1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kl le thi minh man 410909q

54 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Doanh Xuất Nhập Khẩu Tại Chi Nhánh Công Ty Hà Thành
Tác giả Lê Thị Minh Mẫn
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Ngọc Hà Trân
Trường học Trường đại học Bán công Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 676,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: lý luận căn bản về hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu (7)
    • 1. Hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu (7)
      • 1.1. Khái niệm (7)
      • 1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh doanh xuất nhập khẩu (7)
      • 1.3. Sự cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh (9)
    • 2. Các chỉ tiêu phân tích kết qủa hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (0)
      • 2.1. Các chỉ tiêu về lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh (0)
      • 2.2. Kết quả quá trình kinh doanh xuất nhập khẩu (0)
  • Chương 2: Tình hình thực tế về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại chi nhánh công ty Hà Thành – Thành Phố Hồ Chí Minh (14)
    • 1. Giới thiệu chung về công ty Hà Thành chi nhánh TP Hồ Chí Minh (0)
      • 1.1. Giới thiệu chung về công ty Hà Thành (14)
      • 1.2. Giới thiệu chung về Chi nhánh Công ty Hà Thành tại TP. HCM (16)
    • 2. Tình hình hoạt động của chi nhánh trong những năm qua (2001 – 2003) (20)
      • 2.1. Lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu (20)
        • 2.1.1 Lợi nhuận hoạt động kinh doanh (20)
        • 2.1.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (22)
      • 2.2. Tình hình lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu (24)
        • 2.2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu qua các năm (24)
        • 2.2.2 Tình hình thực hiện bán hàng của Chi nhánh Công ty Hà Thành (26)
        • 2.2.3 Phân tích tình hình thực hiện mua hàng Chi nhánh Công ty Hà Thành (34)
        • 2.2.4 Phân tích tốc độ lưu chuyển dự trữ hàng hóa xuất nhập khẩu (38)
      • 2.3. Chi phí kinh doanh xuất nhập khẩu (40)
      • 2.4 Kết luận (0)
  • Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu (44)
    • 1. Một số giải pháp về vốn để tăng kinh ngạch xuất khẩu (44)
    • 2. Một số giải pháp marketing để tăng kinh ngạch xuất khẩu (47)
    • 3. Một số giải pháp khác (47)
    • 4. Các kiến nghị với cơ quan hữu quan (48)
  • Kết luận (49)
  • Tài liệu tham khảo (50)

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế thế giới diễn ra sôi động, nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và toàn cầu thì ngoại thương trở thành hoạt

lý luận căn bản về hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu

Hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu

Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, hiệu quả kinh doanh là vấn đề được các doanh nghiệp và toàn xã hội quan tâm hàng đầu Hiệu quả kinh doanh thể hiện mức độ sử dụng nguồn lực sẵn có của đơn vị và của nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu đã đề ra.

Hiệu quả kinh tế là hiệu quả của lao động xã hội, được xác định bằng sự so sánh giữa chất lượng kết quả và lợi ích thu được với mức hao phí do lao động xã hội bỏ ra Tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả hoặc tối thiểu hóa chi phí trên nguồn thu có sẵn.

Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, lợi nhuận là kết quả cuối cùng, nhưng hiệu quả hoạt động mới phản ánh mức độ thành công của doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu có thể được xác định sau một thời kỳ kinh doanh hoặc sau một thương vụ cụ thể, giúp đo lường hiệu suất, chi phí và lợi ích thực tế Đồng thời, doanh nghiệp có thể tính toán hiệu quả trước khi tiến hành kinh doanh bằng cách dự toán lợi nhuận, phân tích chi phí vận chuyển, thuế, rủi ro và thị trường để đưa ra quyết định đúng đắn Việc đánh giá sớm và đầy đủ giúp tối ưu hóa chiến lược xuất nhập khẩu và nâng cao lợi nhuận bền vững.

Đánh giá hiệu quả kinh doanh không chỉ dựa vào kết quả mà còn đánh giá chất lượng của quá trình tạo ra kết quả ấy Trong kết quả đầu ra của doanh nghiệp, lợi nhuận là yếu tố quan trọng nhất; tuy nhiên lợi nhuận được xem là hiệu quả chỉ khi nó không ảnh hưởng đến lợi ích của nền kinh tế, của các đơn vị và của toàn xã hội Vì vậy, hiệu quả mà đơn vị đạt được phải gắn chặt với hiệu quả của toàn xã hội.

1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kinh doanh xuất nhập khẩu:

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới mức lợi nhuận ngoại thương cho phép ta hiểu rõ các nguyên nhân khách quan và chủ quan, từ đó tìm ra các biện pháp tăng lợi nhuận trong hoạt động xuất nhập khẩu Các yếu tố này thường tác động trực tiếp tới lợi nhuận ngoại thương, bao gồm biến động giá thị trường quốc tế, chi phí vận tải và tài chính, biến động tỷ giá, chất lượng và sự cạnh tranh của hàng hóa, thời gian giao hàng, quy định thuế phí và chính sách thương mại, hiệu quả chuỗi cung ứng và hạ tầng logistics, cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và mức độ tiếp cận thị trường.

1.2.1 M ứ c l ư u chuy ể n hàng hóa xu ấ t nh ậ p kh ẩ u:

Với mức lợi nhuận trên mỗi hàng hóa cố định, tăng doanh số bán ra sẽ làm tăng lợi nhuận tuyệt đối của đơn vị xuất nhập khẩu Ngược lại, khi lưu lượng hàng hóa bị hạn chế, lợi nhuận cũng suy giảm theo Trong thực tế, nhiều đơn vị gặp khó khăn trong việc thực hiện kế hoạch lưu chuyển hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu Do đó, mở rộng quy mô và tăng tốc độ lưu chuyển hàng hóa là chiến lược hiệu quả để nâng cao lợi nhuận và hiệu suất kinh doanh.

1.2.2 C ơ c ấ u hàng hóa kinh doanh xu ấ t nh ậ p kh ẩ u:

Mỗi loại hàng hóa trong hoạt động xuất nhập khẩu có mức lợi nhuận riêng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ cạnh tranh trên thị trường, chi phí kinh doanh và thuế xuất nhập khẩu Khi cơ cấu hàng hóa thay đổi, tổng mức lợi nhuận của công ty cũng bị ảnh hưởng và các cách tính tỷ suất lợi nhuận có thể cho kết quả khác nhau Do đó, những mặt hàng có mức lãi cao chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ tác động trực tiếp đến mức lợi nhuận ngoại thương của doanh nghiệp, ngược lại khi tỷ trọng này giảm thì lợi nhuận sẽ giảm theo.

Giá mua hàng hóa và giá bán hàng hóa xuất nhập khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của đơn vị kinh doanh ngoại thương Khi giá mua cao mà bán theo giá thị trường thì lợi nhuận gộp, là chênh lệch giữa giá bán và giá mua, giảm và lợi nhuận cũng theo đó giảm; ngược lại, giá mua hạ sẽ đẩy lãi gộp lên, giúp lợi nhuận tăng Để giảm giá mua đầu vào, doanh nghiệp nên thu mua tận gốc và so sánh giá bán của các nhà cung cấp hàng nhập khẩu để chọn hàng có giá đầu vào rẻ nhất, đồng thời xem xét kỹ chất lượng hàng hóa Định giá trên thị trường cũng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận ngoại thương: trong điều kiện thị trường không cạnh tranh, định giá cao có thể mang lại lợi nhuận độc quyền, nhưng ở thị trường cạnh tranh gay gắt, sức mua thấp và hàng hóa tiêu thụ chậm, lợi nhuận sẽ giảm.

Trong nền kinh tế thị trường, người kinh doanh cần nắm bắt sâu sắc các đặc điểm và biến động của thị trường để đề ra chính sách giá cả hàng hóa phù hợp, nhằm đẩy mạnh doanh số, giành thị phần và tăng lợi nhuận tuyệt đối cho doanh nghiệp.

 Giá cả chi phí lưu thông hàng hóa:

Lợi nhuận ngoại thương được hình thành sau khi trừ lãi gộp và các chi phí cùng thuế; nếu chi phí lưu thông hàng hóa cao thì lợi nhuận vẫn giảm dù lãi gộp lớn Vì vậy chi phí vận chuyển, lưu kho và lưu thông ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận kinh doanh Để tăng lợi nhuận trong hoạt động ngoại thương, cần đẩy mạnh tối ưu hóa chi phí lưu thông hàng hóa và nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng.

Biến động tỷ giá hối đoái giữa ngoại tệ và đồng Việt Nam có tác động trực tiếp đến lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Khi tỷ giá tăng lên (đồng Việt Nam mất giá so với ngoại tệ), xuất khẩu được hưởng lợi vì thu về nhiều đồng Việt Nam từ hàng hóa bán ra ở nước ngoài, giúp tăng lợi nhuận Ngược lại, hoạt động nhập khẩu sẽ gặp khó khăn khi chi phí mua hàng hóa nước ngoài bằng ngoại tệ tăng lên, làm giảm hoặc gây lỗ cho lợi nhuận nhập khẩu Do đó, quản trị rủi ro tỷ giá là yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu để ổn định lợi nhuận trong mọi biến động của thị trường.

Đối với doanh nghiệp, biến động tỷ giá hối đoái là yếu tố khách quan; tuy nhiên việc theo dõi sát diễn biến tỷ giá cho phép doanh nghiệp kịp thời đề ra các biện pháp điều chỉnh hoạt động kinh doanh nhằm giảm thiểu tác động của biến động tỷ giá lên lợi nhuận Quản trị rủi ro ngoại hối thông qua theo dõi thị trường, phân tích xu hướng và điều chỉnh chiến lược giá cả, chi phí và nguồn vốn sẽ tăng cường sự ổn định tài chính và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Thuế là nghĩa vụ mà các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu phải nộp cho Nhà nước, phụ thuộc trực tiếp vào kết quả kinh doanh và mức thuế ảnh hưởng đến lợi nhuận ngoại thương của doanh nghiệp Bài viết này không đề cập đến các giải pháp làm giảm mức đóng thuế cho Nhà nước Tuy nhiên, nếu các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu biết lựa chọn mặt hàng và đối tác nước ngoài phù hợp, họ có thể tối ưu hoá chi phí thuế và nâng cao hiệu quả kinh doanh trên thị trường quốc tế.

Trang 4 thời điểm kinh doanh … thì cũng giảm đáng kể các khoản thuế không đáng có và tạo điều kiện tăng lợi nhuận ngoại thương

Để tăng lợi nhuận, doanh nghiệp nên tìm mọi cách giảm thiểu các chi phí có thể tránh được, như các khoản phạt ở mọi loại và chi phí bồi thường phát sinh từ tranh chấp hợp đồng; kiểm soát tốt các chi phí này đồng nghĩa với tối ưu hóa lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động.

1.3 Sự cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh

Hiệu quả hoạt động kinh doanh là yếu tố sống còn của một doanh nghiệp, gắn liền với sự tồn tại và sự bền vững của tổ chức Hiệu quả không chỉ là mục đích đạt lợi nhuận cao mà còn là đóng góp cho ngân sách Nhà nước qua nghĩa vụ nộp thuế, do đó mọi biện pháp nâng cao hiệu quả phải tuân thủ pháp lý, tránh cạnh tranh không lành mạnh và trốn thuế Quá trình nâng cao hiệu quả được thực hiện bằng cách khớp nối chặt chẽ các giai đoạn từ đàm phán ký kết hợp đồng, chuẩn bị hàng hóa kịp thời, quản lý kho bãi, dự trữ vốn và lao động cho đến khi hàng hóa được tiêu thụ Việc này đòi hỏi sự thống nhất từ trên xuống dưới và ý thức đồng bộ giữa các cá nhân trong nội bộ, để kết quả đạt được như mong muốn Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh còn góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời tạo thêm việc làm và cải thiện đời sống an sinh xã hội.

Các chỉ tiêu phân tích kết qủa hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY

HÀ THÀNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY HÀ THÀNH VÀ CHI NHÁNH TẠI

1.1 Giới thiệu chung về công ty Hà Thành:

1.1.1 Quá trình hình thành và phát tri ể n c ủ a Công ty Hà Thành:

Công ty Hà Thành chính thức được thành lập theo quyết định số 460/QĐCP ngày 07/5/1994 và mang tên là Công ty Thăng Long Tổ chức này chịu sự điều hành trực tiếp của Bộ Tư Lệnh Quân khu Thủ Đô (BQP), đánh dấu vai trò quản lý và chỉ huy từ cơ quan cấp trên trong suốt quá trình hoạt động.

Ngày 01/9/2003 theo quyết đinh số 745/QĐTĐ đổi tên là Công ty Hà Thành

Tên giao dịch Quốc tế : DRAGON COMPANY

Trụ sở chính đặt tại : 99 Lê Duẩn, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại : 7320646,

Được thành lập trong bối cảnh những năm đầu của thời kỳ đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, công ty có vốn điều lệ ban đầu khá khiêm tốn, ở mức 4.053.000.000 đồng.

Công ty Hà Thành là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán độc lập và quản lý tài chính riêng, có tài khoản tại ngân hàng (kể cả tài khoản ngoại tệ), có con dấu riêng và thực hiện đầy đủ các hoạt động kinh doanh đã đăng ký trong giấy phép.

 Công ty Hà Thành được thành lập do sự sát nhập của các doanh nghiệp:

_ CÔNG TY HÀ THÀNH _ XÍ NGHIỆP 99

_ XÍ NGHIỆP GỐM SỨ MỸ NGHỆ _ XÍ NGHIỆP CƠ KHÍ X81

Với mong muốn mở rộng thị trường, tìm kiếm khách hàng kinh doanh mới, Công ty đã mạnh dạn mở thêm 2 Chi nhánh là:

_ Chi nhánh tại Quảng Ninh: 45 Trần Hưng Đạo, TP Quảng Ninh (Thành lập 01/6/1995)

_ Chi nhánh tại TP.Hồ Chí Minh (thành lập 1/1/1996)

Doanh nghiệp Quân đội hoạt động kinh tế trong thời bình bằng cách tận dụng tối đa các cơ sở sản xuất sẵn có để thực hiện hiệu quả các hoạt động sản xuất và kinh doanh Việc này giúp tạo công ăn việc làm ổn định và đảm bảo đời sống cho cán bộ, nhân viên quốc phòng, đồng thời đóng góp trực tiếp vào sự phát triển kinh tế địa phương Nhờ đó, doanh nghiệp quân đội mang lại lợi ích cho toàn xã hội và thúc đẩy nền kinh tế - xã hội chung của đất nước.

1.1.2.2 Chức năng cơ bản của Công ty:

Tình hình thực tế về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại chi nhánh công ty Hà Thành – Thành Phố Hồ Chí Minh

Tình hình hoạt động của chi nhánh trong những năm qua (2001 – 2003)

2.1 Lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu:

2.1.1 Lợi nhuận hoạt động kinh doanh:

Theo báo cáo ba năm 2001–2003, chi nhánh đã tăng cường đầu tư vào hoạt động kinh doanh; nhờ đó lượng hàng hóa bán ra tăng lên, quy mô hoạt động ngày càng mở rộng và hiệu quả kinh doanh được nâng cao, từ đó doanh thu tăng trưởng.

Năm 2003, doanh thu tăng hơn 4 tỷ so với năm 2001, đồng thời lợi nhuận tăng đáng kể và các khoản nộp ngân sách Nhà nước cũng tăng theo Điều này cho thấy đơn vị đã nắm bắt nhịp độ tăng trưởng và sự phát triển của thị trường, thể hiện tính linh hoạt và kinh nghiệm dày dặn trong kinh doanh; biết tận dụng các điều kiện thuận lợi có sẵn làm nền tảng cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

Trong 3 năm qua, giá trị giảm trừ của doanh thu (giảm giá, hàng bán trả lại) ở Chi nhánh luôn ở mức bằng 0, cho thấy hàng hóa kinh doanh được bán ra với chất lượng đảm bảo và mức giá hợp lý Mọi lô hàng ra thị trường đều trải qua sửa chữa và kiểm tra chất lượng nghiêm ngặt, giúp Chi nhánh xây dựng uy tín với khách hàng và thu hút nhiều đối tác mua bán thường xuyên Tuy nhiên, giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp lại tăng theo thời gian.

Trang 16 doanh thu qua các năm, làm cho hiệu quả kinh doanh giảm đi một phần, ảnh hưởng đến lợi nhuận trong các thương vụ kinh doanh Nguyên nhân là do Chi nhánh tăng cường đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản chế biến, hàng tiểu thủ công nghiệp nhưng nguồn vốn lại hạn chế nên nguồn thu mua hàng hóa xuất khẩu không ổn định, đồng thời với việc cạch tranh gay gắt làm cho giá cả hàng hóa và chi phí tăng cao Do đó Chi nhánh cần có biện pháp khai thác nguồn vốn và ổn định nguồn cung cấp hàng trong nước để nâng cao hiệu quả kinh doanh ngày càng tăng hơn Qua so sánh kết quả hoạt động kinh doanh ở bảng 1 (PL) ta thấy:

Năm 2002 so với năm 2001 lợi nhuận tăng 43,16% tương ứng với 121.336.000 đồng Doanh thu thuần tăng 21,35% đã làm lợi nhuận tăng 2.209.493.000 đồng Giá vốn hàng bán tăng 20,36% làm cho lợi nhuận giảm 1.953.112.000 đồng Tổng chi phí tăng 28,51% làm cho lợi nhuận giảm 135.045.000 đồng.

So với năm 2002, lợi nhuận năm 2003 tăng 39,56% tương ứng 159.223.000 đồng; doanh thu thuần tăng 31,37% làm cho lợi nhuận tăng 3.938.795.000 đồng, trong khi giá vốn hàng bán tăng 31,15% khiến lợi nhuận giảm 3.596.876.000 đồng và tổng chi phí tăng 30,01% kéo lợi nhuận giảm thêm 182.696.000 đồng.

Nhìn chung, lợi nhuận năm 2003 tăng 39,56% so với năm 2002, trong khi năm 2002 tăng 43,16%, nên tốc độ tăng lợi nhuận năm 2003 so với năm 2002 giảm 3,6%; tuy nhiên về giá trị tuyệt đối, lợi nhuận tăng từ 121.336.000 đồng (năm 2002) lên 159.223.000 đồng (năm 2003) Nguyên nhân chính là tốc độ tăng giá vốn hàng bán lên từ 20,36% (năm 2002) lên 31,01% (năm 2003), trong khi chi phí quản lý doanh nghiệp lại giảm từ 35,47% xuống còn 25,82% Đây là một nỗ lực đáng khích lệ, tuy nhiên cần chú ý đến việc chi phí bán hàng tăng lên có tương xứng với kết quả đạt được.

2.1.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu: Để đánh giá tổng quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh, ta sử dụng chỉ tiêu doanh lợi để phản ánh hiệu quả chung của doanh nghiệp

Nhìn vào bảng 2, quy mô hoạt động của chi nhánh ngày càng mở rộng và đạt hiệu quả kinh doanh cao hơn Điều này được thể hiện qua sự tăng lên của các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh theo từng năm, cho thấy chi nhánh vừa mở rộng quy mô vừa nâng cao hiệu suất hoạt động.

Doanh thu tăng mạnh: năm 2002 tăng 2.870.597.000 đồng (25%) và năm

Trong năm 2001, doanh thu tăng 4.367.130.000 đồng (31%) Song song với mức tăng doanh thu này, lợi nhuận năm 2002 tăng 121.336.000 đồng (43,16%) và năm 2003 tăng thêm 159.223.000 đồng (39,56%) Tuy nhiên, tốc độ tăng lợi nhuận ở năm 2003 giảm so với năm 2002 do tổng chi phí tăng đều qua các năm.

2002 là 28,31% và năm 2003 là 30,01%), nhưng tốc độ tăng của chi phí vẫn chậm hơn tốc độ tăng của doanh thu

Nguồn: Phòng kế toán của Chi nhánh

Chỉ tiêu lợi nhuận trên doanh thu (biên lợi nhuận) đã tăng qua các năm, cho thấy hiệu quả hoạt động được cải thiện Tuy nhiên, biên lợi nhuận vẫn ở mức rất thấp, khoảng 2%, cho thấy còn dư địa để tối ưu hoá lợi nhuận so với doanh thu Để nâng cao biên lợi nhuận và đảm bảo lợi nhuận tương xứng với quy mô doanh thu trong tương lai, doanh nghiệp cần triển khai các biện pháp như tối ưu hoá chi phí vận hành và chi phí quản lý, cải thiện biên gộp, tối ưu hoá chuỗi cung ứng, cân đối chi phí đầu tư và xem xét điều chỉnh mức giá cũng như đa dạng hoá nguồn thu Việc thực hiện các chiến lược này sẽ giúp tăng biên lợi nhuận và tạo nền tảng cho tăng trưởng doanh thu bền vững.

 Hiệu quả sử dụng vốn:

Sức sản xuất vốn kinh doanh tăng đều qua các năm, với hiệu quả được thể hiện ở mức lợi nhuận từ vốn đầu tư: năm 2003 mỗi đồng vốn bỏ ra thu về 28,37 đồng doanh thu, cao hơn so với 24,90 đồng (năm 2001) và 25,59 đồng (năm 2002) Điều này cho thấy việc sử dụng vốn kinh doanh ngày càng hiệu quả Tuy vậy, sức sản xuất của vốn cố định lại giảm theo thời gian, đòi hỏi có phương án đầu tư và phân bổ nguồn vốn cố định hợp lý để duy trì và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Sức sinh lợi của đồng vốn kinh doanh tăng đều qua các năm: Năm 2003:

Theo dữ liệu, mỗi đồng vốn kinh doanh bỏ ra thu được 0,86 đồng lợi nhuận, cao hơn so với năm 2001 là 0,62 đồng và năm 2002 là 0,73 đồng Điều này cho thấy ROI trên vốn kinh doanh có sự biến động nhưng vẫn ở mức ổn định tương đối Tuy nhiên sức sinh lợi của đồng vốn cố định giảm vào năm 2002 và sau đó tăng lên vào năm sau, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn có xu hướng dao động theo chu kỳ kinh tế và đầu tư.

2003 Đây là một sự nỗ lực trong việc đem lại lợi nhuận ngày càng tăng, nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp

 Hiệu quả sử dụng chi phí:

Hiệu suất sử dụng chi phí giảm vào năm 2002 nhưng đã tăng trở lại vào năm 2003, cho thấy Chi nhánh đang dần tối ưu hóa chi phí Tuy nhiên, mức sử dụng chi phí vẫn chưa mang lại doanh thu tương ứng với năm 2001, vì vậy Chi nhánh cần xem xét và xây dựng kế hoạch sử dụng chi phí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong thời gian tới.

Doanh lợi trên chi phí của Chi nhánh tăng đều theo từng năm, cho thấy việc quản lý và sử dụng chi phí mang lại mức lợi nhuận cao Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng chi phí vẫn ở mức thấp, khi lợi nhuận trên chi phí chỉ tăng khoảng 0,05 đồng mỗi năm, cho thấy cần cải thiện tối ưu hóa chi phí và quy trình vận hành Do đó, cần tập trung vào các giải pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả chi phí và tăng doanh thu trên mỗi đồng chi phí để đạt lợi nhuận bền vững.

Chi nhánh phải tìm cách giảm bớt các mặt hàng có tỷ suất chi phí cao, ưu

Bảng 2: Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh

Chỉ tiêu 2001 2002 2003 Đơn vị tính: 1.000 đồng

2 Vốn kinh doanh bình quân 450,000 550,000 650,000

_ Vốn cố định bình quân 100,000 150,000 200,000

_ Vốn lưu động bình quân 350,000 400,000 450,000

3 Số lao động bình quân (người) 19 19 21

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu

Ngày đăng: 30/10/2022, 08:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN