1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl le thi minh nhat 810796h

67 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Chưng Tách Tinh Dầu Bạch Đàn Chanh Eucalyptus Citriodora (Lâm Đồng)
Tác giả Lê Thị Minh Nhật
Người hướng dẫn Vương Ngọc Chính, Giảng viên
Trường học Trường Đại Học Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Công Nghệ Hóa Học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 909,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mới đây, các nhà khoa học Viện Hóa Học Các Hợp Chất Thiên Nhiên đã thành công trong việc chưng tách tinh dầu từ loài cây này, tạo thu nhập ổn định cho người dân vùng ven biển miền Trung.

Trang 2

L ời Cảm Ơn

Em xin chân thành cám ơn Quý Thầy Cô, đặc biệt là Quý Thầy Cô Bộ Môn

Tổng Hợp Hữu Cơ – Khoa Khoa Học Ứng Dụng – những người đã truyền đạt cho

em những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong những năm tháng học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại Học Tôn Đức Thắng

Em xin bày tỏ lòng biết ơn Cô Vương Ngọc Chính đã chỉ bảo tận tình và truyền đạt cho em những kinh nghiệm vô cùng quý báu trong suốt thời gian thực

hiện luận văn tốt nghiệp, xin cảm ơn các thầy cô trong hội đồng bảo vệ đã có những

nhận xét quý báu cho bài luận

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô Tâm phòng Thí Nghiệm Hóa Hữu

Cơ trường Đại Học Tôn Đức Thắng, Quý Thầy Cô Bộ Môn Vi Sin h – Ký Sinh trường Đại Học Y Dược đã hết lòng ủng hộ và giúp đỡ em trong suốt thời gian làm

luận văn

Em xin chân thành cám ơn Chú Phương cùng tập thể nhân viên Công ty Nông nghiệp Phương Mai, Hiệp An – Đức Trọng – Lâm Đồng đã tạo điều kiện thuận lợi để em có nguồn nguyên liệu khảo sát

Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên tôi hoàn thành luận văn.

Trang 3

Của tinh dầu - GCMS

1.5 Hoạt tính sinh học của tinh dầu 13-15

Chương 2: THỰC NGHIỆM 16 - 24

2.1 Mục đích đề tài 17 2.2 Hóa chất, dụng cụ và thiết bị sử dụng 17 - 18 2.2.1 Hóa chất 17 2.2.2 Dụng cụ và thiết bị sử dụng 17 2.3 Thực nghiệm 18-24 2.3.1 Xử lý nguyên liệu 18 - 19 2.3.2 Xác định độ ẩm 19 2.3.3 Xác định hàm lượng tinh dầu 19 - 20 2.3.4 Đánh giá chất lượng tinh dầu thu được 20 - 23 2.3.5 Xác định thành phần hóa học 23 2.3.6 Xác định tính kháng khuẩn 24

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 25 - 43

3.1 Kết quả thực nghiệm 26 - 36 3.1.1 Khảo sát tỉ lệ khối lượng nước/mẫu 26 - 29 trong hỗn hợp chưng cất

3.1.2 Khảo sát một số điều kiện cần 29 - 36 trước chưng tách tinh dầu

3.2 Đánh giá sản phẩm tinh dầu Bạch Đàn Chanh 36 – 39 3.2.1 Điều kiện tiến hành 36 3.2.2 Đánh giá cảm quan, chỉ số hóa lý, 36 - 37 thành phần hóa học

3.2.3 Đánh giá hoạt tính sinh học 37 – 39 3.2.4 Nhận xét 39 3.3 Bàn luận 40 - 43

Trang 4

3.2.3 Trên việc chuẩn bị nguyên liệu: 41 – 43

Chương 4: KẾT LUẬN 44 – 46

4.1 Kết luận 45 4.2 Kiến nghị 45 - 46

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

PH Ụ LỤC

Trang 5

Trang

1 DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 1.1: Minh họa hoa Bạch Đàn Chanh 2

: Hình 1.2: Cây Bạch Đàn Chanh 3

Hình 2.1: Quy trình tổng quát 18

Hình 2.2: Nguyên liệu sau thu hái và lưu trữ nguyên liệu 19

Hình 2.3: Máy đo độ ẩm 19

Hình 2.4: Hệ thống chưng cất 19 - 20 Hình 3.1: Đồ thị minh họa mối tương quan giữa 26

thời gian chưng tách và thể tích tinh dầu thu được-chưng cất hồi lưu Hình 3.2: Đồ thị minh họa mối tương quan giữa 27

thời gian chưng tách và thể tích tinh dầu thu được-chưng cất không hồi lưu Hình 3.3: Đồ thị minh họa mối tương quan giữa 28

tỉ lệ khối lượng nước/mẫu với lượng tinh dầu thu được Hình 3.4: Đồ thị thể hiện ảnh hưởng của 29

tỉ lệ khối lượng nước/mẫu lên lượng tinh dầu thu được và hàm lượng Citronellal Hình 3.5: Đồ thị thể hiện mối tương quan giữa 30

kích thước nguyên liệu với lượng tinh dầu thu được Hình 3.6: Đồ thị thể hiện mối tương quan giữa 32

thời gian, nhiệt độ lưu trữ và lượng tinh dầu thu được Hình 3.7: Đồ thị thể hiện mối tương quan giữa 33

thời điểm thu hái nguyên liệu với lượng tinh dầu thu được Hình 3.8: Đồ thị biểu diễn hàm lượng tinh dầu 34

ở các bộ phận thực vật khác nhau của Bạch Đàn Chanh Hình 3.9: Đồ thị so sánh hàm lượng tinh dầu khi 35

nguyên liệu được lấy từ 2 nguồn khác nhau 2.DANH SÁCH B ẢNG BIỂU Bảng 1.1: Kết quả phân tích mẫu tinh dầu Bạch Đàn Chanh 8

:

ở các vùng khác nhau

Trang 6

trong tinh dầu thu được từ 2 nguổn khác nhau

Bảng 3.2: Kết quả đánh giá sản phẩm tinh dầu 36-37 sau khi được chưng cất ở những điều kiện thích hợp

Bảng 3.3: Đường kính mẫu chứng vi sinh vật 37

Bảng 3.4: Kết quả thử nghiệm cho sản phẩm tinh dầu thu được 38

Bảng 3.5: Kết quả thử nghiệm định lượng, xác định MIC 39

Trang 7

Cây Bạch Đàn Chanh (Eucalyptus citriodora) có nguồn gốc ở Úc, cây có thể

sống ở điều kiện đất đai có khí hậu khác nhau, chịu được nhiệt độ cao không chịu được rét đậm Với những đặc tính này Bạch Đàn Chanh được di thực vào nhiều nước ở các Châu khác và Bạch Đàn Chanh đã được nhập khẩu từ lâu vào Việt Nam (1960-1978), và cũng đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về loài cây này

Ở nước ta hiện nay, loài cây này có tác dụng đảm bảo cân bằng sinh thái,

khắc phục ô nhiễm môi trường và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho vùng đất cát ven

biển hoặc những vùng ngập mặn Mới đây, các nhà khoa học Viện Hóa Học Các

Hợp Chất Thiên Nhiên đã thành công trong việc chưng tách tinh dầu từ loài cây này, tạo thu nhập ổn định cho người dân vùng ven biển miền Trung.Mô hình "S ản

xu ất và chưng cất cây tinh dầu trên vùng đất cát và nhiễm mặn ven biển miền Trung" do Viện Hóa Học Các Hợp Chất Thiên Nhiên chủ trì được thực hiện ở xã

Thạch Hải - một xã nghèo vùng ven biển của Hà Tĩnh.Việc chưng tách thành công được tinh dầu từ cây Bạch Đàn Chanh sẽ đưa loại cây này trở thành cây kinh tế để

"ph ủ xanh" vùng cát trắng ven biển, nơi mà đến nay chỉ có cây phi lao [1]

Trong bối cảnh đó, chúng tôi đã nghiên cứu về cây Bạch Đàn Chanh được

trồng ở vùng đồi núi Tây Nguyên – nơi mà loài cây này chưa được biết nhiều – khả năng sinh sống của loài cây này ở nơi đây là rất tốt, cây có thể trồng ở các đồi núi,

nhằm ngăn chặn sự sạt lỡ đất đá, bên cạnh đó còn phát triển nguồn tinh dầu của loài cây này không chỉ để xuất khẩu mà còn sử dụng trong các ngành dược liệu và mỹ

phẩm

Nội dung luận văn:

1 Xác định phương pháp chưng cất nhằm thu được hàm lượng tinh dầu

cũng như hàm lượng citronellal cao

2 Tìm điều kiện chuẩn bị nguyên liệu trước chưng tách tinh dầu

3 Xác định các chỉ số hóa lý, hóa học cũng như thành phần hóa học chính

của tinh dầu

4 Thăm dò một số hoạt tính sinh học của tinh dầu

Trang 8

như quá trình tiến hành chưng cất Bạch Đàn Chanh

• Kết quả thu được sẽ cho thấy rõ hơn về thế mạnh của sản phẩm tinh dầu

Bạch Đàn Chanh trong ngành dược phẩm, mỹ phẩm và xuất khẩu

Hy vọng rằng với nghiên cứu này s ẽ góp phần cho việc trồng Bạch Đàn Chanh ở vùng Tây Nguyên – nơi mà điều kiện kh í hậu có thể thu được những nguồn tinh dầu với chất lượng cao – ngày càng phát triển

Trang 9

CHƯƠNG 1

T Ổ NG QUAN

:

Trang 10

1.1

1.1.1

GI ỚI THIỆU CÂY BẠCH ĐÀN CHANH

Bạch Đàn Chanh còn được gọi là Spotted Gum, Citronsc ented Gum hay Lemon-scented Gum – tên khoa học Eucalyptus citriodora Hooker, thuộc họ Sim

(Myrtaceae) – có nguồn gốc ở Châu Úc, thích hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm nhưng

vì giá thành cây tinh dầu này quá cao, nên đã được đưa trồng và khai thác ở nhiều nơi trên thế giới Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, tinh dầu sả Java bị thiếu

trầm trọng so với nhu cầu tiêu thụ, người ta đã sử dụng tinh dầu Bạch Đàn Chanh để thay thế Hàng loạt đồn điền trồng Bạch Đàn Chanh đã xuất hiện ở nhiều nước như Brazin, Ấn Độ, Guatemala, Công-gô, Mỹ, Anh… [2, 3, 4] Sản lượng tinh dầu Bạch Đàn Chanh hàng năm của Nam Phi là 5 t ấn; Brazin là 70-80 tấn (1958) [4]; 45-60

tấn (1962); Công-gô là 15 tấn [4]

NGU ỒN GỐC DI THỰC:

Ngay từ thời Pháp thuộc, nhiều loại Bạch Đàn đã được di thực vào nước ta, đặc biệt sau hòa bình lặp lại ở miền Bắc thì Bạch Đàn được trồng nhiều để trồng cây gây rừng [ 8] Riêng Bạch Đàn Chanh mới nhập vào nước ta gần đây [4, 6] nhưng việc phát triển và khai thác tinh dầu đến nay vẫn chưa được chú ý, chỉ có vài nơi trồng lấy gỗ và tinh dầu được xuất khẩu, ngoài ra chỉ có vài cơ sở y tế sử dụng tinh dầu làm thuốc trị bệnh về tai mũi họng [2]

1.1.2 MÔ TẢ

Cây gỗ lớn có tán rộng, cao, nơi nguyên

sản có thể cao tới 50m, đường kính 1,5 – 2m, vỏ

cây nhẵn, hơi trắng đến hồng nhạt đôi khi có đốm

xám [7, 8]

:

Lá đơn Ở cây non và cành chồi , lá mọc

đối, cuống lá đínhvào phiến lá Cuống lá và cành

non phủ đầy lông tuyến màu nâu đỏ Lá trên các

cành già mọc cách, cong hình liềm, thon, cuống

dài 1,5 – 2cm, đầu thuôn nhọn, dài khoảng 10 –

35cm, rộng 0,7 – 1,5cm Lá có mùi thơm chanh

mạnh, dễ chịu Phiến lá soi lên thấy rõ những

điểm bên trong, đó là những túi tinh dầu, do đó khi vo lá có mùi thơm

Hình 1.1: Minh h ọa hoa Bạch

Đàn Chanh

Trang 11

Hoa màu trắng vàng, hợp thành tán thưa có 3 – 5 hoa Các tán nhỏ tập trung thành tán kép ở nác h lá hoặc đầu cành Mũ đài hình bán cầu, gồm 2 lớp: lớp ngoài hơi dày, có mũi nhọn, lớp trong mỏng, nhẵn bóng, ống đài 6 – 8mm, nhị dài 0,8 – 1cm [2, 8, 9] Trái hình bầu, phần trên hẹp, đầu lá đài úp vào trong, đường kính 1-2cm Phần đầu trái chia làm 2 vành, vành ngoài rụng sớm,vành trong nửa hình bầu

và ngắn hơn ống đài rất nhiều [4, 8]

1.1.3 GIEO TRỒNG

Bạch Đàn là loại cây dễ trồng, rất mau

lớn, có khả năng chịu nóng và chịu hạn tốt, có

thể trồng được trên các vùng đất xấu như đồi

trọc có nhiều sỏi đá, trên đất bạc màu, chua… [2] Nếu trồng ở các vùng đất tơi xốp thì cây sẽ phát triển nhanh hơn [11] Tuy nhiên bộ rễ của

Bạch Đàn Chanh rất nhạy, không dễ thích nghi khi thay đổi đất trồng, do đó để gây giống người

ta thực hiện theo Dierberger (Brazin) như sau:

:

• Giống được chuẩn bị kỹ và bảo vệ tốt, gieo hạt trên đất có chứa phèn 3-4 tháng trước mùa mưa Sau khi cây non cao được khoảng 2,5cm thì trồng chúng cách nhau 5cm trên những luống ươm đã được chuẩn bị Một phương pháp khác cũng theo Dierberger là trồng hạt trong những hộp gỗ nhỏ hoặc những chậu làm từ những

tấm gỗ mỏng phẳng Khi cây non cao khoảng 10 – 20cm thì bứng ra khỏi luống ươm và trồng vào ngày có mưa, chú ý để bộ rễ bám chặt vào đất Theo phương pháp này thì việc thực hiện giống như trên nhưng cây non sẽ phát triển cao hơn, đồng

thời loại bỏ được những hộp gỗ khi chuyển sang nơi cố định [8]

• Khi trồng vào đầu mùa mưa thì đến đầu mùa khô cây đã đạt chiều cao từ 1,5–2m và có thể đủ sức phát triển qua mùa đông Nếu cây trồng để lấy gỗ thì gi ữa các cây cách xa nhau khoảng 2m, còn nếu trồng để lấy tinh dầu thì giữa các cây cách nhau từ 1,5 – 2m, giữa các hàng cách nhau 3m [8]

• Cũng có thể gieo hạt trên luống hay trong bao polyetylen, nếu gieo hạt trên

luống thì khi bứng cây non để trồng thì tỉ lệ chết khá cao, còn gieo hạt trong bao

Hình 1.2: Cây Bạch Đàn Chanh

Trang 12

polyetylen thì tỉ lệ chết thấp nhưng chi phí cao hơn Luống gieo hạt được chọn ở

những nơi cao ráo, không ngập úng, dễ tưới, mỗi luống có chiều dài 9m, rộng 0,6m, cao 0.15m Hạt được gieo trong những lỗ sâu 1cm thành từng hàng cách nhau 30cm, được phủ sơ bằng lớp đất mỏng hay cỏ, tưới hai lần mỗi ngày Sau 10 tuần cây non cao khoảng 20 – 30cm, có từ 8 – 10 lá thì chuyển đến nơi trồng cố định Lỗ

trồng cây non sâu từ 20 – 30cm, đường kính 15cm và cách nhau 1,5m Như vậy mỗi hecta trồng được khoảng 4350 cây [4] Ở Ấn Độ, thường người ta trồng xen Bạch Đàn Chanh với Bạc Hà và Sả [11] Tại Guatemala, người ta phơi khô hạt ngày nắng

một đến hai ngày, trồng vào những lỗ nhỏ đến khi đạt khoảng 15cm thì mang trồng

ở nơi cố định Trồng thành từng hàng cách nhau 7m, các cây cách nhau 2m [8]

1.1.4 THU HO ẠCH VÀ BẢO QUẢN

Lá có thể được thu h oạch lần đầu tiên sau khi trồng 6 đến 8 tháng Chỉ cắt

những lá nhỏ bên ngoài để đảm bảo cho cây phát triển Đến năm thứ hai có thể đốn

cả cây, khi đó ta có thể vừa thu lấy tinh dầu, vừa thu lấy gỗ từ thân và cành Sau năm thứ hai, nhiều nhánh phát triển trên gốc cây trở lại và ta lại có thể tiếp tục khai thác để thu lấy tinh dầu Tùy theo điều kiện thời tiết mà ta có thể cắt từ một đến hai

lần trong một năm Khi cắt chỉ để lại một nhánh phát triển mạnh nhất Sản lượng lá

có thể đạt 2-5kg lá mỗi năm, như thế 1 hecta Bạch Đàn Chanh có thể cho 10.000kg lá Theo Dierberger, việc thu hoạch cũng tương tự đối với cây khai thác 5 năm [7] Có hai cách thu hái lá:

4000-:

- Hái lá cùng với cành nhỏ rồi đem chưng cất vào ngày hôm sau Cách này được áp dụng đối với hai lần hái lá đầu tiên

- Cắt ngang thân cây ở độ cao 1.8 – 2.2m hoặc chặt dưới gốc rồi đem chưng

cất Cách này được áp dụng đối với những lần sau và lần thu họach cuối cùng [11]

Lá có thể thu họach và chưng cất bất cứ lúc nào, nhưng hàm lượng tinh dầu thu được tốt nhất là vào cuối mùa mưa Với Bạch Đàn Chanh trồng ở Sao Paulo thì khi chưng cất từ 1 – 1.5 giờ, hàm lượng đạt 0.8 – 1.2%

Ở Guatemala, người ta thu hái lá hai lần một năm đối với những cây tốt Khi thu hái, người ta chừa lại vài nhánh để cây tiếp tục sống Lá được chưng cất cùng

với những nhánh nhỏ có đường kính không quá 1.3cm [7]

Trang 13

Ở Công-gô, người ta khai thác cây này vào mùa khô, thường trong khoảng tháng 12 đến tháng 3 năm sau Từ 210 kg lá tươi ngườ i ta chưng cất dưới áp suất 0,5atm trong thời gian 45 phút thu được 4 - 5,25kg tinh dầu Với cây 3 tuổi, một hecta Bạch Đàn Chanh cho khoảng 200kg tinh dầu [2]

Ở Ấn Độ , Bạch Đàn Chanh được trồng chủ yếu ở Madras, Bombay, Uttar Pradesh Việc thu hái lá được thực hiện sau khi trồng 14 tuần [4] Ở California, lá được thu hoạch 3 lần một năm [7] Ở Pakistan, lá được thu hái vào tháng 9 [13]

Việc bảo quản lá trước khi chưng khá đơn giản, chúng ta chỉ cần để ở nơi thoáng mát, tránh tình trạng chất thành đống gây ra sự lên men đồng thời việc phơi

nắng lá sẽ làm giảm hàm lượng tinh dầu [4] Vài nhà khảo sát cho rằng việc tồn trữ

lá lâu sẽ làm giảm hàm lượng tinh dầu [10] Tuy nhiên chúng tôi sẽ tiến hành thí nghiệm khảo sát xem thời gian để héo như thế nào để thu được hàm lượng cao nhất

1.1.5 CÔNG DỤNG:

Đa số Bạch Đàn là nguồn cung cấp chủ yếu được sử dụng làm chất đốt và xây dựng Thường những cây này chứa rất ít tinh dầu và chỉ sử dụng với mục đích duy nhất là để lấy gỗ Nhưng quy tắc này không áp dụng được với Bạch Đàn Chanh

vừa có thể lấy gỗ, vừa có thể lấy tinh dầu [7, 14]

Ở Braxin, Bạch Đàn Chanh là một loại cây cho gỗ có giá trị Với cây sau 20 năm trồng có thể sử dụng cho hầu hết mọi mục đích như làm chất đốt, làm nguyên

liệu để sản xuất giấy, đà ngang cho đường rầy xe lửa, gỗ để xây dựng … [7]

Ở Việt Nam, do khả năng phát triển của Bạch Đàn Chanh rất nhanh trên các

loại đất nên được trồng ở những vùng trung du, đồi núi để phủ xanh đồi trọc, giữ nước chống lụt… [2] Gỗ Bạch Đàn Chanh có độ co dãn cao, có thể dùng cho xây

dựng thông thường, đóng vật dụng gia đình, đóng thuyền, làm gỗ ép [8]

Tinh dầu Bạch Đàn Chanh được sản xuất với mục đích thương mại [7] Mùi thơm đặc trưng của nó có tác dụng đuổi muỗi, do đó được trồng ở những vùng đầm

lầy ẩm thấp để cải tạo môi sinh, làm giảm tỉ lệ bệnh sốt rét [6] Lá của Bạch Đàn

Chanh được làm nồi nước xông rất hữu hiệu [4]

Bạch Đàn Chanh cung cấp tinh dầu với năng suất khá cao, có giá trị xuấ t

khẩu [4, 14] – đó là một nguồn lợi kinh tế rất lớn mà chúng ta phải biết khai thác

Trang 14

 Bạch Đàn Chanh có khả năng tăng trưởng nhanh trên các loại đất và được sử

d ụng với mục đích là tái tạo rừng và lấy gỗ để xây dựng Do đó lượng lá Bạch Đàn Chanh là rất l ớn, mà hiện nay chỉ có vài cơ sở y tế sử dụng tinh dầu làm thu ốc trị bệnh về tai, mũi, họng Việc nghiên cứu quá trình chưng tách tinh dầu

B ạch Đàn Chanh sẽ tận dụng được nguồn nguyên liệu dồi dào này

1.2.TINH D ẦU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TÁCH TINH DẦU

- D ẫn dụ: ví dụ trên loài bắp Zee mays, trước sự tấn công của côn trùng, cây bắp

đã tổng hợp được Linalool, Indol và Acetate (3Z)-hexenil Những hợp chất này thu hút loài ong Cotesiamarginiventris chuyên diệt các loạ i côn trùng gây hại cho cây

bắp

: [15]

- B ảo vệ: Trong một số loại cây, tinh dầu của chúng góp phần bảo vệ cây bằng

cách chống lại hoặc xua đuổi các loài vật và côn trùng ăn cỏ Ví dụ, Juvabion được tìm thấy trong tinh dầu của Ocimum bacilicum có khả năng ngăn chặn chu kỳ sinh

trưởng của một số côn trùng chuyên phá hại các loại cây xanh

- H ỗ trợ phát triển: một số tinh dầu của cây cối có khả năng tạo ra những hóa

chất có khả năng ngăn chặn sự nảy mầm của hạt, làm biến dạng rễ cây, làm chậm sự phát triển của cây… ví dụ: ở Australia, cây Eucalyptus pilularis ngăn chặn sự nảy

mầm của chính hạt của nó trong vùng chung quanh cây

- Dung môi h ữu cơ : ví dụ, tinh dầu Sim đầm lầy ( Myrica gale) chứa hỗn hợp

monoterpen dễ bay hơi chủ yếu là α-pinen, 1,8-cineol và một sesquiterpen kém bay hơi nhưng có hoạt tính chống nấm rấ t mạnh là germacron được trải rộng đều trên

vết thương

- Ho ạt tính kháng sinh: khi các động vật ăn cỏ hoặc một nguyên nhân cơ học nào

đó làm tổn hại các cơ quan của cây, tinh dầu từ các mô thoát ra bảo vệ vết thương không cho cây bị nhiễm trùng thứ cấp

Trang 15

 S ự phân bố tinh dầu trong tự nhiên

Tinh dầu được phân bố rất rộng trong hệ thực vật, đặc biệt tập trung nhiều

nhất trong 3 họ: họ Cúc (Asteracea); họ Hoa môi ( Lamiacea); họ Hoa tán, Ngò (Umbellifera, Apiacea) Ngoài ra còn tập trung trong các họ khác như h ọ Phong tử

(Geraniacea), h ọ Sim (Myrtacea), họ Cam quýt (Rutacea)…[2]

:

Tinh dầu có mặt trong tất cả các bộ phận của cây: rễ, thân (vỏ, gỗ), cành, lá, hoa, trái, hạt… Tuy nhiên hàm lượng tinh dầu, hàm lượng cấu phần chính, thành

phần hóa học ở mỗi bộ phận của cây có thể khác nhau [2]

Hàm lượng tinh dầu trong tự nhiên thường dao động từ 0,1-2% Một số trường hợp trên 5%

Một số động vật cũng chứa tinh dầu: Hươu xạ, Cà cuống…

 Thành ph ần hóa học trong tinh dầu

Tinh dầu là hỗn hợp của nhiều chất trong đó thành phần của các chất

có thể rất khác nhau, tùy thuộc vào nguồn gốc sinh vật cung cấp tinh dầu

Một số thành phần trong tinh dầu có hoạt tính sinh học và dược tính

:

Thành phần trong tinh dầu bao gồm các hydrocacbon, các acid rượu tự do hay dưới dạng ester, phenol, ete, aldehyde, ceton… Trong đó hàm lượng nhiều nhất

vẫn là các ester

• Hydrocacbon: terpen (limonene, pinen, camphen, heptan, parafin…)

• Rượu: etylic, metylic, citronellol, linalool, menthol…

• Phenol và các ester của phenol: anethol, safrol…

• Aldehyde: citral, citronellal, benzoic…

• Ceton: menthol, camphor…

• Acid: benzoic, cinamic, salyxilic…

Ngoài ra còn một số hợp chất chứa nitơ, sunfua, halogen…[15]

 B ảo quản tinh dầu

Sự biến chất của tinh dầu là do các thành phần của tinh dầu bị oxy hóa thành

chất nhựa hay các ester bị thủy phân, hoặc do các phản ứng giữa các nhóm chức với nhau Những biến đổi này thường xảy ra ở nhiệt độ cao, dưới tác dụng của hơi nước, ánh sáng và không khí… nên tinh dầu cần phải loại hết nước và bảo quản

:

Trang 16

trong mát, tối và trong những chai lọ, bình thể tích vừa phải, có miệng nhỏ và sẫm màu [15]

1.2.2 TINH DẦU BẠCH ĐÀN CHANH: [3]

Ngu ồn gốc

Tinh dầu Bạch Đàn C hanh được cất từ lá và cành những cây Bạch Đàn Chanh có tên khoa học là Eucalyptus Citriodora – thuộc họ Sim (Myrtaceae)

:

Quê hương Bạch Đàn Chanh vốn ở Châu Úc nhưng vì giá thành tinh dầu này

ở Úc quá cao nên được đưa trồng và khai thác ở nhiều nước khác như Braxin, Công-gô, Ấn Độ Sản lượng tinh dầu hàng năm của Braxin là 45 – 60 tấn (1962), còn ở Công-gô khoảng 15 tấn

Ở nước ta tuy đã di thực được loài cây này nhưng việc phát triển và khai thác tinh dầu cho đến nay vẫn còn ít được chú ý Lẻ tẻ mới có một vài cơ sở bệnh viện tai, mũi, họng chú ý việc cất tinh dầu dùng làm thuốc

Tính ch ất và thành phần hóa học

Mặc dù cùng khai thác một loài Bạch Đàn Chanh nhưng do nơi trồng khác nhau, tính chất và thành phần tinh dầu có thay đổi: tinh dầu Bạch Đàn Chanh có màu vàng nhạt đến màu vàng sẫm, mùi sả chanh

65 – 80%

15 – 20%

4.5 - 6.5 0.8894 (30o1.4580 (20

91.28%

Trang 17

Theo quy định của OPAC thì tinh dầu Bạch Đàn Chanh xuất khẩu phải có tối thiểu 70% hàm lượng aldehyde (tính theo Citronellal) Phân tích một số mẫu tinh

dầu cất từ cây Bạch Đàn Chanh được trồng ở nước ta thì hàm lượng aldehyde tính theo Citronellal cũng vượt trên 70%, và cũng đáp ứng đủ tính chất hòa tan trong

1.2.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP TÁCH TINH DẦU

Theo tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy trong tinh dầu Bạch Đàn Chanh có thành

phần chính chủ yếu là Citronellal mà đây là thành phần rất nhạy cảm với nhiệt, đồng thời cũng dựa trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm của từng phương pháp tách tinh dầu, điều kiện thực nghiệm nên chúng tôi quyết định chọn phương pháp chưng

c ất lôi cuốn hơi nước gián tiếp

: [16]

Phương pháp chưng cất tinh dầu bằng hơi nước được dựa trên nguyên lý của quá trình chưng cất một hỗn hợp không tan lẫn vào nhau là nước và tinh dầu Khi

hỗn hợp này được gia nhiệt, hai chất đều bay hơi Nếu áp suất của hơi nước cộng

với áp suất của tinh dầu bằng áp suất môi trường, thì hỗn hợp sôi và tinh dầu được

lấy ra cùng với hơi nước

Nguyên t ắc chung

Phương pháp này có ưu điểm về mặt năng lượng do nhiệt độ sôi của hỗn hợ p

thấp hơn nhiệt độ sôi của nước (100o

C) trong khi nhiệt độ sôi của tinh dầu (>100o

Chưng cất lôi cuốn theo hơi nước không đòi hỏi nhiều thiết bị phức tạp, nhưng

có khả năng tách gần như triệt để tinh dầu có trong nguyên liệu Ngoài ra, phương pháp này còn cho phép phân ly các cấu tử trong tinh dầu thành những phần riêng

biệt có độ tinh khiết cao hơn dựa vào sự khác biệt về tính chất bay hơi

C)

ở áp suất khí quyển

Trang 18

Phương pháp chưng cất gián tiếp sử dụng nồi bốc hơi nước riêng hoặc sử dụng chung hệ thống hơi nước từ một lò hơi chung cho các thiết bị khác nhau

Chưng cất lôi cuốn hơi nước gián tiếp

Do bộ phận chưng cất không bị gia nhiệt trực tiếp nên phương pháp khắc phục được tình trạng nguyên liệu bị khê khét, màu sắc và phẩm chất của tinh dầu thu được tốt hơn

Do hơi nước cấp từ bên ngoài nên dễ dàng khống chế và điều chỉnh các yếu tố như lưu lượng, áp suất cho phù hợp với từng loại nguyên liệu, giúp nâng cao hiệu

suất cũng như chất lượng tinh dầu thu được

Để thu được tinh dầu với hiệu suất cao hơn, người ta cho hồi lưu lượng nước ngưng tụ do còn một lượng khá lớn tinh dầu tan trong nước chưa tách ra được

Ưu điểm:

Ưu nhược điểm

- Quy trình tiến hành đơn giản so với các phương pháp tách tinh dầu khác

1 giờ/1 đơn vị nguyên liệu

- Có thể tiến hành sử dụng đối với các cấu tử có nhiệt độ sôi trên

Trang 19

- Không thể tách được các loại nhựa và sáp có trong nguyên liệu, mặc

dù nhựa và sáp rất cần thiết để dùng làm các định hương có giá trị

- Lượng tinh dầu hòa tan trong nước khá lớn và rất khó tách riêng nếu tinh dầu chứa nhiều hợp chất có oxy

- Tiêu tốn một lượng nước ngưng tụ lớn

Trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm của phương pháp nêu trên, chất lượng tinh d ầu thu được, trữ lượng tinh dầu trong Bạch Đàn Chanh, cũng như điều

ki ện thực nghiệm, chúng tôi quyết định thực hiện quá trình chưng cất tinh dầu

B ạch Đàn Chanh theo phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước gián tiếp có và không có h ồi lưu nước để so sánh hàm lượng tinh dầu thu được theo hai phương pháp

1.3 GI ỚI THIỆU CITRONELLAL

 Công th ức: C

: [3]

10H18O

 Ngu ồn gốc

Tách Citronellal từ tinh dầu: thường người ta tách Citronellal từ nhữ ng tinh

dầu Sả, tinh dầu Bạch Đàn Chanh bằng cách thêm dung dịch sodium bisulfit (NaHSO

: Citronellal là một Aldehyde chuỗi thẳng, có 10 cacbon, thường

gặp cùng với Citral trong một số tinh dầu như: tinh dầu Sả, tinh dầu Bạch Đàn Chanh…

3

Citronellal cũng có tác dụng ngay đối với sodium sulfite (Na

), Citronellal sẽ kết hợp với bisulfite thành dạng tinh thể Vì Citronellal rất

nhạy cảm đối với tác dụng của acid và kiềm cho nên người ta dùng carbonat kiềm

để phá vỡ hợp chất bisulfit và thu hồi lấy Citronellal

2SO3

) để cho

một dẫn xuất hydrosulfonic nhưng phản ứng chỉ xảy ra trong điều kiện có ngay một

luồng khí carbonic mạnh ngay từ đầu hoặc thêm dần dần một lượng thích hợp acid khác

Tính ch ất: Ở áp suất thường, Citronellal sôi ở 205o

– 208oC Dưới áp suất 25mm Hg, Citronellal sôi ở 103 o – 105oC, tỷ trọng 0.8538g/ml, khối lượng riêng 0.847 – 0.855g/cm3 , nD 1.4481

Trang 20

Citronellal là một aldehyde không no v à có một nối kép Khi khử trong một dung dịch cồn bằng sodium amalgam (Na(Hg)) ta sẽ có lại Citronellol C10H20

O với điều kiện dung dịch cồn trong đó xảy ra phản ứng luôn luôn giữ hơi acid bằng acid axetic Citronellal rất nhạy cảm với tác dụng của acid và kiềm, chúng sẽ bị nhựa hóa

Công d ụng

: Citronellal là một đơn chất thơm dùng trong công nghiệp hương liệu

M ột số dẫn xuất từ Citronellal có giá trị quan trọng

Citronellal là thành phần chính trong tinh dầu Bạch Đàn Chanh, rất nhiều

dẫn xuất được các tác giả trên thế giới nghiên cứu điều chế từ Citronellal Citronellol, đơn hương được sử dụng trong phối hương hoa hồng, được điều chế từ Citronellal bằng phản ứng hoàn nguyên với tác chất NaBH

:

4 trong dung môi ethanol

hoặc methanol với hiệu suất 91% Nhiều nghiên cứu điều chế isopulegol, hợp chất dùng trong hương liệu và trong sản xuất Menthol, từ Citronellal đã được thực hiện

với nhiều xúc tác khác nhau như dung dịch ZnBr2, ZnX2 (X=Cl, Br, NO3

 Citronellal - thành ph ần chính trong tinh dầu Bạch Đàn Chanh, là đơn chất thơm dùng trong công nghiệp hương liệu và mỹ phẩm Ngoài ra còn có rất nhiều

d ẫn xuất có giá trị quan trọng được các tác giả trên thế giới nghiên cứu điều chế

t ừ Citronellal như Citronellol, Menthol…

) hấp phụ lên silicagel… cho hiệu suất khá tốt Ngoài ra còn có Hidroxicitronellal, đơn hương dùng trong sản xuất nước hoa có mùi hoa Lily, được điều chế qua hai giai đoạn…

1.4 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TINH D ẦU –GCMS

Phương pháp sắc ký khí – khối phổ (GC-MS) (Gas Chromatography-Mass

Spectrometry) dựa trên cơ sở ghép máy sắc ký khí với một máy khối phổ, người ta

sử dụng khối phổ để phân tích những phân đoạn sắc ký khí, xác định cấu tử nào đó trong hỗn hợp cần phân tích

: [17]

Phương pháp này có những ưu điểm như: việc phân tí ch định tính các cấu tử

của hỗn hợp được tách trong hỗn hợp được tiến hành liên tục không cần tách các

chất ra khỏi cột và ngay cả lượng chất nhận được trên cột mao quản cũng hoàn toàn

đủ để phân tích khối phổ Như vậy máy khối phổ có thể thực hiện chức năng của

Trang 21

một detector Đây là phương pháp nhanh và hiệu quả trong việc xác định thành

phần các chất tổng hợp được, để hiểu thêm về phương pháp này cần điểm qua về máy khối phổ

Phương pháp khối phổ nghiên cứu bằng cách đo chính xác khối lượng phân

tử chất đó Chất nghiên cứu trước tiên được chuyển thành dạng hơi, sau đó chuyển thành các ion, các ion tạo thành được đưa vào máy khối phổ Quá trình biến các phân tử trung hòa thành các ion gọi là ion hóa

Các ion có khối lượng m và điện tích e Tỷ số m/e được gọi là số khối z Khi

tách các ion có số khối khác nhau và xác định xác suất có mặt của chúng, người ta

vẽ đồ thị mối liên quan giữa xác suất có mặt (hay còn gọi là cường độ I) và số khối

z Đồ thị đó gọi là phổ khối lượng Để đánh giá chất lượng của phổ khối kế, người

ta dùng khái niệm “độ phân giải” R:

R = m

m

Trong đó:

- m: khối lượng ion

- ∆m: hiệu số khối lượng hai ion có thể tách ra khỏi nhau

 Giá trị R càng lớn thì máy càng tốt

Phương pháp tìm các chất theo khối phổ của chúng là chuyển liên tục hỗn

hợp khí đi ra khỏi cột sắc kí vào nguồn ion của máy khối phổ Máy khối phổ được điều hưởng theo một khối lượng nhất định Bộ tự ghi của máy khối phổ tự ghi sắc

khối phổ đồng thời của bộ tự ghi của máy sắc kí Sự xác thực dựa vào việc xác định

chỉ số của sắc phổ cơ bản với cường độ của các vạch được đo theo khối phổ Khi đó

độ nhạy của máy khối phổ đối với một chất có khối lượng M có thể dùng để đặc trưng cho một chất nếu trong phổ chỉ có một vạch ứng với khối lượng M

Việc chọn một phương pháp nào đó để tìm một chất , phụ thuộc vào bản chất

của các chất phân tích và độ nhạy của phương pháp Trong mọi trường hợp các phương pháp đều phải đảm bảo đủ nhạy và cho kết quả tin cậy

1.5 HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA TINH DẦU

Hoạt tính sinh học của tinh dầu nghiên cứu hai vấn đề:

: [18]

Trang 22

1 Vai trò sinh thái học của tinh dầu tức tìm hiểu về hoạt tính của tinh dầu ảnh hưởng đến cây chủ, giải thích sự tồn tại của nó

2 Hoạt tính sinh học đối với các đối tượng xung quanh

Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sẽ không đề cập đến vấn đề thứ nhất Về

vấn đề thứ hai, chỉ trình bày về hoạt tính sinh học của tinh dầu trong điều kiện thực

tế thể hiện hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm

Tính kháng khu ẩn

Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu trong điều kiện phòng thí nghiệm được

hiểu như là khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn trong điều kiện in vitro thông qua việc đo đường kính vòng vô khuẩn và tìm ra MIC (minimum inhibitory concentration): nồng độ ức chế tối thiểu có thể quan sát bằng mắt thường

:

Tính kháng n ấm

Tinh dầu cũng có hoạt tính kháng nấm, hoạt tính này đôi khi được nghiên

cứu chung với hoạt tính kháng khuẩn và được gọi chung là hoạt tính kháng vi sinh

vật Hoạt tính kháng nấm của tinh dầu cũng có thể thử nghiệm trong điều kiện in vitro để tìm ra MIC, giống như hoạt tính kháng khuẩn

:

Tinh dầu có hoạt tính kháng nấm ngay ở nồng độ rất thấp Thí dụ như tinh

dầu Kinh Giới Tây (Marjoram) với nồng độ 1 - 10µl/ml trong canh cấy đã làm giảm

sự phát triển của năm loài nấm sợi nhỏ 89% so với mẫu đối chứng Do đó trong cây này, tinh dầu giữ vai trò bảo vệ các mô cây khi bị các loài vật ăn cỏ làm tổn thương

Di ệt côn trùng

Hoạt tính diệt côn trùng của tinh dầu có thể biểu hiện ở nhiều dạng:

:

- Dẫn dụ côn trùng đến và sa bẫy

- Tiêu diệt trực tiếp như một chất độc đối với côn trùng

- Tiêu diệt gián tiếp thông qua việc ngăn chặn một giai đoạn phát triển của côn trùng

Ngoài ra một số tinh dầu còn có hoạt tính xua đuổi côn trùng Một số nghiên

cứu tiến hành dựa trên kinh nghiệm dân gian

Có những tinh dầu chứa các cấu phần là pheromone của côn trùng Người ta

có thể sử dụng những tinh dầu này hoặc cấu phần cô lập được có hoạt tính nói trên làm chất dẫn dụ côn trùng đến, sa vào bẫy rồi tiêu diệt

Trang 23

Một số tinh dầu nhờ có chứa những cấu phần là chất độc đối với côn trùng nên có thể tiêu diệt trực tiếp côn trùng Đặc biệt là những tinh dầu này lại không có độc tính đối với động vật có vú và không ảnh hưởng xấu đến môi trường nên rất hấp

dẫn trong việc bảo vệ ngũ cốc

B ảng 1.2: Một số vi khuẩn, vi nấm gâybệnh thường gặp:

Staphylococcus aureus Tác nhân gây bệnh chính cho người, gây

nhiễm khuẩn trầm trọng

Pseudomonas aeruginosa

Gây nhiễm khuẩn ngoài da, viêm tai ngoài, viêm xoang, viêm mắt, viêm đường ruột, viêm màng não, viêm phổi…

Escherichia coli Gây tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường tiểu,

nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não

Metthicilline resistant Staphylococcus

aureus (MRSA)

Gây bệnh ở da như viêm họng, mụn nhọt,

có khả năng đề kháng sinh Metthicilline

Candida albicans Tác nhân gây bệnh candida sis hay còn gọi

là moniliasis

Aspergillus flavus Tạo độc tố mycotoxin gây ngộ độc thực

phẩm, có khả năng gây ung thư

Aspergillus fumigatus Nhiễm trùng đường hô hấp, gây viêm phổi

ở người, suy giảm miễn dịch

Aspergillus niger Gây viêm xoang, dị ứng và viêm phổi

Trichophyton mentagrophytes Gây bệnh ở da như hắc lào, nấm tóc và

Trang 24

CHƯƠNG 2

TH Ự C NGHI Ệ M

:

Trang 25

2.1

Khảo sát chưng tách tinh dầu Bạch Đàn Chanh Eucalyptus Citriodora ở vùng

đồi núi Lâm Đồng

M ỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI:

Các bước thực hiện như sau:

Bước 1: Chuẩn bị và đánh giá nguyên liệu

Bước 2: Khảo sát chọn phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước gián tiếp

có hay không có hồi lưu nước

Bước 3: Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuẩn bị mẫu trước khi chưng cất

 Khảo sát hàm lượng tinh dầu trong các bộ phận của nguyên liệu

 Khảo sát hàm lượng tinh dầu theo kích cỡ nguyên liệu

 Khảo sát hàm lượng tinh dầu theo nhiệt độ lưu trữ nguyên liệu

 Khảo sát hàm lượng tinh dầu theo thời điểm thu hái nguyên liệu

 Khảo sát hàm lượng tinh dầu theo thời gian lưu trữ nguyên liệu

 So sánh hàm lượng tinh dầu trong lá ở nơi khác

Bước 4: Đánh giá sản phẩm tinh dầu Bạch Đàn Chanh

 Đánh giá tinh dầu theo phương pháp đánh giá chung của tinh dầu

 Đánh giá hoạt tính sinh học

Trang 26

Lá Bạch Đàn Chanh đem khảo sát được thực hiện trên giống Úc lấy tại công

ty Nông nghiệp Phương Mai, Hiệp An – Đức Trọng – Lâm Đồng Nguyên liệu được

loại bỏ những cành gỗ lớn, những cành gỗ nhỏ được giữ lại cùng với lá để khảo sát

việc chưng tách tinh dầu (không lẫn các loại thực vật khác) Thật ra trong cành cây

Bạch Đàn Chanh chứa lượng tinh dầu không đáng kể tuy nhiên vẫn khảo sát vì để triển khai trên thực tế thì việc loại bỏ cành nhỏ là rất khó Sau khi thu hoạch lá Bạch Đàn Chanh được bọc trong lớp giấy và giữ ẩm cho nguyên liệu

Tinh d ầu Làm khan

Na2SO4

Trang 27

2.3.2 Xác định độ ẩm: Độ ẩm tinh dầu được xác định bằng máy đo độ ẩm

“Star” để máy tiến hành đo độ ẩm Tiến hành lặp lại 3

lần, lấy giá trị độ ẩm trung bình

Xác định hàm lượng tinh dầu

Dựa trên các ưu nhược điểm của từng phương pháp, chúng tôi chọn phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước gián tiếp vì:

:

 Ly trích tương đối triệt lượng tinh dầu có trong nguyên liệu

 Thiết bị, phương pháp tiến hành tương đối đơn giản, rẻ tiền

 Phù hợp với quy mô phòng thí nghiệm, dễ dàng ứng dụng vào thực tiễn sản xuất

 Không sử dụng dung môi độc hại

Hình 2.2: Nguyên liệu sau thu hái và lưu trữ nguyên liệu

Trang 28

2.3.4 Đánh giá chất lượng tinh dầu thu được:

Ch ỉ tiêu cảm quan: (dạng, màu, mùi)

Lấy một ống hút, hút 20ml mẫu và cho vào một ống nghiệm thuỷ tinh không màu có đường kính 2 - 3cm dung tích 25ml, đậy nút lại và quan sát, thỉnh thoảng lắc

nhẹ

Màu s ắc và độ trong

− Nh ận xét về trạng thái: trong, vẫn đục, màu sắc của tinh dầu

Chú ý: những tinh dầu được tách chiết bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước, nếu không làm khan kỹ có thể bị vẫn đục

Trang 29

T ỷ trọng

Tỷ trọng của tinh dầu là tỷ số giữa trọng lượng của tinh dầu cân ở nhiệt độ t

với trọng lượng của nước đồng thể tích cùng cân ở nhiệt độ t

:

Dùng để xác định phẩm chất và độ tinh khiết của tinh dầu Đặc trưng cho

từng loại tinh dầu Đo chính xác đến số thứ ba sau dấu phẩy

Giả sử P là khối lượng của bình đo trống, P 1 là khối lượng của bình đo có

nước cất, P 2 là khối lượng bình đo có chứa tinh dầu, thì tỷ trọng d của tinh dầu cần t t

đo là:

Mọi phép cân được tiến hành trên cân phân tích với độ chính xác 0.0001g

− Chỉ số khúc xạ cho biết độ tinh khiết của sản phẩm

i n

1 2

-

-t t

P P d

P P

=

Trang 30

không thể đi qua mẫu thí nghiệm được, cho nên trở thành tối Đường ranh giới phân chia giữa miền tối và miền sáng là do giới hạn ánh sáng Nếu dùng ống kính quan sát thì có thể thấy nửa tối nửa sáng

Chỉ số chiết quang là hằng số đặc trưng của vật chất, có quan hệ mật thiết đến cấu tạo phân tử của nó Trong phân tích tinh dầu, chỉ số chiết quang là một chi

tiết quan trọng, nhờ nó mà ta có thể phát hiện được những chất pha trộn Chỉ số chiết quang của tinh dầu nằm trong khoảng 1.0450 đến 1.560

− Cách ti ến hành: Mở hai mặt kính của chiết quang kế Abbe ra, dùng

bông đã xử lí hết chất béo, thấm ete ethylic chùi sạch hai mặt long kính, khi đã hoàn toàn khô, nhỏ vào long kính dưới 1 - 2 giọt tinh dầu, nhanh chóng đóng mặt kính

lại, điều chỉnh phản xạ làm cho ánh sáng được chính xác Từ trên ống kính quan sát xoay trục tròn làm cho phân rõ hai miền sáng tối, cố gắng làm cho hai miền sáng tối

nằm đúng vào điểm chéo của chữ thập Đọc ghi nhiệt độ thí nghiệm và số khắc độ trên thước đo độ Dùng công thức sau để tính chỉ số chiết quang ở 200

r: hệ số chỉnh chỉ số chiết quang khi nhiệt độ thay đổi 10

Kết quả hai lần thí nghiệm chỉ cho phép sai lệch 0.002

C

Góc quay cực của một chất là góc mà mặt phẳng phân cực của ánh sáng phân

cực bị quay khi ánh sáng truyền qua nó Các chất được gọi là hữu truyền hay tả truyền khi mặt phẳng phân cực bị quay đi cùng chiều hay ngược chiều kim đồng hồ

Xác định góc quay cực:

Quy ước: góc quay cực hữu truyền mang dấu (+)

góc quay cực tả truyền mang dấu (-)

góc quay cực được đo với chùm tia sáng màu vàng D (589.3mm) của đèn natri (Na) được đo ở nhiệt độ 200 20

D

[ α]

C được kí hiệu:

− Cách ti ến hành: rửa ống đựng dung dịch chất cần đo thật sạch, sau đó

tráng bằng nước cất, cồn và sấy khô Đổ tinh dầu vào ống đựng dung dịch, rồi lắp

Trang 31

vào máy vào đo Sau đó quan sát và điều chỉnh để ánh sáng phân chia giữa vùng đen trắng đều nhau, rồi đọc góc quay cực

Trang 32

2.3.6 Xác định tính kháng khuẩn

Xác định tính kháng khuẩn tại Bộ Môn Vi Sinh – Ký Sinh, Khoa Dược,

Trường Đại Học Y Dược

:

Yêu c ầu: định tính kháng nấm da, nấm men, nấm mốc, vi khuẩn; và định

lượng tính kháng nấm da, nấm men, vi khuẩn

− Staphylococcus aureus ATCC 29212

− MRSA (Metthicilline resistant Staphylococcus aureus) ATCC 44330

Trang 33

CHƯƠNG 3

K Ế T QU Ả VÀ BÀN LU Ậ N

:

Ngày đăng: 30/10/2022, 08:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN