Các nhà trọng thương cho rằng chỉ có vàng bạc là thước đo thể hiện sự giàu có của một quốc gia và do vậy mỗi nước muốnđạt được sự thịnh vượng phải làm sao gia tăng được khối lượng vàng b
Trang 1Báo cáo đề tài
Môn Kinh tế quốc tế
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 4
MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
1 Nguyễn Mạnh Thắng 552720 K55KTNNA Tìm kiếm tài liệu + tổng hợp
2 Lưu Minh Tuấn 551591 K55KTB Tìm kiếm tài liệu, số liệu
3 Ngô Thị Lan Anh 552630 K55KTNNA Tìm kiếm tài liệu, số liệu
4 Ngô Văn Diện 552642 K55KTNNA Tìm kiếm tài liệu, số liệu
5 Lê Viết Hiến 552661 K55KTNNA Tìm kiếm tài liệu, số liệu
6 Lương Thị Linh Hương 563042 K56QLKT Tìm kiếm tài liệu, số liệu
7 Lương Thị Hiền 565119 K56QTKDA Tìm kiếm tài liệu, số liệu
8 Nguyễn Bảo Long 563056 K56QLKT
9
10
Trang 3MỤC LỤC
Lời mở đầu………
Chương 1: Cơ sở lý thuyết của hoạt động thương mại quốc tế( TMQT )………
I Khái niệm thương mại quốc tế………
II Các cơ sở lý thuyết………
II.1 Tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương………
II.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith………
II.3 Lý thuyết lợi thế tương đối (lợi thế so sánh)………
II.4 Phát triển lý thuyết lợi thế tương đối-Mô hình Hechscher-Ohlin…………
III.Vai trò của thương mại quốc tế………
Chương 2: Một vài nét về liên minh Châu Âu(EU)………
1.1. Sự hình thành và phát triển của liên minh Châu Âu………
1.2 Chiến lược của liên minh Châu Âu đối với Châu Á………
Chương 3: Thực trạng thương mại việt nam - EU trong lĩnh vực dệt may……
1 Khái quát về ngành dệt may Việt Nam………
1.1 Giai đoạn trước năm 1986………
1.2 Giai đoạn 1986 – 2002………
1.2.1 Tình hình kinh tế trong nước………
1.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh chung của ngành dệt may……
1.2.2.1 Cơ cấu tổ chức của VINATEX………
1.2.2.2 Sản xuất kinh doanh………
2 Một số đánh giá về thực trạng thương mại dệt may Việt Nam-EU…………
2.1 Sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU……
2.1.1 Một số đặc điểm về thị trường hàng dệt may EU………
Trang 42.1.1.1 Dung lượng thị trường lớn………
2.1.1.2 Tập quán và thị hiếu của người tiêu dùng hàng dệt may EU………
2.1.1.3 Kênh phân phối………
2.1.1.4 Những quy định của EU đối với hàng dệt may nhập khẩu………
2.1.2 Tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU………
2.1.2.1 Vị trí của xuất khẩu hàng dệt may trong nền kinh tế Việt Nam…………
2.1.2.2 Một số thoả thuận giữa Việt Nam và EU về hàng dệt may………
2.1.2.3 EU là “thị trường vàng” cho xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam… 2.2 Nhu cầu tiêu thụ………
2.3 Thực trạng xuất khẩu dệt may Việt Nam sang EU thời gian qua………
2.3.1 Kim ngạch xuất khẩu………
2.3.2 Cơ cấu mặt hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang EU………
2.3.3 Thực trạng thương mại Việt nam – EU trong dệt may………
Chương 4: Các giải pháp thúc đẩy thương mại Việt Nam – EU trong lĩnh vực dệt – may………
4.1 Định hướng của ngành dệt may Việt Nam………
4.2 Định hướng thương mại dệt may Việt Nam- EU………
4.3 Các giải pháp nhằm thúc đẩy hợp tác thương mại Việt Nam-EU trong lĩnh vực dệt may………
4.3.1.Tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại………
4.3.2 Cải cách hệ thống để đẩy mạnh xuất khẩu………
4.3.3 Đẩy mạnh phát triển nguyên liệu trong nước………
4.3.4 Nghiên cứu triển khai và đào tạo nhân lực………
4.3.5 Đẩy mạnh phương thức mua nguyên liệu, bán thành phẩm………
Kết luận………
Tài liệu tham khảo………
Trang 5Lời mở đầu
Thập niên cuối của thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều thay đổi lớn lao trên thế giới.Những tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học công nghệ càng thúc đẩy quá trìnhtoàn cầu hoá, khu vực hoá trên thế giới diễn ra mạnh mẽ hơn xu thế hoà bình hợp tácpháp triển đang ngày càng trở thành xu thế chủ yếu chi phối quan hệ ngoại giao các nước.Trong thế giới ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau nhu cầu về phát triển, giao lưu kinh tế, vănhoá nhằm tăng cường sự hiểu biết để hợp tác vì lợi ích dân tộc đang trở nên cấp thiết Vớimột môi trường quốc tế thuận lợi như vậy, Quan hệ Việt Nam – EU đã có đIều kiệnchuyển sang một giai đoạn mới đầy triển vọng cả Việt Nam và EU đều có chung lơị íchtrong việc mở rộng và tăng cường quan hệ hữu nghị trên các lĩnh vực
EU là một trung tâm chính trị và kinh tế, đóng vai trò quan trọng không chỉ ở Châu Âu,
mà còn cả trên toàn thế giới EU có trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, có nguồn dự trữngoại tệ mạnh và là nguồn viện trợ lớn cho Việt Nam EU có điều kiện để đáp ứng cácyêu cầu phát triển kinh tế của Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới
Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá đa dạng hoá các quan hệ quốc
tế, phá thế bao vây cấm vận, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc phát triểnkinh tế xã hội và bảo vệ đất nước Góp phần bảo đảm hoà bình, ổn định , an ninh và pháptriển trong khu vực cũng như trên thế giới
Vì vậy chúng tôi đưa ra đề tài này “ Hợp tác thương mại Việt Nam – Liên minh Châu
Âu trong lĩnh vực dệt may trước và sau năm 1986”
Để đạt mục đích trên đây , bố cục đề tài gồm 4 phần :
Chương 1 : Cơ sở lý thuyết của hoạt động thương mại quốc tế( TMQT )
Chương 2 : Một vài nét về liên minh Châu Âu ( EU )
Chương 3 : Thực trạng thương mại Việt Nam – EU trong lĩng vực dệt may
Chương 4 : Các giải pháp thúc đẩy thương mại Việt Nam – EU trong lĩnh vực dệt may
Trang 6Chương 1
Cơ sở lý thuyết của hoạt động thương mại quốc tế( TMQT )
IV Khái niệm thương mại quốc tế
Hiện nay khi quá trình phân công lao động Quốc tế đang diễn ra hết sức sâu sắc thìthương mại Quốc tế trở thành một qui luật tất yếu khác quan và được xem như là mộtđiều kiện tiền đề cho sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia Thực tế cho thấy, không mộtquốc gia nào có thể tồn tại chứ chưa nói gì đến phát triển nếu tự cô lập mình không quan
hệ với kinh tế thế giới Thương mại quốc tế trở thành vấn đề sống còn vì nó cho phépthay đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao khả năng tiêu dùng của dân cư một quốc gia
Thương mại quốc tế là hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia vớinhau Hoạt động đó là hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫnnhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hóa riêng biệt giữa các quốc gia
V Các cơ sở lý thuyết
II.1 Tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương
Tư tưởng trọng thương xuất hiện và phát triển ở Châu Âu từ giữa thế kỷ XV, XVI, thịnhhành suốt thế kỷ XVII, tồn tại đến giữa thế kỷ XVIII Các nhà trọng thương cho rằng chỉ
có vàng bạc là thước đo thể hiện sự giàu có của một quốc gia và do vậy mỗi nước muốnđạt được sự thịnh vượng phải làm sao gia tăng được khối lượng vàng bạc tích trữ thôngqua việc phát triển ngoại thương và mỗi quốc gia chỉ có thể thu được lợi ích từ ngoạithương nếu giá trị của xuất khẩu lớn hơn giá trị của nhập khẩu Được lợi là vì thặng dưcủa xuất khẩu so với nhập khẩu được thanh toán bằng vàng, bạc, mà chính nó biểu hiệncủa sự giàu có Đối với một quốc gia không có mỏ vàng hay mỏ bạc chỉ còn cách duynhất là trông cậy vào phát triển ngoại thương Như vậy xuất khẩu là có lợi và nhập khẩu
là có hại cho lợi ích quốc gia Các nhà trọng thương cho rằng chính phủ phải tham giatrực tiếp vào việc trao đổi hàng hoá giữa các nước để đạt được sự gia tăng của cải củamỗi nước Việc trực tiếp tham gia này theo hai cách: trực tiếp tổ chức xuất khẩu và đề racác biện pháp khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu Từ đó đi tới chính sách là phảităng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
Đến giai đoạn cuối, trường phái trọng thương có thay đổi và cho rằng có thể tăng cường
mở rộng nhập khẩu nếu như qua đó thúc đẩy xuất khẩu nhiều hơn nữa Mặc dù có nội
Trang 7dung rất sơ khai và còn chứa đựng nhiều yếu tố đơn giản, phiến diện về bản chất của hoạtđộng ngoại thương, song đó là tư tưởng đầu tiên của các nhà kinh tế học tư sản cổ điểnnghiên cứu về hiện tượng và lợi ích của ngoại thương Lý luận của trường phái trọngthương là một bước tiến đáng kể trong tư tưởng về kinh tế học ý nghĩa tích cực của tưtưởng này đối lập với tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ là coi trọng kinh tế tự cấp, tự túc.Ngoài ra nó đã đánh giá được tầm quan trọng của xuất khẩu và vai trò của chính phủtrong việc thúc đẩy xuất khẩu, điều tiết hoạt động XNK để đạt cán cân thương mại thặng
dư thông qua các công cụ thuế quan, bảo hộ mậu dịch trong nước
Những tư tưởng này đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng hoạt động thương mạiquốc tế và làm cơ sở lý luận hình thành chính sách thương mại quốc tế của nhiều quốcgia
II.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Năm 1776, trong tác phẩm "Của cải của các dân tộc", A.Smith đã phê phán quan niệmcoi vàng đồng nghĩa với của cải Ông xuất phát từ một chân lý đơn giản là trong thươngmại quốc tế các bên tham gia đều phải có lợi vì nếu chỉ có quốc gia này có lợi mà quốcgia gia khác lại bị thiệt thì quan hệ thương mại giữa họ với nhau sẽ không tồn tại Từ đóông đưa ra lý thuyết cho rằng thương mại giữa hai nước với nhau là xuất phát từ lợi íchcủa cả hai bên dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của từng nước
Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trưởng là do sự tự do trao đổi giữacác quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những ngành sản xuất có lợi thếtuyệt đối Một hàng hoá được coi là có lợi thế tuyệt đối khi chi phí sản xuất tính theo giờcông lao động quy chuẩn để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá đó phải thấp hơn nước khác
Do vậy các quốc gia, các công ty có thể đạt được lợi ích lớn hơn thông qua sự phân cônglao động quốc tế nếu quốc gia đó biết tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu nhữnghàng hoá có lợi thế tuyệt đối, đồng thời biết tiến hành nhập khẩu những hàng hoá kém lợithế tuyệt đối Như vậy điều then chốt trong lập luận về lợi thế tuyệt đối là sự so sánh chiphí sản xuất của từng mặt hàng giữa các quốc gia
A.smith và những nhà kinh tế học cổ điển theo trường phái của ông đều tin tưởng rằng,tất cả mọi quốc gia đều có lợi ích từ ngoại thương và đã ủng hộ mạnh mẽ tự do kinhdoanh, hạn chế tối đa sự can thiệp của chính phủ vào hoạt động kinh doanh nói chung,trong đó có XNK Ông cho rằng ngoại thương tự do là nguyên nhân làm cho nguồn tàinguyên của thế giới được sử dụng một cách có hiệu quả nhất và phúc lợi quốc tế nóichung sẽ đạt được ở mức tối đa Cũng theo học thuyết của A.Smith, lợi thế tuyệt đối đượcquyết định bởi các điều kiện tự nhiên về địa lý, khí hậu và kỹ năng tay nghề chỉ nước đómới có mà thôi, về tay nghề là nguyên nhân của mậu dịch quốc tế và quyết định cơ cấucủa mậu dịch quốc tế Tuy vậy khác với tư tưởng trọng thương đã tuyệt đối hoá quá mứcvai trò của ngoại thương, Adam Smith cho rằng ngoại thương có vai trò rất lơn nhưngkhông phải là nguồn gốc duy nhất của sự giàu có Sự giàu có là do công nghiệp, tức là dohoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lưu thông Theo ông, hoạt động
Trang 8kinh tế (bao gồm cả hoạt động sản xuất và lưu thông) phải được tiến hành một cách tự do,
do quan hệ cung cầu và biến động giá cả thị trường quy định Sản xuất cái gì? sản xuấtnhư thế nào? sản xuất cho ai? Đó là những câu hỏi cần được giải quyết ở thị trường
II.3 Lý thuyết lợi thế tương đối (lợi thế so sánh)
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối trên đây của Adam Smith cho thấy một nước có lợi thế tuyệtđối so với nước khác về một loại hàng hoá, nước đó sẽ thu được lợi ích từ ngoại thương,nếu chuyên môn hoá sản xuất theo lợi thế tuyệt đối Tuy nhiên chỉ dựa vào lý thuyết lợithế tuyệt ối thì không giải thích được vì sao một nước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn so vớinước khác, hoặc mọt nước không có mọt lợi thế tuyệt đối nào vẫn có thể tham gia và thulợi trong quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế để phát triển mạnh các hoạtđộng thương mại quốc tế Để khắc phục những hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối vàcũng để trả lời cho câu hỏi trên, năm 1817, trong tấc phẩm nổi tiếng của mình "Nhữngnguyên lý của kinh tế chính trị", nhà kinh tế học cổ điển người Anh David Ricardo đãđưa ra lý thuyết lợi thế so sánh nhằm giải thích tổng quát, chính xác hơn về sự xuất hiệnlợi ích trong thương mại quốc tế
Cơ sở của lý thyết này chính là luận điểm của D.Ricardo về sự khác biệt giữa các nướckhông chỉ về điều kiện tự nhiên và tay nghề mà còn về điều kiện sản xuất nói chung.Điều đó có nghĩa là về nguyên tắc, bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tìm thấy sự khác biệtnày và chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm nhất định dù có hay không lợi thế về tựnhiên, khí hậu, tay nghề D.Ricardo cho rằng, trên thực tế lợi thế tuyệt đối cuả mỗi quốcgia không có nhiều, hơn nữa thực tế cho thấy là phần lớn các quốc gia tiến hành buôn bánvới nhau không chỉ ở những mặt hàng có lợi thế tuỵệt đối mà còn đối với cả những mặthàng dựa trên lợi thế tương đối Theo ông mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phâncông lao động quốc tế trên cơ sở khai thác lợi thế tương đối, ngoại thương cho phép mởrộng khả năng tiêu dùng của một nước Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sảnxuất một số loại sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu của các nướckhác thông qua con đường thương mại quốc tế vì mỗi nước đó đều có lợi thế so sánh nhấtđịnh về một số mặt hàng
Liên quan đến lợi thế so sánh có một khái niệm rất cơ bản trong kinh tế học đã đượcD.Ricardo đề cập đến đó là chi phí cơ hội Nó là chi phí bỏ ra để sử dụng cho một mụcđích nào đó
Như vậy có thể kết luận rằng, một trong những điểm cốt yếu nhất của lợi thế so sánh lànhững lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất, mặt khác thương mại quốc tế phụ thuộc vàolợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối Lợi thế so sánh là điều kiện cần và đủđối với lợi ích của thương mại quốc tế Lợi thế tuyệt đối của A.Smith là một trường hợpđặc biệt của lợi thế so sánh Về cơ bản, lý thuyết của D.Ricardo không có gì khác với
Trang 9A.smith, nghĩa là ông ủng hộ tự do hoá XNK, khuyến cáo các chính phủ tích cực thúcđẩy, khuyến khích tự do hoá thương mại quốc tế.
II.4 Phát triển lý thuyết lợi thế tương đối-Mô hình Hechscher-Ohlin
Lý thuyết lợi thế tương đối của D.Ricardo sang đầu thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giớilần thứ nhất đã thể hiện những hạn chế của nó Lợi thế do đâu mà có? Vì sao các nướckhác nhau lại có phí cơ hội khác nhau? Lý thuyết lợi thế tương đối của D.Ricardo đãkhông giải thích được những vấn đề trên Để khắc phục những hạn chế này, hai nhà kinh
tế học Thuỵ Điển: Eli Hecksher (1879-1852) và B.Ohlin(1899-1979) trong tác phẩm:
“Thương mại liên khu vực và quốc tế”, xuất bản năm 1933 đã phát triển lý thuyết lợi thếtương đối của D.Ricardo thêm một bước bằng việc đưa ra mô hình H-O(tên viết tắt củahai ông) để trình bày lý thuyết ưu đãi về các nguồn lực sản xuất vốn có(hay lý thuyết H-O) Lý thuyết này đã giải thích hiện tượng TMQT là do trong một nền kinh tế mở cửa,mỗi nước đều hướng tới chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiềuyếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất Nói cách khác, theo lý thuyết H-O, một
số nước có lợi thế so sánh hơn trong việc xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình
là do việc sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó đẫ sử dụng được những yếu tố sản xuất
mà nước đó được ưu đãi hơn so với nước khác Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiêncủa các yếu tố sản xuất này (bao gồm: vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu ) đãkhiến cho một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩmhàng hoá khác) trong sản xuất những sản phẩm nhất định
Như vậy cơ sở lý luận của lý thuyết H-O vẫn chính là dựa vào lý thuyết lợi thế so sánhcủa Ricardo nhưng ở trình độ cao hơn là đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánhchính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất (các nguồn lực sản xuất ) Và do vậy, lý thuyếtH-O còn được gọi là “lý thuyết lợi thế so sánh các nguồn lực sản xuất vốn có” Thuyếtnày đã kế thừa và phát triển một cách logic các yếu tố khoa học trong lý thuyết lợi thế sosánh của Ricardo và các lý thuyết cổ điển trước đó về TMQT
Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trước thực tiễn phát triển phức tạp của TMQTngày nay, song quy luật H-O vẫn là quy luật chi phối động thái phát triển của TMQT vàđược nhiều quốc gia vận dụng trong hoạch định chính sách TMQT Sự lựa chọn các sảnphẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có theothuyết H-O sẽ là điều kiện cần thiết để các nước đang phát triển có thể nhanh chóng hộinhập vào sự phân công lao động và hợp tác TMQT, và trên cơ sở lợi ích thương mại thuđược sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những nước này
VI Vai trò của thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế giúp những nước đang phát triển có thể xuất khẩu những mặt hàngthế mạnh của mình, từ đó có được lợi nhuận để nhập khẩu những mặt hàng cần thiết hoặc
để tái đầu tư TMQT còn mở rộng phạm vi trao đổi hàng hóa cho các nước đó, giúp giảm
Trang 10bớt rủi ro khi nền kinh tế của một số đối tác thương mại lớn bị suy yếu Ngoài việc giaothương, TMQT còn giúp các nước đang phát triển có cơ hội tiếp thu những công nghệhiện đại của các nước khác thông qua hình thức chuyển giao công nghệ hoặc đầu tư trựctiếp, gián tiếp.
Chương 2 Một vài nét về liên minh Châu Âu(EU)
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay trong nền kinh tế thế giới xuất hiện nhiềuloại hình liên kết kinh tế Trong đó liên minh Châu Âu ( cộng đồng Châu Âu – EU trướcđây ) là khối liên kết kinh tế hình thành sớm nhất và có hiệu quả nhất Trước ngưỡng cửacủa thế kỷ 21, với GDP khoảng 8500 tỷ USD, dân số khoảng 375 triệu người chiếm giữkhoảng 40-50% sản lưởng công nghiệp của các nước tư bản phát triển EU đang trở thànhmột cực rất mạnh trong nền kinh tế thế giới
1.1 Sự hình thành và phát triển của liên minh Châu Âu
Ngay từ thời Saclơ đại đế thuộc đế chế La Mã ( TK8 – Sau công nguyên ) những mơtưởng về thống nhất Châu Âu đã được hình thành Tuy nhiên trong một thời gian dài , ý
đồ thống nhất Châu Âu chỉ thuộc về một vài nhà chính trị, quân sự có nhiều tham vọng
và một bộ phận các nhà tri thức Đại bộ phận Châu Âu vẫn thờ ơ thậm chí không hề có ýtưởng gì về điều đó, mặc dù Châu Âu đã mang sẵn trong mình các yếu tố thống nhất Đến năm 1923 , Bá Tước người áo –Condenhve Kalerg đã đề nghị thành lập một liênminh Châu Âu theo kiểu Liên Bang Thuỵ Sĩ năm 1648 hay liên bang Hoa Kỳ năm 1776,năm 1929 Bộ trưởng Pháp lúc bấy giờ – Arstide Briand cũng đưa ra đề án thành lập liênminh Châu Âu Nhưng những ý tưởng này phải mãi đế sau chiến tranh thế giới thứ haimới trở thành hiện thực
Sau chiến tranh thế giới thứ hai các nước Tây Âu đều kiệt quệ về kinh tế So với năm
1937, sản lượng của Đức 1946 chỉ bằng 31% , Italia 64% , Anh 96% Trong khi đó nhờchiến tranh mà kinh tế Mỹ đã phát triển vượt bậc sức mạnh kinh tế của Mỹ còn lớn hơn
Trang 11sức mạnh kinh tế của tất cả các nước Tây Âu gộp lại Mặt khác sự phát triển mạnh mẽcủa lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, đặc biệt là
sự phát triển lực lượng sản xuất ở Mỹ đã khẳng định vị trí bá chủ toàn cầu của nướcmình Chính bối cảnh ấy, buộc các quốc gia Tây Âu phải tăng cường hợp tác để thúc đẩylực lượng sản xuất phát triển, thoát khỏi sự kiểm toạ của Mỹ và cũng là làm dịu đi bầukhông khí chính trị căng thẳng ở Tây Âu, đặc biệt là giữa Pháp và Đức, phong trào giảiphóng dân tộc đang dâng lên ở các nước thuộc địa và trên hết là phải đối đầu với “cộngsản ” ở nửa kia Châu Âu
Các quốc gia Tây Âu không còn sự lựa chọn nào khác ngoài con đường hoà bình hợp tácvới nhau
Ngày 9/5/1950 Ngoại trượng Pháp – Rôbe Suman đã đưa ra một sáng kiến mới khởiđầu cho tiến trình liên kết Châu Âu Ông đề nghị “Đặt toàn bộ việc sản xuất than và thépcủa Đức vá Pháp dưới một cơ quan quyền lực tối cao chung trong một tổ chức mở cửacho các nước Tây Âu khác tham gia ”
Trên cơ sở đề nghị đó ngày 18/4/1951 ,tại Paris ,6 quốc gia Tây Âu gồm : Pháp, Đức,Italia, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg đã ký Hiệp ước thành lập cộng đồng than thép Châu Âu
(European Coal and Steel Community hay viết tắt là ECSC - có hiệu lực từ ngày
25/7/1952 ) mở ra một chương mới trong lịch sử quan hệ giữa các nước Tây Âu
Nhìn chung, sáu nước Tây Âu đã thực hiện thành công Hiệp ước Paris năm 1952 Trênlĩnh vực kinh tế, từ tháng 5/ 1953 một thị trường chung than, sắt, thép cho sáu nước đãhình thành Ngành luyện kim đạt một bước phát triển mạnh mẽ kéo theo sự phát triển cảnền kinh tế sáu nước Thành tích kinh tế là to lớn song còn một kết quả quan trọng khác
mà cộng đồng than thép Châu Âu( ECSC ) mang lại đó là tác động tâm lý đối cới ngườiTây Âu Lần đầu tiên họ thấy rằng không cần chiến tranh mà vẫn có thể thống nhất đượcChâu Âu và thống nhất theo chiều hướng Siêu quốc gia
Tại cuộc họp các ngoại trưởng của các quốc gia Tây Âu ở Messine năm 1955 đã đưa ra
đề án mở rộng liên kết của các quốc gia Tây Âu song các lĩnh vực khác và cử ngài PaulHenry Spack – ngoại trưởng Italia làm chủ đề án Đến 1956, họ đã nhất trí thành lập cộngđồng kinh tế Châu Âu ( European Economic Community – EEC ) và cộng đồng năng
Trang 12lượng nguyên tử Châu Âu (European Atomic Energy Community ) Ngày 25/ 7/ 1957,hiệp ước về việc thành lập 2 tổ vhức này đã được thông qua và bắt đầu có hiệu lực từngày 1/ 1/ 1958 Mỗi tổ chức có một chức năng riêng : EEC có nhiệm vụ chung liên quanđến những vấn đề kinh tế với việc tạo lập một thị trường chung , trong đó không còn sựngăn cản vận động của hàng hoá, tư bản, sức lao động … giữa các nước Tây Âu vớinhau, cộng đồng năng lượng nguyên tử Châu Âu quan tâm đến việc nghiên cứu phổ biếnkiến thức, bảo đảm nguồn cung cấp thường xuyên các nguyên liệu hạt nhân thúc đẩy đầu
tư lập các cơ sở sản xuất năng lượng hạt nhân chung lập thị trường nguyên tử chung giữacác nước
Bước vào đầu thập kỷ 90, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông
Âu đã làm thay đổi cục diện thế giới từ hai cực trở thành đa cực Trong trật tự mới, cácthế lực đều đang dốc sức chuẩn bị lực lượng để chiếm vị trí tối ưu cho mình trong tươnglai Mặc dù đến thời điểm này cộng đồng Châu Âu đã đạt được những thành tựu nhấtđịnh nhưng nói chung về kinh tế, chính trị lẫn quân sự vẫn còn thua kém Mỹ và NhậtBản Do vậy trong cuộc cạnh tranh quyết liệt trước mắt các nước Tây Âu vẫn sẽ phảithống nhất lại, đẩy manh công cuộc xây dựng cộng đồng tạo ra sức mạnh tập thể để đốiphó với hai đối thủ lớn của mình Điều này được thể hiện rất rõ tại Hội nghị thượng đỉnhcác quốc gia Tây Âu ở Maastricht – Hà Lan tháng 11 năm 1991 Tại Hội nghị này cácquốc gia thành viên đã thống nhất :
Thứ nhất: Tiếp tục mở rộng liên kết bằng cắch kết nạp thêm các thành viên mới.
Thứ hai: Tạo lập đồng tiền chung Châu Âu làm cho Châu Âu thay đổi một cách căn
Trang 13Như vậy , từ sáu nước thành viên đến nay EU đã mở rộng ra 15 nước và xu thế sẽ tiếntới 21 nước vào đầu thế kỷ 20 liên kết được mở rộng trên rất nhiều lĩnh vực kinh tế, chínhtrị, khoa học kỹ thuật, văn hoá, giáo dục.
Mục tiêu của liên minh Châu Âu là:
- Thiết lập và hoàn thiện thị trường nội bộ
- Thống nhất thông qua việc phát hành một đồng tiền thống nhất
- Xoá bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước thành viên và xây dựng một hàng ràothuế quan thống nhất đối với hàng hoá nhập từ ngoài vào
- Xoá bỏ những hạn chế đối với việc tự do di chuyển vốn sức lao động hàng hoádịch vụ … nhằm tăng cường hợp tác, liên kết giữa các quốc gia thành viên xâydựng Châu Âu thành một cực mạnh trong nền kinh tế thế giới
Để đạt được mục tiêu này , EU có một hệ thống thể chế để hoạch định, điều hành vàgiám sát Hệ thống này bao gồm năm cơ quan chính uỷ ban Châu Âu, Hội đồng Châu Âu,Quốc hội Châu Âu, Toà án Châu Âu và toà kiểm toàn cùng với các bộ phận hỗ trợ chocác cơ quan trên như uỷ ban kinh tế và xã hội, uỷ ban khu vực
Vậy, thực chất của liên kết kinh tế EU là tạo lập một thị trường thống nhất với việc pháthành một đồng tiền thống nhất là quá trình quốc tế hoá không chỉ lực lượng sản xuất mà
cả quan hệ sản xuất
1.2 Chiến lược của liên minh Châu Âu đối với Châu Á
Quan hệ kinh tế nói chung giữa các nước EU và các nước trong khu vực Châu Á đã có
từ rất lâu, nhưng trong một thời gian tương đối dài sau chiến tranh thế giới thứ hai, cácnước lớn trong EU rất ít chú ý đến Châu Á Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với thị trườngrộng lớn ở Châu Phi đã hấp đẫn các nhà kinh doanh, đầu tư Châu Âu nhiều hơn khu vựcChâu Á Trong giai đoạn này, quan hệ của các nước EU với khu vực Châu Á chủ yếu làviện trợ kinh tế.Tuy vậy từ sau thập kỷ 80 đến nay, các nước Mỹ La Tinh đã bị lâm vàokhủng hoảng nợ, trong khi các nước đang phát triển Châu Á lại có những chuyển biếntrong phát triển kinh tế
Trang 14Các Nies và ASEAN đã thực hiện thành công chính sách kinh tế hướng về xuất khẩu vàđạt tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới Đồng thời sự suy sụp của Liên Xô và các nướcĐông Âu đã làm cho cục diện về kinh tế cũng như kinh tế của mình ở Châu Á nhằm duytrì ảnh hưởng của mình trong nền kinh tế thế giới Việc thiết lập được một sự hiện diệnmạnh mẽ và đồng bộ tại các khu vực ở Châu Á sẽ cho phép EU đảm bảo được lợi ích củamình tại khu vực này vào đầu thế kỷ 21 Để đạt được điều đó, tháng 7/1994 EU đã thôngqua văn kiện “Hướng tới một chiến lược mới đối với Châu Á”
Chiến lược mới này hướng tới các mục tiêu chủ yếu là :
Thứ nhất : Tăng cường sự hiện diện về kinh tế của EU tại Châu Á nhằm duy trì vai trònổi trội của mình trong nền kinh tế thế giới Việc thiết lập một sự hiện diện đáng kể ởChâu Á sẽ cho phép EU chăm lo những lợi ích của mình được tôn trọng hoàn toàn trongkhu vực then chốt này vào đầu thế kỷ 21
Thứ hai : Góp phần vào sự ổn định ở Châu Á bằng cách khuyến khích hợp tác và hiểubiết lẫn nhau ở cấp độ quốc tế
Thứ ba : Khuyến khích sự phát triển kinh tế của các nước và khu vực kém thịnh vượngnhất EU và các thành viên của mình tiếp tục góp phần làm giảm bớt sự nghèo nàn và tạo
ra một sự tăng trưởng bền vững ở các nước và khu vực này
Thứ tư : Góp phần phát triển và củng cố nền dân chủ , nhà nước pháp quyền , cũng nhưphương tiện tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản ở Châu Á
Để đạt được các mục tiêu trên EU đã đưa ra hàng loạt các chính sách củng cố và tăngcường sự hiện diện của mình như :
- Dành cho Châu Á những ưu tiên lớn hơn và đi sâu đối thoại với các nước và cácnhóm trong khuôn khổ song phương hoặc đa phương
- Coi trọng hợp tác kinh tế trong các lĩnh vực EU có lợi thế như ngân hàng, nănglượng, công nghệ môi trường, viễn thông …
- Dành ưu tiên lớn nhất cho các thị trường Châu Á mới trong đó có Đông Nam Á,Trung Quốc, Ấn Độ …
Sự cụ thể hoá trong chiến lược mới đối với Châu Á chứng tỏ EU đã tiến thêm một bướcquan trọng trong chính sách đối ngoại và an ninh chung của mình Việc EU cố gắng đi
Trang 15đến một chính sách chung đối với Châu Á - Thái Bình Dương là xuất phát từ chỗ đánhgiá lại thực trạng của mình và tương lai của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Quachiến lược này EU hy vọng sẽ giành được những vị trí vững chắc cả về kinh tế quốc dân.
EU đã sớm đón bắt được một xu thế phát triển đặc thù ở Châu á trong thế kỷ 21
Đó là vị trí lý tưởng để EU có thể phát huy ảnh hưởng chính trị của mình Một cơ hộimới đã được tạo ra cho sự hợp tác giữa EU và ASEAN khi Việt Nam trở thành thành viênchính thức của ASEAN
Tóm lại : Sau 40 năm hình thành và phát triển EU trở thành một siêu cường cả về kinh
tế, chính trị, dân số, diện tích… và sẽ trở nên mạnh hơn khi đồng tiền chung Euro được
sử dụng trước một trật tự thế giới mới đang hình thành và đang đầy biến động phức tạp,
EU đã chuyển mình vươn lên tắch khỏi sự lệ thuộc với Mỹ, vươn tầm hoạt động sangtrung và Đông Âu, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh, nhằm nâng cao hơn nữa vị thế của mìnhtrước thềm thế kỷ XXI Chính trong quá trình thực hiện chiến lược toàn cầu của mình nóichung và chiến lược mới với Châu Á nói riêng, EU đã tìm thấy ở Việt Nam những ưu thếđịa chính trị, địa kinh tế để lấy Việt Nam làm đIểm tựa quan trọng trong chiến lược đốingoại của mình với Châu Á
Mối quan hệ Việt Nam – EU đã bắt đầu được thiết lập từ sau năm 1975, nhưng chỉ đơnthuần là viện trợ kinh tế Bước chuyển biến to lớn đánh dấu một thời kỳ mới trong quan
hệ Việt Nam- EU là việc hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 10/1990 Trên cơ sở
đó mối quan hệ Việt Nam và EU đã phát triển nhanh chóng Hai bên đã có hàng loạt cuộctiếp xúc gặp gỡ thăm viếng hội thảo khoa học… nhằm trao đổi thông tin và tăng cường
sự hiểu biết lẫn nhau Quan hệ Việt Nam –EU bước vào giai đoạn lịch sử mới khi :
Hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU được ký kết vào tháng 7/1995 Hiệp định đãtạo ra những yếu tố thuận lợi cho EU và mối nước thành viên EU trong quan hệ hợp tácthương mại và đầu tư với Việt Nam Có thể nói, hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EUvừa là cơ sở pháp lý vừa là động cơ thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU pháttriên mạnh mẽ và toàn diện trên rất nhiều lĩnh vực : hợp tác thương mại, đầu tư khoa học
kỹ thuật, môi trường, văn hoá giáo dục, y tế… đặc biệt là trong lĩnh vực dệt may Bằngchứng là hai hiệp định dệt may Việt Nam – EU giai đoạn 1993 – 1997 và 1998 – 2000 đã
Trang 16ký kết Nhờ đó kim ngạch hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường EU đã tăng lênnhanh chóng Vẫn đề này sẽ được nghiên cứu kỹ ở chương tiếp theo.
Chương 3 Thực trạng thương mại việt nam - EU trong lĩnh vực dệt may
1 Khái quát về ngành dệt may Việt Nam
1.1 Giai đoạn trước năm 1986
Năm 1954, sau khi hoà bình được lập lại, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và
có điều kiện phát triển kinh tế chi viện Miền Nam đấu tranh chống đế quốc, thống nhấtđất nước Thời kỳ này, ngành dệt may Việt Nam đã được Đảng và Chính phủ quan tâmtạo điều kiện đầu tư phát triển Kết quả tạo công ăn việc làm, cũng như sản xuất đượcnhiều sản phẩm cho xã hội
Với sự giúp đỡ của các nước anh em, bè bạn, chúng ta đã cải tạo và xây mới mộtloạt nhà máy có công suất lớn như: Dệt 8-3, Dệt Vĩnh Phú, Dệt kim Đông Xuân, DệtNam Định, May 10, May Thăng Long… Đồng thời, hàng loạt các hợp tác xã, tổ sản xuấtthủ công được thành lập nhằm cung cấp thêm sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của nhândân
Năm 1975, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối,ngành dệt may lại có thêm cơ hội phát triển khi được bổ sung đội ngũ thợ lành nghề củacác làng nghề trải dài từ miền Trung vào miền Nam Đảng, Chính phủ đề ra chương trìnhphát triển kinh tế tập trung Ba vấn đề lớn cấn giải quyết là lương thực - thực phẩm - hàngtiêu dùng Hàng loạt nhà máy mới được đầu tư xây dựng như Sợi Hà Nội, Sợi Vinh, SợiHuế, Sợi Nha Trang, May Việt Tiến, May Nhà Bè, May Hữu Nghị…
Trang 17Do quy mô phát triển khá lớn, nên dệt may đã đủ sức trở thành một ngành kinh tếmạnh trong nền kinh tế quốc dân Điều này dẫn tới một nhu cầu cần có một tổ chức đứng
ra quản lý chung, thay vì trực tiếp chịu sự giám sát của Bộ Công Nghiệp nhẹ Xuất phát
từ nhu cầu đó, Chính phủ đã thành lập Liên hiệp các xí nghiệp dệt và Liên hiệp các xínghiệp may Hai cơ quan này có nhiệm vụ quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh củacác doanh nghiệp dệt và may
Tới năm 1990, hai cơ quan trên sát nhập lại và lấy tên là Liên hiệp Sản xuất - Xuấtnhập khẩu dệt may Đây là mô hình tổ chức quản lý đặc trưng cho cơ chế quản lý kếhoạch hoá tập trung
Sự phát triển trên thực sự là qua trình chuẩn bị rất tốt cho ngành dệt may ViệtNam Giờ đây, những doanh nghiệp như May 10, May Việt Tiến, May Nhà Bè, MayThăng Long, Dệt 8 - 3… được coi là những tên tuổi lớn trong ngành dệt may Việt Namđều được xây dựng trong thời gian này Nhờ đầu tư theo kế hoạch nên có sự phát triểntương đối cân bằng giữa ngành may và ngành dệt
Tuy nhiên, trong giai đoạn này vẫn còn những hạn chế do cơ chế chung của cả nềnkinh tế Các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giao, mà không
có sự linh động sáng tạo trong sản xuất, cũng như cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng.Điều đó dẫn đến cần có những thay đổi nhận thức mới để tạo ra một thời kỳ chuyển biếnmới
1.2 Giai đoạn 1986 - 2002
Nếu như giai đoạn trước 1986 là quá trình hình thành và định hình ngành côngnghiệp dệt may Việt Nam thì giai đoạn này chính là quá trình phát triển
1.2.1 Tình hình kinh tế trong nước
Trước năm 1990, do Việt Nam chỉ quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa nênphần lớn sản phẩm dệt may được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang các nước Đông
Âu Khi thị trường xã hội chủ nghĩa tại các nước Đông Âu sụp đổ, cũng như việc ViệtNam chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị
Trang 18trường đã khiến cho các doanh nghiệp (phần lớn là doanh nghiệp nhà nước) gặp không ítkhó khăn Họ vấp phải những khó khăn về tổ chức sản xuất, về nguyên liệu đầu vào, cũngnhư tiêu thụ đầu ra
Quen với cơ chế làm ăn thời bao cấp, doanh nghiệp được cấp vốn, đầu vào có sẵn,sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch được giao, đầu ra được bao tiêu toàn bộ, thì nay, phải hoạtđộng như một chủ thể kinh tế hoàn toàn độc lập Các doanh nghiệp bắt đầu lộ ra nhữngnhược điểm: quy mô sản xuất nhỏ, thiếu vốn hoạt động, công nghệ cũ kỹ, lạc hậu, kỹnăng tổ chức sản xuất thiếu khoa học
1.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh chung của ngành dệt may
Theo Nghị định số 338/NĐ - CP của Chính phủ, các doanh nghiệp dệt may không
thuộc sự quản lý, điều hành của Liên hiệp Sản xuất - Xuất nhập khẩu dệt may nữa, màchuyển cho Bộ Công nghiệp Các doanh nghiệp do đó phải tự hạch toán độc lập Đâythực sự là một thời điểm khó khăn cho ngành dệt may Việt Nam
Thời kỳ này, nhiều doanh nghiệp do không thích ứng được với tình hình mới, nênkinh doanh bị thua lỗ liên tục, đứng trên bờ vực phá sản Để tự cứu mình nên các doanhnghiệp hoạt động tách rời Vì thế nên đã xuất hiện tư tưởng cục bộ mạnh ai nấy làm, cálớn nuốt cá bé Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, phát triển kinh doanh một cách tựphát, dù có những điểm tốt là dần tạo cho doanh nghiệp tính độc lập, tự thân vận động,cải tiến và phát triển, nhưng cũng gây không ít những thiệt hại cho ngành dệt may ViệtNam khi không có sự điều tiết, bất chấp hậu quả cho người khác cũng như cho toànngành
Tình hình trên dẫn tới một nhu cầu tất yếu là phải có định hướng và quản lý chặtchẽ của Nhà nước Các doanh nghiệp cần có một tổ chức liên kết để liên kết sức mạnhriêng tạo nên sức mạnh tổng hợp chung của toàn ngành
Từ nhu cầu đó, Chính phủ đã thành lập Tổng công ty Dệt may Việt Nam, tên giaodịch quốc tế là Vietnam National Textile and Garment Corporation, viết tắt là
Trang 19VINATEX, trên cơ sở Nghị định 91/NĐ - CP VINATEX hoạt động như một pháp nhânđộc lập và trực thuộc Bộ Công nghiệp.
VINATEX có cơ cấu tổ chức, hoạt động theo phương thức tập đoàn kinh tế, nhằmtập hợp các doanh nghiệp, tập trung vốn, tổ chức phân công chuyên môn hoá hòng tạonên sức mạnh tổng hợp và sức cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế Việc thành lậpVINATEX đã tạo điều kiện cho dệt may Việt Nam phát triển đóng góp hơn nữa cho nềnkinh tế quốc dân
Ngày nay, khi nói đến sự thành công của ngành dệt may Việt Nam không thể không nóiđến VINATEX Xin sơ lược một số nét về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng công tynày
1.2.2.1 C ơ cấu tổ chức của VINATEX
VINATEX gồm 55 thành viên với 45 doanh nghiệp, 2 Viện nghiên cứu Kinh tế,
Kỹ thuật, Thiết kế Thời trang, 3 trường đào tạo công nhân, 4 công ty cơ khí và 1 công tytài chính
Các thành viên của Tổng công ty có quan hệ chặt chẽ về sản xuất, kinh tế, tàichính, công nghệ, thông tin, đào tạo, vv… Cơ cấu đó nhằm tạo sự đồng bộ trong toànngành từ đầu tư, cung cấp nguyên vật liệu tới tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và xuấtkhẩu
Đồng thời, VINATEX cũng là một tổ chức liên kết các doanh nghiệp trong nướcvới nước ngoài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội tiếp xúc, ứng dụng khoahọc công nghệ, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh và đào tạo nhân viên quản lý,công nhân sản xuất
1.2.2.2 Sản xuất kinh doanh
Tổng công ty Dệt may Việt Nam được thành lập là bước ngoặt đáng chú ý, nó đánhdấu một thời kỳ phát triển nhảy vọt chung của cả ngành dệt may Việt Nam Mức đầu tưvào công nghệ cùng với việc giảm bớt lao động dư thừa phản ánh cam kết của ngành tớicông tác cải tiến chất lượng liên tục (Continuous Quality Improvement – CQI), đặc biệt
là hiện đại hoá, tăng năng suất và đẩy mạnh công tác marketing Công việc nghiên cứu,
Trang 20triển khai ứng dụng (R&D) rất được chú trọng Kết quả đến nay cho thấy Tổng công tyDệt may Việt Nam vẫn là một trong những đơn vị hoạt động có hiệu quả nhất trong cácTổng công ty 90, 91 khác Các chỉ tiêu ké hoạch đề ra của Tổng công ty đèu đạt và vượt.Tích cực đổi mới, tăng cường tập đầu tư vào những lĩnh vực xương sống là phương châm
đề ra của VINATEX Ta có thể thấy rõ điều này qua bảng về kết quả hoạt động kinhdoanh trong thời gian 1993- 1997:
Bảng: Kết quả thực hiện chỉ tiêu của VINATEX giai đoạn 1993 - 1997
Giá trị tổng sản lượng Tỷ ðồng 1,445 2,488 2,964 3,283 3,653Tổng doanh thu Tỷ đồng 2,692 3,500 4,567 4,593 5,283Kim ngạch xuất khẩu TriệuUSD 111,9 138 350 395,4 474,7Kim ngạch nhập khẩu TriệuUSD 121 180,6 347 407,5 417,8Sợi các loại 1.000 tấn 7,6 43,5 51,2 56,9 59
Vải lụa thành phẩm Triệu mét 109,2 104 124,4 127,8 140
Quần áo dệt kim Triệu sp 20,1 15,5 22,1 23 25
Quần áo may sẵn Triệu sp 25.5 30,9 33,3 35,1 41,3
Nguồn: Báo cáo tổng kết – Ban kế hoạch đầu tư (VINATEX).
Qua bảng trên cho thấy Tổng Công ty Dệt may Việt Nam có tốc độ phát triển khácao Sản lượng tăng 10% đến 19%, doanh thu tăng từ 15% tới 30%, kim ngạch xuất khẩutăng từ 13% tới 24%, có năm lên tới 154% Số liệu về tốc độ phát triển có thể tổng hợptheo bảng sau:
Bảng : Tốc độ phát triển của VINATEX gia đoạn 1993 - 1997
Trang 21Nếu lấy năm 1993 làm định gốc, thì năm 1997 Tổng Công ty Dệt may Việt Nam
có sản lượng tăng gấp 2,5 lần, tổng doanh thu tăng gấp 2,1 lần, kim ngạch xuất khẩu tăng4,4 lần, kim ngạch nhập khẩu tăng 4 lần Để thấy rõ tốc độ phát triển, ta xem xét biểu đồ
Biểu đồ : Tốc độ phát triển của VINATEX giai đoạn 1993 - 1997
Kim ng¹ch xuÊt khÈu
Kim ng¹ch nhËp khÈu
Qua biểu đồ, ta thấy tốc độ tăng của kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh hơn rấtnhiều so với tốc độ tăng trưởng của giá trị sản lượng và tổng doanh thu Điều này chothấy Tổng Công ty đang cố gắng lấy bộ phận xuất khẩu làm trung tâm trong hoạt độngkinh doanh của mình
Trong giai đoạn này, còn có những điểm đáng chú ý khác nữa là chính sách vĩ môcủa Nhà nước và Chính phủ đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành dệt mayViệt Nam nói riêng:
Trang 22- Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và Việt Nam ra nước ngoài được ban
hành là điều kiện tiên quyết cho phát triển kinh tế Chính phủ đã có những chính sáchkhuyến khích đầu tư nước ngoài đã khiến cho ngành dệt may thu hút được một lượng vốnlớn Hình thức đầu tư chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI), theo mô hình liên doanh Yếu tốtrên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dệt may có cơ hội tiếp cận với công nghệ tiêntiến, hiện đại, phương thức quản lý kinh doanh mới Ngành dệt may được đổi mới về cảchất và lượng
- Cùng với đà tăng trưởng nhanh chóng, ngành dệt may đã mở rộng thị trường xuất khẩu Với chủ trương chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá, không chỉ quan hệ
với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước Đông Âu, mà còn từng bước thiết lập quan hệngoại giao và thương mại với nhiều nước khác trên thế giới Từ đó mở ra những thịtrường mới như EU, Nhật Bản, ASEAN… Đây là nguồn gốc tạo nên sự phát triển vượtbậc trong ngành dệt may Việt Nam
- Tuy nhiên, đối với ngành dệt may, sự phát triển nhanh chóng đó cũng bộc lộ
những nhược điểm phải giải quyết Ngoài yếu tố như ít vốn, công nghệ lạc hậu, trình độ
quản lý kém cỏi đã được giải quyết một phần nào nhất là từ cuối thập niên 90 thế kỷ 20.Chúng ta còn một nhược điểm lớn nữa là sự phát triển mất cân đối giữa ngành dệt vàngành may Nếu trước đây, quy hoạch các nhà máy dệt và nhà máy may được phát triểnđồng đều theo kế hoạch của Nhà nước, thì trong giai đoạn này quá trình đầu tư lại tậptrung vào phát triển vào ngành may
Ngành dệt mới chỉ đủ khả năng cung cấp 10% sợi cotton và 20% lượng vải cầncho nhu cầu sản xuất trong nước Phần nguyên liệu còn lại phải nhập khẩu Điều này dẫnđến phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung cấp đầu vào của nước ngoài Nó có thể gây ítảnh hưởng tới các hợp đồng gia công xuất khẩu theo phương thức CMT (Cutting -Making -Trimming) Nhưng nếu chuyển sang xuất khẩu trực tiếp thì sẽ gây ra không ítbất lợi
Năm 1999, chiếm 8,58% tổng giá trị đầu ra của các nghành công nghiệp và 15% tổng giátrị xuất khẩu Hàng dệt may xuất khẩu là một trong những những mặt hàng có tốc độ tăng
Trang 23trưởng lớn nhất trong số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Ta có thể thấy rõ trong bảngsau:
Bảng: Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam so với các hàng khác.
235 328 39,5%
Nguồn : Bộ Thương mại.
Năm 2001 và 2002, mặc dù kinh tế thế giới vẫn ở trong tình trạng ảm đạm, trì trệ,mức tiêu dùng xuống thấp, dẫn tới giá cả các mặt hàng giảm làm cho kim ngạch xuấtkhẩu của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như gạo, cà phê giảm Nhưng trái
Trang 24lại ngành dệt may vẫn có sự phát triển thể hiện ở mức tăng trưởng cao trong kim ngạchxuất khẩu (37,2%).
Tỷ lệ đóng góp của ngành dệt may trong tổng giá trị ngành công nghiệp chếbiếnkhoảng 10% hàng năm và giá trị xuất khẩu hàng dệt may chiếm khoảng 13 % trongtổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Bảng: Đóng góp của ngành dệt may trong nền kinh tế quốc dân
Tỷ lệ đóng góp vào GDP (%)
Tổng kim ngạch xuất khẩu
(Tỷ đồng)
1999 399.942 7.700 1,9 11.540
2000 444.139 9.120 2,1 14.308
2001 474.340 10.260 2,1 15.810
Nguồn: Bộ Thương mại.
Một trong những tiến bộ của dệt may Việt Nam là thâm nhập thành công thịtrường Hoa Kỳ Sau một thời gian tìm hiểu về thị trường rộng lớn này, các doanh nghiệp
đã xuất khẩu thành công hàng may mặc sang thị trường này và nhập khẩu nguyên liệucho quá trình sản xuất Nhờ đó mà năm 2002, Hoa Kỳ trở thành thị trường lớn nhất củangành dệt may Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt trên 900 triệu USD Chitiết cụ thể về thị trường này sẽ được ngiên cứu rõ hơn trong phần phân tắch về các thịtrường chắnh của ngành dệt may Việt Nam
Qua nghiên cứu các giai đoạn phát triển trên, ta thấy được những tiềm năng, những mặtmạnh cần phát huy, cũng như những tồn tại cần giải quyết, tranh thủ thời cơ để ngành dệtmay Việt Nam có chỗ đứng trên thị trường thế giới
2 Một số đánh giá về thực trạng thương mại dệt may Việt Nam-EU.
2.1 S ự cầ n t hiế t p hả i t hú c đẩ y x uấ t kh ẩ u hàn g dệ t m a y s an g t h ị t r ư ờ n g E U
Khi tham gia vào thương mại quốc tế, mục tiêu của các quốc gia là hướng ra xuấtkhẩu Đây là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam,