Câu 1 Tính chất cô đọng, hàm súc của ngôn ngữ bài thơ “Khuê oán” (Vương Xương Linh) và “Nguyệt dạ” (Đỗ Phủ) Hàm ngậm; Súc tồn trữ, tích trữ Cô đọng bao hàm tính chính xác, sinh động để tạo nên trường..............................................................................................................
Trang 1Câu 1: Tính chất cô đọng, hàm súc của ngôn ngữ bài thơ “Khuê oán”
(Vương Xương Linh) và “Nguyệt dạ” (Đỗ Phủ)
Hàm: ngậm; Súc: tồn trữ, tích trữ Cô đọng bao hàm tính chính xác, sinh động để tạo nên trường "liên tưởng" rộng lớn bao la tùy năng lực cảm nhận của độc giả Tính cô đọng hàm súc là hệ quả tất yếu của kiểu tư duy quan hệ Do không miêu tả chi tiết sự vật hiện tượng nên thơ Đường chỉ có thể "gợi" cho ta về
đề tài, còn hiểu như thế nào là quyền của độc giả Cảm nhận cái hay của thơ Đường phải thẩm thấu từ "tâm" chứ không phải đọc bằng con mắt "trần tục" Như
đã nói, mỗi bài thơ Đường là một cấu trúc tuần hoàn khép kín, là một biểu vũ trụ" chứa đầy năng lượng Thơ cận thể, nhất là tuyệt cú rất tiết kiệm chữ, nên năng lượng thơ thường được dồn nén vào một từ nào đó gọi là "nhãn tự" "Nhãn tự" chính là "lỗ đen" của vũ trụ thơ ca, nó hút và tồn trữ năng lượng để rồi bùng nổ giải phóng sức mạnh tinh thần của mình "Nhãn tự "(con mắt thơ) là cửa ngõ tương thông giữa thế giới tâm hồn thi nhân với độc giả Khám phá thơ Đường nếu chưa tìm ra được cái "lỗ đen" này là chưa thể nói được hết cái hay của thơ Đường "Nhãn tự" chính là một biểu hiện sinh động của tính cô đọng hàm súc của thơ Đường Tất nhiên, không phải bài thơ nào cũng có "nhãn tự" và không phải
cứ có "nhãn tự" mới hay Những bài thơ như Tĩnh dạ tứ, Tảo phát Bạch Đế thành
dù không có "nhãn tự" song chẳng có ai bảo là không hay cả Song trường hợp như Lí Bạch là rất hiếm Và chúng ta phải ngầm thừa nhận một điều rằng những bài thơ có "nhãn tự" đều là những bài kết tinh những giá trị nhân sinh sâu sắc Chúng ta hãy lấy bài Khuê oán của Vương Xương Linh làm ví dụ:
Khuê trang thiếu phụ bất tri sầu, Xuân nhật ngang trang thường thủy lâu
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc, Hối giao phu tế mịch phong hầu
"Nhãn tự" của bài thơ là "hốt kiến" Đây là "từ khóa" để mở ra hai vùng tâm trạng đối lập nhau của người khuê phụ: bất tri sâu và sâu Những tín hiệu nghệ thuật nào cho thấy hai biểu hiện tâm trạng trên?
Những tín hiệu ngôn ngữ thể hiện "bất tri sầu”:
"Khuê trung" (trong phòng khuê) đã cho thấy người phụ nữ này xuất thân tầng lớp quý tộc, có cuộc sống đầy đủ sung sướng, không phải lo lắng đến vật chất Hàng ngày nàng chỉ trang điểm ngắm gương
Trang 2"Thiếu phụ" là người phụ nữ có chồng, nhưng vẫn còn rất trẻ, tuổi xuân còn dài, lại đang sống trong ảo tưởng chồng đi chinh chiến mong được "ẩn phong hầu" để "phu quý phụ vinh" (nàng sẽ trở thành hầu tước phu nhân)
Như vậy người thiếu phụ trẻ tuổi có một cuộc sống hết sức vui vẻ, trạng thái tâm lý cực kỳ thoải mái sung sướng (lên lầu đối thoại cùng trời đất)
Những tín hiệu ngôn ngữ thể hiện cái sau:
Nhãn tự "hốt kiến" đã khiến tứ thơ đột ngột thay đổi, mạch thơ chuyển làm
đổ vỡ lý tưởng của người khuê phụ Thiếu phụ đã "hốt kiến" cái gì để mà sụp đổ
lý tưởng? Đó là hình ảnh "dương liễu sắc" Đây là hình ảnh mang nghĩa biểu tượng:
Sắc màu dương liễu là sắc màu mùa xuân, mà mùa xuân đồng nghĩa với tuổi trẻ hạnh phúc Nhưng tại giờ phút ấy lại tạo ra sự trống vắng của cuộc sống lứa đôi
Nói đến mùa xuân, người ta nghĩ ngay đến mùa thu Giờ còn trẻ nhưng chẳng mấy mà đến tuổi già, đó là quy luật tự nhiên không ai tránh được
Sắc màu dương liễu gợi người ta nỗi buồn vì sự chia ly Khi chia ly, người
ta bẻ cành liễu làm roi ngựa tiễn người lên đường
Dương liễu gợi thân phận người phụ nữ (phận liễu bồ)
"Sắc" là cái thực, thực tại, phần vật chất đối lập với cái "không" của Phật giáo Theo quan niệm Phật giáo cái "không" mới là cái vĩnh hằng, tồn tại bất diệt; còn "sắc" là ảo ảnh tồn tại trong chốc lát và nhanh chóng bị hủy diệt
Hình ảnh "dương liễu sắc" đã đem đến sự thay đổi, đổ vỡ cực kỳ mạnh mẽ của một quan niệm sống của người phụ nữ: tất cả những gì chờ trông thì thực tại đều trống rỗng "Hốt kiến" như là một tiếng sét đánh ngang bầu trời, xé toang tấm màn ảo tưởng của người "khuê phụ" và hành động phối giao phu tế mịch phong hầu" là hệ quả tất yếu của lôgíc tâm lý trên Bởi vì, người phụ nữ đã dự cảm những điều không hay: Chồng về, có ấn phong hầu (tình huống đẹp nhất) nhưng tuổi xuân không còn Có công danh có phú quý nhưng không có hạnh phúc gia đình; Chồng về nhưng không có ấn phong hầu; Có ấn nhưng không có người về (chồng chết trận); Không có ấn cũng chẳng có người (số 0 hoàn toàn)
Những phân tích trên đây về nhãn tự "hốt kiến" đã chứng minh cho thấy cái tinh tế, hàm súc của thơ Đường Bài thơ không hề có chữ "sầu", "oán" mà "sầu oán" tràn ngập bài thơ, không một lời tố cáo chiến tranh mà vẫn là tố cáo chiến
Trang 3tranh phong kiến vì nó là nguyên nhân gây ra bao nỗi li biệt của những đôi vợ chồng trẻ Đồng thời, nó còn nói lên khát vọng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc của người phụ nữ
Như vậy, sự hàm súc cô đọng có nhiều tầng bậc khác nhau Đó chính là cái tạo nên "ý tại ngôn ngoại", "ngôn hữu tận ý vô cùng của thơ Đường
Tính cô đọng hàm súc còn được tạo bởi hệ thống hư từ rất độc đáo của thơ Đường Hư từ là những từ chỉ có ý nghĩa ngữ pháp, làm chức năng tạo “quan hệ” trong ngữ pháp thơ Do sự tiết kiệm câu chữ nên thơ Đường hầu như lược bỏ các
hư từ, dành số chữ ít ỏi đó cho thực từ Song mặt khác tư duy nghệ thuật thơ Đường là tư duy quan hệ, nên nó không thể lược bỏ hay triệt tiêu hoàn toàn hư từ
mà nó giữ lại những hư từ đặc biệt có khả năng làm nổi bật các "quan hệ" Đó là
hệ hư từ "độc, nhất, cô" (một mình), "do", "duy", "úng" trong mối quan hệ với hệ
hư từ "tương, dữ, cộng" (cùng nhau) Cả hai hệ thống hư từ này đều có ở hai khuynh hướng thơ lãng mạn và hiện thực Song "tương, dữ, cộng" phần lớn gắn liền với loại thơ ca thể hiện con người trong mối quan hệ hòa hợp vũ trụ, nhằm biểu hiện tính thống nhất trường giao giữa con người với thiên nhiên, đất trời cũng như với các "tiểu thiên địa" khác:
- Lạc Dương thân hữu như tương vấn, Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ
(Ở Lạc Dương nếu như có người hỏi thăm, (Thì nói) vẫn giữ tấm lòng băng trong bình ngọc.)
(Vương Xương Linh - Phù Dung lâu tống Tân Tiệm) Còn "độc, nhất, cô, do, duy, túng" chủ yếu gắn với loại thơ ca | hiện thực nhằm biểu hiện những quan hệ đối lập tương phản:
- Kim dạ Phu Châu nguyệt, Khuê trung chỉ độc khan
(Vầng trăng đêm nay ở Phu Châu, Trong phòng khuê chỉ có một người đứng nhìn.)
(Đỗ Phủ - Nguyệt dạ)
Trang 4Hư từ được dùng rất hạn chế, nhưng khi đã dùng thì nó luôn có ý nghĩa gợi
mở cho khả năng thâm nhập vào thế giới nghệ thuật thơ Đường Ta hãy phân tích chữ "độc" trong bài Nguyệt dạ của Đỗ Phủ:
Kim dạ Phu Châu nguyệt, Khuê trung chỉ độc khan
Dao lân tiểu nhi nữ,
Vị giải ức Trường An
Bài thơ được viết trong hoàn cảnh thị nhân bị giặc bắt và giam lỏng ở Trường An, còn vợ con nhà thơ đang ở Phu Châu Ngắm trăng mà nảy lòng thương nhớ là chuyện thường tình Nhưng chính vì thường tình nên cấu tứ thế nào mới là quan trọng Câu đầu bài thơ với lối "khai môn kiến sơn" (mở cửa thấy núi) đã dựng ngay hình ảnh một đêm trăng với thời điểm xác định (đêm nay) và không gian rất cụ thể (Phu Châu) Đây không phải là trắng ở Trường An, mà là trắng ở Phu Châu nơi vợ con nhà thơ đang lánh nạn Cái hay của bài thơ ở chính chỗ này GS Nguyễn Khắc Phi đã chỉ rõ “đây không phải là vấn đề kỹ xảo, mà chủ yếu là vấn đề tâm hồn” 1 Rõ ràng hoàn cảnh nhà thơ đáng thương, song ông không hề nghĩ tới mình, mà nghĩ tới vợ con Đó là cái đáng trân trọng của một tấm lòng vị tha, hết lòng vì gia đình, vì vợ con của Đỗ Phủ
Câu thứ hai "Khuê trung chỉ độc khan" có một nhãn tự độc Độc là hư từ đặc biệt Đặc biệt vì một chữ có thể làm nổi bật mối quan hệ khác biệt hoặc đối lập giữa các sự vật Ở Phu Châu, lúc này đâu chỉ có vợ Đỗ Phủ mà còn có đàn con của ông nữa chứ, biết đâu chúng đang quây quần bên mẹ? Những nhà thơ vẫn hạ một chữ "độc" Nhờ chữ "độc" hình ảnh lẻ loi cô đơn của vợ Đỗ Phủ hiện lên thật đáng thương, đồng thời cũng làm nổi bật lòng thương nhớ của nhà thơ Nhưng muốn hiểu hết vị trí của hư từ "độc" phải phân tích tiếp hai câu ba và câu bốn
Câu thứ ba và thứ tư “Dao lân tiểu nhi nữ/ Vị giải ức Trường An”, mạch thơ đi khá kín Lộ là điều tối kị với thơ Đường Có người do không nắm chắc nguyên tắc "mạch kỵ lộ" của thơ Đường nên dịch câu "Vị giải ức Trường An" là
"Chưa biết nhớ cha đang ở Trường An"| "Chưa hiểu được lòng mẹ nhớ cha đang
ở Trường An" Cả hai cách dịch trên không phải không có lí, nhưng ý thơ lại quá
lộ và mạch thơ sẽ bị đứt quãng (vì sao đang nói về vợ mà lại đột ngột chuyển sang nói con) và hai chữ "độc khan" ở câu trên chưa được câu "thực" giải thích Đây
là hai cầu ý tứ rất hàm súc, kín đáo, nhiều lớp nghĩa đan xen và bổ sung cho nhau:
Trang 5- Chưa biết nhớ cha đang ở Trường An
- Chưa hiểu được lòng mẹ đang nhớ Trường An
- Chưa hiểu được lòng mẹ nhớ Trường An chính vì chưa biết nhớ cha đang
ở Trường An
Như vậy, hóa ra vợ Đỗ Phủ "nhìn" trăng vì nhớ Trường An, nhìn "một mình" là vì các con còn bé quá (Đỗ Phủ có 8 con, lúc ấy đứa lớn nhất mới 11 tuổi) chưa hiểu được lòng bà đang nhớ Trường An Mạch thơ đi tưởng đứt mà hóa nối, tưởng ngắt mà tiếp, đó là cách chuyển tài tình trong thơ Đường Không nói thương
vợ mà nói thương con, không nói mình nhớ vợ mà nói vợ nhớ mình, không nói
vợ nhớ mình mà nói vợ nhớ "Trường An", không nói vợ "nhớ Trường An" mà nói con "chưa
hiểu nhớ Trường An" Kín đáo mà trang nhã, hàm súc Đây là "ý đến mà bút không đến" Cho nên dịch thêm chữ như hai | cách dịch trên là bớt nghĩa
Để đạt tới vẻ đẹp hàm súc và cô đọng, thơ Đường thường sử dụng các thủ pháp nghệ thuật: động - tĩnh, ẩn – hiện, cao - xa, âm thanh - hình ảnh nhằm xác lập quan hệ giữa các sự vật hiện tượng để miêu tả
Câu 2: Từ đặc trưng cấu tứ thơ Đường, phân tích quan hệ cấu tứ tình – cảnh trong thơ Đường
Cảnh trong thơ Trung Quốc bắt nguồn từ triết lý phương Đồng coi con người là một bộ phận hợp thành chỉnh thể của giới tự nhiên (Nhân thân tiểu thiên địa) Vì vậy, tất cả các hiện tượng thiên nhiên trong văn chương không phải tồn tại độc lập như đối tượng lãnh hội của mĩ học mà là phương thức biểu đạt tâm hồn con người Tất nhiên, bản thân tự nhiên cũng chứa đựng vẻ đẹp tự nó và nó tồn tại độc lập như đối tượng của mĩ học Nhưng điểm khác biệt giữa phương Đông và phương Tây là ở chỗ phương Đông không bao giờ coi tự nhiên như đối tượng tranh đấu, mà luôn sống một cách hài hòa với thiên nhiên Hơn nữa, ở phương Đông phương thức sản xuất nông nghiệp kéo dài gấp ba bốn lần phương Tây Dù sau này, Trung Quốc phát triển | thành nước công nghiệp hiện đại thì nông nghiệp vẫn có vị trí trọng yếu trong nền kinh tế quốc gia, mà nông nghiệp gắn liền với tự nhiên Đến chữ Trung Quốc có 214 chữ tượng hình gốc cũng bắt nguồn từ tự nhiên
Trong Thơ Đường, quan hệ tình - cảnh được mã hóa trong “ý tượng” Ý tượng là một hình ảnh đã được gửi sẵn vào trong đó một ý niệm có tính chất tập thể truyền thống Ý tượng trong thơ Đường có thể là những ý tượng xã hội nhưng
Trang 6phần lớn là ý tượng thiên nhiên Đó là thông, tùng, cúc, trúc, mai, liễu, phong, hoa, tuyết, nguyệt Trong những hình tượng trên người ta đã gửi sẵn vào đó những tình cảm tập thể, truyền thống bao đời Cho nên, nhà thơ chỉ việc vận dụng
ý tượng và sắp xếp sao cho bộc lộ sự sáng tạo của mình chứ hầu như không sáng tạo thêm các ý tượng Nhà mỹ học - tâm lý học người Đức Theodor Lipos đưa ra thuyết “di tình” (tức di chuyển tình cảm của con người vào sự vật) Mọi hiện tượng tự nhiên đều được ánh xạ và chắt lọc qua ý niệm Như vậy, một hiện tượng
tự nhiên đi vào thơ ca không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà là tự nhiên đã mang ý niệm của con người Nhà lý luận phê bình Trung Quốc đời Thanh, Vương Phu Chi cũng phát biểu ý tương tự “Cảnh dĩ tình hợp, tình dĩ cảnh sinh” (cảnh vì tình mà hợp, tình vì cánh mà Sant): Thậm chí người ta còn kêu gọi
“nhất thiết cảnh ngữ giai tình ngữ” (nhất thiết mọi lời tả cảnh đều là lời tỏ tình) Khi phân tích thơ Đường nên tránh lối nói dứt khoát câu này, phần này tả cảnh, câu kia phần kia tả tình Những bài thơ được đánh giá cao trong sự kết hợp giữa tình và cảnh thuộc loại sau đây:
Thứ nhất, không phân biệt nổi là tả cảnh hay tả tình Ví dụ, Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu
Thứ hai, cảnh và tình được đưa vào một cách tự nhiên, có nghĩa cảnh đó mặc dù vẫn là những ý tượng có sẵn nhưng đồng thời cũng phản ánh cảnh thực ở tại thời điểm và địa điểm đó Ví dụ bài Thu hứng của Đỗ Phủ tả cảnh Vu sơn, Vu giáp, tiếng chày đập vải, thành Bạch để đều đúng như cảnh thực mặc dù chúng cũng là ý tượng thơ ca Hoặc như bài Văn Vương Xương Linh tả thiên Long Tiêu dao hữu thử ký của Lý Bạch cũng vậy
Những bài thơ như vậy thường là những bài rất thành công ở sự kết hợp bút pháp tả thực và tượng trưng
Quan hệ tình và cảnh trong thơ Đường chia làm hai dạng:
Lấy tình cảm con người đo sự vật (dĩ nhân độ vật): Con người luôn luôn
có một cự ly nhất định đối với sự vật Nhưng các thi nhân lại lấy tình cảm của mình để đo cái hữu tình của sự vật vô trị khiến chúng dường như cũng phảng phất cái tình Trong trường hợp này thường xuất hiện các từ: như, tự, tượng, dơ
Thử địa biệt Yên Đan, Tráng sĩ phát xung quan
Tích thời nhân dĩ một, Kim nhật thủy do hàn
Trang 7(Nơi này từ biệt thái tử Yên Đan, Tóc tráng sĩ dựng ngược mũ
Người xưa đã đi mất rồi, Nhưng đến nay nước sông vẫn lạnh)
(Lạc Tân Vương - Dịch thủy tống biệt) Ngày xưa khi chia tay Yên Đan, Kinh Kha cảm khái hát lên cầu Nước sông Dịch lạnh ghê/ Tráng sĩ một đi không quay về Buổi tiễn đưa Kinh Kha nhập Tần
đã đi vào dĩ vãng lâu rồi nhưng dường như nước sông vẫn lạnh đến bây giờ Có thể, dòng nước sông Dịch thủy không lạnh, nhưng tác giả đứng tách ra mà phán đoán, nhận định Tác giả đã xác lập chỗ đứng một cách rõ ràng để nhận định, vì vậy các hiện tượng trắng, hoa, mây, nước dường như cũng mang ý chí, tình cảm của con người Hoặc như bài Tây Thi thán (Bãi Tây Thi) của Thôi Đạo Dung có
câu: Cán sa xuân thủy cấp /Tử hữu bất bình thanh" (Nơi giặt lụa nước chảy ào ào/dường như có tiếng bất bình) cũng là lấy tình người đo vật
Sự vật được miêu tả như tự nó vốn có tình cảm thực sự: Trong trường hợp này, tình cảm của đối tượng thẩm mĩ (sự vật) và chủ thể thẩm mỹ (con người) dường như hòa nhập làm một
Đa tình khước tự tổng vô tình, Duy giác quân tiền tiêu bất thành
Lạp chúc hữu tâm hoàn tích biệt, Thế nhân thùy lệ đáo thiên minh
(Rất đa tình mà tựa kẻ vô tình, Chỉ biết rằng trước mặt chàng thì muốn cười cũng không được Cây nến có lòng nên còn tiếc nuối người ra đi,
Thay người nhỏ lệ cho đến khi trời sáng)
(Đỗ Mục - Tặng biệt)
Hoài thượng biệt cố nhân của Trịnh Cốc cũng vậy:
Dương Tử giang đầu dương liễu xuân,
Trang 8Dương hoa sầu sát độ giang nhân
Sổ thanh phong địch ly đình vãn, Quân hướng Tiêu Tương ngũ hướng Tần
(Đầu sông Dương Tử liễu mướt màu xuân, Hoa dương liễu làm buồn chết lòng người sang sông
Vài tiếng sáo vi vút buổi chiều ở đình ly biệt, Anh đi cùng Tiêu Tương, tôi đi đến đất Tần)
Câu 3: Từ lý luận về kết cấu, phân tích đặc điểm kết cấu bài thơ “Xuân vọng (Đỗ Phủ)
Trong quá trình phát triển, luật thi ngày càng trở nên gò bó, chặt chẽ do yêu cầu thi cử, yêu cầu phổ biến quy cách làm thơ và do cả yêu cầu nghiên cứu
mà dẫn đến việc mô hình hóa thơ Đường thành các công thức, kết cấu
Kết cấu 2/2/2/2 (để, thực, luận, kết) Như đã nói, cách gọi "đề, thực, luận, kết" không phải là do người Trung Quốc, mà có lẽ do Việt Nam gọi Khi phân tích luật thi, người Trung Quốc chỉ chia bài thơ thành bốn đơn vị và gọi là liên một, liên hai, liên ba, liên bốn - mỗi liên tương ứng một cặp câu; hoặc họ gọi là
"đầu/khởi liên", "hàm liên", "cảnh liên", "vĩ liên" Ở đây, do thói quen chúng ta vẫn gọi là "đề, thực, luận, kết" Thực ra cách chia bốn phần và gọi tên đề, thực, luận, kết không phải không có lý Lấy ví dụ bài Xuân vọng của Đỗ Phủ:
Quốc phá sơn hà tại, Thanh xuân thảo mộc thâm
Cảm thời hoa tiễn lệ, Hận biết điều kinh tâm
Phong hỏa liên tam nguyệt, Gia thư để vạn câm
Bạch đầu tạo cánh đoản, Hồn dục bất thăng trầm
Trang 9(Đỗ Phủ - Xuân Vọng) Hai câu đề:
Hai câu luận:
- Câu ba gợi câu năm - hiện thực cảnh nước mắt được thể hiện ở hình ảnh
khói lửa chiến tranh liên miên không dứt (phong hỏa liên tam nguyệt)
- Câu bốn gợi câu sáu - nói "thư nhà” là tiếp tục bình luận về cảnh nhà tan
ở câu hai, câu bốn Mạch thơ đi rất kín và vẫn liên tục chứ không đứt đoạn Nhà tan nên cần thông tin về gia đình
Hai câu kết:
Chuyện nhà và chuyện nước đủ làm con người phải bạc đầu (điển tích Ngũ
Tử Tư một đêm thức trắng bạc cả đầu)
Kết cấu 2/2/2/2 với cách gọi là "đề, thực, luận, kết" không phải lúc nào cũng đúng với tất cả mọi trường hợp Sáng tạo nghệ thuật không bao giờ gò vào một khuôn khổ nhất định Nói như Thẩm Đức Tiềm "Phép làm bài (luật thi) chỉ
là để dạy cho người mới học, không đủ nói với bậc cao minh" Do đó, khi phân tích luật thì cần phải lưu ý điều này, vì nếu cứ gò vào trình tự trên mà phân tích
Trang 10thuần là sự “gọt chân cho vừa giày” để đảm bảo số câu, số chữ theo yêu cầu của thơ luật, sâu xa hơn, nó là một cách tạo nghĩa nhằm làm hư ảo hóa, làm nhoè đi, tạo sự dồn nén và tăng cường hiệu quả nghệ thuật Cú pháp thơ bị tỉnh lược vì thế
có cái cảm giác mơ hồ, nửa hư nửa thực
Tỉnh lược đại từ nhân xưng: Thơ Đường trừ cổ phong còn luật thi, tuyệt cú hầu như không có đại từ nhân xưng Đại từ nhân xưng đóng vai trò chủ ngữ trong câu đã bị lược bỏ tối đa:
Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương
(Ngẩng đầu ngắm trăng sáng, Cúi đầu nhớ quê hương.)
(Lý Bạch - Tĩnh dạ tứ)
"Vọng nguyệt tư hương" là đề tài muôn thủa của thi nhân Trăng là tín hiệu nghệ thuật chỉ quê hương Cho nên nhìn trăng mà nhớ quê hương là tâm lý chung của người phương Đông, ai ai cũng vậy Do đó, không cần thiết phải chỉ rõ đại từ nhân xưng của câu thơ Ai "cử đầu" ai "để đầu"; ai "vọng" nguyệt và "tư" cổ hương không quan trọng Bởi ai vào hoàn cảnh xa quê, phiêu lãng nơi chân trời góc bể đều cũng có tâm trạng ấy Đó là yếu tố tạo nên trường liên tưởng rộng lớn của thơ Đường Có thể đồng ý với Nguyễn Sĩ Đại, việc tỉnh lược đại từ nhân xưng
là nhằm “hòa nhập tối đa cái tôi vào các yếu tố bên ngoài, vào bên trong sự vận động của thế giới hình ảnh” và “tạo khoảng trống để người đọc có thể bước vào làm chủ thế giới bài thơ được tạo ra” Đây là nguyên lí “đồng sáng tạo” hay nguyên lí “tảng băng trôi” mà lí luận văn học hiện đại đã chỉ ra Cũng cần phải lưu ý là tỉnh lược chỉ có thể phù hợp với ngôn ngữ Hán là ngôn ngữ đơn tiết tính, còn đối với ngôn ngữ phương Tây có sự biến đổi hình thái của từ, thì ý nghĩa nằm ngay chính trong hình thái biến hình đó của từ Cho nên dù có tỉnh lược đại từ nhân xưng thì đại từ ấy vẫn "hiển hiện" ra ở hình thái ngôi của động từ Nếu câu
"cử đầu vọng minh nguyệt", khi dịch ra các ngôn ngữ phương Tây hay ngôn ngữ Nga thì dù chủ ngữ là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất bị lược bỏ nhưng hình thái biến hình của động từ vẫn cho biết chủ ngữ là đại | từ nhân xưng ngôi thứ nhất
Có thể lấy một ví dụ nữa để chứng minh sự lược bỏ đại từ nhân xưng là phương tiện tối ưu để mờ hóa, ảo hóa làm cho | thơ lung linh huyền diệu
Xuân miên bất giác hiểu,
Trang 11Vào mùa xuân khi tôi đang ngủ, Khắp nơi quanh tôi, tôi nghe tiếng chim kêu
Đêm hôm qua tôi nghe thấy tiếng gió mưa,
Và tôi tự hỏi không biết hoa rụng nhiều hay là ít?
Thì đây lại là trạng thái của một người đã thức tỉnh hoàn toàn, đã ra ngoài trạng thái nửa ý thức ấy và đang bình luận Cái hay của sự tỉnh lược chủ ngữ hàm
ẩn trong bài thơ là tạo nên trạng thái mơ hồ không phân biệt được tiềm thức và nhận thức, giữa đêm và ngày, giữa ngủ và thức giấc làm tiền đề cho khả năng động hiện các lớp trị giác như đã nói trên Cả không gian và thời gian, cả tình lẫn cảnh, cả khách quan và chủ thể xoắn xuýt với nhau thành một chỉnh thể mà sự phân xuất ra từng ý nghĩa tách bạch của câu chữ chỉ nói rõ thêm sự vụng về của người mới mon men ngoài rìa địa hạt thơ Đường
Hiện tượng tỉnh lược đại từ nhân xưng trong thơ Đường nhiều khi còn đem đến sự thú vị đặc biệt Nếu như trong Tĩnh dạ tứ (Lý Bạch), chủ ngữ hàm ẩn bị lược bỏ và không có độc giả thơ Đường nào hiểu khác chủ ngữ hàm ẩn ấy, thì trong bài Lộc sài của Vương Duy, có hiện tượng chủ ngữ hàm ẩn bị lược bỏ, nhưng trạng ngữ địa điểm lại có khả năng biến thành chủ ngữ của câu:
Không sơn bất kiến nhân, Đãn văn nhân ngữ hưởng
Trang 12Phản cảnh nhập thâm lâm, Phục chiếu thanh đài thượng
(Núi vắng không thấy bóng người, Chỉ nghe thấy tiếng người vọng lại
Bóng chiều chiếu rừng sâu, Soi xuống lớp rêu xanh.)
(Vương Duy - Lộc sài)
Ở câu đầu Không sơn bất kiến nhân, “không sơn” là trạng ngữ địa điểm (trong núi vắng) đã biến thành chủ ngữ trong ngữ pháp của cầu thơ, tuy nhiên, chủ ngữ thực sự của hành động “bất kiến” là chủ ngữ hàm ẩn Hiện tượng chủ ngữ hàm ẩn thực sự bị lược bỏ và chủ ngữ hóa trạng ngữ trong câu thơ đã đem đến một sự đồng nhất giữa “không sơn” với tác giả (chủ ngữ hàm ẩn), với người đọc
Tỉnh lược động từ: Không chỉ chủ ngữ bị tỉnh lược mà động từ đóng vai trò vị ngữ cũng bị tỉnh lược Có trường hợp nêu không xác định đúng yếu tố bị tỉnh lược và khôi phục chúng thì không thể nào dịch được Hai câu thơ sau của
Đỗ Phủ:
Xuân thủy thuyền như thiên thượng tọa, Lão niên hoa tự vụ trung khan
Nếu người đọc dễ dãi, không chịu suy nghĩ thì dễ dàng kết luận "tọa" và
"khan" là động từ của hai câu Câu 1 có thể hiểu theo hai cách: chủ ngữ là
"thuyền", hoặc chủ ngữ hàm ẩn Những câu hai, "lão niên" và hai từ "hoa, khan" không tạo thành cụm chủ - vị (nên câu 1 chủ ngữ không thể là "thuyền" mà là chủ ngữ hàm ẩn - nhân vật trữ tình Đỗ Phủ) đồng thời động từ "khan" cũng bị tỉnh lược Ở câu 1 sau chủ ngữ hàm ẩn thì động từ chính "tọa" cũng bị tính lược Còn
"tọa" ở cuối câu không phải là động từ, cả cụm "thiên thượng tọa" làm trạng ngữ Hai câu thơ trên muốn dịch đúng phải khôi phục lại chú ngữ và động từ bị tỉnh lược:
Xuân thủy (ngã tọa) thuyền như thiên thượng tọa,
Lão niên (ngã khán) hoa tự vụ trung khan
Trang 13(Trên làn nước xuân, (ta ngồi) trên thuyền cảm thấy như ngồi trên trời
Vì tuổi già, (ta nhìn) hoa mà cứ tưởng như nhìn trong sương mù.)
(Đỗ Phủ - Tiểu hàn thực chu trung tác) Việc tỉnh lược nói chung và tỉnh lược động từ nói riêng trong thơ Đường, một mặt do yêu cầu của thơ luật về câu chữ, nhưng điều quan trọng hơn, tỉnh lược còn hướng đến việc diễn đạt ý tứ nhằm đạt đến trạng thái “ý ở ngoài lời” như trường hợp bài Thường Nga của Lí Thượng Ẩn dưới đây:
Vân mẫu bình phong chúc ảnh thâm, Trường hà tiểu lạc hiểu tinh trầm
Thường Nga ưng hổi du linh dược, Bích hải thanh thiên dạ dạ tâm
(Đèn khuya mờ chiếu bóng bình phong, Canh vắng sao thưa trắng bến sông Trộm thuốc tội tình nàng gánh chịu Đêm thanh mâu thẳm xót xa lòng)
(Lí Thượng Ẩn – Thường Nga) Bài thơ kể tích Thường Nga bị nhốt trên cung trăng, giữa biển biếc, trời xanh, đêm đêm lòng xót xa cho mối tình Câu 4 của bài tuyệt cú hoàn toàn bị tỉnh lược động từ, chỉ còn lại danh từ: bích hải, thanh thiên, dạ dạ tâm Nhờ sự tỉnh lược động từ mà câu thơ có sự tĩnh lặng hóa, không gian, thời gian như ngừng trôi, ngưng đọng lại trên nền cái xao động của cõi lòng đầy bồn chồn, khắc khoải (dạ dạ tâm) của Thường Nga Nhịp ngắt 2/2/3 của câu thơ càng làm đối lập cái tĩnh lặng hư vô của vũ trụ vĩnh hằng với cái xao động của trái tim Thường Nga hay cũng chính là sự đồng cảm của con người đa tình Lí Thương Ấn như khóc thương cho số phận người yêu nơi cung cấm
Tỉnh lược quan hệ từ so sánh: Việc tỉnh lược những quan hệ từ so sánh không đơn thuần chỉ vì tiết kiệm chữ nghĩa, quan trọng hơn là nó tạo ra giữa các
về một sự tương quan đối lập hoặc tương đồng:
Phù vân du tử ý,