Thi pháp thơ Đường trong bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân DiệuĐây mùa thu tới - Xuân Diệu Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang, Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng; Đây mùa thu tới - mùa t
Trang 1Thi pháp thơ Đường trong bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu
Đây mùa thu tới
- Xuân Diệu
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;
Đây mùa thu tới - mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh
Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò
Mây vẩn từng không chim bay đi,
Khí trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói
Tựa cửa nhìn ra, nghĩ ngợi gì.
Mùa thu luôn chứa đựng một hấp lực tuyệt vời cho thi ca Thu như một dấu gạchnối dài chia cách hạ và đông Mùa thu làm ta quên đi cái nóng nực của hạ, vắt ngang
Trang 2trời với vẻ đẹp đủ để làm những người vội vã nhất cũng tạm ngừng để mê say Thukhông mang trong mình sách xanh non tươi mới của mùa xuân, thu mang trong nó cảmàu vàng tàn úa như thời gian cô đọng Nắng thu vàng dịu dịu, lá thu vàng giòn tan,tiếng thu vang xao xác, man mác khí thu buồn Ta dường như thấy bức tranh Mùa thuvàng của danh họa Levitan lại hiên lên đâu đó Xa hơn về thời gian, nhưng gần hơn vềkhông gian, đó là mùa thu trong Đường thi Dường như, những cảnh sắc mùa thu đầytrữ tình trên, thơ Đường đều viết cả rồi Phải chăng, đúng như Lỗ Tấn đã nói: Tất thảythơ hay đến đời đường đều đã bị viết hết
Hàng thế kỷ sau, muôn vàn cách xa thời đại nhà Đường, phong trào thơ Mới ởViệt Nam nổi lên như một cuộc cách mạng hiện đại hóa văn học nói chung và thơ canói riêng Trong giai đoạn ấy cũng có không ít những thi sĩ tài hoa viết về mùa thu màXuân Diệu là một cái tên không thể không nhắc đến Được mệnh danh là "nhà thơ mới
nhất trong các nhà thơ mới" (Hoài Thanh- Thi nhân Việt Nam), nhưng bài thơ với chủ
đề mùa thu của Xuân Diệu với lối cách tân mạnh mẽ nhưng cũng không phủ nhận hoàntoàn những dấu ấn của Đường thi mà nó mang theo Bài thơ “Đây mùa thu tới” là mộtminh chứng rõ ràng cho dấu ấn của Đường thi trong chủ đề mùa thu nói riêng và thơMới nói chung
Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;
Đây mùa thu tới - mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng.
Xuân sinh, hạ trưởng, thu thu, đông tàng Mùa thu như một bước đệm trước khivào đông, vạn vật khẽ co mình, thu hết cảnh sắc vào một nỗi buồn khó hiểu Sự buồn
bã đi theo mùa thu, gắn liền vào nó như một định mệnh Trong Hán tự, chữ sầu 愁(buồn bã) gồm có chữ thu 秋 (mùa thu) ở trên và chữ tâm 心 (con tim) ở dưới Dườngnhư lòng người vào mùa thu làm sao vui được Cảnh trí mua thu tiêu điều khiến lòngngười sầu thảm hay vì lòng người ảm đạm mà cành thu tựa hồ day dứt khôn nguôi.Xuân Diệu bước vào mùa thu trong thơ của mình với hình ảnh của rặng liễu Tế Hanhcũng từng nói về liễu trong thơ cổ:
Xưa kia từng thấy liễu
Mướt tóc giữa thơ Đường
Trang 3ấm màu trong tranh Tống
Rủ mình trong giấc mơ
(Liễu, Tế Hanh)
Trong thơ xưa, liễu không hẳn là loài cây biểu tượng cho mùa thu Thế nhưng,nhà thơ Xuân Diệu lại chọn nó làm hình ảnh đầu tiên để khai mở cho bài thơ thu củamình, hẳn tác giả còn có chủ ý khác Đỗ Phủ cũng từng dung đến hình ảnh liễu.Chuyện kể rằng sau khi từ quan, đại thi hào Đỗ Phủ phiêu dạt về Tứ Xuyên, ngụ trongmột căn nhà lá tồi tàn phía Tây thành Một sáng, thi nhân nổi tiếng nhà Đường là SầmTham du ngoạn qua thành, quá bộ đến thăm ngôi nhà lá của Đỗ Phủ Nhưng nhà ĐỗPhủ nghèo quá, trong nhà chỉ còn hai quả trứng và một cây hành là có thể nhấm nhápđược Hai người bạn tâm giao trong bữa dung đạm bạc cùng họa mấy vần thơ:
Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc,
Một hàng cò trắng vút trời xanh
Nghìn năm tuyết núi song in sắc,
Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình.
(Tuyệt cú bốn bài kỳ ba, Đỗ Phủ, Tản Đà dịch)
Vẻ đẹp của liễu nằm trong hàng lá rủ, nó tạo nên một vẻ đẹp mềm mại, yếu đuốicủa người thiếu nữ Vì thế, trong thơ xưa, liểu không phải là một tín hiệu báo mùa mà
là một biểu tượng về hình ảnh của thiếu nữ Ta có thể thấy thấp thoáng bóng dáng liễu
rủ vào mùa xuân trong bài “Khuê oán” của Vương Xương Linh
“Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tế mịch phong hầu”
Nhác trông vẻ liễu bên đường
Phong hầu nghĩ dại xúi chàng kiếm chi
(Tản Đà dịch)
Liễu cũng là một hình ảnh tửng được Âu Dương Tu đề cập đến liễu trong nhiềutác phẩm của mình, chẳng hạn như:
“Liễu nhuyễn đào hoa thiển
Tế vũ mãn thiên phong mãn viện”
Trang 4Liễu buông, đào cũng phai dần,
Đầy trời mưa bụi, gió luồn viện sâu
(Điệp luyến hoa kỳ 6 – Đào Trung Kiên dịch)
Cỏ ngập khe,
liễu khắp đê,
Đưa tiễn người đi suối não nề…
(Trường Tương Tư – Đào Trung Kiên dịch)
Cây liễu thường gợi lên cảm giác cho con người về hình ảnh một loài cây có cànhnhánh mảnh mai, mềm mại Trong văn chương, không ít thi hào – văn sĩ từ ngàn xưađến ngày nay lấy nó để ví cho thân gái yếu đuối hay một tâm trạng buồn đau TừĐường thi, hình ảnh cây liễu giao hòa vào văn chương Việt Nam Ta không thể khôngnhắc đến hình ảnh cây liễu trong truyện Kiều của Nguyễn Du:
Dưới cầu nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha
Liễu rũ đã toát lên vẻ yếu đuối, giữa trời thu liễu càng thêm tiêu điều Xuân DIệu
mở đầu bài thơ vời hình ảnh một rặng liễu thu buồn và sầu thảm Những chữ đìu hiu,chịu tang, tóc buồn, lệ ngàn hàng thật tinh tế, gợi hình, gợi tình Cái buồn ở lòngngười thấm vào cảnh vật Rặng liễu mùa thu trong cảnh trời vắng lặng đem lại hứng kýđậm chất sầu bi ủ dột Từ ý tưởng đến âm thanh, nhạc điệu đều của hai câu thờ đầu nóiriêng và toàn bài thơ nói chung đều rất buồn Nỗi buồn là do cảnh sắc mùa thu hoà hợp
với tâm trạng buồn của tác giả "Xuân, người ta vì ấm mà cần tình Thu, người ta vì lạnh sắp đến mà cũng cần đôi, cho nên không gian đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau và lòng tôi nghe tất cả du dương của thứ vô tuyến điện ấy" (Xuân Diệu).
Tác giả vận dụng thành công biện pháp láy âm (liễu - đìu - hiu - chịu, tang - ngànhàng, buồn - buông - xuống) tạo được nhạc điệu buồn với hình ảnh thơ, khiến cho nỗibuồn càng thêm lan tỏa, lắng sâu Không còn là rặng liễu thiên nhiên (liễu chỉ hơi thướttha buồn) mà ở đây là rặng liễu - tâm hồn của thi sĩ Rặng liễu thu buồn của Xuân Diệu
đã lên đến mức tê tái thê lương như những người con gái đang đứng chịu tang, lá liễunhư đã vỡ ra thành tiếng khóc và đọng lại thành hàng ngàn giọt nước mắt Nhưngnhững điều bi lụy ấy đã khiến cho nhà thơ chợt nhận ra mùa thu đã đến rồi Tự bao giở
mà mùa thu mang trong mình nỗi buồn đặc trưng đến thế?
Trang 5Lui lại xa hơn vào chiều sâu lịch sử, một trong những người đầu tiên tả mùa thumột cách tỉ mỉ và có hệ thống là Tống Ngọc, người nước Sở đời Chiến quốc, sống sau
Khuất Nguyên Ông rất giỏi về Sở từ Tác phẩm tiêu biểu Cửu ca của Tống Ngọc có thể sánh với Li tao của Khuất Nguyên trong lịch sử văn học Trung Quốc, và được gọi
là song bích trong Sở từ Ông cũng là một trong những người đầu tiên viết về bi thu
Bài ông tả về thu là một đoạn ngắn ở trong tác phẩm Cửu biện Tuy ngắn nhưng được
xem là một trong những đoạn văn tả về thu hay nhất của Trung hoa, đem lại cho ngườiđọc một cái cảm giác bi ai tịch mịch:
Bi tai thu chi vi khí dã, tiêu sắt hề thảo mộc dao lạc nhi biến suy
Liệu lật hề nhược tại viễn hành, đăng sơn lâm thủy hề tống tương quỵ
Quyết liệu hề thiên cao nhi khí thanh, tịch liêu hề thu lạo nhi thủy thanh.
Tạm dịch ra tiếng Việt như sau:
Khí vị mùa thu thật buồn thay! Cây cỏ úa, lá tàn rụng Thê lương như khi đi xa,trèo núi lội sông mà đưa tiễn người về Trời cao quang đãng, khí trong Cô tịch thay,lụt đã rút mà nước trong
Mùa thu buồn thảm lần đầu xuất hiện trong trong văn học Trung hoa có được mộtđoạn văn tả về thu một cách trực tiếp, đầy đủ chi tiết và mang một giọng buồn thảmnhư vậy Từ nguồn mạch cảm hứng đấy, trải qua mấy ngàn năm, mùa thu đã trở thànhbối cảnh để cho các thi sĩ bày tỏ cảm xúc của mình, từ những nét chấm phá lãng mạncủa Lý Bạch đến nét tiêu sái của Vương Duy hay đến nỗi buồn ai oán của Bạch Cư Dị
và ta không thể không nhắc đến bài Thu thanh phú của Âu Dương Tu được coi là mộttrong những bài tả mùa thu hay nhất
"Cái phù thu chi vi trạng dã, kỳ sắc thảm đạm, yên phi vân liễm, kỳ dung thanh minh, thiên cao nhật tinh; kỳ khí lật liệt, biêm nhân cơ cốt; kỳ ý tiêu điều, sơn xuyên tịch mịch Cố kỳ vi thanh dã, thê thê thiết thiết, hô hào phấn phát Phong thảo lục nhục nhi tranh mậu, giai mộc thông long nhi khả duyệt, thảo phất chi nhi sắc biến, mộc tao chi nhi diệp thoát Kỳ sở dĩ tồi bại linh lạc giả, nãi nhất khí chi dư liệt"
Tạm dịch:
Ôi tình trạng mùa thu, sắc ảm đạm, khói bay ra, mây thu lại, vẻ trong sáng, bầutrời cao, mặt trời sáng; khí lạnh lẽo, châm chích thịt xương, ý tiêu điều, núi sông tịchmịch Cho nên tiếng mùa thu thê thiết, ồn ào nổi dậy Cỏ đang xanh rậm tranh nhau
Trang 6tươi tốt, cây đang xum xuê vui vẻ mà bị (khí thu) dính vào thì cỏ úa, cây rụng lá Do đócây cỏ tiêu điều hư hao là vì cái khí khốc hại của mùa thu)
Rặng liễu buồn trước đó không phải là biểu tượng của mùa thu, nhưng trong thơXuân Diệu, nó như một tín hiệu nhắc nhở người ta tỉnh thức nỗi giao cảm về mùa Haicâu thơ tiếp theo như một tiếng reo khe khẽ, hay cũng như một tiếng thốt nhẹ bất ngờkhi tác giả chợt nhận ra thu đã về
Đây mùa thu tới - mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng
Trước Xuân Diệu, Levitan đã vẽ nên tuyệt tác Mùa thu vàng trong hội họa, trước
cả Levitan, trong Đường thi ta không thể không nhắc đến sắc vàng của chiếc lá ngô
đồng rụng Ngô đồng nhất diệp lạc - Thiên hạ cộng tri thu (Ngô đồng rụng một lá,
thiên hạ biết thu sang- Lý Thương Ẩn) Và hình ảnh chiếc lá ngô đồng như một tín hiệucủa mùa thu, Bach Cư Dị củng từng viết:
Tỉnh ngô lương diệp động
Lân chử thu thanh phát
( Lá cây ngô đồng bên giếng lay động,
Cái chày hàng xóm phát ra tiếng thu)
(Bạch Cư Dị, Tảo thu độc dạ)
Lý Bạch tả sắc thu cũng vương vấn sắc lá ngô tàn:
Nhân yên hàn cát trục
Thu sắc lão ngô đồng
( Khói vương hơi lạnh vàng cây cỏ
Thu nhuốm sắc tà bạc lá ngô)
(Thu Đăng Tuyên Thành Tạ Diêu Bắc Lâu - Lý Bạch)
Chiếc lá ngô đồng từ ấy trở thành một biểu tượng của mùa thu, từ Đường thi đivào tân những dòng thơ Mới của Việt Nam, không chỉ có Xuân Diệu, nhà thơ BíchKhê có hai câu thơ thật đẹp về cây này:
Ô hay, buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.
(Tỳ Bà – Bích Khê )
Sắc vàng từ biểu tượng của chiếc lá ngô đồng rụng, thay bằng một biểu tượngchung của mùa thu- “diệp lạc” (lá rụng), khơi rộng ra là một màu vàng lan tỏa của sắc
Trang 7thu, của “Lá thu kêu xào xạc - Con nai vàng ngơ ngác - Đạp trên lá vàng khô” (Lưu Trọng Lư, Tiếng thu) Mùa thu đến như mang dáng vẻ một thiếu nữ đượm buồn khoác áo kết bằng lá vàng nhưng nhuốm màu mơ phai nhạt Liễu buồn đã đành, hoa cũng rụng cành, sắc đỏ càu nhàu với màu xanh, gió cũng run rẩy và nhánh khô gầy trơ xương mỏng manh Xuân Diệu say trong mùa thu với một hồn thơ yêu đời,
luôn khát khao giao cảm mãnh liệt với sự sống Cảm xúc mạnh mẽ, nồng nàn ấy khiếnthơ khiến nhà thơ không dừng lại ở những cách diễn đạt thông thường, những từ ngữphẳng lặng Xuân Diệu đã tìm đến cách diễn đạt của ngôn ngữ khác, của thơ tượngtrưng Pháp và đổi mới chính ngôn ngữ, lối nói sẵn có của tiếng Việt
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh;
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh
Có lẽ trước Xuân Diệu không mấy ai nói "Hơn một loài", "Sắc đỏ rũa", "Những luồng run rẩy" Trong tư duy ngôn ngữ của người Việt, hơn một loài có thể hiểu là nhiều
loài, dăm bảy loài Bằng cách điễn đạt mới, Xuân Diệu đãng cho thấy một góc nhìn
khác cận cảnh hơn về sắc là điêu tàn của mùa thu "Sắc đỏ rũa màu xanh" có thể hiểu là
màu đỏ, màu úa vàng của cây lá mùa thu ngày càng nhiều, lấn dần màu xanh, làm cho
lá cây màu xanh bị rũa, rụng dần đi từng tí một Từ hình ảnh lá tàn phai, ta thấy đâu đó
ý thơ “Lạc diệp thu phong tảo”( Lá rụng, gió thu sớm) của Lý Bạch1 hay câu thơ tả thucủa Trần Tử Ngang:
Trì trì bạch nhật vãn,
Niệu niệu thu phong sinh.
(Nhè nhẹ gió thu sinh
Năm qua hoa rơi tàn hết)
Trang 8Dạ toạ thính thu phong…
(Dịch: Cây tàn gợi khách lòng đau
Đêm nghe tiếng gió thu sầu vi vu…)
(Thu Triêu Lãm Kính -Tiết Tắc)
Thì nay, cái lạnh của mùa thu được soi chiếu trên từng cành cây nhánh lá "Những luồng run rẩy rung rinh lá" là là cách tả cái lạnh gián tiếp từ gió thu Xét về thanh luật,
khổ thơ không chỉ đáp ửng luật bằng trắc mà còn tạo được hiệu ứng về âm sắc trongcách sử dụng phụ âm “r” Xưa kia, trong Thi kinh, tổng tập thơ ca đầu tiên của TrungQuốc, hiện tượng tạo âm điệu cho câu thơ bằng cách lặp từ này cũng đã xuất hiện:
Tích ngã vãng hĩ, dương liễu y y
Kim ngã lai tư, vũ tuyết phi phi
(Xưa ta đi, dương liễu xanh mướt
Nay ta về, mưa tuyết đầy trời)
(Thái vi, Tiểu Nhã)
Không chỉ là dung biện pháp tạo âm rung cho câu thơ qua việc lặp phụ âm “r”,người viết lại kết hợp cả lối đảo ngữ, vừa trộn lẫn cảm giác do cách kết hợp trực tiếp
loại từ "luồng" với đảo ngữ "run rẩy rung rinh lá" khiến cho người đọc thơ như có thể
cảm giác được cả cái run rẩy rùng mình vì ớn lạnh của chính tâm hồn nhà thơ Xuân
Diệu có tài tả rét, trong Nguyệt cầm, trong Lời kỹ nữ và đặc biệt trong Đây mùa thu tới Vẫn là cái rét của mùa thu như vô vàn mùa thu từng đi qua thơ cổ, những thi sĩ đã
làm sống lại mùa thu qua cách nhìn của con người hiện đại với những vần thơ mới mẻ,đầy ấn tượng Lối đặc tả ấy phải chăng là sự kết hợp điêu luyện giữa cảm hứng mạchnguồn của Đường thi lưu dấu trong văn chương trung đại và lối viết đậm chất tượngtrưng Pháp với những cái tên như Verlaine, Rimbaud, hay Baudelaire… Ai biết lá rungrinh vì gió hay vì lạnh Dù gió, hay dù lạnh thì nó đều thuộc về mùa thu, về âm tính
trong mùa Nhánh khô gầy là cái yếu ớt của cây nhưng đến xương mỏng manh thì nó đã
hóa thành cái lạnh của con người, cái lạnh không gắt, nhưng đủ thấu đến xương củavạn vật Sự ngập ngừng mơ hồ chút ít càng làm tăng độ tinh vi trong cảm quan thơ Đó
là một bằng chứng: lòng tác giả đã thấm sâu vào lòng thu, sự thâm nhập không dừng ởbên ngoài mà đã đi xuyên vào bên trong Xuân Diệu tả mùa thu từ bên trong từng tếbào lá rũa, đó chính là nét mới so với cái nhìn từ hứng tượng mà bao quát cả mùa thutrong Đường thi Từ trong nội vật để tả ra, mùa thu hiện ra trong những gì tinh vi nhất,cảnh thu đó là hồn thu, và cũng là hồn nhà thơ
Trang 9Không gian nghệ thuật của bài thơ có một sự chuyển biến, từ gần ra xa, thấpthành cao, hẹp trở nên rộng, nhỏ biến ra to, mơ hồ, vô định thay cho cụ thể, xác định không gian đã nới rộng ra đến không còn biết đâu là biên giới, thời gian thu giãn nởnhư một cảnh phim chiếu chậm nhưng lại chẳng rõ điểm dừng Không gian, thời gianđều nhuốm màu tâm trạng của cảnh và người trên cái thế chung là nhạt dần, phai đi,
mơ hồ đi, nghiêng đổ, mất mát một cái gì mà chính mình không biết Mùa thu từ dấuhiệu của cây lá trải rộng ra khắp đất trời:
Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ
Non xa khởi sự nhạt sương mờ
Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò
Nói đến mùa thu mà không nhắc đến trăng thu là một thiếu sót lớn Trăng thu rấtđẹp nhưng cũng chất chứa u sầu Trong thơ Đường, nó là hứng tượng gợi lên sự ly biệt,đến sự cô đơn của người lính thú, đến cảnh về già của một lão tướng hết thời, đến nỗibuồn của người cung nữ bị thất sủng Trăng thu thật là buồn:
Thiêm sầu ích hận nhiễu thiên nhai.
Chiếu tha kỷ hứa nhân trường đoạn.
(Thêm sầu, thêm hận khắp gầm trời,
Trăng đã soi bao nhiêu người đứt ruột)
(Bạch Cư Dị, Trung thu nguyệt)
Trăng cô đơn cũng xuất hiện trong thơ của Đỗ Phủ:
Thu nguyệt nhưng viên dạ,
Giang thôn độc lão thân.
( Đêm trăng thu vẫn tròn,
Xóm bên sông chỉ có một thân già)
(Đỗ Phủ, Thập thất dạ đối nguyệt)
Trăng là niềm cảm hứng vô tận của các thi nhân từ cổ chí kim Đối diện với ánhtrăng, dường như con người cảm giác dễ dàng trải cảm xúc một cách tự nhiên Dướiánh trăng vằng vặc nơi đất khách, lòng người dễ vang lên những tiếng đồng vọng vềánh trăng nơi quê nhà Trăng là một biểu tượng mà cũng là một chủ để lớn trong
Trang 10Đường thi Trong thơ sơn thủy đời Đường, trăng còn rọi chiếu những hồi ức, những kỉniệm mà nay không còn nữa Dưới trăng, hoài niệm của một thời dĩ vãng hiện về, khiếnlòng người vời vợi một niềm nhớ thương, tiếc nuối:
Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân
Cổ nhân kim nhân nhược lưu thuỷ
Công khan minh nguyệt giai như thủ
( Người nay chẳng thấy trăng thời trước
Người trước, trăng nay dọi có lần
Người trước người nay dòng nước chảy
Cùng trông trăng sáng đều như vậy )
(Lý Bạch, Bá tửu vấn nguyệt, Lê Nguyễn Lưu dịch)
Cảnh mùa thu bao giờ cũng buồn cho dù có gió mát trăng thanh Ta hãy cùngxem Lý Bạch tả cảnh thu trong bài Thu tứ:
Thu phong thanh,
Thu nguyệt minh
Lạc diệp tụ hoàn tán,
Hàn nha thê phục kinh
Tương tư tương kiến tri hà nhật,
Thử thời thử dạ nan vi tình
(Gió thu trong,
Trăng thu sáng
Lá rơi hợp rồi tan,
Quạ lạnh đậu giật mình
Nhớ nhau nhưng biết ngày nào thấy nhau,
giờ này đêm này biết bao tình)
Gió thu, trăng thu được tái hiện trong Đường thi nhiều lần nhưng bao giờ cũngchất chứa một chút tàn phai và bàng bạc nỗi u uẩn cõi lòng Làm sao mà không xót xatiếc nuối khi vầng trăng xưa nay vẫn vằng vặc soi đất trời, soi mỗi con người mà ngườithì mỗi giờ, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm đều phải đi qua những biến động Trăng thìvĩnh cửu mà đời người thì hạn hữu Cái gì ngày hôm qua thì không thể quay lui tìm lại