51 CHỮ VIẾT TẮT CTR : Chất thải rắn KHCN : Khoa học công nghệ MT : Môi trường TP : Thành phố EPC : Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường TBS : Công nghệ thuỷ phân dưới áp lực và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Trang 2TP.HỒ CHÍ MINH: THÁNG 12/2006 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁN CÔNG TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA MÔI TRƯỜNG & BẢO HỘ LAO ĐỘNG NGÀNH: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Lâm Minh Triết
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn thầy Lâm Minh Triết đã hết lòng hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi, cùng những ý kiến đóng góp sâu sắc nhất cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Em xin gửi lòng biết ơn sâu sắc nhất đến tất cảQuý Thầy Cô của trường Đại học Bán công Tôn Đức Thắng đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt kiến thức
và giúp đỡ cho em trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng em xin cảm ơn lãnh đạo Công ty Môi trường Đô thị thành phố Pleiku, các bạn học lớp 06MT2N khóa 6 đã hỗ trợ trong suốt niên khoá học tập
để hoàn thành luận văn này
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TP.HCM, ngày………tháng………năm 200… Giáo Viên Hướng Dẫn
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC HÌNH 4
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 5
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 5
1.2 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 6
1.2.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước 6
1.2.2 Một số nghiên cứu trong nước 9
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 11
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 12
1.5 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 12
1.5.1 Phạm vi nghiên cứu: Khu công nghiệp, khu dân cư trong Gia Lai.12 1.5.2 Đối tượng nghiên cứu: CTR đô thị, CTR công nghiệp và CTNH 12 1.5.3 Giới hạn nghiên cứu 12
1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI THÀNH PHỐ PLEIKU 13
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 13
2.1.1 Vị trí địa lý 13
2.1.2 Địa hình, Địa mạo 13
2.1.3 Khí hậu 13
2.1.4 Thuỷ văn 14
2.1.5 Đất đai thổ nhưỡng 14
2.1.6 Thực vật 15
2.1.7 Nhận xét chung 15
2.2 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ PLEIKU 15
2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế của Thành phố Pleiku 15
2.2.2 Dân số lao động và việc làm 16
2.2.3 Công trình kỹ thuật đô thị 16
2.2.4 Đô thị hoá và vấn đề môi trường ở Thành phố Pleiku 18
Trang 6CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG VÀ DIỄN BIẾN CHẤT THẢI RẮN TẠI
THÀNH PHỐ PLEIKU ĐẾN NĂM 2015 19
3.1 HIỆN TRẠNG CHẤT THẢI RẮN 19
3.1.1 Chất thải rắn sinh hoạt 19
3.1.2 Chất thải rắn nguy hại, y tế 21
3.1.3 Chất thải rắn công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 23
3.2 DỰ BÁO DIỄN BIẾN CHẤT THẢI RẮN Ở TP PLEIKU ĐẾN NĂM 2015 25
3.2.1 Dự báo sự biến đổi về thành phần chất thải rắn 25
3.2.2 Dự báo diễn biến chất thải rắn sinh hoạt 26
3.2.3 Dự báo diễn biến chất thải rắn y tế 27
3.3 ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT 28
CHƯƠNG 4 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN THÀNH PHỐ PLEIKU 30
4.1 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 30
4.1.1 Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải rắn 30
4.1.2 Hệ thống quản lý chất thải rắn Thành phố Pleiku 31
4.1.3 Đánh giá nhận xét 31
4.2 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TP PLEIKU 32
4.2.1 Hiện trạng công tác thu gom và vận chuyển 32
4.2.2 Hiện trạng công tác tái sinh, tái chế 33
4.2.3 Hiện trạng công tác xử lý đổ thải 33
4.2.4 Đánh giá, nhận xét 36
CHƯƠNG 5 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÍCH HỢP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN 38
5.1 NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT VỀ MẶT TỔ CHỨC QUẢN LÝ THÍCH HỢP TRONG ĐIỀU KIỆN THÀNH PHỐ PLEIKU 38
5.2 ĐỀ XUẤT PHÂN LOẠI RÁC TẠI NGUỒN VÀ XÃ HỘI HOÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN THÀNH PHỐ PLEIKU 38
5.2.1 Phân loại rác tại nguồn 38
5.2.2 Xã hội hoá quản lý chất thải rắn 39
5.3 CÔNG NGHỆ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN 41
5.3.1 Một số công nghệ xử lý chất thải rắn đang được áp dụng 41
5.3.2 Lựa chọn công nghệ xử lý 47
Trang 75.4 CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN CUỐI CÙNG 51
5.5 CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ 52
5.5.1 Giáo dục nhận thức cộng đồng 52
5.5.2 Biện pháp kinh tế 52
5.6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.6.1 KẾT LUẬN 54
5.6.2 KIẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 56
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Cơ cấu các loại đất TP Pleiku 14
Bảng 2: Khối lượng rác thải thu gom 19
Bảng 3: Thành phần CTR tại TP Pleiku năm 2005 20
Bảng 4: Thành phần CTR sinh hoạt (% theo trọng lượng) 20
Bảng 5: Thành phần chất thải hữu cơ 21
Bảng 6: Khối lượng CTR bệnh viện ở TP Pleiku 22
Bảng 7: Khối lượng CTR công nghiệp tại TP Pleiku năm 2005 24
Bảng 8: Thành phần CTR công nghiệp (% theo trọng lượng) năm 2005 24
Bảng 9: Dự báo diễn biến chất thải rắn sinh hoạt 27
Bảng 10: Kết quả phân tích hơi khí độc và bụi tại bãi hôn lấp 34
Bảng 11: Kết quả phân tích các chỉ tiêu nước thải tại bãi chôn lấp 35
Bảng 12:Kết quả phân tích chỉ tiêu mẫu đất nhiễm bẩn tại bãi chôn lấp 35
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1: Sơ đồ quản lý chất thải rắn 30
Hình 2: Quy trình tái chế nhôm từ các cơ sở nấu nhôm 41
Hình 3: Quy trình tái chế nhựa phế liệu 42
Hình 4: Quy trình tái chế thuỷ tinh 42
Hình 5: Quy trình tái chế giấy phế liệu 43
Hình 6: Quy trình tái chế cao su 43
Hình 7 Sơ đồ công nghệ sản xuất phân vi sinh 49
Hình 8 Hệ thống đốt có thu hồi và làm sạch khí 51
CHỮ VIẾT TẮT CTR : Chất thải rắn KHCN : Khoa học công nghệ MT : Môi trường TP : Thành phố EPC : Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường TBS : Công nghệ thuỷ phân dưới áp lực và nhiệt độ cao để xử lý rác
làm phân vi sinh GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
Trang 9Chöông 1 MỞ ĐẦU
TP Pleiku là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội của tỉnh Gia Lai Với diện tích tự nhiên 260,5 km2 dân số 210000 người chưa kể các lực lượng vũ trang và các cơ quan trung ương đóng trên địa bàn gần hơn 250000 người với mật độ khoảng
850 người/km2, tỷ lệ gia tăng dân số là 2,1%
Pleiku hiện nay là đô thị loại III, một thành phố mới được phát triển, xây dựng từ thị xã Pleiku trước đây kết cấu hạ tầng không ngừng được nâng cấp, tốc độ đô thị hoá nhanh Không gian đô thị ngày càng được mở rộng Trong những năm qua mức tăng trưởng thành phố đạt 14% - 15%/năm Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển đổi theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ, nông lâm nghiệp, hàng hoá Cơ cấu GDP theo ngành công nghiệp xây dựng 33,9% Thương mại dịch vụ 60,5% Nông, lâm nghiệp 5,6% Hình thành các khu công nghiệp tập trung: Hàm Rồng, Trà Bá, Biển Hồ, Chư Á Toàn thành phố có 1531 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
Quá trình công nghiệp hoá kéo theo quá trình đô thị hoá từ năm 1996 đến năm
2003 từ 5% -7% Không gian đô thị ngày càng mở rộng, nhiều khu dân cư mới hình thành, thông thường ở bên cạnh khu công nghiệp mới kéo theo sự hình thành các khu dân cư mới như: Hàm Rồng, Trà Bá, Trà Đa, Biển Hồ, Chư Á
Hàng năm lượng rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp của thành phố đã lên tới hàng trăm nghìn tấn là nơi phát sinh ra nhiều chất thải rắn Số lượng năm sau cao hơn năm trước Thành phần đa dạng, phức tạp Đặc biệt là các chất thải nguy hại ngày càng
đa dạng cả về số lượng lẫn chủng loại Lượng chất thải đô thị hiện nay là 0,7/kg/ngày lượng rác thải đô thị thường vượt quá khả năng thu gom, tập kết, xử lý an toàn
Hiện nay công ty công trình đô thị thu gom được 58% lượng chất thải rắn đô thị trung bình hang ngày, vận chuyển được 170 m3 chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp đang là mối đe doạ lớn đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Trong quy hoạch đô thị và khu công nghiệp chưa quan tâm thích đáng đến việc đổ thải và xử lý chất thải rắn công nghệ xử lý chất thải rắn đơn giản lạc hậu chủ yếu bằng cách chôn lấp Vị trí bãi chôn lấp không được lựa chọn cẩn thận trong quy hoạch, chỉ đơn thuần sử dụng điều kiện địa hình để chôn lấp rác Bãi chôn lấp không được xây dựng đúng kỹ thuật, do đó dẫn đến tình trạng rò rỉ thẩm thấu nước rác bẩn ra môi trường xung quanh gây ô nhiễm nước mặt về lâu dài Quá trình sử dụng vận hành chôn lấp chất thải rắn đô thị tại các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh Thông qua các tác động
tự nhiên như mưa, nắng… Quá trình phân huỷ các chất thải đã gây nên mùi hôi, hấp dẫn sự tập trung các loại côn trùng gây bệnh và truyền nhiễm Bãi rác thoát ra các loại
Trang 10khí độc như H2S, SO2, CO2 nguy cơ bãi chôn lấp trở thành nguồn tiềm tàng gây ô nhiễm suy thoái môi trường, gây áp lực rất lớn đến công tác vệ sinh môi trường đô thị
Có thể thấy hiện trạng quản lý chất thải rắn của TP Pleiku như sau: CTR sau khi thu gom được đưa về tập trung tại một bãi rác cố định ở ChưHDRông nằm ở phía nam thành phố Với khối lượng rác thu gom khoảng 170 m3/ngày chiếm 84,5% tổng khối lượng CTR sinh hoạt thải ra Hình thức xử lý rác ở đây là hình thức chôn lấp đơn giản Đào hố chôn lấp có phun hoá chất chế phẩm sinh học có diệt côn trùng và khử mùi hôi Hàng ngày các xe chuyên tập kết chở rác về bãi, cứ hai ngày một lần máy xúc rác
sẽ đẩy xuống hố sau đó phun hoá chất mỗi tuần một lần Khi hố rác đầy (khoảng sáu tháng) sẽ san lấp và chuyển sang hố khác
Việc phân loại rác tại nguồn chưa được thực hiện Việc quản lý còn nhiều yếu kém
vì hầu hết các bãi chứa CTR không đáp ứng được yêu cầu đổ thải về mặt vệ sinh môi trường do nước rỉ rác, ruồi nhặng và mùi hôi
Điều đó cho thấy quản lý CTR ở Gia Lai là một vấn đề hết sức bức xúc Khối lượng rác thu gom chưa triệt để, một số ít CTR công nghiệp còn lẫn lộn trong bãi rác sinh hoạt kể cả rác thải nguy hại Có không ít CTR được đổ bừa bãi ở các khu đất trống gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, đe doạ sức khoẻ cộng đồng
Trước tình hình đó, để có được cái nhìn toàn diện về hiện trạng CTR, chất thải nguy hại Từ đó đề xuất quy hoạch, quản lý hiệu quả thì hiện nay chưa có đề tài nào đề cập Vì vậy đề xuất biện pháp xử lý, nâng cao hiệu quả quản lý CTR trong điều kiện một tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhanh ở Gia Lai là cơ sở phục vụ công tác quy hoạch, bảo vệ môi trương bền vững Đây là lý do mà học viên dưới sự hướng dẫn của thầy GS TS Lâm Minh Triết chọn đề tài “ Hiện trạng và dự báo diễn biến CTR ở TP Pleiku (Gia Lai) đến năm 2015
và đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp” làm luận văn tốt nghiệp đại học
NGOÀI NƯỚC
1.2.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước
Vấn đề thu gom, vận chuyển phân loại xử lý CTR và chất thải nguy hại (CTNH) cũng như những vấn đề liên quan đến quản lý nó không còn là một vấn đề mới mẻ, hiện nay có rất nhiều phương pháp xử lý, quản lý hiện đại, tiên tiến áp dụng nhiều nơi trên thế giới như: Nhật, Mỹ, Hà lan, Pháp, Canada, Anh
Các nước trên thế giới tuỳ theo tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nước để xây dựng quy hoạch xử lý CTR, mỗi nước đều đồng thời áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, nhìn chung tỷ lệ phần trăm lượng CTR được xử lý theo các phương pháp khác nhau có
sự chênh lệch giữa các nước khác nhau, giữa các khu vực khác nhau Các nước Châu
Á thường áp dụng phương pháp thiêu đốt để xử lý CTR ngoại trừ Nhật Bản.Riêng ở Châu Âu có xu thế phát triển kỹ thuật thiêu đốt và tái chế CTR Xu thế chung hiện nay trên thế giới là quản lý rác thải theo thứ thự ưu tiên sau: Hướng đến việc bảo tồn và tái
Trang 11sinh các nguồn tài nguyên dưới dạng vật chất và năng lượng thông qua các hoạt động tái sử dụng loại các chất thải, chế biến chất thải thành nguyên liệu tái sinh, thành các sản phẩm mới và năng lượng, những thứ còn lại được đưa đi chôn lấp an toàn, thiêu huỷ rác thải thô và sau đó chôn lấp những phần còn lại, chôn lấp rác thải thô ở những bãi rác hợp vệ sinh.Về kỹ thuật bảo tồn và tái sinh tài nguyên có thể tạm chia thành 3 loại: công nghệ thấp, công nghệ trung bình và công nghệ cao tuỳ theo sự gia tăng mức
độ phức tạp của giải pháp thực hiện, trang thiết bị và nguồn vốn đầu tư
* Công nghệ thấp đó là việc sử dụng lại các loại vỏ hộp nước giải khát bằng cách hoàn trả lại cho nhà cung cấp, tái sử dụng nhiều lần các chai lọ bằng thuỷ tinh Tái chế chất thải là hoạt động nhằm thu hồi lại các thành phẩm có ích trong rác mà chúng có thể sử dụng lại chế biến thành các sản phẩm mới dưới dạng vật chất hoặc năng lượng phục vụ cho sản xuất, công việc này đòi hỏi phải có quá trình phân loại để tách riêng các thành phần rác thải Sau đó, đối với một số loại rác thải có khả năng tái sinh như: giấy, nilon, cao su, thuỷ tinh, kim loại sẽ được thu gom và chuyển đến các cơ sở tái sinh chất thải để làm nguyên liệu đầu vào cho việc sản xuất ra các sản phẩm mới
* Công nghệ trung bình bảo tồn và tái sinh tài nguyên
- Thiết kế sản phẩm: đó là những thay đổi đơn giản về hình dạng bao bì sản phẩm cũng có thể đưa đến bảo tồn tài nguyên
- Cắt vụn và phân loại: phần lớn những vật liệu như giấy, các vật liệu như nhôm, sắt, thép, vỏ xe
- Chế biến thành phân compost: là một vật liệu giống như chất mùn được tạo ra do quá trình ổn định sinh học hiếu khí các vật chất hữu cơ trong chất thải rắn Việc chế biến thành phân trộn đạt hiệu quả cao nhất khi dòng chất thải không có chứa các vật liệu vô cơ
- Thu hồi lại Methane: Mathane thường được sản sinh ra trong các bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh do sự phân huỷ yếm khí các thành phần hữu cơ có trong chất thải Thêm vào đó để cho các khí đi vào các giếng thu và vào một hệ thống thu gom, cần phải sử dụng các thiết bị chế biến khí
* Công nghệ cao bảo tồn và tái sinh tài nguyên: đó là việc tái sử dụng CTR như là một nhiên liệu Tuy nhiên, một nhà máy tái sinh CTR với công nghệ cao cần phải có những tiêu chuẩn sau:
- Việc tái sinh tài nguyên bằng công nghệ cao chỉ có thể đạt hiệu quả kinh tế ở những vùng đô thị lớn
- Nguồn cung cấp rác cho nhà máy chế biến phải đảm bảo tương đối, nhu cầu này
có thể đảm bảo ở những vùng có dân số từ 200000 người trở lên
- Khách hàng nhận được hơi hoặc năng lượng do nhà máy sản xuất ra cần phải đặt gần đó
- Nếu khách hàng lệ thuộc vào năng lượng do nhà máy cung cấp thì phân xưởng
Trang 12đốt rác cần phải được thiết kế sao cho có khả năng sử dụng nhiên liệu hoá thạch để đốt khi gặp khó khăn về nguồn cung cấp rác hoặc khi nhà máy không thể chế biến được rác thô do các chức năng của các thiết bị chế biến bị hạn chế
- Cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc cung cấp rác ở nhà máy tái sinh tài nguyên cần phải lập kế hoạch dài hạn trước
- Các hệ thống mà chúng có thể dùng cả rác đô thị lẫn bùn cống sẽ có thuận lợi về mặt kinh tế hơn là các hệ thống mà chúng chỉ sử dụng rác đô thị duy nhất
- Các hệ thống công nghệ cao cũng như các hệ thống tái sinh vật liệu bằng công nghệ trung bình cần có một điểm xuất phát chung ở các bước công nghệ đầu tiên của chúng
* Thiêu đốt truyền thống là phương pháp thiêu huỷ rác thường được áp dụng để xử
lý các loại rác thải có nhiều thành phần dễ cháy bằng cách đốt đến nhiệt độ trên
1000oC bằng gas hoặc dầu trong lò đốt chuyên dụng
* Thiêu đốt cải tiến với việc sản xuất ra năng lượng: Phần lớn các lò đốt rác cải tiến sản xuất ra năng lượng kết hợp chặt chẽ một nguyên tắc kiểm soát ô nhiễm không khí,
sử dụng CTR đô thị chưa được chế biến và đòi hỏi một lượng nhỏ nhiên liệu bổ sung
để khởi động lò Chất thải được đưa vào buồng đốt thứ nhất, ở đó nó được đốt cháy trong điều kiện không đủ Oxy cho việc hoàn tất quá trình cháy Khí sinh ra do quá trình cháy với thành phần chủ yếu là monoxit carbon được chuyển qua buồng đốt thứ hai, ở đó một lượng thừa không khí được thổi vào, hoàn tất việc cháy Nhiên liệu bổ sung cũng có thể được đòi hỏi với những lượng nhỏ nhất dể duy trì cháy thích hợp Sau khi phần lớn vật chất riêng biệt được cháy hết, dòng hơi nóng được chuyển qua lò hơi tận dụng nhiệt của chất thải để sản xuất ra hơi nước Tro được dập tắt bằng hơi nước và được thải bỏ ở bãi chôn lấp rác Hơi nước có thể được sử dụng trực tiếp hoặc
có thể biến đổi thành điện năng với việc bổ sung thêm một máy phát điện tuabin
* Ở Trung Quốc hiện nay đang áp dụng công nghệ thuỷ phân dưới áp lực và nhiệt
độ cao (TBS) để xử lý rác làm phân vi sinh Các công đoạn xử lý trong quy trình công nghệ bao gồm:
- Công đoạn phân loại rác: Đây là hệ thống cơ bản và quan trọng của hệ thông TBS trong giai đoạn đầu rác được phân làm ba loại: Chất vô cơ, chất hữu cơ và chất tổng hợp
- Công đoạn thuỷ phân chất hữu cơ dưới áp lực cao: Các chất hữu cơ sau khi phân loại được đưa vào thiết bị thuỷ phân dưới áp suất bằng chất xúc tác ở nhiệt độ cao Đây là bộ phận chủ yếu của toàn quy trình TBS Trong quy trình này những chất hữu
cơ dễ thối rữa và phế thải được phân chọn ra từ hệ thống xử lý đầu tiên từ TBS sẽ nhanh chóng thu được chất xúc tác thuỷ phân, qua đó làm cho các phân tử hữu cơ chuyển hoá thành chất có thể trực tiếp hoặc gián tiếp hấp thụ dinh dưỡng từ phân tử carbon, đồng thời cũng hoàn toàn khử trùng Để tránh các vấn đề dễ phát sinh trong quá trình xử lý rác như mùi hôi, những chất được sinh ra trong quá trình thuỷ phân
Trang 13được trộn lẫn với vi sinh vật đa năng, Chất dinh dưỡng vô cơ sẽ được tạo thành phân
vi sinh cân bằng dinh dưỡng của toàn bộ chất vô cơ, hữu cơ và vi sinh vật Quá trình thuỷ phân diễn ra trong ba giờ cho nên tốc độ xử lý một lượng rác rất mau
- Công đoạn đốt ở nhiệt độ cao: Hệ thống đốt với nhiệt độ cao hơn 1350oC ở trong buồng đốt và nhờ vậy phân huỷ các chất độc hại Các tro được đưa ra khỏi luồng đốt dưới dạng xỉ than, các kim loại nặng chứa đựng trong xỉ than được đóng thành khối
- Các khí thải được làm sạch bằng kỹ thuật tiên tiến, do đó đáp ứng được các quy trình về khí thải
- Công đoạn phân giải các chất nhựa: hệ thống sẽ biến các chất thải bằng nhựa thành xăng dầu nhờ vào các chất xúc tác Tỷ lệ sản phẩm xăng dầu đạt 70 % - 75% Nói cách khác cứ 1000 kg chất thải bằng nhựa sẽ tạo được 350 kg dầu Didsel và 150
kg khí đốt (CH4-CH10) và 100 kg chất than xỉ Loại xăng dầu tạo được đạt tiêu chuẩn của vương quốc Anh ( xăng đạt # 70%-93%; dầu didsel đạt #0-20%), có chất lượng ổn định
- Công đoạn tái sử dụng chất vô cơ: Với hệ thống này rác xây dựng, tro đốt, bùn nước thải và các chất vô cơ khác được chế tạo thành những vật liệu xây dựng thô Để tránh trường hợp tái ô nhiễm hệ thống này dựa trên công nghệ kỹ thuật xử lý làm đông lại, kim loại nặng trong các chất vô cơ cũng được làm đông đặc lại sử dụng làm vật liệu xây dựng
* Chôn lấp hợp vệ sinh: Bãi chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp thải bỏ rác vào trong đất mà không gây những thiệt hại hay tai hoạ đến sức khoẻ và an toàn cho con người bằng cách sử dụng những kỹ thuật để hạn chế khối lượng đến mức thấp nhất
và bao phủ chúng bằng lớp đất bề mặt sau mỗi giai đoạn hoạt động Phương pháp này đơn giản, chi phí vận hành thấp nhưng cần có diện tích lớn Bãi chôn lấp hợp vệ sinh cần được xử lý để tránh ô nhiễm môi trường xung quanh nhất là vấn đề xử lý nước rỉ rác
1.2.2 Một số nghiên cứu trong nước
* Dự án khu liên hợp xử lý rác thải công nghiệp và rác sinh hoạt chế biến thành
phân hữu cơ và các sản phẩm theo seraphin tại khu xử lý rác Tam Tân- Củ Chi TP HCM, chủ đầu tư Công ty cổ phần công nghệ An Sinh
Theo phương pháp này thì từ nhà tiếp nhận rác thải theo hệ thống băng tải, được phân loại lần một bằng tay các vật thể có kích thước lớn nhu vỏ xe, cành cây sau đó, Rác được vào máy xé bao để xé các túi nilon đựng rác, các vật thể rác còn lớn và phun
vi sinh khử mùi Tiếp theo rác tiếp tục được phân loại lần hai để loại bỏ các vật thể có kích thước nhỏ mà công nhân có thể nhặt được trên băng tải Sau giai đoạn phân loại lần hai rác thải đã tương đối đồng nhất về mặt vật lý (thành phần hữu cơ chiếm tỷ lệ lớn hơn rác nạp liệu) Giai đoạn tiếp theo là tiến hành phân loại từ (Magnetic separtor)
để tách các vật liệu chứa sắt bằng hệ thống tuyển từ Sau giai đoạn tuyển giá, rác thải
Trang 14vi sinh vật phân huỷ rác trong giai đoạn tiếp theo Rác đã nghiền phối trộn thành phân hầm cầu đưa vào hệ thống bể ủ thổi khí (static pile composting) trong 20 ngày Khi rác thải trong bể ủ đã mãn hoá, tiến hành sàn thu mùn cho giai đoạn chế biến tiếp theo Phần hữu cơ chưa mùn hoá được hoàn lưu về giai đoạn ủ thổi khí
Các bể ủ thổi khí có hệ thống tuần hoàn nước rỉ ra từ khối ủ, dịch rỉ này được bổ sung hệ vi sinh vật phân huỷ rác và được dùng để hồi ẩm cho các khối ủ cũng như tăng cường dinh dưỡng cho phân thành phẩm sau này
Bước tiếp theo là giai đoạn ủ chín từ 10 – 15 ngày Giai đoạn này giúp cho mùn thu được ổn định hoàn toàn về mặt sinh học Mùn thu được sẽ cho phối trộn với các phụ gia đặc trưng và vi sinh kháng bệnh, hỗn hợp sau phối trộn được đóng bao cho ra thành phẩm phục vụ cho nông nghiệp, đặc trưng của loại phân này là phân cải tạo đất bạc màu, đất nhiễm phèn, đất đồi trọc bị rửa trôi hết hữu cơ Thành phần hữu cơ khó phân huỷ sau khi được phân loại sẽ được đưa vào máy vò để làm giảm thể tích và đưa vào thiết bị sàng lồng để tách lọc xà bần có hệ thống gia nhiệt sấy khô Ở giai đoạn này thành phần hữu cơ khó phân huỷ đã tương đối đồng nhất về mặt vật lý Giai đoạn tiếp theo là tiến hành đảo trộn, phối trộn phụ gia và đưa vào hệ thống khuấy trộn đóng xoắn gia nhiệt để định hình sản phẩm và cho vào máy ép thuỷ lực tạo ra những sản phẩm sau cùng
* Dự án nhà máy phân hữu cơ Sài Gòn sản xuất 5000 tấn/ngày do Công ty TNHH
Nông Sinh làm chủ đầu tư
Nhà máy này dựa vào công nghệ như sau: công đoạn tập kết rác sau đó qua phân loại rác bằng máy, rác được phân loại tiếp bằng bán thủ công, rác nguyên liệu đã qua
sơ tuyển được đưa lên xilô băng tải để công nhân phân loại rác nhặt bỏ rác không phải hữu cơ lẫn vào Để riêng kim loại, bao thuỷ tinh, nilon, gỗ và các thứ không phải hữu
cơ đổ đống riêng theo từng loại để bán phế liệu hoặc tái chế Đến giai đoạn chuẩn bị nguyên liệu và phối trộn con giống vi sinh, rác được băm nhỏ bằng máy để thúc đẩy quá trình ủ được nhanh chóng Rác băm xong được đưa vào máy sàng Những mảnh quá lớn sẽ được đưa vào máy băm một lần nữa Do chất thải rắn sinh hoạt có độ ẩm cao, có thể lên hơn 70% Rơm, bã mía có thể hấp thu được rất mạnh nhờ có hàm lượng celluloz rất cao giúp cân bằng độ ẩm Quan trọng không kém đây là cách làm cân bằng C/N Trộn con giống vi sinh để làm men ủ nóng Ở công đoạn ủ nóng rác được băm nhỏ trộn với men vi sinh đổ thành luống trên bãi ủ, bên dưới các luống rác có hệ thống bơm nén khí Nhiệt độ tăng lên do quá trình phân huỷ sinh học các chất hữu cơ của luống rác ủ tự thân nó nâng nhiệt độ hỗn hợp ủ lên trong khoảng 55 – 65oC Thời gian
ủ từ 15 – 21 ngày Trên bề mặt luống ù có phủ một lớp rơm hoạt tính đặc biệt dày 50 –
80 cm để giữ mùi không bay ra ngoài Mùi có thể là chất hữu cơ bay hơi ( volatile matters) và cả amonium (NH4), một số trường hợp có cả sulphua hydro (H2S) có mùi khó chịu Rơm hoạt tính là loại rơm được cấy chủng vi sinh vật để dùng hấp thu mùi Công đoạn tạo mùn hay ủ lạnh là rác sau khi ủ nóng phân huỷ thì được chuyển sang
Trang 15giai đoạn tạo mùn kéo dài 4 tháng Rác được chuyển qua sàng lấy hạt mịn dưới 5 mm, hạt thô được giữ lại khay ủ nóng Đây là công đoạn quan trọng nhất quyết định sự thành công của công nghệ Trong giai đoạn tạp mùn, một số khoáng như lân, calxi, magie và một số loại vi lượng khó tan khác được trộn vào để tạo phân hữu cơ với mùn Công đoạn trộn phân khoáng, trong quá trình composting rác sau ủ biến thành phân lân mùn hữu cơ Phân khoáng trộn vào giai đoạn này là khoáng dễ tan như: đạm, kali công đoạn tạo hạt phân trộn khoáng được làm khô trên luống Việc làm khô được tăng cường bằng khí nóng hút từ mái nhà, khi độ ẩm đạt yêu cầu, phân được đưa vào máy ép thành bánh, sau đó cho bánh vào máy say để chia miếng nhỏ, miếng đưa qua sàng, hạt mịn được đưa đi ép lại, miếng lớn hơn quay lại say thêm lần nữa Cuối cùng
là công đoạn vô bao, Phân sau khi tạo hạt được đưa lên các xilo và hệ thống vào bao tự động
Nói tóm lại, thách thức và nguy cơ đối với thế giới là cạn kiệt và suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên, bên cạnh đó là ngày càng gia tăng các loại chất thải, nguy cơ ô nhiễm môi trường đang đe doạ cuộc sống con người Nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học tập trung nghiên cứu đề ra giải pháp chiến lược, lâu dài nhằm góp phần giải quyết các vấn đề liên quan đến việc khai thác, sử dung hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, xử lý chất thải, bảo vệ môi trường, trong đó chủ yếu vẫn
là các nỗ lực nhằm giảm thiểu chất thải đưa đi xử lý, ngăn ngừa sự phát sinh chất thải nguy hại tại nguồn và tối đa hoá việc tái sử dụng CTR Chính vì vậy xu hướng hiện nay trên thế giới là hướng về cách tiếp cận “phòng ngừa” hơn là xử lý cuối đường ống
mà chúng ta được biết đến với tên gọi “Quản lý thống nhất và tổng hợp CTR” Tuy nhiên trong vòng 10 – 15 năm qua ở Châu Âu và Bắc Mỹ có phong trào từ bỏ cách tiếp cận “ở cuối đường ống” trong quản lý chất thải công nghiệp, đồng thời hướng tới các việc giảm thiểu chất thải Những chiến lược môi trường như: ngăn ngừa ô nhiễm, giảm thiểu chất thải, sản xuất sạch hơn dần được xem như là sự cần thiết nhằm giảm các chi phí khổng lồ cho việc xử lý chất thải và hành động làm sạch môi trường Kết quả cho thấy nhiều nước trên thế giới, cách tiếp cận “ở cuối đường ống” đang được thay thế dần bằng cách tiếp cận tích cực hơn Đó là giảm thiểu chất thải
Mục tiêu của đề tài là đánh giá hiện trạng CTR, CTNH tại TP Pleiku đưa ra các con
số cụ thể về tình hình CTR, CTNH đề xuất các giải pháp quản lý tổng hợp và khả thi nhằm nâng cao năng lực quản lý CTR ở TP Pleiku đến năm 2015 mà tập trung các mục tiêu sau:
- Thu thập các thông tin tự nhiên liên quan CTR TP Pleiku
- Khảo sát, bổ sung về khối lượng, thuyết minh và phân tích CTR
- Đánh giá hiện trạng và diễn biến CTR ở TP Pleiku đến năm 2015
- Đánh giá nhận xét hiện trạng quản lý CTR của tỉnh
Trang 16Pleiku_ Gia Lai
Luận văn bao gồm các nội dung chính sau:
- Khảo sát, điều tra, thu thập tài liệu
- Khảo sát, đánh giá hiện trạng CTR, CTNH
- Nghiên cứu đề xuất một số công nghệ xử lý thích hợp đối với CTR ở Gia Lai
- Đưa ra một vài cách thức quản lý phù hợp
1.5.1 Phạm vi nghiên cứu: Khu công nghiệp, khu dân cư trong Gia Lai
1.5.2 Đối tượng nghiên cứu: CTR đô thị, CTR công nghiệp và CTNH
1.5.3 Giới hạn nghiên cứu
Luận văn có một số giới hạn được xác định như sau:
- Đề xuất các giải pháp xử lý tiên tiến CTR phù hợp với tình hình CTR ở TP Pleiku
- Đề xuất cơ chế quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với CTR và CTNH
Các giải pháp nghiên cứu tập trung vào: điều tra, khảo sát về hiện trạng CTR đô thị, CTR công nghiệp, CTNH cùng với các biện pháp đang được áp dụng hiện nay thông qua:
Phiếu điều tra
Phương pháp thống kê
Phương pháp tổng hợp tài liệu trong đó gồm:
- Kế thừa, khai thác số liệu và kết quả nghiên cứu đã có, các số liệu tổng thể quy hoạch của thành phố, các báo cáo kinh tế - xã hội, các chương trình, đề tài, dự án
có liên quan
- Thu thập số liệu từ các ban ngành, ban quản lý các khu công nghiệp, công ty môi trường đô thị
Phương pháp phân tích đánh giá
- Dựa vào tài liệu
- Dựa vào ý kiến chuyên gia
Trang 17Chöông 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
- Phía bắc giáp huyện Chư Păh
- Phía nam giáp huyện Chưprông và huyện Chư Sê
- Phía tây giáp huyện Iagrai
Nằm trong bản đồ Pleiku (D49 – 72A) có toạ độ địa lý:
- Từ 107º50’ đến 108º06’10” kinh độ Đông
- Từ 13º50’10” đến 14º05’15” vĩ độ Bắc
2.1.2 Địa hình, Địa mạo
Thành phố Pleiku có địa hình đặc trưng cho vùng cao nguyên miền núi, độ cao trung bình từ 720 – 800m so với mực nước biển, địa hình có hướng thoải dần về phía Đông Nam, có độ dốc từ 5 – 10º chia cắt bởi các nhánh suối, các đường phân thuỷ cấp một và các miệng núi lửa địa hình âm Các thành tạo địa mạo ở đây gồm hai kiểu hình thái cơ bản: Các bề mặt nàm ngang và hơi nghiêng xen kẽ các bề mặt dạng phun nổ Các bề mặt này mới bị lôi kéo vào các hoạt động đào xẻ, phân cách cùng với quá trình ngoại sinh hoạt động mạnh mẽ, rửa trôi, xâm thực sói mòn phong hoá bạc màu cùng với các quá trình trọng lực xảy ra ở các sườn dốc và vách đứng mà thường là ranh giới giữa các phân vi địa mạo và chúng cũng rất dễ phân hoá bạc màu
2.1.3 Khí hậu
TP Pleiku nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa rõ rệt
- Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, khí hậu trong mùa này có
số ngày nắng cao 80 – 85% Nhiệt độ thay đổi từ 8 – 30ºC, độ ẩm thấp, lượng bốc hơi cao Gió chủ yếu hướng Đông Bắc
- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 có tỷ lệ ngày mưa 50 – 70%, nhiệt độ trung bình từ 18 – 26ºC, độ ẩm cao, lượng bốc hơi thấp, gió chủ yếu hướng Tây Nam
Các thông số khí hậu chung
+ Nhiệt độ trung bình : 21,7º /năm
+ Lượng mưa trung bình :2.234mm/năm
+ Độ ẩm trung bình: 80%/ năm
Trang 182.1.5 Đất đai thổ nhưỡng
Thành phố Pleiku có tiềm năng lớn về nguồn tài nguyên đất đai được sử dụng theo
cơ cấu sau:
Bảng 1: Cơ cấu các loại đất TP Pleiku
TT Cơ cấu các loại
đất
Tổng diện tích (ha)
Nhóm đất thung lũng là nhóm đất có nguồn gốc trầm tích lắng đọng gồm các vật liệu sét, bột, cát, sạn, mảnh vụn đá bazan phong hoá dở dang màu xám nâu xen lẫn đôi chỗ màu xám đen do nhiễm các vật chất than, mùn hữu cơ Phân bố dọc theo các thung lũng suối, các miệng núi lửa địa hình âm Đây là đối tượng chủ yếu phục vụ đất sản xuất nông nghiệp
Nhóm đất sói mòn là sản phẩm còn lại của quá trình sói mòn, xâm thực, bị phong hoá bạc màu, bị phân cách mạnh, đây chủ yếu là nhóm đất chưa sử dụng
Trang 192.1.6 Thực vật
Lớp phủ thực vật trên địa bàn TP Pleiku có mức che phủ trung bình Do địa hình khác nhau mà thảm thực vật cũng khác nhau, Ở thành phố chủ yếu là thảm thực vật nhân tạo trồng các giống cây đã thuần hoá: tràm, thông, cao su, các loại cây công nghiệp: cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả các loại bên cạnh đó là hoa màu, lúa, mì, khoai, bắp
Ngoài các thảm thực vật kể trên còn có hệ thống cây xanh đường phố nhằm cải thiện môi sinh và cảnh quan thành phố
2.1.7 Nhận xét chung
Điều kiện tự nhiên ở TP Pleiku có những thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng có những thuận lợi và khó khăn cho môi trường và công tác bảo vệ môi trường đô thị
Thuận lợi: Địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, đất đai, thảm thực vật tạo cho thành phố cảnh quan môi trường thiên nhiên hài hoà đặc trưng cho cao nguyên kỳ thú Một vùng sinh thái đa dạng và phong phú góp phần cân bằng môi trường tạo cho thành phố có khí hậu trong lành mát mẻ
Khó khăn: Điều kiệ tự nhiên cũng gây khó khăn cho môi trường của thành phố Các yếu tố địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn tạo điều kiện cho quá trình hoạt động ngoại sinh xảy ra mạnh mẽ, rửa trôi, xâm thực, xói mòn, phong hoá bạc màu
và các quá trình sụt lún trọng lực sảy ra ở các sườn dốc, vách đứng Ngoài ra các quá trình phụt lún, phun tro núi lửa tạo nên các tai biến do quá trình hoạt động kiến tạo trẻ gây ra, cũng làm cho môi trường bị tác động và suy thoái
Thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất lớn, nhất là mùa mưa, với công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTR tạo ra một lượng nước thải rất lớn từ bãi chôn lấp, bãi trung chuyển CTR gây ô nhiễm môi trường nước và môi trường đất Ngoài ra do mưa nhiều, nươc chảy tràn mặt đất, đường phố, nhà cửa, đồng ruộng, kéo theo nhiều chất rắn, nhiều vi sinh vật, thuốc trừ sâu, phân bón Tất cả nguồn nước bẩn đó đều kéo ra suối, các hồ, các thung lũng hoặc thấm vào mạch nước ngầm làm cho nguồn nước mặt, nước ngầm bị ô nhiễm
2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế của Thành phố Pleiku
Cơ cấu kinh tế của TP Pleiku là thương mại, dịch vụ, nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng Với xu hướng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng ngày càng tăng lên, giảm dần nông và lâm nghiệp Cơ cấu chuyển đổi ngày càng phù hợp với cơ cấu thị trường
- Thu nhập bình quân 493 USD/người/năm
- Tăng trưởng kinh tế 14%
Trang 202.2.2 Dân số lao động và việc làm
Dân số của thành phố đến năm 2004 là 215.971 người so với năm 2000 là 168.921 người, tăng 42.523 người, bình quân tăng 11.763 người/năm
Dân số nội thành năm 2004 là 188.473 người so với năm 2000 là 99.664 người Bình quân mỗi năm tăng 22.202 người Mức tăng dân số ngoại thành thấp hơn
Mật độ dân số trung bình 33 người/m2 (850người/km2) Mật độ dân số nội thành là 3.644 người/m2 (2680người/km2) Cơ cấu giới nam 49,93%, nữ 50,07%.Tỷ lệ gia tăng dân số là 2,6%
Lực lượng lao động phi nông nghiệp của thành phố chiếm 83,4%, lao động tập trung trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, chính trị, văn hoá, khoa học, giáo dục, du lịch
Dân cư của thành phố phân bố ở 10 phường, 8 xã Mật độ cao nhất tập trung ở phường trung tâm Dân cư hiện nay phân bố theo hướng lan toả dọc trục quốc lộ 14 và
19
2.2.3 Công trình kỹ thuật đô thị
Mạng lưới giao thông
Mật độ mạng lưới đường nhựa của Thành phố đạt 5,5 – 6 km/km2 Riêng khu trung tâm mật độ mạng lưới đường nhựa đạt 7,5 – 8 km/km2
Đến nay các trục đường chính của Thành phố như Hai Bà Trưng, Phan Đình Phùng, Lê Lợi đã được xây nâng cấp, xây dựng đầu tư đồng bộ hệ thống thoát nước, vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng công cộng, đảm bảo an toàn giao thông và cảnh quan Thành phố
Cấp nước đô thị
Pleiku được cung cấp nước từ nhà máy nước Biển Hồ với công suất 12000m3/ngày đêm Nhà máy cấp nước bơm thẳng từ Biển Hồ thông qua hệ thống xử lý nước, hiện nay nhà máy khai thác được 6000 – 7000m3/ngày đêm Ngoài khai thác nước mặt mỗi ngày Thành phố khai thác nước ngầm trong khu vực nội thị từ các giếng khoan, giếng đào của các cơ quan và cá nhân 1500m3/ngày đêm Hệ thống đường ống dẫn nước có đường kính 100mm, có 60% được đặ từ trước co sửa chữa thay thế, chắp vá, phần lớn mạng lưới đường ống xây dựng trước đây không phù hợp với đô thị hiện nay Do cơ
sở hạ tầng kỹ thuật cấp nước chưa tốt, cùng với sự quản lý cấp nước còn yếu mà lượng thất thoát nước lên đến 35 – 40%
Tỷ lệ dân Thành phố được cấp nước là 35%, với mức nước cấp khoảng 60 lit/người/ngày Còn lại 65% số cấp nước bằng các công trình đơn lẻ, bằng giếng đào hoặc khoan khai thác ở tầng chứa nước thứ nhất Lưu lượng nước giếng đạt từ 0,2 – 2 lit/giây, đây là đới chứa nước dễ khai thác, có trữ lượng nhỏ Tuy vậy cũng dễ bị ô nhiễm bởi hệ thống hầm cầu, bể phốt dày đặc trong thành phố
Chất lượng nước cấp từ nhà máy Biển Hồ lấy từ nguồn nước mặt tự nhiên, hồ có
Trang 21diện tích 250 ha, sâu trung bình 16 m, đây là nguồn tài nguyên nước rất phong phú, được chú ý bảo vệ Nguồn nước còn tốt, đạt chất lượng nước loại A theo TCVN 5942 – 1995 chưa bị ô nhiễm
Chất lượng nước ngầm: Căn cứ vào tiêu chuẩn sử dụng nước cho ăn uống và sinh hoạt TCVN 5944 – 1995 của Bộ Y Tế Nhìn chung nước trong các thành tạo phun trào siêu mafic có thành phần hoá học, hàm lượng các nguyên tố vi lượng, hàm lượng phóng xạ và các chất Nitơ đều dưới hàm lượng cho phép Tuy vậy, về mặt sinh vật đối với các giếng đào và nước ở các điểm lộ hầu hết đều nhiễm bẩn Trong nước có chứa các vi sinh vật hiếu khí, kỵ khí, các vi trùng Ecoli, tổng Coliform vượt quá tiêu chuẩn quy định Năm 1998 Thành phố đã triển khai chương trình dự án nước sạch cho đô thị bằng nguồn vốn ODA Cải tạo dây chuyền công nghệ xử lý nước, mở rộng đường ống cấp nước, với công suất sau khi hoàn thành dự án đạt 38000m3/ngày đêm, cung cấp 85% dân số Thành phố với tiêu chuẩn cấp từ 100 -120 lit/người/ngày đêm
Thoát nuớc và xử lý nước thải đô thị
Hệ thống thoát nước đô thị ở TP Pleiku là hệ thống thoát nước chung cho cả nước mưa và nước thải sinh hoạt, nước thải trong quá trình sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, bệnh viện Trong đó lượng nước thải sinh hoạt chiếm 80 – 90% nước thải đô thị đều chưa được xử lý, hoặc xử lý sơ bộ bắng các hầm tự hoại ở từng hộ gia đình, không đủ tiêu chuẩn vệ sinh là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước mặt ở Thành phố Nguồn nước thải trong sản xuất và nước thải bệnh viện rất nguy hại đối với môi tường và sức khỏe cộng đồng, chúng chứa rất nhiều mầm mống gây bệnh, có khả năng truyền nhiễm cao
Lợi dụng địa hình Tây nguyên có độ dốc lớn nên việc thoát nước thuận lợi, việc xây dựng bổ sung hệ thống cống ngầm và muơng thoát nước ở khu vực trung tâm, chiều dài hệ thống thoát nước đô thị chưa đáp ứng quy hoạch phát triển đô thị, nếu tính bình quân trên đầu người là tỷ lệ vô cùng thấp Hệ thống thoát nước của Thành phố đều chưa có trạm xử lý nước thải tập trung, nước thải sinh hoạt, nước thải trong các cơ
sở sản xuất, dịch vụ, bệnh viện đều thải trực tiếp ra nguồn nước mặt gây ô nhiễm cục
bộ ở từng khu vực
Ở Pleiku có 40% số hộ có hố xí tự hoại, còn lại là hố xí ngầm, xí hai ngăn Đây cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước.Thành phố đang kêu gọi dự án đầu
tư bằng vốn vay hoặc viện trợ ODA nước ngoài để xây dựng hệ thống xử lý nước thải
Cây xanh và hệ thống chiếu sáng đô thị
Hệ thống cây xanh đô thị ở TP Pleiku đang được quan tâm, trồng mới và chăm sóc dọc theo tuyến đường nội thị Ngoài ra được đầu tư chỉnh trang khu rừng thông phía Tây Nam Thành phố, quy hoạch khu lâm viên Biển Hồ, trồng cây quanh hồ 50 ha, xây dựng tôn tạo công viên Lý Tự Trọng, Công viên Diên Hồng, Tỷ lệ cây xanh chiếm 6,8% diện tích nội thị, cảnh quan môi trường được cải thiện rõ rệt
Trang 22Hệ thống chiếu sáng: Thành phố đã chiếu sáng 55 km đường nội thành với 27 tuyến đường và một số đường hẻm với 1152 bộ đèn cao áp
2.2.4 Đô thị hoá và vấn đề môi trường ở Thành phố Pleiku
Thành phố Pleiku có những nét đặc trưng riêng của đô thị trẻ, là nơi tập trung dân
số với mật độ cao Hoạt động chủ yếu là phi nông nghiệp, tỷ lệ hoạt động phi nông lâm nghiệp trong nội thị là 83,4%, trong đó tiểu thủ công nghiệp 17,5%, thương mại, dịch
Mục tiêu phát triển kinh tế của Thành phố là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá Quá trình này kéo theo quá trình đô thị hoá sẽ gây áp lực với môi trường và tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên sẽ bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị
và phục vụ cho ngành công nghiệp, việc mở rộng không gian đô thị sẽ chiếm dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp và các đất khác để phục vụ xây dựng như: hệ thống giao thông, các khu dân cư, các khu dịch vụ, khu công nghiệp và các công trình đô thị khác Diện tích cây xanh, mặt nước khai thác triệt để vào hoạt động du lịch, vui chơi Đây là hoạt động có nhiều lợi ích nhưng tiềm ẩn các tác động tiêu cực đến môi trường
Đô thị hoá làm tăng dân số Thành phố thường gây quá tải đối với hệ thống kỹ thuật
hạ tầng đô thị ( cấp nước, giao thông, điện nước, điện thoại, hệ thống thu gom và xử lý chất thải rắn và lỏng) Dân số tăng nhanh cùng với mức sống được nâng cao bùng phát một xã hội tiêu thụ với sức căng về tâm lý, nhà cửa, phương tiện giao thông, đòi hỏi tiện nghi, sự hợp lý mà còn có nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao Bên cạnh đó Thành phố phải đối mặt với nghèo, đói, dịch bệnh và suy dinh dưỡng Tỷ lệ nghèo đói bệnh tật 4,16%, dịch bệnh và suy dinh dưỡng 14% và tỷ lệ trẻ em bị chết 3,3% Những cố gắng xoá đói giảm ngheo của các cấp chính quyền Thành phố như tạo thêm công việc làm, cung cấp các loại dịch vụ công cộng, cho vay vốn tạo việc làm ngày càng thu hút dân cư vào Thành phố làm giảm các thành quả đạt được
Đô thị hoá, công nghiệp hoá dẫn đến sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công ngiệp, dịch vụ, du lịch tăng trưởng sẽ phát sinh nhiều chất thải trong đó tỷ lệ chất thải nguy hiểm độc hại ngày càng tăng làm suy thoái môi trường đất, nước, không khí Bùng nổ phát triển giao thông bằng các phương tiện cơ giới trở thành nguồn thải chính gây ô nhiễm môi trường không khí
Đô thị hoá, công nghiệp hoá sẽ đưa đến cho Thành phố sự phát triển và tăng cường các ngành kinh tế, nâng cao mức sống của người dân, cung cấp nhiều vận hội mới cho Thành phố Thành phố dần xứng đáng với vai trò trung tâm, vùng động lực
Trang 23Chöông 3 HIỆN TRẠNG VÀ DIỄN BIẾN CHẤT THẢI
RẮN TẠI THÀNH PHỐ PLEIKU ĐẾN NĂM 2015
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt
Lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom trên địa bàn TP.Pleiku theo báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước từng năm, từ năm 2000 đến năm 2005 của công trình đô thị như sau:
Bảng 2: Khối lượng rác thải thu gom
Khối lượng CTR sinh hoạt qua số liệu thống kê trên ta thấy năm 2005 khối lượng
so với năm 2000 tăng 72% tính trung bình mỗi năm tăng 17,9%
Thành phần CTR sinh hoạt ở TP.Pleiku mỗi năm khác nhau Rất khó xác định chính xác các thành phần CTR sinh hoạt ở Thành phố ngay từ nguồn phát xả ra, vì trước khi CTR được thu gom chở đến bãi chôn lấp đã có nhân viên thu gom và “đội quân” thu gom mua, lượm, chọn lựa các thứ có thể sử dụng hay tái sử dụng
Theo số liệu của báo cáo “điều tra đánh giá hiện trạng quản lý các nguồn CTR tại thị xã Pleiku và xây dựng các giải pháp thu gom vận chuyển và xử lý thích hợp với điều kiện địa phương” của sở KHCN và MT tỉnh Gia Lai và Viện kỹ thuật nhiệt đới
và Bảo vệ môi trường (EPC) thực hiện năm 2005
Trang 24Bảng 3: Thành phần CTR tại TP Pleiku năm 2005
1 Giấy, rác vô cơ Sách, báo, tạp chí và các loại giấy khác 15
5 Chất hữu cơ Thức ăn thừa, rau trái, chất hủu cơ khác 60
Ngày 17/10
Ngày 18/10
Ngày 19/10
Ngày 20/10
Trang 25Bảng 5: Thành phần chất thải hữu cơ
15/10
Ngày 16/10
Ngày 17/10
Ngày 18/10
Ngày 19/10
Ngày 20/10
3.1.2 Chất thải rắn nguy hại, y tế
Theo số liệu khảo sát của công ty công trình đô thị, lượng CTNH trên địa bàn thành phố phân bố trong nhiều ngành sản xuất và chiếm 5% trong CTR sinh hoạt Bao gồm các chất như: Bóng đèn huỳnh quang hỏng, pin, ắc quy, Sơn thải chứa kim loại nặng, xăng dầu cặn, các chất tẩy rửa mạnh, các loại thuốc quá hạn sử dụng, phế thải
mỹ phẩm, bình xịt hoá chất, cơ khí, thuốc bảo vệ thực vật, chất thải từ một số nhà máy
xử lý nước thải, rác thải y tế
Chất thải rắn bệnh viện bao gồm CTR sinh hoạt văn phòng và CTR từ quá trình chữa bệnh như: kim tiêm, dây chuyền dịch, chai lọ, ống đựng bao bì, đựng thuốc, đựng hoá chất, bệnh phẩm, thuốc hư hỏng quá hạn sử dụng Trong đó CTR sinh hoạt và văn phòng là chất thải thông thường, còn lại là độc hại
Các nguồn phát sinh
Trên địa bàn TP.Pleiku có các cơ sở khám chữa bệnh như sau:
- Bệnh viện đa khoa tỉnh: Với quy mô 600 giường bệnh
- Bệnh viện quân y 211: quy mô 200 giường bệnh
- Bệnh viện 311: quy mô 100 giường bệnh
- Bệnh viện y học dân tộc: quy mô 50 giường bệnh
- Trung tâm y tế thành phố: quy mô 50 giường bệnh
- Trạm xá tỉnh: quy mô 20 giường bệnh
- Trạm xá công an tỉnh: quy mô 20 giường bệnh
- Trạm xá bộ đội biên phòng quy mô 20 giường bệnh
- Trạm xá ở các phường xã: gồm 10 phường, 9 xã: quy mô 40 giường bệnh
- Các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân : khoảng 20 giường
Trang 26 Khối lượng CTR y tế
Theo số liệu điều tra của công ty môi trường đô thị năm tháng 11 năm 2005 khối
lượng CTR bệnh viện tại các cơ sở khám chữa bệnh phát xả ra có khối lượng như sau:
Bảng 6: Khối lượng CTR bệnh viện ở TP Pleiku
Tổng lượng CTR bệnh viện ở khu vực TP Pleiku khoảng 9,7m3/ngày, trong đó
khoảng 15% là chất thải độc hại, thành phần CTR độc hại gồm 10% là bệnh phẩm còn
lại là kim tiêm, chai lọ, ống, bao bì đựng thuốc, hoá chất hư hỏng, quá hạn sử dụng
Hiện nay do TP Pleiku chưa có đầy đủ cơ sở vật chất, hạ tầng để đáp ứng cho việc
thực hiện thu gom, vận chuyển và xử lý, tiêu huỷ chất thải nguy hại như chưa có công
ty có chức năng thu gom, xử lý CTNH, chưa có bãi chôn lấp hợp vệ sinh, do đó tình
hình thu gom và xử lý rác thải nguy hại ở Pleiku trong thời gian qua mang tính cục bộ
, tự phát của từng đơn vị Biện pháp quản lý hiện tại chủ yếu là yêu cầu các doanh
nghiệp có phát sinh CTNH phải lưu trữ tại đơn vị mình chờ khi có khu xử lý CTNH sẽ
thiêu huỷ Tuy nhiên giải pháp này cũng chỉ mang tính đối phó và đạt hiệu quả thấp vì
nhận thức về CTNH của các doanh nghiệp còn kém, kho bãi lưu chứa chật hẹp
Chất thải nguy hại hầu như không được phân loại mà xử lý chung với chất thải
khác, không tuân thủ theo quy chế quản lý CTNH (Quyết định số 155/QĐ – TTg ngày
Trang 2716/07/1999 của thủ tướng chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý CTNH) Đây là một trong những vấn đề môi trường quan trọng của TP Pleiku, chất thải này sẽ thực sự nguy hại khi công ty thu gom chất thải đổ bỏ một cách bừa bãi chất độc hại ra môi trường
3.1.3 Chất thải rắn công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Đối với CTR công nghiệp hiện tại trên địa bàn thành phố chưa có đơn vị tổ chức nào được giao trách nhiệm thu gom, vận chuyển, xử lý Do đó có thể nói vấn đề CTR công nghiệp đang là một trong những áp lực đối với môi trường Hiện tại CTR công nghiệp từ các khu công nghiệp do đặc thù được giới hạn trong hàng rào nên việc thu gom còn được kiểm soát bằng cách cho phép một số đơn vị, hợp tác xã tư nhân hợp đồng dịch vụ thu gom tận dụng phế thải và đổ rác tại bãi rác Riêng vấn đề CTR công nghiệp từ các doanh nghiệp không nằm trong khu công nghiệp thì việc thu gom và xử
lý hết sức tuỳ tiện
Số lượng và thành phần CTR công nghiệp phụ thuộc vào quy mô ngành nghề và tính chất sản xuất của nhà máy, xí ngiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp Ở TP Pleiku chưa tiến hành kiểm kê đăng ký đầy đủ chất thải công nghiệp Qua số liệu khảo sát của công ty môi trường đô thị tình hình CTR công nghiệp ở khu vực Pleiku được đánh giá bằng chủ quan, do vậy số liệu chỉ có giá trị gần đúng
Các nguồn phát xả
- Ngành chế biến gỗ và gia công hàng mộc dân dụng và xuất khẩu
- Ngành chế biến nông sản, xay xát cà phê, xay lúa mì khoảng
- Ngành sản xuất, sửa chữa gia công cơ khí
- Ngành sản xuất vật liệu xây dựng
- Ngành sản xuất phân hữu cơ vi sinh
Khối lượng CTR công nghiệp
Tổng khối lượng CTR công nghiệp ở TP Pleiku theo số liệu gần đúng sau 9000 – 10.000 tấn/năm
Trang 28Bảng 7: Khối lượng CTR công nghiệp tại TP Pleiku năm 2005
STT Nguồn phát xả Khối lượng CTR
công nghiệp (tấn)
1 Chế biến gỗ, sản xuất hàng mộc 5000
2 Chế biến nông sản 4000
4 Sản xuất vật liệu xây dựng 100
Tổng cộng 9160
Thành phần CTR công nghiệp
Bảng 8: Thành phần CTR công nghiệp (% theo trọng lượng) năm 2005
6 Cao su, nhựa, bình ắc quy hỏng,
linh kiện điện tử, nilon
0,1
Tổng cộng 100 Ước tính mỗi năm CTR công nghiệp sẽ tăng lên khoảng 10%
Trang 293.2 DỰ BÁO DIỄN BIẾN CHẤT THẢI RẮN Ở TP PLEIKU ĐẾN NĂM 2015
3.2.1 Dự báo sự biến đổi về thành phần chất thải rắn
Căn cứ vào định hướng phát triển của TP Pleiku đến năm 2010
Về kinh tế: Nền kinh tế tăng trưởng bình quân từ 11 – 12,5% Cơ cấu kinh tế là công nghiệp – xây dựng 38 – 40%, thương mại dịch vụ 56 – 58%, nông nghiệp 6%, lâm nghiệp 2% GBP bình quân đầu người 1.130 - 1.160 USD người/năm
Về phát triển xã hội: Tỷ lệ tăng dân số (kể cả di dân) là 2,84% Quy mô dân số
170 – 300 nghìn người, giảm tỷ lệ thất nghiệp còn 3 – 4 %
Về môi trường: Giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ các khu dân cư, khu công nghiệp bằng cách nâng cấp, xây dựng một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, xây dựng xong bãi xử lý để tái sử dụng và chôn lấp chất thải rắn đô thị, phát triển cây xanh, xây dựng nếp sống thân thiện với môi trường Xây dựng tiêu chuẩn chất thải rắn
đô thị
Từ đó cho thấy tỉnh Gia Lai nay đã và đang tiến hành thúc đẩy sự phát triển kinh
tế trong tỉnh, nâng cao đời sống nhân dân với các chỉ tiêu mang tính định hướng về sản xuất công nghiệp, mạng lưới y tế chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, phát triển dịch vụ và thương mại và quan trọng nhất là định hướng phát triển dân số và kế hoạch hoá gia đình Với định hướng như vậy nhất định trong thời gian tới đời sống của nhân dân tỉnh Gia Lai cả về đời sống vật chất và tinh thần sẽ tăng cao, cũng nhanh chóng thúc đẩy chất lượng cuộc sống của người lao động
Khi đời sống của người dân tăng cao, tình hình sản xuất tập trung theo dạng trang trại, các loại hình sản xuất tiểu thủ công nghiệp giảm và thay vào sản xuất công nghiệp tập trung Hình thức sinh hoạt của người lao động cũng đổi khác, các bữa ăn công nghiệp sẽ được sử dụng nhiều hơn nên chất thải sinh hoạt cũng khác hơn Thành phần CTR như: giấy gói, giấy, plactic, carton tăng lên Các loại lon đựng, đồ hộp cũng tăng làm đa dạng thêm thành phần CTR sinh hoạt
Do công nghiệp hoá nên hình thức lao động sản xuất cũng khác đi, các thực phẩm
dư thừa trước đây được tận dụng đưa vào dùng cho chăn nuôi, thì nay trở thành CTR sinh hoạt làm gia tăng thành phần chất hữu cơ thải bỏ
Khi nền kinh tế tỉnh đã phát triển theo đúng mục tiêu đề ra, đời sống nhân dân đã tăng cao, đã ình thành nhiều khu công nghiệp, sản xuất tập trung, các khu đô thị đã được quy hoạch ổn định thì sẽ xảy ra hiện tượng: tốc độ xây dựng tại các vùng nông thôn sẽ tăng lên CTR xây dựng (xà bần) sành sứ tăng Ngược lại do đã phát triển ổn định nên tốc độ xây dựng tại các khu đô thị lớn, tập trung chậm lại dẫn tới là CTR từ xây dựng giảm làm thay đổi thành phần CTR sinh hoạt sinh ra
Khi đời sống tăng cao, dân cư trong tỉnh sẽ hưởng các thành quả từ sự phát triển công nghiệp, tức là việc sử dụng các sản phẩm công ngiệp cũng tăng như hoá
Trang 30chất các sản phẩm công nghiệp mà sau khi thải bỏ nó sẽ trở thành CTNH Như vậy sẽ gián tiếp làm tăng CTNH
Từ những phân tích trên ta có thể đi đến kết luận về dự báo sự biến đổi thành phần, CTR sinh hoạt sinh ra trên địa bàn như sau:
- Khối lượng CTR sinh hoạt ngày càng tăng
- Thành phần rác hữu cơ trong CTR sinh hoạt có xu hướng tăng cùng với sự phát triển kinh tế
- Thành phần chất thải như: Giấy, carton, plactic tăng
- Các CTNH có mặt trong CTR sinh hoạt như cao su, hoá chất tăng
- Các loại CTR là xà bần, sành xứ sinh ra từ quá trình xây dựng tăng ở các vùng nông thôn, và giảm ở khu vực đô thị, khu công nghiệp tập trung
3.2.2 Dự báo diễn biến chất thải rắn sinh hoạt
Dân số tính toán ở khu vực này là 215.971 người (năm 2004) với tốc độ gia tăng bình quân giai đoạn 2000 – 2005 là 2,6%/năm
Theo số liệu thống kê số lượng rác phát sinh trên địa bàn TP.Pleiku hiện nay khoảng 107,087 tấn/ngày, với tỷ trọng 0,42 tấn/m3, khoảng 254,97 m3/ngày Nếu chia đều cho số dân cư trên địa bàn thì hệ số phát thải sinh hoạt bình quân đầu người là 0.5 kg/người/ngày tương đối phù hợp
Như vậy, có thể lấy hệ số phát thải là 0,5 kg/người/ngày để làm mốc tính toán tốc
độ gia tăng mức phát thải rác sinh hoạt chung cho khu vực đô thị
Có nhiều phương pháp dự báo sự biến đổi CTR, trong phạm vi đề tài này có thể sử dụng phương pháp dựa vào dân số:
Trang 31Bảng 9: Dự báo diễn biến chất thải rắn sinh hoạt
Năm Dân số
(Nt)
Tốc độ thải (α)
Lượng rác thải (M)
Mức độ thu gom dự kiến
Lượng rác được thu
gom (Người) (kg/ng/ng) (Tấn/ngày) (%) Tấn/ngày Tấn/năm
107,087 119,66 131,86 144,62 157,95 171,88 186,43 201,61 217,46 234,91 251,25 269,24
23.648,8228.289,7 33.690,5539.589,7146.122,3 53.326,2357.839,1262.550,6371.436,6576.869,2782.536,3 88.445,79
3.2.3 Dự báo diễn biến chất thải rắn y tế
Để tính toán dựa trên các hệ số phát sinh CTNH và CTR sinh hoạt trên mỗi giường bệnh Như ta đã biết trong quá trình chữa bệnh thì ngoài các chất thải y tế như băng, bông, bệnh phẩm còn sinh ra một lượng rác thải sinh hoạt của chính bệnh nhân và người thăm nuôi Căn cứ theo những số liệu tại nhiều bệnh viện và trung tâm y tế tại các tỉnh và thành phố khác cho thấy mỗi giường bệnh hàng ngày thải ra một lượng CTR:
- Chất thải y tế nguy hại 0,25 kg/giường bệnh
- Chất thải sinh hoạt 0,3 kg/giường bệnh
Căn cứ vào số liệu năm 2001 tổng giường bệnh là 1020 giường Đến năm 2006 số giường bệnh tăng 1120 giường Như vậy trong khoảng 6 năm thì số giường bệnh tăng
100 giường Giả sử số giường tăng là tuyến tính nghĩa là tăng đều trong sáu năm Như vậy bình quân mỗi năm tăng 17 giường Như vậy ta có thể tính được khối lượng CTR
y tế sinh ra
Trang 32Rác sinh hoạt kg/giường.ngày kg/giường.ngày kg/năm kg/năm
TP Pleiku là một thành phố trẻ, mức đô thị hoá, công nghiệp hoá chưa cao nên môi trường nói chung, môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất nói riêng còn tốt Tuy nhiên các yếu tố môi trường này ở một số điểm như: bãi chôn lấp rác, bãi chứa và trung chuyển chất thải ở các nhà máy và xí nghiệp, các cơ sở chế biến, chợ ở các phường và bệnh xá, cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, các khu dân cư nằm trong các hẻm, các đường giao thông chật hẹp, các khu dân cư ở các xã vùng ven, các khu nhà ở
có biểu hiện bị ô nhiễm Nhất là các điểm nhạy cảm, bãi chôn lấp, các ô chứa chất thải, nhà máy sản xuất xi măng, cơ sở sản xuất phân vi sinh, các bệnh viện trạm xá, cơ sở chữa bệnh chưa đăng ký thu gom chất thải, tự giải quyết chôn lấp
Lượng CTR nếu không được quản lý thu gom và xử lý tốt sẽ dẫn đến hậu quả tiêu cực đến môi trường thành phố Là nguồn tiềm tàng gây nên các dịch bệnh, ô nhiễm nguồn nước mặt do nước thải các lưu vực chứa CTR công nghiệp, ô nhiễm CTR công nghiệp Ô chôn lấp chất thải trong thành phố, do đổ các loại chất thải, dầu cặn, cơ sở
Trang 33sửa chữa, gia công cơ khí, chế biến thực phẩm Ô nhiễm không khí do nhà máy điện (đốt dầu nặng), nhà máy xi măng bụi và khói, các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng sửa chữa, gia công cơ khí, sản xuất phân bón gây ô nhiễm chủ yếu các loại khí CO2, SO3,
CL2 hơi kim loại và các loaị khí độc khác Ô nhiễm các khu vực khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng
Do thành phố chưa quản lý chặt chẽ CTR công nghiệp, CTR y tế, không có kho đủ tiêu chuẩn để giữ các chất độc hại trước khi xử lý, không có cơ sở quản lý chất thải độc hại Phần lớn các chất nguy hại này thuần tuý chỉ được thu gom, chôn lấp lẫn lộn với CTR sinh hoạt hay thậm chí đổ bỏ hoặc chôn lấp ngay tại các cơ sở gây mối nguy hại đến môi trường đất và nước Tuy khối lượng chất thải này không nhiều song mức ô nhiễm cực kỳ lớn và dễ xảy ra hậu quả nghiêm trọng
Giải quyết vấn đề CTR đặc biệt đối với CTR công nghiệp và chất thải nguy hại, trong nhiều trường hợp được coi là quá khả năng của từng địa phương mà đòi hỏi phải
có sự hợp tác giữa các địa phương trong phạm vi vùng lãnh thổ nào đó
Trang 34Chöông 4 HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT
THẢI RẮN THÀNH PHỐ PLEIKU
4.1.1 Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải rắn
Hệ thống quản lý CTR bao gồm các khâu chức năng:
- Thu gom
- Phân loại sơ bộ
- Trung chuyển và vận chuyển
- Xử lý chôn lấp
Hình 1: Sơ đồ quản lý chất thải rắn
Nguồn phát sinh chất thải
CTR
sinh
hoạt
CTR độc hại
CTR công nghiệp
CTR nông nghiệp
Điểm trung
chuyển
Thu gom, tận dụng chất thải có thể tái
sử dụng tại bãi
Thu gom phế liệu
Thu gom của đội vệ sinh môi trường
Xử lý chôn lấp
Trang 354.1.2 Hệ thống quản lý chất thải rắn Thành phố Pleiku
Sự phát triển không ngừng của Gia Lai cũng như của TP Pleiku, đã sản sinh một lượng CTR rất lớn, rất nhiều chủng loại, bao gồm cả CTNH Việc quản lý, thu gom và
xử lý ngày càng là một vấn đề khó giải quyết, cần có sự đầu tư trong thời gian tới
Hệ thống quy trình, quy phạm: cho đến nay dù có rất nhiều quy định về giữ gìn
vệ sinh đô thị nhưng các văn bản này hầu hết đều mang tính đối phó, thiếu sự liên kết nên đôi khi còn mâu thuẫn lẫn nhau Cần phải được xác định lại những nội dung ở các văn bản này và biên soạn thống nhất, bổ sung cập nhật lại thành hệ thống văn bản quy trình, quy phạm chính thức theo hướng phát triển (Phân cấp, xã hội hoá) để áp dụng trong giai đoạn mới
Hệ thống quản lý hành chính: trên cùng là UBND TP Pleiku, Sở tài nguyên môi trường, Công ty môi trường đô thị, các đội vệ sinh thu gom tư nhân, hợp tác xã vận chuyển Ở đây có sự trực thuộc khác nhau trong trực tuyến chỉ huy giữa các đơn vị vì
hệ thống tiêu chuẩn chưa cụ thể để có thể thống nhất được trong công tác quản lý dẫn đến chất lượng công tác khác nhau và gây nhiều tranh cãi trong hoạt động Mặc dù đã
có quy chế quản bộ phận thu gom tư nhân nhưng việc áp dụng thực thi còn kém, không cuỡng chế nên ít hiệu quả
Hệ thống tài chính: Hiện nay hệ thống này chủ yếu dựa vào ngân sách của tỉnh
Hệ thống công nghệ: Tuy đã xác lập được các công nghệ cần áp dụng nhưng việc triển khai vào thực tế đã vấp phải nhiều vấn đề do thiếu kiến thức và đồng bộ trong quản lý chuyên ngành Do đó cần xác lập và ban hành các quy trình, quy phạm cụ thể cho từng công nghệ như tái sử dụng, tái chế, sản xuất sản phẩm cho các ngành khác nhau, đốt, chôn lấp Xu hướng triển khai các công trình theo hướng giảm thiểu các nguồn CTR tối đa, phù hợp với thực tế của Thành phố, theo hướng từ việc sử dụng bãi chôn lấp đến việc tận dụng tối đa nguồn thải nhằm tiến tới loại bãi chôn lấp CTR
Hệ thống cơ sở hạ tầng: Hiện nay cơ sở hạ tầng cho lĩnh vực này còn thiếu nhiều
và chưa đủ tiêu chuẩn, do đó cần phải có kế hoạch xây dựng trong tương lai để làm nền tảng cho hệ thống quản lý CTR Trọng tâm là những cơ sở trung chuyển và xử lý nói chung