Romeo và Juliette chết trên nấm mồ của tình yêu. Ngôi làng Macondo mang lời nguyền đến trăm năm cô đơn vĩnh viễn bị xóa sổ khỏi mặt đất. Gian Van Gian cuối cùng vẫn mang số kiếp của những người khốn khổ, chết trong nỗi buồn và cô đơn… Cái cảm giác chung cuộc của bi kịch đời người dù thuộc thời đại nào cũng vẫn giống nhau: nỗi buồn thấm thía cho thân phận bên trên cuộc đời. Cảm giác ấy có thể được tạo ra dưới những dòng chữ dữ dội của cái chết, số phận, tình yêu, sự loạn luân, cùng khốn, nỗi cô độc tột cùng… Nhưng cảm giác ấy nhiều khi cũng chỉ thoáng qua với những trầm tư suy tưởng, những im lặng thở dài mà như khắc như ghi vào tâm hồn bạn đọc. Đó là điểm khác nhau cơ bản giữa dòng văn học phương Tây và phương Đông – mà đại diện tiêu biểu là Yasunari Kawabata, nhà văn Nhật đoạt giải Nobel với những tác phẩm “vốn chẳng có gì để kể”. Đó là cách ghi nhận “vũ trụ qua một hạt cát, thiên đường trên một cành hoa, vô biên trong lòng bàn tay và thiên thu trong khoảnh khắc một giờ” (W.Blakes). Đến với những sáng tác của Kawabata là đến với một khoảng trống đến ghê người, là đến với những cái nửa chừng không định đoạt, là đến với chất trầm tư của phương Đông, của Nhật Bản, của Thiền… Đó là cái khó hiểu của chân không, là thi pháp chân không mà người viết tìm hiểu trong bài tiểu luận này.
Trang 1DẪN NHẬP
Romeo và Juliette chết trên nấm mồ của tình yêu Ngôi làng Macondo mang lời nguyền đến trăm năm cô đơn vĩnh viễn bị xóa sổ khỏi mặt đất Gian Van Gian cuối cùng vẫn mang số kiếp của những người khốn khổ, chết trong nỗi buồn và cô đơn… Cái cảm giác chung cuộc của bi kịch đời người dù thuộc thời đại nào cũng vẫn giống nhau: nỗi buồn thấm thía cho thân phận bên trên cuộc đời Cảm giác ấy có thể được tạo ra dưới những dòng chữ dữ dội của cái chết, số phận, tình yêu, sự loạn luân, cùng khốn, nỗi cô độc tột cùng… Nhưng cảm giác ấy nhiều khi cũng chỉ thoáng qua với những trầm tư suy tưởng, những
im lặng thở dài mà như khắc như ghi vào tâm hồn bạn đọc Đó là điểm khác nhau cơ bản giữa dòng văn học phương Tây và phương Đông – mà đại diện tiêu biểu là Yasunari Kawabata, nhà văn Nhật đoạt giải Nobel với những tác phẩm “vốn chẳng có gì để kể” Đó là cách ghi nhận “vũ trụ qua một hạt cát, thiên đường trên một cành hoa, vô biên trong lòng bàn tay và thiên thu trong khoảnh khắc một giờ” (W.Blakes) Đến với những sáng tác của Kawabata là đến với một khoảng trống đến ghê người, là đến với những cái nửa chừng không định đoạt, là đến với chất trầm tư của phương Đông, của Nhật Bản, của Thiền… Đó là cái khó hiểu của chân không, là thi pháp chân không mà người viết tìm hiểu trong bài tiểu luận này
Soi chiếu thi pháp chân không vào một tác phẩm cụ thể của Kawabata
là “Tiếng rền của núi”, người viết sẽ có dịp làm rõ hơn thủ pháp nghệ thuật
đặc thù này thông qua nội dung truyện và tư tưởng của nhà văn “Tiếng rền của núi” tuy không phải là một trong ba tác phẩm được thẩm định cho giải Nobel của Kawabata nhưng giá trị văn học, văn hóa của nó đã được khẳng định, cùng với “Người đẹp say ngủ” Tác phẩm là sự lo âu về những điều tưởng như thường nhật cuộc sống mà có sức ám gợi đến cả một thế hệ con người Đó là chân không, là chiếc gương soi đa sắc của tất cả những gì hiện hữu…
Trang 21 Thi pháp chân không – từ thơ haiku đến tác phẩm Kawabata.
1.1 Giới thuyết về “thi pháp chân không”
Nhật Bản như ngọn núi Fuji ngàn năm trầm tịch trong tuyết trắng Giữa lòng núi lạnh giá ấy, những mạch ngầm của lửa vẫn sục sôi Đó là hình tượng của vẻ đẹp và tâm hồn Nhật Bản ẩn tàng nơi những bề sâu tinh thần, nơi con người chỉ có thể chiêm nghiệm qua năm tháng Để cảm nhận đã khó, để hiểu và dàn trải lên trang văn những vẻ đẹp ấy càng khó hơn Vì thế mà thi pháp chân không ra đời, phù hợp với cách diễn đạt và miêu tả của tâm hồn phương Đông, đặc biệt là tâm hồn Nhật Bản
Thi pháp chân không (Sinkankaku) là một biện pháp nghệ thuật để ra những khoảng trống đầy sức ám gợi trong việc miêu tả thiên nhiên, cuộc sống, con người… nhằm khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc Cái chân không ấy
là sự “trống rỗng” mà ta thường thấy trong thơ haiku, trong tranh thủy mặc, trong vườn đá tảng… thoạt nhìn ta không thể nào hiểu được Nhưng khái niệm chân không này không phải là khái niệm hư vô của phương Tây, “mà trái ngược hẳn lại, đó là một thế giới tâm linh trong đó vạn vật tương hỗ giao cảm,
hoàn toàn tự tại, siêu việt mọi biên giới và hình thức” (Diễn từ Nobel –
Kawabata) Không phải là hư vô vì không thiếu vắng những chi tiết, đường nét,
tư tưởng, tâm hồn, có điều để thấu đáo được bề sâu của những đường nét ấy thì con người phải đạt đến sự tịch tĩnh của quá trình chiêm nghiệm Và câu trả lời
sẽ là đáp án chính xác cho mỗi con người trong mỗi hoàn cảnh riêng Nói cách khác, không bao giờ có một câu trả lời chung nhất cho những gì còn bỏ ngỏ
Nếu những sáng tác phương Tây thường hướng đến cái chu toàn thì ngược lại, ở phương Đông, cái nôi của những câu chuyện huyền bí, lại ưa thích hướng về cái vô tận Đó là điều kiện để thi pháp chân không ra đời, như một cách giao cảm không biên giới giữa nhà văn và bạn đọc, kiểu như: “Bài thơ anh làm một nửa mà thôi/ Còn một nửa để mùa thu làm lấy” (Chế Lan Viên) Thi pháp chân không là biểu hiện của chất trầm tư, suy tưởng, của triết lí trong mỹ học Thiền áp dụng vào văn chương
1.2 “Thi pháp chân không” – từ thơ haiku đến tác phẩm Kawabata
Khái niệm về chân không không phải là xa lạ với văn chương Nhật Bản, với những thi nhân mà suốt cả cuộc đời chỉ sống vì nguyện vọng duy nhất là đi tìm cái đẹp Hơn ngàn năm trước, trong “Vạn diệp tập” (Manyoshu), đã ẩn hiện đâu đó cái gọi là chân không: “Nàng có là hoa không/ khi tro tàn hài cốt/ tôi đem rắc trên đồng/ tàn tro bay nhè nhẹ/ như hoa vào hư không” (khuyết danh
Trang 3-bài 1416) Sự khinh thanh nhẹ nhàng ẩn chút niềm cô tịch bởi những điều không thể nói ra ấy cứ tản mác đâu đó trên con đường tìm kiếm cái đẹp của thi
ca Nhưng phải đến ngàn năm sau, khái niệm chân không mới trở thành một nguyên lý sâu xa khi tìm được hình thức vừa vặn cho mình, đó là thơ haiku:
“A! Hoa Asagaô Chiếc gầu vương hoa bên giếng Đành xin nước nhà bên”
(Chiyô) Giây phút mà người và hoa gặp nhau đã vĩnh viễn hóa khoảnh khắc của buổi sớm mai vào cõi vô cùng của cái đẹp Hay có thể là bến bờ vô tận của nỗi
cô đơn: “Trên cành khô
Cánh quạ đậu Chiều thu”
(Bashô) Giản dị thay là một cánh quạ và cành khô, vậy mà gọi cả mùa thu Chiều thu đậu trên một cánh quạ nhỏ nhoi và yếu ớt Đó là khoảnh khắc nhận diện bản thể hữu hạn trước cái vô cùng của vũ trụ Đó là khoảng im lặng tự thấu hiểu của chân không…
Nguyên lý chân không trong thơ haiku được thể hiện trước tiên là ở khả năng cô đọng từ ngữ đến tuyệt đối Mỗi bài thơ chỉ mười bảy âm tiết mà gói trọn trong nó cả mùa, sự vật và tư tưởng mang tầm vũ trụ Chỉ mười bảy âm tiết thôi nên người đọc muốn sở đạt nó phải vận dụng hết cả khả năng liên tưởng, tưởng tượng của mình Thông qua lớp ngôn ngữ ấy, những hình ảnh chúng sinh hiện lên, tương phản hoặc tương đồng với hình ảnh tạo vật: là con ếch bé nhỏ nhảy vào chiếc ao phù thế, là chiếc bè trôi giữa bão giông, là chú chuột uống nước bên dòng Sumida, là ngón tay nhỏ nhoi - hạt dẻ còn trong vỏ,… ẩn vào đó khi là nỗi cô độc, khi là niềm bi cảm, khi là sự hồi sinh… Nguyên lý chân không còn thể hiện trong thơ haiku thông qua khả năng nắm bắt và thiên thu hóa một khoảnh khắc của sự vật, đó là khoảnh khắc khi chiều thu đậu trên cánh quạ, khi bước nhảy của con ếch làm vang động chiếc ao, khi hạt cát vương trong vỏ con sò, khi mưa mùa xuân xuyên qua từng chiếc lá… Từ những hình ảnh nhỏ bé ấy, chúng sinh hiện lên bình đẳng; từ những khoảnh khắc mùa ấy, cuộc đời trở thành thiên thu Nguyên lý chân không trong thơ haiku đã được hình thành từ những điều như thế
Đến Kawabata, chân không đã được thăng hoa lên một tầm cao mới, từ nguyên lý chân không trở thành thi pháp chân không Kawabata đã sáng tạo ra
Trang 4cái gọi là “thi pháp chân không” bằng những đặc trưng nghệ thuật riêng biệt trong tác phẩm Với dung lượng dài hơn một bài thơ haiku mười bảy âm tiết, truyện ngắn hay tiểu thuyết của Kawabata ngoài sự cô đọng ngôn ngữ - gợi chứ không tả, ngoài khả năng nắm bắt khoảnh khắc của sự vật (đó là khi Singo nghe tiếng núi rền, là khi chiếc khăn in hình ngàn cánh hạc của nàng Inamura
in sâu vào tâm trí Kikuji,…), thi pháp chân không còn thể hiện thông qua sự đặc tả chi tiết, kết thúc tác phẩm, xây dựng hình tượng không gian - thời gian
và chân dung con người Ta sẽ ngạc nhiên khi thấu đạt chân lý cuộc sống chỉ qua một vết son môi trên chén trà – dấu vết còn sót lại của một nền văn hóa truyền thống đã suy vi, qua tấm gương soi để nhận biết triết lý hình và bóng, qua bộ ngực của các cô gái để hiểu ra cả nền văn minh nhân loại Như vậy, khởi đầu của chân không là trống rỗng, và kết thúc nó là sự tương giao giữa sự vật và tâm hồn con người Nếu trong thơ haiku, sự tương giao ấy chỉ thuần túy giữa chúng sinh và vũ trụ, thì trong tác phẩm của Kawabata, nó còn thể hiện trên nhiều phương diện đời sống Vẫn hướng về đời sống và vẫn hướng về cái đẹp, cái đẹp tuyệt đích trong đời sống chật hẹp - đó là nguyên tắc làm nên thế giới nghệ thuật của Kawabata
Những nguyên lí mùa, nguyên lí tương quan trong thơ haiku – cơ sở hình thành nguyên lí chân không – đều xuất phát từ tín ngưỡng lâu đời, là Thần đạo và Thiền tông Nhật Bản Thần đạo tôn sùng thiên nhiên Thiền tông lại thể hiện triết lí nhất thiết bình đẳng, tương quan giữa chúng sinh và vũ trụ, giữa tiểu ngã và đại ngã Chính thế mà chân không trong haiku là sự hòa kết nhuần nhuyễn giữa chất trầm tư triết lí của Thần đạo (Shito) và Thiền (Zen) Đến Kawabata, nhà văn bám rễ sâu xa vào tinh thần Nhật Bản nhưng vẫn hấp thụ văn minh phương Tây, đã sáng tạo nên thi pháp nghệ thuật cho riêng mình từ hai luồng văn hóa ấy Vẻ đẹp Nhật Bản trong các tác phẩm của Kawabata được nhìn nhận thông qua thấu kính phương Tây, và từ thấu kính này, ông phát hiện
ra tính chất hiện đại ngay trong cái đẹp dân tộc và thể hiện nó với một màu sắc mới Từ đó, thi pháp chân không của Kawabata là sự kết hợp giữa các yếu tố tôn giáo truyền thống và trường phái “Tân cảm giác” do ông sáng tạo ra từ văn hóa Tây phương – đề cao vai trò của trực cảm trong việc cảm thụ cái đẹp Đó là
sự cảm nhận trực tiếp, là những rung động tình cảm cùng tần số với cái đẹp mà nếu dùng lí trí để mổ xẻ thì sẽ làm tổn thương đến nó Đây cũng là con đường duy nhất để thấu đạt chân không
“Thi pháp của Kawabata là thi pháp của chân không… Tôi cho rằng nên xếp Kawabata vào dòng văn chương mà ta có thể dò đến tận những bậc thầy
Trang 5haiku của thế kỉ mười bảy” (Seidersticker) Đối diện với những tác phẩm của Kawabata, ta như đứng trước những bài haiku, dù vài nghìn trang giấy hay ba dòng cùng mười bảy âm tiết thì có gì khác nhau khi tính chất của cái “không” luôn hiện hữu, luôn là thử thách cho những người muốn tìm kiếm một điều khả
dĩ để thấu hiểu trong các sáng tác của ông Cách thức để hiểu có lẽ là cách nhìn sâu vào tận đáy lòng mình…
2 Thi pháp chân không trong “Tiếng rền của núi”.
Cùng với “Ngàn cánh hạc”, “Tiếng rền của núi” là tiểu thuyết dài hơi nhất của Kawabata được viết trong thời hậu chiến Nếu “Ngàn cánh hạc” dựng trên bình phong trà đạo để viết về những giá trị tinh thần con người đang đi xuống thì “Tiếng rền của núi” là tiếng lòng của nhà văn trước cái chết và những cái tàn tạ thuộc về tâm hồn con người Tác phẩm sau gắn chặt vào hiện thực nhiều hơn khi bóng dáng của chiến tranh vẫn thấp thoáng đâu đó, để lại hậu quả cho một thế hệ người Nhưng cũng giống như “Xứ Tuyết”, “Người đẹp say ngủ” hay “Cố đô”, “Tiếng rền của núi” đi đến tận cùng vẫn viết về cái đẹp, cái đẹp trên bình diện cuộc sống Đó là cái đẹp trong tâm hồn của một con người trọng tuổi – ông lão Singo – luôn hoài niệm về một tình yêu không bao giờ đạt tới; là cái đẹp thuần khiết của cô con dâu Kikuco, luôn sống vì mục đích dành cho mọi người Vì quá trìu mến với cái đẹp nên khi con đường tìm kiếm nó bị đứt quãng thì bi kịch thân phận bắt đầu nổi lên Tiếng núi là tiếng vọng từ cõi chết, từ cái xấu xa thấp hèn đang phủ bóng lên trên cuộc đời
Để nói lên được tất cả những điều đó, nhà văn đã sử dụng triệt để thủ pháp chân không thông qua việc chọn lựa chi tiết, khắc họa cảm giác tinh tế, xây dựng không gian các giấc mơ Lựa chọn và khai thác các đặc điểm nghệ thuật trên để làm bật nội dung truyện là một thách thức đối với người viết Trên
cơ sở tìm hiểu nội dung truyện thông qua các đặc điểm nghệ thuật, bài viết cố gắng lấp đầy những khoảng trống, là tư tưởng nhà văn đằng sau lớp vỏ ngôn từ Những khoảng trống vô hình ấy lại đầy sức thu hút đối với những ai thích khám phá và yêu cái đẹp triết lí, trầm tư Đó là khoảng trống phía sau cánh cửa còn đóng kín
2.1 Những ám ảnh điêu tàn
Xuyên suốt tác phẩm là những cảm thức của ông lão Singo đối với cuộc đời Trên cái thường nhật tưởng chừng bình lặng ấy, tồn tại những cơn bão lòng làm lung lay tận gốc rễ của niềm tin Chặng hành trình tinh thần ông lão
Trang 6Singo đi qua là hành trình vật lộn với những điêu tàn thường xuyên xảy ra trong đời mình Đến độ nó trở thành một nỗi ám ảnh mơ hồ, nhưng có thể nhận biết rõ qua hai loại cảm giác: thị giác và thính giác, tức từ những hình ảnh và
âm thanh
2.1.1 Âm thanh
Mở đầu của “Xứ tuyết” là hình ảnh đoàn tàu trong đêm tối làm cuộc hành trình đưa con người đến xứ sở trinh bạch của tuyết trắng Mở đầu “Tiếng rền của núi”, tác giả cũng sẵn sàng tâm thế cho người đọc bước vào một thế giới khác, hiện hữu bên cạnh cuộc sống thực của một gia đình khá giả ở Tokyo
Thế giới huyền ảo hiện ra từ khi tiếng núi bắt đầu rền lên trong đêm vắng: “Nó giống như tiếng gió xa, nhưng có thể ví với tiếng rền rĩ trầm vang từ sâu trong lòng đất vọng ra Singo cảm thấy như đó là tiếng rền từ trong chính bản thân mình” Tiếng núi có thể gọi là âm thanh chủ đạo trong tác phẩm, được láy lại
nhiều lần ở mỗi chặng khác nhau của đời người Để dọn đường cho tiếng núi –
âm thanh của thế giới khác vọng lên, Kawabata đã tạo nên một không gian lạ:
đó là không gian đêm tịch mịch với vạn vật hiện hữu qua thính giác: tiếng ve sầu ngoài vườn, tiếng sương rơi trên cành lá, tiếng ầm ào của sóng biển Không gian thính giác này bao bọc quanh ông lão Singo, một cá thể cô đơn nhưng đủ tinh tế để cảm nhận cuộc sống từ những điều tế vi nhất Tiếng núi rền
do đó là âm thanh vang lên từ chính bản thân ông, chỉ mình ông nhận biết:
“Quả núi đã rền lên, như thể có một con quỷ vừa bay qua đầu nó”… “Núi rền được sao? – Kikuco thốt lên – Mà hình như có lần mẹ đã kể con nghe một chuyện như vậy Hình như là chị gái của mẹ trước khi chết cũng có nghe tiếng núi rền thì phải” Người Nhật tin rằng mỗi khi nghe được tiếng núi rền là điềm
báo một con người tốt với tâm hồn đẹp và nhạy cảm sắp từ bỏ cuộc đời Vì lẽ
đó mà Singo cảm thấy sợ, “biết đâu đó chẳng là dấu hiệu của thần chết đang gọi ông?” Từ đây, đời sống tâm hồn của ông lão Singo được mở ra với những
soát xét, toan tính của một đời, từ quá khứ đến hiện tại Không chỉ mở ra thế giới bí mật của tinh thần con người, sơn âm còn dự báo một sự tàn tạ sắp đến
mà tâm hồn nhạy cảm của ông mơ hồ cảm thấy: sự già hóa của con người và sự băng hoại của xã hội, những điều rồi sẽ được minh chứng ngay trong chính gia đình bé nhỏ của ông
Bên cạnh tiếng núi mơ hồ huyền hoặc là những âm thanh đời thường khác, cũng được nghe thấy từ đôi tai của ông lão Singo Cái cách mà Kawabata xây dựng không gian thính giác xoay quanh nhân vật này đã gợi mở rất nhiều cho quá trình thâm nhập vào bề sâu tâm hồn nhân vật, thấy được những
Trang 7“khoảng trống” trong đời sống tinh thần của một người già luôn chứa đựng một
cái gì ẩn ức Gần với tiếng núi là tiếng của đoàn xe lửa: “Lẫn trong tiếng gào
rú của giông tố có một thứ tiếng ầm ì rất nặng Hẳn đó là tiếng xe lửa chạy qua đường hầm Tana – Singo thầm nghĩ Tiếng ầm ì kéo dài rất lâu, trong khi
lẽ ra chỉ mất vài phút là tàu phải qua hết đường hầm Singo sẵn sàng thề rằng ông nghe thấy cả tiếng tàu bắt đầu vào đường hầm từ phía bên kia núi Chẳng
lẽ ông lại có thể nghe thấy tiếng tàu chạy ở cách bảy kilomet, tận phía Canani?” Cái đêm ông nghe thấy tiếng đoàn tàu là khi ông đã nhận thức rõ sự
tàn tạ của giá trị đạo đức ở người con trai Suychi, khi Suychi nói về Kikuco: nó
vẫn còn “trẻ con” và “non nớt” “Singo hiểu con trai ông muốn ám chỉ tư chất đàn bà của Kikuco Chẳng lẽ anh ta lại đi tìm một thứ gái điếm ở người vợ trẻ của mình? Điều đó hẳn phải là một sự vô giáo dục ghê gớm, một sự băng hoại tinh thần khủng khiếp” Đoàn xe lửa là hình ảnh hay xuất hiện trong tác phẩm
Kawabata, biểu tượng cho cuộc hành trình của đời người Ở đây, là cuộc hành trình đi dần về sự suy đồi của những giá trị đạo đức Âm thanh ấy không thực,
nó xuất phát từ tâm trí ông, bộc phát ra thành một dạng giác quan bên ngoài nhưng thực chất là bên trong vì những ẩn ức không sao kìm nén nổi Đó là dấu hiệu của sự bất lực và tuyệt vọng khi nhìn thấy cuộc sống gia đình con trai mình đang dần đi vào bế tắc, khi cảm nhận được nỗi khổ của người con dâu Kikuco, khi tình trạng ngoại tình của Suychi đã trở thành một điều hiển nhiên Những điều này đã đưa tiếng xe lửa ầm ì xa xôi vang lên trong tiềm thức ông lão
“Tiếng rền của núi” chứa đựng rất nhiều âm thanh (tiếng ve kêu, tiếng chuông mùa xuân, tiếng ó trong vườn nhà…), nhưng những âm thanh mang tính ám thị cao lại là những âm thanh không thực Nếu âm thanh của núi là tiếng gọi huyền bí của thiên nhiên, âm thanh đoàn tàu là những đau buồn về cõi đời thì còn một dạng âm thanh khác: âm thanh của chính con người cũng mang sắc thái huyền bí đầy nội lực, đó chính là những tiếng gọi trong đêm Có hai lần tiếng gọi trong đêm vang lên trong tác phẩm, từ hai thời điểm khác nhau Lần thứ nhất là tiếng gọi từ người chị gái đã khuất của bà Yasuko, vợ Singo, vốn là mối tình thầm lặng đầu tiên của ông trong quá khứ Ông nghe tiếng gọi vang lên trong đêm tối giữa cơn mơ màng Singo đã yêu đến si mê một người con gái bằng tuổi chị mình, nhưng chưa bao giờ ông có được chút hương thừa từ lòng đam mê ấy Vì thế mà quá khứ luôn trở đi trở lại trong ông với nỗi đau không tả thành lời, ám ảnh cả trong thực tại, hiện hình nơi những đường nét của người con dâu Kikuco Đúng như điều nhà văn tâm niệm: “Nỗi luyến tiếc
Trang 8thời quá khứ đã qua không bao giờ trở lại có lẽ là cái chủ yếu nhất trong con người” (Cố đô) Đứng trước nguy cơ tan vỡ hạnh phúc gia đình của con trai, bóng dáng đổ vỡ xa xưa hiện về trong ông đầy gợi nhớ và gợi nhắc… Tiếng gọi thứ hai là của Suychi gọi Kikuco trong một đêm say rượu về nhà, cũng
được cảm nhận qua thính giác của Singo Nghe tiếng kêu “đầy đau đớn” của con trai, “Singo bủn rủn chân tay, ông nằm gục xuống giường và thấy ngạt thở” Bởi lẽ, “Suychi gọi vợ mình bằng một giọng đầy tình cảm và sầu muộn, giọng của một kẻ đã bị mất hết mọi thứ trên đời này Đó là tiếng gào của một đứa trẻ mất mẹ trong cơn đau đớn và tuyệt vọng, tiếng gào của sự khiếp sợ đầy
vẻ chết chóc” Tại sao một người đàn ông trở về từ cuộc chiến tranh, chỉ biết
uống rượu, giải trí và quan hệ lăng nhăng với những người đàn bà dễ dãi lại có tiếng kêu phát ra từ nỗi khiếp sợ như thế? Vì bản chất anh ta không phải là người xấu, ngay chính anh cũng nhận thức được sự tha hóa của mình Cái phần
người tốt đẹp đã bị chiến tranh đế quốc lấy đi, và “điều mà chiến tranh đã giết chết, không bao giờ hồi sinh lại nữa” Sự vô nghĩa của cuộc chiến tranh đã
gieo vào lòng người sự đổ vỡ không thể nào cứu vãn, đặc biệt là đối với tầng lớp thanh niên, những người rất nhạy cảm với cuộc đời Có thể đổ cho tàn dư chiến tranh trong việc tha hóa con người nhưng con người vẫn phải chịu trách nhiệm nặng nề nhất, nên có lẽ chỉ đến khi say, Suychi mới có can đảm thú tội trước vợ mình, thú tội trước một tấm lòng thánh thiện Đó là đỉnh điểm của sự suy tàn thể hiện trước mắt ông lão Singo, nhưng đó hẳn không phải là cái suy
tàn không cứu vãn được: “Con tha thứ cho nó nhé, được chứ!”, ông thầm nói với Kikuco trong tâm tưởng”…
2.1.2 Hình ảnh
Bên cạnh những ám ảnh về âm thanh, hệ thống hình ảnh trong tác phẩm cũng đóng vai trò quan trọng làm rõ hơn một thế giới điêu tàn Có hai loại hình ảnh: hình ảnh tượng trưng mang tính dự báo và hình ảnh về cái chết của những kiếp người
Xây dựng những hình ảnh rất giản dị nhưng đầy ý nghĩa tượng trưng, Kawabata cốt thực hiện phương châm nghệ thuật của mình: “Kawabata cho rằng mục đích của nhà nghệ sĩ không phải ở chỗ tìm cách làm cho mọi người kinh ngạc, sửng sốt bằng cái li kì quái dị, mà ở chỗ biết dùng chỉ vài phương tiện ít ỏi mà nói được nhiều nhất, biết dùng ngôn từ và màu sắc để truyền đạt
cảm xúc và kinh nghiệm nhìn đời của mình” (Kawabata, con mắt nhìn thấu cái đẹp – Fedorenko) Những hình ảnh ấy cũng thuộc về cái chân không trong nghệ
Trang 9thuật Có hai hình ảnh mang tính tượng trưng cao trong tác phẩm, là hình ảnh ngôi nhà bị đổ trong giấc mơ của bà Yasuko và hình ảnh hạt dẻ rơi trở đi trở lại trong hồi tưởng của ông Singo Cả hai đều ám thị một sự tàn tạ rạn nứt đến ghê
sợ trong tinh thần con người Ngôi nhà đổ nát trong giấc mơ của bà Yasuco là ngôi nhà thừa tự của cha mẹ để lại, là nơi chôn nhau cắt rốn của bà, là nơi Singo và Yasuco đã nên vợ nên chồng Ngôi nhà là rường cột của một nền văn hóa tinh thần đã trải qua thử thách của thời gian, nay bị bỏ hoang trong thời đại kinh tế thị trường Giấc mơ về sự đổ nát của ngôi nhà có thể là viễn cảnh không
xa về chính cái gia đình bé nhỏ của họ, gắn liền đặc biệt với số phận con gái của hai ông bà: Fuxaco Đời sống vợ chồng của Fuxaco thật sự là một bi kịch, kết thúc cảnh bi đát thường xuyên phải về nhà cha mẹ ruột của mình ở nhờ là một tờ giấy li dị và sự mập mờ về số phận sống chết của người chồng Một thời gian Fuxaco đã đến ở trong chính ngôi nhà bà Yaxuco nằm mơ bị đổ ấy Cái rường cột tinh thần đã lung lay từ gốc rễ, và sự tàn tạ của cảnh ngộ cùng với tâm hồn Fuxaco phải chăng chỉ là biểu hiện đầu tiên của những giá trị tưởng như bền chặt nhất của một con người: là gia đình và những đứa con
Các sáng tác của Kawabata có một đặc điểm là thường hay sử dụng những chi tiết liên truyện, đôi khi ta bắt gặp một vài hình ảnh quen thuộc trong tiểu thuyết có xuất xứ từ những truyện ngắn trong lòng bàn tay Đây là một trong những cơ sở để thấu đáo cái chân không nói chung từ những nội dung thể hiện khác nhau Đó là trường hợp của hình ảnh tượng trưng: hạt dẻ rơi, hình ảnh chủ đạo của truyện lòng bàn tay “Địa tạng vương Bồ Tát Oshin” Từ hạt dẻ rơi trong sân lữ điếm, tượng trưng cho nỗi bất hạnh tự gieo xuống thân phận của những cô gái giang hồ đến hạt dẻ rơi trong ngày cưới của Singo và Yasuco, qua hồi tưởng của ông lão Singo, đã diễn ra một sự tiếp nối về số phận con người Từ nỗi bất hạnh của thân phận, hạt dẻ rơi là hình ảnh của nuối tiếc và
mất mát: “Một trái hạt dẻ đã rụng đúng vào lúc cặp tân hôn đang trao nhau ly rượu cưới Quả dẻ rơi trúng một hòn đá và văng xuống suối […] Ngay sau ngày cưới, Singo đã lần ra suối để tìm hạt dẻ” Chỉ mình ông thấy hạt dẻ rơi,
chỉ mình ông cho đó là điều quan trọng Vì hình ảnh rơi rụng ấy là dấu hiệu chấm hết, là lời giã biệt cho một mối tình đơn phương, giữa ông với người chị
dâu, hay giữa vợ ông và người anh rể “Và cái khoảng trống kia – câu chuyện
về trái hạt dẻ không được nói ra – mãi mãi còn đó giữa hai người” Quá khứ
luôn sống dậy đầy ẩn ức suốt cuộc đời của ông lão Singo, và cuộc đời của ông nối tiếp nhau là những quãng hồi ức nuối tiếc và mất mát Giống như bóng ma của cuộc chiến tranh cũ luôn ám ảnh Suychi, quá khứ không trọn vẹn đeo bám
Trang 10suốt suy tư của ông, tạo nên một chân dung ông lão ưa hoài niệm và sống chậm rãi bằng những dòng ý thức đứt nối đan xen giữa quá khứ và hiện tại Đỉnh cao của sự trầm tư trong cuộc đời ông là lối chiêm nghiệm qua hình ảnh hạt dẻ rơi này
Hệ thống hình ảnh thứ hai thể hiện rõ nhất những ám ảnh điêu tàn là cái chết Kawabata không ngần ngại thảo ra hết, liệt kê hết, mô tả hết những giờ khắc trôi qua mà trong đó, mỗi giây phút là một cái chết âm thầm, một cái chết tịch lặng như tiếng rền của núi Ông lão Singo đã chứng kiến bốn cái chết của những người bạn, mỗi cái chết thật sự là một niềm ám ảnh: Toriama nghe đâu chết vì bị vợ bỏ đói, tối tối hay đi lang thang đợi vợ con ngủ mới dám mò về Mitzuta đã chết ở khách sạn trong thời gian an dưỡng Một người bạn đồng liêu không hiểu chết vì bệnh ung thư gan vốn sẵn hay vì muốn được giải thoát nhanh mà tự kết liễu đời mình bằng thuốc độc Nhưng cái chết ám ảnh nhất là cái chết của Kitamoto, một con người khao khát tuổi trẻ và lo sợ cái chết đến
độ tỉ mẩn nhổ từng sợi tóc bạc trên đầu mình đến khi không còn sợi nào để
nhổ “Lão chẳng muốn già và cố gắng làm cho tuổi thanh xuân trở lại” Dụng
công của chu trình ấy là những sợi tóc đen mọc lại trên da đầu già nua như một
phép màu, nhưng kết cuộc vẫn là cái chết đến nhanh hơn, kết thúc “sự rồ dại tuyệt vọng” muốn níu kéo cuộc đời Cách miêu tả cái chết như thế đầy ám ảnh
cho những người còn ở lại, đang ở mấp mé bờ vực của sự ra đi Những sợi tóc bạc là hình ảnh trở đi trở lại trong tác phẩm, từ mái đầu trọc nhẵn của người bạn đến những sợi tóc bạc, những sợi râu bạc của ông lão Singo, đó là hình ảnh nhỏ nhặt nhất nhưng là dấu hiệu đáng ghê sợ đầu tiên của sự già hóa và cái chết Cái chết còn được nhắc đến qua một vài chi tiết khác, đặc biệt có hai chi tiết này: cái bức thư trăng trối sau cùng của đôi vợ chồng già thành đạt:
“Chúng tôi không muốn đạt đến cái tình trạng đáng ghét của tuổi già, khi mà người ta chỉ còn sống đếm từng ngày và bị thế giới và mọi người quên lãng”.