánh bậc 1 Bộ thang đo được kế thừa từ Oh và cộng sự (2012) gồm 5 biến quan sát cho biến INF, được mã hóa từ INF1 đến INF5; năng lực xúc tiến tích họp (PRO) gồm 5 biến quan sát, được mã hóa từ PRO1 đến PRO5

Với biến kết quả hoạt động kinh doanh (FP), nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của việc

sử dụng kết quả hoạt động kinh doanh như là biến phụ thuộc quan trọng đế đánh giá kết quả của triển khai chiến lược kinh doanh thành công trong doanh nghiệp (Chien và Tsai, 2012; Wilden và cộng sự,

Ngày đăng: 28/10/2022, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w