Tháng 11-1941 Xin một lần nữa dẫn ra đây bài thơ ấy: Tống Biệt Hành -Thâm Tâm Đưa người ta không đưa qua sông Sao có tiếng sóng ở trong lòng?. Dấu ấn đầu tiên mà đường thi để lại trong
Trang 1Thi pháp thơ Đường trong “Tống biệt hành” của Thâm Tâm
Trong cuộc đời mỗi người, có khi hội ngộ thì cũng tới phút biệt ly.Khoảng cách chia xa về địa lý làm thấm thía hơn nỗi lòng của những tri âm, giữangười và kẻ ở Thế nên, biệt ly hay tiễn bạn đã trở thành một chủ đề quan trọngtrong thơ Đường Sức ảnh hưởng của Đường thi nói chung và chủ đề biệt ly nóiriêng đã vượt cả không gian và thời gian Dấu ấn của nó còn lưu lại trong cảnhững tác phẩm thuộc phong trào thơ Mới ở Việt Nam Khi nhắc về chủ đề biệt
ly trong thơ Mới, ta không thể không kể đến Tống biệt hành của Thâm Tâm Bài
thơ được sáng tác vào năm 1940, không biết đích xác là ngày nào Năm sau, ngay
cả khi tập Thơ Thâm Tâm chưa xuất bản, bài thơ đã được đưa vào tuyển tập Thi
nhân Việt Nam cùng với lời bình của Hoài Thanh:
Thơ thất ngôn của bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong Nhưng trong bài dưới đây lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ, điệu thơ gấp, lời thơ gắt Câu thơ rắn rỏi, gân guốc Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.
(Tháng 11-1941)
Xin một lần nữa dẫn ra đây bài thơ ấy:
Tống Biệt Hành
-Thâm Tâm
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng
Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Trang 2Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót (*)
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.1
Bài thơ là một trong số rất nhiều những thi phẩm viết về biệt ly được đưavào thơ Mới thời kỳ 1930 - 1945 Bài thơ mang âm hưởng bi hùng, trữ tình và
mãnh liệt, có lẽ trong văn học Việt Nam, Tống biệt hành là một trong những bài
thơ hay nhất về chủ để biệt ly Sự thành công ấy, một phần không nhỏ được tạonên bởi sự tiếp thu, kết hợp và phát huy các yếu tố thi pháp của Đường thi
Không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh cho rằng Tống biệt hành đã làm sống lại
cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ.
1 Trong một bản chép khác, bài thơ Tống biệt hành còn có thêm khổ cuối:
Mây thu đầu núi, gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Li khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn că
Trang 3Dấu ấn đầu tiên mà đường thi để lại trong bài thơ của Thâm Tâm có thể kểđến chính là ở ngay nhan đề: Tống biệt hành Cách đặt tên bài thơ theo từ HánViệt, bằng cách kết hợp giữa chủ đề (“Tống biệt”) và thể loại (“hành”) là một đặctrưng ảnh hưởng từ Đường thi Về chủ đề thì tên bài thơ đã cho thấy, đó là: tiễn
đưa nhau khi li biệt Nhưng vẫn còn nhiều ý kiến xoay quanh chữ “hành” Hành
vừa có nghĩa là đi, dời đi, lại có nghĩa là khúc hát, bài ca Bởi vậy, khi dịch nghĩatên một số bài thơ Đường, người ta thường giữ nguyên chữ ấy như Trường Canhành (Thôi Hiệu), Lũng Tây hành (Trần Đào)… Theo ý kiến của người viết và
tham khảo qua lời bình của Hoài Thanh, ta có thể thiên về cách hiểu “hành” là tên gọi một thể loại thơ hơn nghĩa là “đi” Bởi bài thơ của Thâm Tâm mang đậm dấu ấn của Đường thi thì việc tiếp thu thể hành vào trong sáng tác là một điều
hoàn toàn hợp lý
Hành là thể thơ vốn thịnh hành ở Trung Quốc thời Hán Nguỵ , Lục Triều,
có cội nguồn từ trong Nhạc phủ , tức những bài thơ có thể phổ nhạc dùng trongcung cấm Khi thoát khỏi cung cấm và được phổ biến trong dân chúng, thể thơhành trở nên phóng túng về hình thức để thể hiện rõ tình ý của người viết Cácbài thơ hành đời Đường viết về nhiều đề tài : tình yêu nam nữ , về chiến tranh ,loạn lạc , chia li… Thời Đường , các bài thơ hành thường viết theo thể thất ngôn
(Tì bà hành – Bạch Cư Dị, Trương Can hành – Lí Bạch), hoặc ngũ ngôn (Trường Can hành –Thôi Hiệu), nhưng cũng có trường hợp dài , ngắn tuỳ ý (Binh xa hành – Đỗ Phủ).
Sách Thơ Đường (nhiều người dịch, 2 tập, Nhà xuất bản Văn học, 1987) định nghĩa hành: "tên một điệu ca khúc thời xưa" (tr 69-I) Sách Thơ văn Đoàn
Nguyễn Tuấn (Viện nghiên cứu Hán Nôm, Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1982)
định nghĩ hành: "một thể thơ nhạc phủ trong cổ phong biến ra, như bài Cổ
bách hành của Đỗ Phủ, hay bài Tràng Can hành của Lý Bạch" (tr 60).2
Đối với thơ Đường, cách dịch sang tiếng Việt phổ biến của hành là bài
hát (hành, ca) Ví dụ: Lũng Tây hành "Bài hát Lũng Tây" (Trần Đào) Trong khi
đó, các dịch giả sách Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Nhà xuất bản Văn học, 1988), đã giữ nguyên, không chuyển hành thành "bài hát" như ở Thơ Đường và Đường thi,
2 Ý nghĩa của ca, ngâm, hành, từ, khúc trong nhan đề thơ cổ, Triều Nguyên, nguồn tham khảo:
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/
Trang 4cả bốn bài trong tập sách (ví dụ: Sở kiến hành: "Bài hành về những điều trông
thấy"; )
Như vậy, ta có thể hiểu hiểu hành là: “bài thơ, thường đề cập đến những
vấn đề chung, những sự kiện mới lạ, bất ngờ hay những đồng cảm tạo ấn tượngmạnh mẽ; chủ thể trữ tình thường kể lại sự việc với tâm trạng bức xúc, có thể bày
tỏ thái độ, chính kiến; thể thơ cổ phong thường được sử dụng để sự biểu đạtkhông bị gò bó, ràng buộc.”3
Sau đời Đường, trong văn học các nước phương Đông nói chung và ở ViệtNam nói riêng, thể hành cũng được vận dụng trong sáng tác, có thể kể đến bài
thơ khá nổi tiếng như Sở kiến hành của Nguyễn Du xếp trong tập Bắc hành tạp
lục Nhìn chung, số lượng các bài thơ thể hành ở Việt Nam cũng không nhiều
như các thể thơ khác Một thời gian khá dài sau đó, ở nước ta những năm cuốicủa phong trào Thơ mới thể hành cũng xuất hiện trở lại ở một vài bài thơ như bàiHành phương Nam của Nguyễn Bính và các bài hành của nhà thơ Thâm Tâm:
Tống biệt hành, Can trường hành, Vọng nhân hành Nhiều bài thơ của các ông
dù không có chữ hành ở tựa đề nhưng vẫn cùng chung một giọng điệu
Như đã nói ở trên, ly biệt là đề tài quen thuộc của văn chương xưa nay.Trong thơ Đường, tình bạn được nói đến nhiều nên cảnh chia ly giữa bạn bè cũngtạo nên những vần thơ tuyệt tác Lý Bạch (701-762) và Mạnh Hạo Nhiên là haibạn thơ rất thân thiết Một lần Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng, Lý Bạch tiễn
bạn trên lầu Hoàng Hạc, làm bài thơ đưa tiễn nhan đề “Hoàng Hạc lâu tống
Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu,
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận,
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.
Hay trong bài Lâm giang tống Hạ Chiêm, Bạch Cư Dị (772-846) tiễn một
ông bạn già không nhà cửa là Hạ Chiêm, ra đi mà chẳng biết đi về đâu Thươngbạn đã già mà còn long đong vất vả nên lệ trào, ướt đẫm khăn tay
Bi quân lão biệt lệ triêm cân,
Trang 5Thất thập vô gia vạn lý thân
Sầu kiến chu hành phong hựu khởi,
Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân.
Từ những cảm hứng biệt ly trong Đường thi, thơ Việt Nam sau này cũng
có nhiều tác phẩm viết về đề tài ấy Như chuyện Lưu Trần và Nguyễn Triệu rời
Thiên Thai có Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi ( Tản Đà -Tống biệt ) Hay sự
ra đi vì Non sông đã chết thêm nhục / Hiền thánh còn đâu học cũng hoài ( Phan Bội Châu – Lưu biệt xuất dương) Đến Tống biệt hành của Thâm Tâm, chủ đề
biệt ly một lần nữa được khơi dậy nhưng trên nền chất liệu đặc trưng của thời đạikết hợp với những nét đặc sắc về thi pháp của thơ Đường Có lẽ chúng ta có thểnhận thấy điều này rõ nét nhất ngay ở khổ thơ đầu tiên:
Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Dòng sông là một thực thể hữu hình ngăn cách về địa lý, qua thơ văn, nótrở thành một biểu tượng của sự chia ly, một khái niệm vô hình khơi gợi sự chảytrôi của thời gian, sự ngăn cách của thời gian, giữa quá khứ và hiện tại Dòngsông cùng với dòng chảy của nóbiểu trưng cho dòng thời gian bất khả qui hồi, từ
hệ quả ấy dòng sông mang thêm trong mình một ý niệm về sự mất mát và lãngquên Sự chia tách về địa lý tô đậm thêm quan niệm về một ranh giới biểu tượngtrong lòng người cùng với những sự vật gắn liền với nó: dòng nước chảy, bãisông, con đò, bến nước… Những sự vật ấy đi vào tiềm thức mỗi người như mộtbiểu tượng của giã biệt, xa cách Ngay trong thơ Đường cùng chủ đề về ly biệt, tacũng có thể bắt gặp những hình ảnh tương tự:
Sinh ly biệt
- Bạch Cư Dị
( )Hoàng hà thủy bạch hoàng vân thu
Hành nhân hà biên tương đối sầu
Thiên hàn dã khoáng hà xứ túc
Trang 6Đường lê diệp chiến phong sưu sưu( )
Biệt ly trong lúc sống
“…Hoàng Hà trắng nước, vàng mây thu
Người đi sông bến ngó nhau sầu
Đường xa trời lạnh nơi nao nghỉ?
Cành lê lá đập gió vi vu…”
Cảnh biệt ly trong lúc sống qua thơ Bạch Cư dị trở nên lạnh lẽo buồn đếnthê lương Sông Hoàng Hà rộng lớn, bến sông mênh mang mà hiu quạnh nhưngdòng sông thì không hề yên ả, nó tô đâm thêm nỗi lòng nặng trĩu âu lo mà nỗibuồn chia cách của cả người đi và kẻ ở Các cuộc biệt ly trong thơ Đường dường
như không thể thiếu hình ảnh con sông: Li tâm bất dị Tây giang thuỷ (Tình li biệt
chẳng khác gì dòng nước sông -Hứa Hồn Hay:
Sổ thanh phong địch ly đình vãn
Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần
(Trịnh Cốc – Hoài thượng biệt hữu nhân)
(Vài tiếng sáo theo gió vi vút, ở đình ly biệt buổi chiều hôm
Anh đi tới vùng sông Tiêu, sông Tương, tôi đi tới đất Tần)
Biểu tượng con sông, có lúc, nó đi vào trang thơ với tên gọi cụ thể, những
cái tên đủ khiến người dân Trung Quốc tự hào: Trường Giang, Hoàng Hà, Mịch
La, Dịch Thủy, sông đất Thục, dòng nước Trường An… Những dòng sông ấy gắn
liền với những của chia ly của bao con người tên tuổi: Lý Bạch (Thiên mạt hoài
Lý Bạch - Đỗ Phủ), Kinh Kha (Dịch thủy tống biệt - Lạc Tân Vương), Mạnh Hạo
Nhiên (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng - Lý Bạch), hay
gợi lên nỗi nhớ xa cách của con người với những miền đất một thời giàu có, phồn
hoa: đất Thục, Trường An (Lệ nhân hành - Đỗ Phủ; Trường hận ca - Bạch Cư
Dị),… Tình cảm lớn của các nhà thơ khi ấy cũng tràn trề như dòng sông lớn
Hiện diện trên mọi nẻo đường, tồn tại mãi với không gian và thời gian,dòng sông trở thành hình ảnh thuộc loại đặc sắc nhất trong thơ Đường Các nhàthơ thích tìm cảm hứng từ dòng sông, bởi nó có thể chuyên chở nhiều ý nghĩa sâuxa: là dòng hoài niệm, dòng thời gian, dòng đời, là đất rộng trời dài, là dòng cảm
Trang 7xúc cô đơn, sầu nhớ quê hương Hình ảnh dòng sông hiện lên cùng cảnh biệt lyngay từ câu thơ mở đầu tạo ra những liên tưởng rất xa cho người đọc Đó là câuchuyện về tráng sĩ Kinh Kha, người nước Tề, thời chiến quốc Chàng vốn là kiếmkhách nổi tiếng Lúc ấy, nước Tần âm mưu muốn diệt nước Yên Đôi bên binhlực chênh lệch quá, Yên liệu không chống nổi, nảy ý cho người sang Tần ám sátTần Thủy Hoàng Thế nhưng, người ra đi kém may mắn đã không đổi dời đượclịch sử, nhưng chuyến sang sông ấy lại thành một nguồn cảm hứng lâu bền chosáng tác văn nghệ khắp Á Đông Khi Tần sắp đem quân uy hiếp nước Yên , thái
tử Đan nhờ Kinh Kha có làm bài dịch thuỷ (Bài ca sông Dịch) ,tỏ rõ quyết tâmcủa mình:
Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn,
đời và văn chương Đời Đường, Lạc Tân Vương có bài thơ Dịch thuỷ tống biệt
nhắc chuyện Kinh Kha với bao cảm khái:
Thử địa biệt Yên Đan
Tráng sĩ phát xung quan
Tích thời nhân dĩ một
Kim nhật thủy do hàn.
(Đất này từ biệt Yên Đan,
Tóc đầu đứng ngược, máu hờn nóng sôi
Người xưa khuất bóng đi rồi,
Ngày nay còn thấy nước trôi lạnh lùng.)
(Trần Trọng Kim dịch)
Tống biệt hành gợi nhớ chuyện Kinh Kha , song nó không diễn lại y như
chuyện xưa, bởi: Đưa người,ta không đưa qua sông Cuộc đưa tiễn diễn ra tại mộtđịa điểm không rõ ràng, nhưng chắc chắn không phải tại một dòng song nào, nơi
Trang 8mang đậm biểu tượng của sự chia ly Dẫu thế nhưng cảnh hay lòng người vẫnbuồn hiu hắt ,chất chứa đầy tâm trạng :
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm ,không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Dường như ngoại cảnh không quyết định đếntâm trạng: không có bờ sôngnhưng trong lòng dậy sóng; buổi chiều bình yên nhưng trong mắt đẫm ánh tàdương! Đây là một cách diễn tả khá đặc biệt Thường thì người ta hay lấy cảnh
vật để tả nỗi lòng, như Nguyễn Du viết trong truyện Kiều: Người buồn cảnh có
vui đâu bao giờ Nhưng nhà thơ Mới Thâm Tâm đã vẽ lên một bức tranh ngược
sáng, làm tâm trạng nổi bật hẳn lên Nỗi buồn ,sự tê tái mang cả âm thanh, đườngnét (tiếng song), chứa đựng cả màu sắc (không thắm, không vàng vọt) và lưu dấu
cả khoảnh khắc thời gian (hoàng hôn)
Hứng ký của bài thơ khơi gợi qua nỗi niềm biệt ly nhưng cách kế thừa cấu
tứ Đường thi của Thâm Tâm mới khiến cho bài thơ thêm đậm đà phong vị Đốingẫu của bài thơ, trước hết thể hiện qua việc tạo dựng mối quan hệ đối lậpkhông-có ở bốn câu thơ mở đầu Không chỉ dừng lại ở đó, Thâm Tâm đã kiến tạođối ngẫu xuyên suốt bài thơ dưới nhiều cấp độ từ hình ảnh đến ý thơ, tứ thơ, haygiữa các từ ngữ có tính biểu tượng đến các dòng thơ, khổ thơ với nhau Có thểdẫn ra như:
Không qua sóng – Có tiếng Sóng
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt – Đầy hoàng hôn
Đầy hoàng hôn (ngoại cảnh) - Trong mắt trong (Nội tâm)
Một giã gia đình - Một dửng dung
Chí lớn - Con đường nhỏ
Bàn tay không - Không trở lại
Mẹ, chị, em – Lá bay, hạt bụi, hơi rượu say
Thâm Tâm phát hiện những nét đối lập mà thống nhất để tạo dựng hàngloạt mối quan hệ: bề ngoài – bên trong; con người giả - con người thực; dửngdưng, lạnh lùng - buồn bã, dằn vặt… để khắc hoạ tâm trạng, ý chí, khát vọng của
Trang 9li khách thông qua cảm nhận của người đưa tiễn Người ra đi (li khách) là conngười khác thường, bề ngoài có vẻ dửng dưng với tất cả, vượt lên mọi trở lựcriêng tư để thực hiện chí lớn.
Đưa người, ta chỉ đưa người ấy,
Một giã gia đình, một dửng dưng…
- Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
Các từ ngữ "một", "giã", "không bao giờ", "đừng" cực tả cái rắn rỏi dứtkhoát tưởng chừng không ai có thể ngăn cản quyết tâm của người ra đi Ngày từđầu bài thơ, tuy hứng tượng đậm chất biệt ly với việc khơi gợi hình ảnh của dòng
sông và bóng chiều có phần giống thơ Đường: Quê hương khuất bóng hoàng hôn
/Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai? (Thôi Hiệu – Hoàng Hạc lâu), Thế
nhưng, những dòng sông, bóng chiều là thi cảnh của bao cuộc phân li trong thơ
cổ đã bị phủ định để thay bằng thế giới nội tâm của con người hiện đại Bút pháplấy cảnh ngụ tình của thơ cổ đã hoàn toàn bị phá vỡ Không chỉ sử dụng đối ngẫu
để tạo không khí thơ xưa, Thâm Tâm còn dung chính đối ngẫu để cách tân và phávỡ không gian có tính chất huyền thoại Thi cảnh vốn có của Đường thi thực chất
đã vị gạt qua hết, con người thực sự trở thành sinh thể độc lập với khả năng tựkhẳng định và thể hiện nội tâm của mình Trái tim tự nó mang cả dòng sông tiễnđưa và ánh mắt mang cả chân trời hoàng hôn li biệt Cái tôi cá nhân được giảiphóng (điểm nổi bất của thô mới đồng thời được thể hiện), cái tôi bé nhỏ nhưngmang trong mình mọi chiều kích lớn lao của đất trời, mọi vẻ đẹp của nhân gian,khác với cái ta hòa nhập không gian đất trời và vũ trụ của Đường thi Tạo ranghịch lí giữa ngoại cảnh và nội tâm, Thâm Tâm đã dựng lên đầy đủ sự xung độtgiữa hai thời đại thi ca và cuộc đối thoại có tính bản chất nhất giữa thơ cổ và thơmới Từ đấy, âm hưởng bi tráng của bài thơ, khúc tráng ca của một cuộc ra đi vànỗi bi thương trong giờ phút li biệt không hài hòa như nhiều bài thơ cổ mà phânxuất ra làm hai nửa đối nghịch trong cấu trúc của văn bản nghệ thuật
Trang 10Người ra đi làm ta liên tưởng đến Kinh Kha, nhưng bản thân hình ảnh li
khách lại có phần gần gũi hơn với khách chinh phu trong Tiếng gọi bên sông của
Thế Lữ:
Ta đi theo đuổi bước tương lai,
Đẻ lại bên sông kẻ ngậm ngùi
Chí nặng bốn phương trời nước rộng,
Từ nay thêm bận nỗi thương ai.
Những chỉ gần mà không giống Trong số những bài thơ ít ỏi của Thâm
Tâm trước năm 1945, chuyện ra đi không chỉ nói ở Tống biệt hành Ở Tráng ca (1994), có Bọn ta một lớp lìa nhà Ở Can trường hành (1944), có Chàng là bậc
trẻ không biết sợ… Người ra đi khoác vào mình hình bóng của tráng sĩ trong thơ
xưa, nhưng nhất định không thể đồng nhất li khách vào vai tráng sĩ ấy, vì bốnnăm sau khi viết Tống biệt hành, Thâm Tâm đã viết Vọng nhân hành (1944) cónhững câu:
Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu "nhất khứ hề"…
Người li khách ấy đi về đâu? Bài thơ không có lời nào làm rõ điều ấy, chỉ
biết rằng đối lập với cái chí lớn kia là một con đường nhỏ dẫn đi rất xa vào vô
định Không khó hiểu sao được khi cái gọi là chí nhớn trong bài thơ là cái gì
không ai biết Nó rất mơ hồ Con đường nhỏ ở đây chẳng qua chỉ chứng tỏ sự bế tắc về lí tưởng của cái tôi giữa buổi giao thời Thế nên: Sông Hồng chẳng phải
xưa sông Dịch/ ta ghét hoài câu “nhất khứ hề” (Vọng nhân hành) và việc Thâm
Tâm nhại thể loại, nhại phong cách và nhại cả giọng điệu và ngôn ngữ của thi ca
cổ không chỉ là sự kế thừa những dấu ấn Đường thi mà còn dùng chính nhữngđiều đó để “giải huyền thoại” trong Tống biệt hành Tống biệt hành đâu chỉ làcuộc tiễn đưa giữa những cá nhân trong quan hệ đời thường mà còn mang âmhưởng về một cuộc tiễn đưa mang tính thời đại – lịch sử, giữa cái cũ kĩ và cáimới trong buổi giao thời
Có lẽ phải bắt đầu từ tâm thế thời đại ấy, chúng ta mới cắt nghĩa đượcphần nào tứ thơ của Tống biệt hành Vào những năm bốn mươi của thế kỷ XX,trên thi đàn lãng mạn Việt Nam, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính cómột hơi thơ giống nhau: "Nằm đây thép gỉ son mòn - Cái đi mất mát, cái còn lần
khân" (Độc hành ca - Trần Huyền Trân); "Ta đi nhưng biết về đâu chứ - Đã nổi
Trang 11phong yên lộng bốn trời - Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ - Uống say mà gọi thế
nhân ơi" (Hành phương Nam - Nguyễn Bính) Phải chăng, khi cuộc sống thực trở
nên bức bối ngột ngạt, các nhà trhơ thời ấy khao khát một cuộc ra đi? Nhưngphần lớn những khúc hành, ca chỉ là một sự giải toả tâm trạng bức bối, trong khicuộc sống thực của các nhà thơ cứ quẩn quanh trong khuôn đời chật hẹp Tinhthần ấy đã từng được nói lên rất rõ trong thơ Hàn Mặc Tử : "Đi, đi, đi mãi nơi vô
định - Tìm cái phi thường, cái ước mơ" (Đời phiêu lãng) Nhân vật người đi
trong Tống biệt hành dù có gợi lại không khí cổ xưa, dù có gắng gượng chốngchọi tiếng thổn thức sâu thẳm từ tâm hồn bằng dáng vẻ kiêu dũng bề ngoài, cũngvẫn chỉ là sản phẩm thuần túy lãng mạn
Những biến đổi cảm xúc tinh tế trong nhân vật li khách được tái hiện trongcái nhìn khách thể, là người bạn thân của li khách hay chính thâm Tâm?
Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ muà hạ sen nở nốt
Môt chị, hai chị cùng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay
"Ta biết" chứ không phải "ta thấy" tức là người ở lại hiểu được nỗi niềmsâu thẳm trong cõi lòng người ra đi Góc nhìn ấy đã phác họa lại con người thật likhách qua sự đồng cảm của người ở lại Đằng sau cốt cách rắn rỏi, dửng dưng là
cả chiều sâu nội tâm Đó là những nỗi buồn day dứt, dằn vặt, xót xa của li kháchtrước tình cảm gia đình thiêng liêng Phép đối ngẫu ở đoạn này mở rộng hình
thức và quy mô lớn hơn, ở mức khổ thơ: Ta biết người buồn chiều hôm trước
(…) Ta biết người buồn sáng hôm nay Hình ảnh mùa hạ sen nở nốt và những
người chị cũng như sen đặt trong buổi chiều gợi nên một màu sắc sắp úa tàn, yếu
ớt Không khí Đường thi một lần nữa xuất hiện ở đây Chị cũng như sen, cũng
Trang 12mềm yếu và có lứa có thì, cuối hạ đầu thu của đất trời hay chiếu tàn của đời
người thì cũng “E hương sắc tàn phai” (Phù Dung- Lý Bạch) Đối lập với sáng
hôm nay, là bầu trời tươi đẹp của mùa thu như níu lòng người, em nhỏ thơ ngây
là một biểu tượng khơi gợi về sức sống, về tuổi trẻ, về tương lai Nhưng cũngnhư các chị, em cũng yếu đuối và cần được chở che Giữa hai đầu đối lập ấy, likhách là một trụ cột nâng đỡ cho cả mái nhà, nơi có mẹ già, hai chị và em thơ
Đối ngẫu không chỉ dừng lại ở nội dung hay hứng tượng mà nó còn đượcbiểu đạt bằng thanh luật và vận vị không chỉ giữa hai khổ thơ này, mà còn giữacác khổ thơ với nhau trong toàn tác phẩm Tống biệt hành được cấu trúc bằngphương thức nghịch âm, bất tuân theo những niêm luật vốn có của thể hành Có
câu thơ toàn thanh bằng: Đưa người ta không đưa qua sông; chen vào đó câu thơ thanh trắc chiếm ưu thế: Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Tiếng trắc buôn liền sau
một dải thanh bằng như một tiếng vang động của giọt nước vào mặt phẳng tĩnhlặng mơ màng Tựa hồ con ếch nhảy vào ao cũ của thơ Haiku, cái động làm cái
tĩnh vắng lặng hơn (Ao cũ/ Con ếch nhảy vào/ Vang tiếng nước xao – Basho)
Trong cõi mơ màng tĩnh lặng vẻ ngoài có cái âm vang sống động bên trong Điềunày sẽ được phát huy cao độ ở Tây Tiến của Quang Dũng sau này Nhưng TâyTiến, về tổng thể vẫn là bản hòa âm của những nghịch âm với sự đan xen đều đặngiữa các thanh âm bằng - trắc Trong khi ở Tống biệt hành, hệ thống các thanh
âm bằng - trắc bị phân xuất ra làm hai nửa đối chọi nhau Nửa đầu gieo vần bằng
– vang - cao (sông, lòng, trong, không, mong) dựng dậy cái ngang tàng khí khái của một hiệp khách giang hồ Nửa sau gieo vần trắc – tắc (vọt, trước, nốt, sót) tiếp liền với vần bằng – khép - trầm (nay, thay, tay, bay, say) khơi sâu vào sự u
uất, bế tắc của phận người Vần chân tạo nên dư âm của giai điệu, là điểm nhấncủa tiết tấu vốn thường thấy trong thể hành lại bị đặt trong thế vừa va đập vừaphân li thành hai đối cực bằng trắc Hai làn sóng âm thanh bị dội ngược sau mộttác động không hòa hợp, gây ấn tượng về sự tương phản và giằng xé nội tâm
Thâm Tâm đã xây dựng hình tượng nghệ thuật tương phản nhưng nhằm
tô đậm sự thống nhất trong hành động, ý chí của li khách Tạo dựng nên các mốiquan hệ, nhà thơ dần dần hé mở cho người đọc nhận ra cái có ẩn chứa trong cáikhông, cái thực ẩn chứa trong cái hư và cuối cùng là hình ảnh một con ngườimang dáng dấp trượng phu được nhiều người ngưỡng mộ Sự đối ngẫu không chỉdừng lại ở quy mô giữa các dòng hay các khổ, nó mở rộng toàn cục của bài thơ.Thậm chí, nó còn tạo nên mâu thuẫn trong chính hình ảnh nhân vật Cái khẩu khílạnh lùng được thay bằng giai điệu lưu luyến Nếu cả bài thơ là một bản giao