1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng canh tác h ọc vafQL cỏ dại

95 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 684,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, chúng ta cần nắm được một số biệnpháp sau đây: - Cần nắm được các đặc điểm về chế độ mưa, chế độ ẩm đất của mỗi vùng, mỗimùa để có sự bố trí cây trồng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

BÀI GIẢNG

CANH TÁC HỌC

Người biên soạn: Nguyễn Văn Hoan

Thanh Hoá Tháng 8 năm 2017

Trang 2

Chương 1: ĐIỀU KIỆN SỐNG CỦA CÂY TRỒNG

VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TIẾT

Điều kiện sống là những yếu tố quan trọng của mọi sinh vật sống tồn tạitrong thế giới tự nhiên Điều kiện sống của cây trồng bao gồm: ánh sáng, nhiệt

độ, không khí, nước và dinh dưỡng Điều kiện sống cung cấp năng lượng và vậtchất chủ yếu cho quá trình tạo thành vật chất hữu cơ, tạo năng suất của câytrồng Có đến 90-95% chất hữu cơ của cây là do quá trình quang hợp với sựcung cấp năng lượng của ánh sáng mặt trời Cây trồng tận dụng cao các điềukiện sống sẽ cho năng suất cũng như hiệu quả kinh tế cao nhất Vì vậy, có thểnói điều kiện sống là yếu tố quan trọng bậc nhất đối với cây trồng Điều kiệnsống của cây trồng bao gồm:

1 Ánh sáng.

1.1 Vai trò, tác dụng của ánh sáng đối với cây trồng.

- Ánh sáng là nguồn cung cấp năng lượng cho quá trình quang hợp, tổng hợpchất hữu cơ cho cây

- Ánh sáng cung cấp nhiệt độ cho bầu khí quyển của trái đất từ đó ảnh hưởngđến nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất của tiểu khí hậu cây trồng

- Cường độ và thời gian chiếu sáng có ảnh hưởng trực tiếp đến các quá trìnhsinh lý, sinh hoá trong cây Mỗi loại cây trồng có yêu cầu khác nhau về cường

độ chiếu sáng cũng như thời gian chiếu sáng, do đó phải dựa vào chế độ sángcủa từng vùng để có sự bố trí cây trồng một cách hợp lý

Ví dụ: Các cây quang hợp theo chu trình C4 và chu trình cam là những cây ưasáng (điểm bão hoà ánh sáng 0,6 - 1,4 cal/cm2 /phút) Các cây quang hợp theochu trình C3 yêu cầu ánh sáng thấp hơn (điểm bão hoà ánh sáng 0,2 -0,8cal/cm2 /phút) Trong các cây C3 có những cây yêu cầu ánh sáng khá thấp như

cà phê arabica, bèo hoa dâu

1.2 Yêu cầu ánh sáng của cây trồng.

Cây xanh dựa vào ánh sáng để tiến hành quá trình quang hợp, tuy nhiênyêu cầu về ánh sáng của mỗi loại cây trồng lại có sự khác nhau Yêu cầu về ánhsáng của cây trồng được thể hiện trên các mặt sau:

- Cường độ chiếu sáng: dựa vào yêu cầu về cường độ chiếu sáng người ta chiacây trồng làm hai loại

+ Cây âm tính: Là những cây trồng thích hợp với điều kiện chiếu sáng yếu.Chúng không chịu được điều kiện ánh sáng mạnh

VD: Lúa mì, khoai tây, cà chua, cà phê Arabica

+ Cây dương tính: Là những cây trồng thích hợp với điều kiện ánh sángmạnh Trong điều kiện ánh sáng yếu chúng sẽ sinh trưởng phát triển kém

VD: Ngô, mía, kê, dứa, cà phê Rôbusta, chuối Khi bố trí cây trồng chúng ta cầndựa vào đặc điểm này để có sự phân vùng địa lý cũng như tạo điều kiện trồngtrọt cho cây trồng có được cường độ ánh sáng thích hợp nhất

- Thời gian chiếu sáng trong ngày (chu kỳ quang): Một số loại cây trồng để rahoa kết quả được chúng yêu cầu phải có thời gian chiếu sáng trong ngày thíchhợp Căn cứ vào đặc điểm này người ta phân cây trồng ra làm ba nhóm

Trang 3

+ Nhóm cây ngày ngắn: Là những cây trồng chỉ ra hoa kết quả trong điều kiện chiếu sáng dưới 14 giờ trong một ngày như lúa, khoai lang, đậu tương, lạc, mía, cúc, thược dược

+ Nhóm cây ngày dài: Bao gồm những loại cây chỉ ra hoa kết quả trong điều kiện ngày dài trên 18 giờ chiếu sáng hoặc liên tục chiếu sáng như lúa mì, mạch, bắp cải, ngô phương bắc, layơn

+ Nhóm cây trung tính: Là những cây trồng cần có thời gian chiếu sáng 14- 18giờ trong ngày Gồm những cây không có phản ứng với độ dài chiếu sáng trongngày Nhóm cây này thường thuộc loại cây cảm ôn, trong điều kiện nhiệt độ caocây thường phát dục nhanh, ra hoa sớm (cà rốt, dưa chuột, thuốc lá, bông )Cũng chính vì lý do này mà khi đưa một giống cây trồng từ nơi này sang nơikhác, do thời gian chiếu sáng thay đổi, khiến thời gian ra hoa của chúng cũngthay đổi rất nhiều, thậm chí là không ra hoa được

Ở nước ta độ dài ngày thay đổi như sau: Mùa hè ngày dài nhất rồi dần ngắnlại trong mùa thu, mùa đông là ngày ngắn nhất, sang xuân lại dài ra Do yếu tốnày mà trên một vùng sinh thái có thể tồn tại nhiều nhóm cây có phản ứng chu

kỳ quang khác nhau Trong trồng trọt, cần dựa vào đặc điểm này để có sự bố trícây trồng và mùa vụ gieo trồng thích hợp

Cùng một loại cây trồng, nhưng giống khác nhau cũng yêu cầu điều kiệnánh sáng không giống nhau Ngay đối với lúa, có loại hình nhạy cảm với ánhsáng ngày ngắn nghĩa là buộc phải có điều kiện ngày ngắn mới ra hoa kết quảđược, như lúa mùa muộn ở nước ta Dù cấy sớm hay cấy muộn, song thường cứđến mùa thu, ngày ngắn lại, lúa mới trổ Còn lúa chiêm, lúa xuân là loại hìnhkhông nhạy cảm với ánh sáng, gieo mùa nào thì sau một thời gian nhất định là

có thể ra hoa kết quả được

Các thời kỳ khác nhau của cây trồng, yêu cầu điều kiện ánh sáng cũng khácnhau.Thời kỳ cây trưởng thành là thời kỳ cây cần ánh sáng đầy đủ nhất Cònthời kỳ nẩy mầm là thời kỳ cây không có chất diệp lục thì không cần ánh sáng.Thời kỳ chín cũng là thời kỳ tác dụng quang hợp giảm đi rõ rệt, nên yêu cầu sinh

lý về ánh sáng cũng không nhiều

Tuy nhiên ánh sáng không có lợi cho sự phát triển của bộ rễ Thí dụ các rễchân kiềng của ngô mọc ở các đốt cây ngô trên mặt đất, nếu được vun đất (ánhsáng bị che đi) thì các rễ này sẽ phát triển tốt hơn Đối với sự hình thành củ củacây có củ, tác dụng của vun đất che ánh sáng cũng rất rõ, như đối với khoai tâynếu vun đất không tốt, mặt củ trơ ra ngoài có thể hình thành lớp vỏ xanh có chấtđộc có hại cho người và gia sức

Qua phân tích ở trên, ta thấy yêu cầu ánh sáng có mức độ khác nhau tuỳloại cây trồng, song cây trồng nào cung phải có ánh sáng mới tổng hợp đượcchất hữu cơ Như Timiriazep đã nói "Mỗi một vạt ánh sáng không chiếu vào câyxanh, đều là một tổn thất của loài người" Chính vì vậy trong sản xuất nôngnghiệp, người ta phải dùng mọi biện pháp kỹ thuật để sử dụng ánh sáng đượctốt Thí dụ, việc gieo hạt đều, trồng dày vừa phải, trồng đúng hướng, gieo ôvuông, trồng xen hợp lý, làm dàn cho cây leo đều là các biện pháp mà trongchừng mực nào đó, đã nâng cao hiệu suất sử dụng ánh sáng của cây trồng

Trang 4

1.3 Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng ánh sáng trong sản xuất nông nghiệp.

Hiện nay cây trồng chỉ mới hấp thụ được khoảng 1,5-2% tổng bức xạquang hợp (PAR) chiếu tới đồng ruộng Theo A.A Nhicôpovich nếu nâng hiệuxuất hấp thụ bức xạ của cây trồng lên tới 4-5% thì có thể nâng năng suất câytrồng lên gấp đôi Để nâng cao hiệu suất sự dụng năng lượng mặt trời cần ápdụng các biện pháp sau:

- Đánh giá chính xác tiềm năng bức xạ quang hợp có được ở các vùng địa lýkhác nhau theo không gian và thời gian Khả năng đảm bảo yêu cầu của câytrồng về năng lượng bức xạ quang hợp trong các giai đoạn sinh trưởng và pháttriển của chúng

- Xác định yêu cầu về năng lượng bức xạ quang hợp của từng giống cây trồngtrong từng giai đoạn sống khác nhau, đặc biệt yêu cầu về cường độ bức xạ, thờigian chiếu sáng trong ngày, để có cơ sở bố trí thời vụ và phân vùng khí hậu nôngnghiệp phù hợp nhằm đạt được năng suất cây trồng cao nhất

- Chọn tạo những giống cây trồng có những đặc trưng hình thái thích hợp, cóthể nhận được năng lượng bức xạ nhiều nhất như: góc lá, sự phân bố cành, sựphân bố lá trên cây, diện tích lá, bề dầy lá Nghiên cứu mật độ cây trên đơn vịsao cho phù hợp nhất Những loại cây ưa sáng yêu cầu trồng ở nơi có khả năngchiếu sáng tốt

- Trồng hàng cây theo hướng thích hợp sao cho cây trồng trong ngày có thểnhận được năng lượng mặt trời nhiều nhất Thông thường, nên bố trí hàng câytheo hường Bắc - Nam để hạn chế sự che chắn ánh sáng lẫn nhau của các câytrong vườn

- Biện pháp trồng xen các loại cây có độ cao khác nhau, có nhu cầu ánh sángkhác nhau cũng là cách tăng hiệu quả sử dụng bức xạ quang hợp tốt nhất

Ví dụ: trồng xen cây cao với cây thấp (cây ăn quả-dứa), cây dài ngày với câyngắn ngày (sắn-lạc)

- Các biện pháp kỹ thuật khác như: Xới xáo đất, bón phân, tưới nước thích hợp

sẽ giúp cây tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất thuận của ngoạicảnh, tăng diện tích và tuổi thọ của lá, làm tăng khả năng hấp thụ năng lượngbức xạ mặt trời, dẫn đấn năng suất tăng

2 Nhiệt độ.

Từng loại cây trồng, các bộ phận của cây cũng như các quá trình sinh lý trongcây, sẽ phát triển tốt ở nhiệt độ thích hợp và chỉ an toàn ở một nhiệt độ nhấtđịnh Nhiệt độ lại có sự thay đổi theo tháng trong năm Để bố trí cây trồng phùhợp với nhiệt độ cần nắm được tình hình nhiệt độ của các tháng trong năm cũngnhư yêu cầu về nhiệt độ của từng loại cây trồng, từng giai đoạn trong quá trìnhphát triển

2.1 Tác dụng của nhiệt độ đối với cây trồng.

- Nhiệt độ đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành khí hậucủa trái đất, từ đó ảnh hưởng đến tiểu khí hậu của cây trồng

- Nhiệt độ quyết định tốc độ các phản ứng sinh lý hoá sinh, các chỉ số quantrọng của cây trồng như quang hợp, hô hấp, trao đổi chất, hút nược, hút khoáng,vận chuyển vật chất và tích luỹ các sản phẩm đồng hoá

Trang 5

- Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng.

- Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt động của môi trường tác động đến cây trồng nhưmôi trường đất (vi sinh vật, quá trình khoáng hoá), môi trường không khí (ẩm

độ, tiểu khí hậu quanh cây trồng)

2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ đối với cây trồng.

Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển và tạonăng suất của cây trồng Nó được thể hiện ở các mặt sau:

- Nhiệt độ tối thấp sinh vật học: Là nhiệt độ thấp nhất mà tại đó cây ngừng sinhtrưởng Mỗi loại cây trồng khác nhau, ở mỗi giai đoạn sống khác nhau có giớihạn tối thấp sinh vật học khác nhau

Ví dụ: nhiệt độ tối thấp sinh vật học của lúa ở giai đoạn đầu là 130C, giai đoạntrỗ bông là 20-220 C Đối với ngô giai đoạn đầu là 13-1400C giai đoạn phun râutrỗ cờ là 16-170C

Nhiệt độ thấp làm cho lượng nước trong nguyên sinh chất trong tế bào giảm

đi, mật độ dịch bào tăng lên, quá trình vận chuyển nước và chất dinh dưỡngtrong cây bị cản trở gây ảnh hưởng đến quá trình sinh lý khác của cây Nếu nhiệt

độ xuống quá thấp (dưới 00C), nước trong tế bào bị đóng băng gây hiện tượng conguyên sinh, cây sẽ dần dần bị chết Khả năng chịu rét của thực vật khác nhau,thực vật ôn đới chịu rét tốt hơn so với thực vật nhiệt đới và xích đạo

Đối với cây trồng, nhìn chung thời kỳ cây non, ra hoa và kết quả kém chịu réthơn cả Nếu vào thời kỳ này, cây gặp rét kéo dài sẽ ảnh hưởng đến năng suất vàphẩm chất của cây trồng Sau đợt rét, nếu nhiệt độ tăng lên từ từ thì mức độ hại

sẽ thấp hơn so với nhiệt độ tăng lên đột ngột

Nhiệt độ đất thấp làm cho hạt giống mọc mầm chậm hoặc không mọc mầmđược Bộ rễ cây trồng kém phát triển

- Nhiệt độ thích hợp: Là khoảng nhiệt độ lớn hơn nhiệt độ tối thấp và thấphơn nhiệt độ tối cao Trong khoảng này, theo Vanhop nếu nhiệt độ tăng 100C thìquá trình sống của thực vật sẽ tăng lên 1-2 lần Trong khoảng nhiệt độ thích hợp,quá trình hút các chất dinh dưỡng khoáng và nước của cây sẽ thuận tiện Cường

độ hoạt động của hệ vi sinh vật đất mạnh, tốc độ phân giải các chất hữu cơ vàhoà tan các chất dinh dưỡng trong đất diễn ra mạnh

- Nhiệt độ tối cao sinh vật học: Là nhiệt độ mà tại đó, hoạt động sống của thựcvật bị ngừng lại Hầu hết các loại cây trồng, nhiệt độ tối cao sinh vật học ở vàokhoảng 35 - 400C Dưới ảnh hưởng lâu dài của nhiệt độ cao, thời gian sinhtrưởng của cây trồng rút ngắn lại, không đủ cho cây trồng tích luỹ sản phẩmhình thành năng suất, dẫn đến năng suất thấp.Nhiệt độ cao còn xúc tiến quá trìnhthoát hơi nước của cây trồng Nếu trong thời kỳ hạn sẽ làm cây thiếu nước vàchết Nhiệt độ cao, làm tăng quá trình hô hấp của thực vật, làm giảm khả năngtích luỹ trong cây Dẫn tới năng suất và phẩm chất giảm

Nhiệt độ cao, ảnh hưởng xấu đến quá trình thụ tinh, thụ phấn của cây, làm giảmnăng suất

2.3 Yêu cầu về nhiệt độ của cây trồng.

Cây trồng khác nhau, yêu cầu về nhiệt độ cũng khác nhau Yêu cầu nhiệt độ củacây trồng được thể hiện qua các mặt sau

- Tổng nhiệt độ cây cần một vụ: Để hoàn thành chu kỳ sinh trưởng, mỗi cây cần

Trang 6

một tổng tích ôn nhất định Tổng tích ôn này phụ thuộc vào thời gian sinhtrưởng và yêu cầu nhiệt độ cao hay thấp của cây.

VD: Nhóm cây ưa lạnh như khoai tây, có thời gian sinh trưởng 80-90 ngày cầntổng ôn: 1500 – 17000C Nhóm cây ưa nóng như lúa có thời gian sinh trưởng

100 – 120 ngày cần tổng ôn 2500 – 26000C Nhóm cây trung gian như đậu cô ve

có thời gian sinh trưởng 80 - 110 ngày cần tổng ôn 1600 – 20000C Nếu tính cảthời gian làm đất thì cây ưa lạnh cần thêm 3000C/vụ, cây ưa nóng cần thêm4000C/vụ, thì một vụ cây ưa lạnh cần khoảng 1800 – 20000C và cây ưa nóngkhoảng 3000oC Nếu làm một năm hai vụ cây ưa nóng và một vụ cây ưa lạnh(phía bắc) cần khoảng 7800 – 80000C Một năm 3 vụ cây ưa nóng (phía Nam)cần khoảng 90000C Từ yêu cầu tổng nhiệt độ/vụ ở trên, ta thấy rằng để xác địnhđược số vụ bố trí trên một năm ta cần nắm được tổng số nhiệt độ trong một năm

và yêu cầu tổng nhiệt độ/vụ của từng giống cây để từ đó có sự bố trí số vụ vàgiống cây trồng trên mỗi vụ cho thích hợp

- Nhiệt độ thích hợp để sinh trưởng phát triển: Dựa vào nhiệt độ thích hợp củacây trồng người ta phân cây trồng ra làm ba loại sau:

+ Cây ưa nóng: Là những cây sinh trưởng và ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ trên

200C như các cây lúa, lạc, đay, mía

+ Cây ưa lạnh: Là những cây sinh trưởng và ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ dưới

200C như lúa mì, khoai tây và các cây rau như xu hào, cải bắp

+ Ngoài hai nhóm cây trên ra còn có nhóm cây trung gian là nhưng cây yêu cầunhiệt độ trên dưới 200C một ít để sinh trưởng ra hoa, kết quả

Khi bố trí thời vụ cây trồng cần chú ý đảm bảo nhiệt độ thích hợp cho cây ởgian đoạn cuối (45- 60 ngày) nghĩa là cần khoảng 2 tháng có những ngày trên

200C cho những cây ưa nóng và dưới 200C cho những cây ưa lạnh Vì trong giaiđoạn này cây trồng diễn ra song song hai quá trình phát triển, phát triển các cơquan sinh thực và cơ quan sinh trưởng Nếu không có nhiệt độ phù hợp với đặctính ưa nhiệt của cây quá trình thụ phấn, thụ tinh không an toàn dẫn đến hiệntượng hoa bị thui, quả, hạt bị lép, sức chứa giảm, năng suất giảm

2.4 Những biện pháp kỹ thuật điều hoà chế độ nhiệt cho cây trồng.

- Nghiên cứu, nắm vững nhu cầu về nhiệt độ của các giống cây trồng khác nhau,trong từng giai đoạn sống khác nhau Đánh giá nguồn tài nguyên về nhiệt độ củatừng vùng, trong từng thời kỳ Trên cở sở đó, xác định số mùa vụ, giống câytrồng trong từng thời vụ một cách thích hợp nhất

- Trồng rừng phòng hộ, bằng biện pháp này, có thể giảm được nhiệt độ khôngkhí vào thời kỳ mùa hè và nhiệt độ không khí trong thời kỳ mùa đông

- Xác định thời vụ cho thích hợp để đảm bảo nhiệt độ cần thiết cho cây sinhtrưởng và phát triển

* Những biện pháp kỹ thuật giữ và tăng nhiệt độ trong mùa đông:

Trong thời kỳ mùa đông, lượng bức xạ nhận được ít, lại kèm theo gió lạnh (giómùa) Đặc biệt ở khu vực từ vùng duyên hải miền trung đến biên giới phía bắc.Chính vì vậy, vấn đề giữ nhiệt độ trong thời kỳ mùa đông cần được quan tâm.Một số biện pháp kỹ thuật cần được lưu ý sau đây

- Cải thiện thành phần cơ giới và kết cấu đất Giảm tỷ lệ cát, tăng tỷ lệ séttrong đất, xới xáo, giữ cho đất tơi xốp, thoáng khí, bón phân hữu cơ cho đất

Trang 7

- Dùng vật che phủ mặt đất: Trong mùa đông ta có thể dùng rơm rạ hay cỏ mục

để che tủ mặt đất, lớp che tủ này hạn chế bức xạ hữu dụng của mặt đất hoặc cóthể rải tro trên mặt đất sẽ làm tăng khả năng hấp thụ năng lượng bức xạ mặt trờicủa đất

- Phương pháp tưới nước, dữ ẩm cho cây trồng cạn: Đối với cây trồng cạn, tăng

ẩm độ đất sẽ làm tăng nhiệt dung của đất, tăng khả năng hấp thụ năng lượng bức

xạ của mặt trời như vậy đất sẽ có nhiệt độ cao hơn

- Trồng cây theo hàng, theo luống và hướng: Người ta thấy rằng nhiệt độ đất ởnơi có lên luống luôn cao hơn so với không đánh luống

- Trồng cây theo hướng bắc nam: Sẽ giảm sự che chắn lẫn nhau của các câytrồng trong hàng, như vậy các cây trong hàng có thể nhận được nhiều nănglượng mặt trời hơn

* Các biện pháp kỹ thuật giảm nhiệt độ trong mùa hè:

- Biện pháp che tủ: Dùng rơm rạ hay cỏ mục che phủ lên mặt đất để giảm nănglượng bức xạ chiếu trực tiếp xuống mặt đất Dùng dàn che cho những cây non

- Tưới nước cho cây: Đất nóng khi được tưới nước sẽ làm tăng khả năng bốc hơinước từ bề mặt đất Nhiệt độ đất cũng như nhiệt độ không khí sẽ giảm đi

- Xới xáo đất, bón phân hữu cơ cho đất làm giảm khả năng hấp phụ nhiệt độ củađất, tăng sức chống chịu của cây San phẳng mặt ruộng cũng là biện pháp tíchcực để giảm nhiệt độ đất

- Trồng cây che bóng: Tuỳ theo mục đích sử dụng đất, tuỳ từng loại cây trồng.Người ta có thể trồng các loại cây che bóng (thường là những loại cây phân xanhnhư: Muồng, cây Cốt khí )

3 Nước.

Nước là điều kiện khởi nguồn cho sự sống trên trái đất Cũng như các sinh vậtkhác, cây trồng cần rất nhiều nước trong quá trinh sinh trưởng, phát triển Tuynhiêu quá trình hấp thu và sử dụng nước của cây trồng có nhiều điểm khác sovới các sinh vật khác

3.1 Tác dụng của nước đối với cây trồng.

Không riêng gì cây trồng mà nước còn là điều kiện sống hết sức quan trọngđối với tất cả các sự sống trên trái đất, không có nước thì sẽ không có sự sốngtrên trái đất.Qua nghiên cứu các nhà khoa học cho rằng các mầm mống đầu tiêncủa sự sống cũng được bắt nguồn từ dưới nước sau đó qua quá trình tiến hoámới chuyển lên sống ở trên cạn như ngày nay, như vậy nước có thể được coi làmôi trường khởi thuỷ cho sự sống trên trái đất Đối với cây trồng nước có nhữngtác dụng sau đây

- Nước cần thiết cho quá trình nảy mầm của hạt giống Hạt cây trồng khi đượcgieo sẽ hút nước vào, trương lên Nước làm môi trường cho quá trình chuyểnhoá các chất dự trữ, cung cấp cho phôi phát triển Bất kỳ một loại hạt giống nàomuốn nảy mầm được cũng phải hút đủ một lượng nước nhất định

VD hạt ngũ cốc cần hút 40 - 50% lượng nước so với trọng lượng hạt, đậutương cần 120%, các loại rau như cải bắp cần 50%, cần tây cần 100%

- Nước là yếu tố cấu trúc của tế bào thực vật Trong cơ thể thực vật nước chiếm

70 - 90% trọng lượng tươi

VD như: Thuỷ tảo (96-98%), khoai tây (74-80%), cây thân gỗ (40-50%)

Trang 8

- Trong quá trình quang hợp, nước là một trong những nguyên liệu để lá chế tạo

ra chất hữu cơ cùng với CO2 và ánh sáng mặt trời Phản ứng đơn giản được thểhiện như sau: 6H2O + 6 CO2 = C6H12O6 + 6O2

- Nước tham gia vào môi trường xúc tác cho các phản ứng sinh lý, sinh hoá xẩy

ra trong cây trồng

- Nước là môi trường vận chuyển và phân phối chất dinh dưỡng tới các bộ phậncủa cơ thể cây trồng Nước hoà tan các chất khoáng do cây hút từ đất và đưa lêncho thân, lá để nuôi cây

- Nước có tỷ nhiệt lớn, có thể bay hơi ở bất cứ nhiệt độ nào nên nước còn là môitrường điều chỉnh nhiệt độ cơ thể cây trồng bằng cách thoát hơi nước qua các lỗkhí khổng trên bề mặt lá Đồng thời khi thoát hơi nước, các lỗ khí khổng mở racòn tạo điều kiện cho khí CO2 xâm nhập vào lá để tiến hành quá trình quanghợp Qua nghiên cứu cho thấy, phần lớn lượng nước cây hút được sử dụng vàoquá trình bay hơi trên bề mặt lá (99,8%), chỉ có 0,1-0,3% lá dùng để xây dựngcác bộ phận của cây

- Nước tạo sức trương cho tế bào thực vật, làm cho cây trồng có hình dáng ổnđịnh, tạo tư thế có lợi cho sinh trưởng, phát triển của cây trồng Chính vì vây khicây trồng bị mất nước quá nhiều thì thường có hiện tượng bị héo nghĩa là cành lá

rũ xuống Nguyên nhân là do tế bào bị mất nước, không còn giữ được sứctrương nữa, keo nguyên sinh bị co lại, do đó cây trồng bị biến dạng

- Ngoài những tác dụng trực tiếp đối với cây trồng ra thì nước còn có tác dụngrất to lớn đối với môi trường sống của cây trồng

Ví dụ như nước có tác dụng cải tạo, nâng cao độ mầu mỡ, phì nhiêu của đất, nướccòn là môi trường sống và hoạt động của các loại vi sinh vật sống trong đất

3.2 Yêu cầu về nước của cây trồng.

Muốn cây trồng sinh trưởng tốt, cần nắm vững yêu cầu về nước của từng loạicây trồng để có biện pháp điều tiết thích hợp Tuy nhiên, yêu cầu về nước củacây trồng không phải là một đại lượng cố định mà có sự thay đổi tuỳ thuộc vàogiống, các giai đoạn phát triển và điều kiện ngoại cảnh Nó Được thể hiện quacác mặt sau:

- Các giai đoạn khác nhau của cây trồng thì yêu cầu về nước rất khác nhau.Nguyên nhân là do, giai đoạn khác nhau thì kích thước cơ thể khác nhau, diệntích lá khác nhau, cường độ của các phản ứng sinh lý sinh hoá khác nhau nênnhu cầu nước khác nhau dẫn đến yêu cầu về nước khác nhau

+ Ở giai đoạn từ mọc mầm đến cây con, do lá cây trồng còn bé, bộ rễ chưa pháttriển nên cây trồng cần nước chưa nhiều Giai đoạn này chúng ta chỉ cần tướimột lượng nước vừa phải là được

+ Trong giai đoạn sau, nghĩa là giai đoạn từ khi cây sinh trưởng phát triển thân

lá mạnh, khép tán cho đến khi ra hoa kết quả là giai đoạn cần nhiều nước nhất.Đặc biệt là giai đoạn ra hoa kết quả Đây là giai đoạn mà cây trồng phản ứng rấtnhạy cảm với điều kiện sống Nếu cung cấp nước không đủ trong giai đoạn này,

sẽ gây hiện tượng rụng nụ hoặc hạt lép

Tuy nhiên, cũng trong thời kỳ này thì nhu cầu nước nhiều nhất của mỗi câytrồng cũng rất khác nhau

Những loại cây lấy hạt nhu cầu nước nhiều nhất là ở thời kỳ hình thành các cơ

Trang 9

quan sinh sản Những loại cây lấy củ cần nước nhiều nhất ở thời kỳ phát triển

củ Ơ thời kỳ này, cây tiêu thụ nước với hiệu suất tích luỹ chất khô cao nhất vànước đóng vai trò quyết định đến năng suất cuối cùng Các loại rau yêu cầunước trong suốt quá trình sinh trưởng

VD: Theo nghiên cứu của trạm khí tượng Liên Xô cho thấy: đối với cây lúa, thời

kỳ đốt dài, trỗ và ra hoa là thời kỳ cần nhiều nước nhất Đối với ngô thì từ lúc rahoa đến chín sữa Cao lương là từ khi hình thành bông đến mẩy hạt Đậu đỗ vàcây bông là từ khi ra hoa, ra quả Dưa là từ khi ra hoa đến chín Khoai tây là từ

ra hoa đến ra củ Chúng ta cần nắm được các thời kỳ này của các cây trồng khácnhau để có kế hoạch cung cấp nước kịp thời

+ Trong giai đoạn cuối nghĩa là từ khi sản phẩm cây trồng bước vào giai đoạnchín Do các phản ứng trong cây trồng chậm lại, cây ngừng sinh trưởng, quanghợp giảm nên yêu cầu nước của cây cũng từ từ giảm dần

- Các cây trồng khác nhau, nhu cầu về nước cũng khác nhau Nguyên nhân là dođặc tính sinh học của chúng khác nhau, biểu hiện ở diện tích lá to nhỏ khácnhau, thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng dài ngắn khác nhau, bộ rễ mạnh yếu khácnhau, đặc điểm phân bố bộ rễ trong đất khác nhau Ngoài ra, các giống khácnhau chỉ cần có một đặc tính sinh học cá biệt nào đó cũng có ý nghĩa không kémphần quan trọng đến yêu cầu nước

VD như mật độ khí khổng trên lá, sự phân bố khí khổng trên lá, hàm lượng nướctrong cơ thể

- Yêu cầu của cây đối với nước còn phụ thuộc vào sự đảm bảo các điều kiện sinhsống khác vì tác dụng phát tán của cây trồng lớn hay nhỏ, không chỉ quyết định

do đặc tính sinh học của bản thân giống cây trồng mà còn quyết định do điềukiện ngoại cảnh

VD như:

+ Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đến tác dụng phát tán hơi nước củacây trồng, do ánh sáng làm nhiệt độ lá tăng lên, tác dụng phát tán sẽ tăng lêncùng với cường độ chiếu sáng của cây

+ Hàm lượng hơi nước trong không khí cũng có ý nghĩa quan trọng đến tácdụng phát tán Hệ số phát tán ở năm khô hạn cao hơn năm ẩm ướt

+ Gió cũng làm tăng rõ rệt tác dụng phát tán Đặc biệt là khi có gió khô, nghĩa

là gió kết hợp với ẩm độ không khí thấp sẽ làm nước trong cây trồng mất đi rấtnhanh

* Yêu cầu nước của cây trồng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, khi muốn tướinước cho cây trồng hay xác định lượng nước tưới, chúng ta phải xem xét tất cảcác yếu tố này một cách tổng thể để xác định lượng nước tưới cho thích hợp Cónhư vậy mới đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao

3.3 Ẩm độ không khí và ẩm độ đất.

* Ẩm độ không khí

Ẩm độ không khí là môi trường bao quanh cây trồng Tuy nó không trực tiếpcung cấp nước cho cây trồng nhưng nó có vai trò rất to lớn đến tiểu khí hậu vàmôi trường sống của cây trồng Đồng thời ẩm độ cũng ảnh hưởng trực tiếp đếncác quá trình sinh lý sinh hoá trong cây trồng Các ảnh hưởng đó được thể hiệnnhư sau:

Trang 10

- Độ ẩm không khí quá cao, sẽ làm cho quá trình thoát hơi nước của cây trồnggặp khó khăn, độ mở của khí khổng thu hẹp lại, dẫn đến lượng CO2 xâm nhậpvào cây giảm xuống làm cho quang hợp giảm Độ ẩm không khí cao còn làmphát sinh bệnh tật như các bệnh do phytopthora gây hại mạnh cho cây vụ đông;bệnh lở cổ rễ cho cây bộ đậu (đặc biệt là ở Miền Trung).

Trong thực tế, vẫn có những cây trồng thích ứng với ẩm độ cao như các loạirau xà lách, cải bắp, xu hào, dau diếp đây là những loại rau ăn lá có nhu cầulượng nước lớn mà bộ rễ lại không thuộc loại khoẻ Vì vậy có thể bố trí trồngvào vụ đông

- Ngược lại, độ ẩm không khí quá thấp cũng sẽ gây hại cho cây trồng, nhất là ẩm

độ không khí thấp kèm theo nhiệt độ cao sẽ làm cho cây trồng phải thoát hơi nướcnhiều, lượng nước hút lên không đủ bù đắp, cây trồng sẽ bị héo, hạt phấn và nhụy

bị chết, tỷ lệ hạt lép tăng Một điều cần chú ý là tác dụng của ẩm độ không khí đốivới cây trồng, sâu bệnh còn tuỳ thuộc vào nhiệt độ không khí Khi nhiệt độ khôngkhí cao thì ảnh hưởng của ẩm độ không khí đối với chúng càng rõ rệt

Trong thực tế, ẩm độ không khí không phải lúc nào cũng nằm ở mức trungbình, thích hợp cho cây trồng sinh trưởng phát triển mà nó có sự biến động theonhiệt độ và lượng mưa ở các tháng trong năm Chính vì vậy cần nắm được tìnhhình diễn biến của ẩm độ không khí trong năm, có kế hoạch đưa vào trồng cácloại cây trồng phù hợp với ẩm độ ở giai đoạn đó

* Ẩm độ đất

Ẩm độ đất là nguồn cung cấp nước chính cho cây trồng thông qua hoạt độnghút của bộ rễ Ẩm độ đất còn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của hệ vi sinhvật đất, ảnh hưởng đến quá trình phân giải các chất dinh dưỡng trong đất cũngnhư khả năng hút dinh dưỡng của cây trồng Do đó chế độ ẩm của đất có ảnhhưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng

Ẩm độ đất không phải là một đại lượng ổn định mà có sự thay đổi theo cácyếu tố sau:

- Địa hình: Càng lên cao ẩm độ đất càng giảm do nước bị chảy hoặc thẩm thấu

từ các vùng cao xuống vũng thấp, do đó tại các vùng trũng vào mùa mưa thường

bị ngập lụt còn trong mùa khô thì có ẩm độ vừa Tại các vùng này trong mùamưa có thể trồng các cây trồng các cây trồng nước như cói, lúa… còn trong mùakhô có thể trồng các loại rau màu ưa ẩm độ cao Ngược lại tại các vùng cao vàomùa mưa có ẩm độ vừa đủ còn trong mùa khô thì thường bị hạn Tại đây có thể

bố trí các loại cây trồng chịu hạn như dứa, sắn, ngô, các cây công nghiệp trongđiều kiện quá khô phải chủ động tưới nước thì cây trồng mới sinh trưởng pháttriển được

- Kết cấu đất: Đất có kết cấu tốt, tơi xốp, sau khi mưa hoặc tưới, nước sẽngấm rất nhanh vào các khe mao quản, các khoảng trống trong đất và tồn tại ở

đó rất lâu Do đó ẩm độ đất được duy trì tương đối ổn định

Ngược lại ở các loại đất không có kết cấu tốt như đất sét, sau khi mưa, nước sẽngấm rất chậm vào đất Trong khi đó, khi nắng hạn nước sẽ theo mao quản bốchơi lên rất nhanh làm cho lượng nước dự trữ trong đất giảm, ẩm độ thấp

Ở các loại đất cát rời rạc, tuy hút nước rất mạnh nhưng khả năng dữ nước lại rất

Trang 11

kém, khi nắng lên nước trong đất bốc hơi rất nhanh, lớp mặt thường xuyên bịkhô hạn.

- Mùa trong năm: Mưa là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho đất đặc biệt là tại cácvùng không có điều kiện tưới Do đó, trong mùa mưa hầu hất tại các vùng đều có ẩm

độ khá cao và không cần phải tưới thêm nước Tại các vùng thấp không có khả năngthoát nước thường bị ngập úng, tại vùng này nên chú ý các biện pháp tiêu nước tránhcho cây trồng không bị ngập úng

Trong mùa khô, do không có nước mưa cộng thêm nhiệt độ không khí cao làmcho nước trong đất bốc hơi mạnh, ẩm độ trong đất giảm Cần phải tưới thêm nước bổsung cho đất trong thời gian này, đặc biệt là ở những vùng có địa hình cao

- Về khả năng tác động của con người: Việc xây dụng các công trình thuỷ lợi,biện pháp tưới tiêu đã tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng pháttriển, việc xây dựng các hệ thống kênh mương để tưới nước vào mùa khô đã làmtăng diện tích và số vụ trồng lúa ở các vùng đồng bằng hay các cây rau mầu vụđông Việc tiêu nước khi mưa lớn đã hạn chế được úng ngập cây trồng nên đãtăng được diện tích trong lúa mùa ở các vùng chân sâu Ngoài ra, con người còn

có các biện pháp kỹ thuật tác động vào đất để tăng khả năng sử dụng nước nhưcải tạo đất tăng khả năng hút và dữ nước của đất

- Về cây trồng: Đặc tính sinh thái của cây trồng rất khác nhau, có cây sống ở đấtngập nước (như lúa, cói), có cây sống trên cạn (như ngô, đậu tương, đay ) do

đó có thể dựa vào tình hình diễn biến nước hàng năm và địa hình để bố trí nhiều

cơ cấu cây trồng trong một năm như: hai vụ lúa, một màu một lúa, hai lúa mộtmàu, hai màu một lúa, ba vụ màu Trong quá trình sản xuất cần khám phá thêmcác đặc tính của cây trồng để có khả năng xây dựng được nhiều cơ cấu luâncanh, xen canh

3.4 Mưa và mối quan hệ với ẩm độ đất, ẩm độ không khí.

Mưa cung cấp phần lớn nước mà cây yêu cầu, đặc biệt là ở những vùng không

có điều kiện tưới Nước mưa ảnh hưởng đến các quá trình canh tác như làm đất,thu hoạch Vì vậy, tại mỗi vùng lượng mưa, thời gian mưa thường là yếu tốđược đánh giá hàng đầu để bố trí cây trồng

Mưa có đặc điểm là không phân bố đều mà thường tập trung vào một số thángtrong năm Trong khoảng thời gian này nếu cường độ mưa vừa phải và phân bốđều thì sẽ thuận lợi cho quá trình làm đất và gieo trồng

Tuy nhiên nếu cường độ mưa quá lớn Thì sẽ gây ra những tác hại đáng kể như:Không thuận lợi cho quá trình thụ phấn thụ tinh, ảnh hưởng đến quá trình làmđất do đất bị dí dẽ, gây hiện tượng rửa trôi xói mòn đất Mưa kéo dài còn gâyảnh hưởng đến quá trình thu hoạch sản phẩm do điều kiện bảo quản

- Trong một phạm vi nhất định mối quạn hệ giữa mưa, ẩm độ đất và ẩm độkhông khí có thể được coi là một vòng tuần hoàn trong tự nhiên

Nước mưa một phần sẽ được ngấm vào đất tạo thành ẩm độ đất

Một phần bốc hơi vào không khí tạo thành ẩm độ không khí

Ẩm độ đất, một phần sẽ được cung cấp cho cây trồng sinh trưởng phát triển vàsau đó lại phát tán vào trong không khí, một phần sẽ bị bốc hơi dần dần để cuốicùng cũng tạo thành ẩm độ không khí

Trang 12

Ẩm độ không khí, khi gặp lạnh sẽ tạo thành mây và rơi xuống đất tạo thànhmưa, vòng tuần hoàn lại tiếp tục.

Để sử dụng tốt, hiệu quả nguồn nước mưa Chúng ta cần phải làm sao cho đấtngấm được nhiều nước và dữ được nước tốt nhất Các biện pháp cụ thể như là:Tạo cho đất có một kết cấu tơi xốp, đất sẽ ngấm được nhiều nước mưa nhất vànhanh nhất Khi kết thúc mưa có thể tiến hành xới xáo để cắt các mao quản trênmặt đất, tránh hiện tượng bốc hơi nước từ đất quá nhiều Ngoài ra còn có cácbiện pháp như bón phân hữu cơ, vô cơ, trồng cây phân xanh, che phủ mặt đấtcũng có tác dụng rất tốt cho việc sử dụng nguồn nước mưa

3.5 Các hằng số nước đáng chú ý trong canh tác học.

- Độ ẩm cây héo: Là độ ẩm ứng với lượng nước còn lại trong đất khi cây bắt đầuhéo Đây là giới hạn dưới của độ ẩm hữu hiệu Khi độ ẩm đất bằng độ ẩm câyhéo, thực vật vẫn sống được nhưng không thể hoạt động bình thường Khi độ ẩmđất thấp hơn độ ẩm cây héo, nguyên sinh chất bị phá hoại, cây không thể phụchồi được và thường chết ở ẩm độ đó

- Độ ẩm đồng ruộng thấp nhất: Là độ ẩm ứng với lượng nước còn lại trong đấtsau khi nước trọng lực tự do đã di chuyển đi Nó được giữ lại trong điều kiện tựnhiên ở trạng thái cân bằng giữa lượng nước bốc hơi và lượng nước bổ sung Độ

ẩm đồng ruộng thấp nhất càng lớn khi mạch nước ngầm càng gần mặt đất Mựcnước ngầm càng ở sâu, khả năng giữ nước của đất càng giảm sút và trị số độ ẩmnày càng nhỏ Độ ẩm đồng ruộng thấp nhất thường là giới hạn tối đa (về ẩm độ)của đất cần đạt được sau mỗi lần tưới cho cây trồng cạn

- Độ ẩm bão hoà: Là lượng nước lớn nhất mà đất có thể giữ được, bao gồm nướcliên kết chặt, nước liên kết hờ và nước tự do trong đất Độ ẩm bão hoà là độ ẩmkhi đất no nước, nước chiếm hầu hết các khe hở trong đất Ở ẩm độ này, nhữngcây màu chịu nước kém dễ bị héo rũ và chết vì thiếu không khí

- Độ ẩm tuyệt đối: Là lượng nước trong một đơn vị đất được tính bằng cách lấyhiệu số giữa trọng lượng ban đầu và trọng lượng nước đã được sấy khô kiệt

- Độ ẩm tương đối: Là tỷ lệ giữa độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm toàn phần

3.5 Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nước.

Để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, chúng ta cần nắm được một số biệnpháp sau đây:

- Cần nắm được các đặc điểm về chế độ mưa, chế độ ẩm đất của mỗi vùng, mỗimùa để có sự bố trí cây trồng thích hợp theo từng chân đất, mùa vụ

- Cải tạo đất bằng các biện pháp như tăng cường bón phân hữu cơ, trồng câyphân xanh để nâng cao độ tơi xốp của đất, tăng khả năng giữ ẩm Trong mùa khô

có thể tiến hành xới xáo trên mặt đất để cắt các mao quản trong đất tránh hiệntượng thoát hơi nước

- Xây dựng các hệ thống thuỷ lợi và chế độ tưới tiêu nước cho cây trồng Ở cácvùng đồng bằng có thể xây dựng các hệ thống mương máng để dẫn nước từ cáccông trình thuỷ lợi về tưới trong mùa khô, còn trong mùa mưa thì tháo nước từcác vùng trũng để tiêu úng Đối với các vùng không thể xây dựng mương mángđược thì có thể chủ động đào giếng hoặc bơm nước từ các nguồn nước về tướitrong mùa khô Tại các vùng núi phía bắc để giữ nước trên các quả đồi phục vụ

Trang 13

cho trồng lúa, bà con nông dân thường hay đào núi thành các ruộng bậc thangsau đó đắp bờ ngăn nước và trồng lúa rất tốt.

- Chọn giống cây trồng có khả năng chịu úng, chịu hạn Để bố trí trồng ở nhữngvùng thường xuyên bị úng hoặc bị hạn

Ví dụ: Tại đồng bằng sông cửu long vào mùa lũ mức nước tại các đồng ruộngrất

cao Tại đây người ta đã chọn ra các giống lúa cao cây, có khả năng vươn lóngnhanh để ngoi lên mặt nước và sinh trưởng phát triển bình thường Còn tại cácvùng núi Tây Nguyên, cũng đã chọn được các giống lúa có khả năng chịu hạnrất cao, có thể trồng được trên các nương rẫy có ẩm độ rất thấp như ng vẫn chonăng suất cao

- Sử dụng các biện pháp che tủ mặt đất để giảm cường độ thoát hơi nước trongđất về mùa khô Vật liệu che tủ có thể là rơm rạ, xác bã thực vật, che tủ bằngnilong hoặc trồng cây phân xanh để che tủ

- Để sử dụng tốt hơn nguồn nước tưới cho cây trồng chúng ta còn phải biết cácphương pháp tưới thích hợp nhất cho từng loại cây trồng, cho từng vùng Có thể

kể một số phương pháp tưới sau đây:

+ Tưới ngập: Áp dụng cho cây ưa nhiều nước, quá trình tưới sẽ tạo cho mặt đấtmột lớp nước nhất định, nước sẽ ngấm từ từ vào đất, rửa chua, mặn cho đất.+ Tưới rãnh: Dùng cho các cây trồng cạn như ngô, khoai, mía, đậu được trồngtrên các loại đất bằng phẳng, tưới rãnh sẽ giữ được độ tơi xốp của đất và cungcấp yêu cầu nước tương đối cao cho cây trồng Khi tưới nước được dẫn vào cácrãnh xen kẽ giữa các luống và ngấm vào các luống

+ Tưới phun mưa: Có thể tưới trên nhiều vùng đất khác nhau, đặc biệt là đất đồinúi, đất dốc Thường tưới cho những cây không những nhạy cảm với ẩm độ đất

mà còn nhạy cảm với cả ẩm độ không khí, ví dụ như tưới cho các vườn tiêu.+ Tưới nhỏ giọt: Thường tưới cho những cây lâu năm, nước được nhỏ từng giọt

từ từ làm đất luôn đủ ẩm và vẫn giữ được độ tơi xốp

4 Không khí:

4.1 Khái niệm, thành phần của không khí

* Khái niệm: Không khí là hỗn hợp khí bao quanh trái đất cấu tạo nên khíquyển Thành phần chính của không khí là Nitơ (N2 ), Oxy (02), Agon (Ar),Oxyt Cacbonic (CO2) và hơi nước (H20)

Những chất khí còn lại, có thể không tính khi nghiên cứu tính chất lý học củachúng cần thiết sử dụng trong nông nghiệp Ngoài ra, trong không khí luôn luôntồn tại các phần tử rắn và lỏng nằm ở trạng thái lơ lử ng đó là bụi khí

Vai trò của các thành phần chính trong không khí được thể hiện như sau:

- Khí Nitơ có nhiều trong không khí hơn cả Nhưng Nitơ có tính trơ và chỉ có tácdụng làm loãng khí Oxy Cây xanh không thể sử dụng trực tiếp được mà chỉ sửdụng Nitơ dưới dạng Nitơrat Sự biến đổi Nitơ sang dạng Nitơrat được thực hiệnnhư các vi khuẩn cộng sinh sống trong rễ cây họ đậu (đậu, lạc ) hoặc do cácnhà máy tổng hợp các chất đạm hay do sự phóng điện trong các đám mây dông

- Oxy chiếm 1/5 thể tích không khí Oxy trong không khí có hoạt tính cao, sẵnsàng kết hợp với các chất khác Oxy cần thiết cho sự sống của động và thực vậttrong quá trình hô hấp

Trang 14

- Khí CO2 chiếm khoảng 0,03% thể tích không khí Tuy nhỏ nhưng CO2 là chất

có vai trò chính trong quá trình quang hợp của cây trồng Cây xanh hấp thụ C02

và nhả Oxy trong quá trình quang hợp, 70% Oxy có trong khí quyển được cungcấp bởi cây xanh

- Hơi nước chứa trong không khí gần mặt đất thay đổi từ 0 - 4% thể tích khí,thông thường ở vĩ độ trung bình, lượng hơi nước nằm trong khoảng 0,02%.Vùng nhiệt đới khoảng 2,5%

4.2 Vai trò, tác dụng của không khí đối với cây trồng.

Cây trồng cũng như các sinh vật khác, cần có đủ không khí để sinh sống

- Ở thời kỳ nảy mầm, hạt giống cây trồng cần đầy đủ khí ôxi để cung cấp chohoạt động của men và quá trình phân giải chất dự trữ Trong trường hợp đất yếmkhí không có đủ oxy thì hạt giống không thể nảy mầm được hoặc nảy mầm rấtyếu Ngay cả hạt giống lúa để nảy mầm được cũng cần hàm lượng oxy tối thiểutrong đất đạt 0,5% Hàm lượng oxy trong đất càng cao thì quá trình nảy mầmcàng nhanh và mạnh Các biện pháp để tăng hàm lượng oxy trong đất như tạocho đất có kết cấu tơi xốp, gieo hạt ở độ sâu thích hợp có tác dụng rất tốt đếnkhả năng nảy mầm của hạt giống

- Ở thời kỳ sau nảy mầm, khi cây trồng tiến hành quang hợp, phải hút khí

Cacbonic từ trong không khí rồi cùng nước hút được tổng hợp thành chất hữu cơdưới ánh sáng mặt trời Khi tiến hành hô hấp, cây trồng hút oxy từ trong khôngkhí và nhả ra Cacbonic đồng thời trong cơ thể cây phát sinh tác dụng oxy hoá,toả ra năng lượng cần thiết cho nhu cầu đời sống của cây

Trữ lượng Cacbonic trong không khí chỉ có chừng 600 tỉ tấn, hàng năm cây phảidùng mất 19 tỷ tấn Tỷ lệ Cacbonic trong không khí chỉ có 0,03% Nếu nângđược hàm lượng Cacbonic trong không khí lên trên 1% thì năng suất cây trồngtăng lên rõ rệt

- Bộ rễ cây trồng sinh trưởng trong đất, không khí của đất sẽ trở thành nguồncung cấp oxy cho tác dụng hô hấp của rễ Do đó để thoả mãn nhu cầu phát triểncủa rễ cây, phải tạo điều kiện để không khí được trao đổi tự do vào trong đấtbằng cách tăng độ tơi xốp trong đất Ở các loại đất chặt, đất bị ngập nước, bịđóng váng quá trình trao đổi không khí yếu, hàm lượng oxy trong đất thấp rễ cây

sẽ không thể phát triển được và chết

- Không khí cũng cần cho đời sống của vi sinh vật đất Ở các loại đất tơi xốp,hàm lượng oxy trong đất cao, hệ vi sinh vật háo khí phát triển mạnh sẽ phân giảicác chất hữu cơ trong đất thành thức ăn dễ tiêu cung cấp cho cây trồng

Ngược lại ở các loại đất chặt, đất ngập nước thiếu oxy hệ vi sinh vật kỵ khí sẽphát triển mạnh tạo ra các chất độc trong đất gây hại cho cây trồng

Đạm trong đất cũng được làm giàu thêm dựa vào sự cố định đạm khí trời củacác loại vi khuẩn cố định đạm

- Nguồn bổ sung Cacbonic trong không khí có thể từ nuớc biển, vì Cacbonictan trong nước biển nhiều gấp 4 lần lượng Cacbonic trong không khí Sự traođổi Cacbonic giữa biển và khí quyển là đại tuần hoàn Cacbonic trong thiênnhiên Song đại tuần hoàn đó rất ít quan hệ tới đời sống cây trồng Nguồn bổsung Cacbonic trong không khí của khí quyển có liên quan tới đời sống câytrồng nhất chính là cacbonic trong không khí đất Cacbonic trong không khí đất

Trang 15

được tích luỹ khá nhiều do hô hấp của sinh vật và sự phân giải chất hữu cơ trongđất Hàm lượng Cacbonic trong không khí đất có thể lên tới 0,15 - 1,25% có khilên tới 2-10% Lượng Cacbonic trong đất nếu tích luỹ nhiều mà vượt quá 1% cóthể gây tác hại cho cây trồng Như vây đất bổ sung Cacbonic cho khí quyển,không những đã tăng lượng Cacbonic có ích trong không khí ở lớp đất mặt, màcòn giảm được lượng Cacbonic có hại tích luỹ trong đất Đó là sự trao đổiCacbonic giữa không khí đất và không khí khí quyển Sự trao đổi không khí đó,không đơn thuần là sự trao đổi Cacbonic, mà trong quá trình đó, oxy từ khôngkhí của khí quyển cũng bổ sung vào trong đất cung cấp cho nhu cầu hô hấp của

bộ rễ và hoạt động vi sinh vật Mặt khác các khí độc cũng được thải ra ngoài.Cường độ trao đổi không khí trong đất và khí trời tuỳ điều kiện cụ thể có khácnhau Ngoài điều kiện ngoại cảnh khác ảnh hưởng ra, thường thường ở đất tơixốp có kiến trúc tốt, có sự trao đổi rất mạnh giữa không khí trong đất với khôngkhí trong khí quyển Ngược lại, ở đất có độ chặt cao, nhiều nước, bị đóng vángthì tác dụng trao đổi yếu Vì vậy, có thể thông qua biện pháp kỹ thuật nôngnghiệp để xúc tiến sự trao đổi đó, như làm đất chính xác, tăng cường bón phânhữu cơ, tháo nước thừa, thay nước thường xuyên, phá váng sau khi mưa, tướinước đều là những biện pháp có hiệu quả để xúc tiến sự trao đổi không khítrong đất và trong khí quyển

4.3 Một số biện pháp kỹ thuật sử dụng tốt điều kiện không khí đối với cây trồng.

- Tiến hành các biện pháp cải tạo đất, giúp đất có kết cấu viên có chế độ nước vàkhông khí thích hợp

- Xây dựng chế độ luân canh cây trồng cạn và cây trồng nước, xu hướng chung

là tăng luân canh, giảm độc canh, luân canh xen kẽ giữa cây trồng nước và câytrồng cạn

- Các biện pháp như làm đất, làm cỏ sục bùn, xới xáo, làm đất lên luống có tácdụng rất tốt tới quá trình điều hoà không khí

- Tưới nước hợp lý, tưới định kỳ, tưới ngầm giúp cho đất thông thoáng

- Bón phân: Bón phân hữu cơ kết hợp với phân khoáng Đối với phân hữu cơcần chú ý tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong các loại phân có liên quan tới việc tạomùn và phân huỷ chất hữu cơ, tạo C02

5 Chất dinh dưỡng.

5.1 Vai trò của chất dinh dưỡng đối với cây trồng.

Chất dinh dưỡng là cơ sở vật chất quan trọng để cấu tạo nên cơ thể cây trồng,một điều kiện quan trọng quyết định năng suất cây trồng và phẩm chất sảnphẩm Vai trò của nó đối với cây trồng được thể hiệ qua các mặt sau:

- Chất dinh dưỡng là nguồn cung cấp các chất vô cơ cho cây trồng, tổng hợp nêncác chất hữu cơ nuôi sống cây trồng và tạo sản phẩm

- Là nguồn cung cấp các chất kích thích sinh trưởng, các chất kháng sinh đối vớithực vật

- Dinh dưỡng là một bộ phận của đất và là nguyên liệu tạo nên độ phì nhiêu củađất Vì thế, số lượng và tính chất của nó quyết định nhiều đến quá trình hìnhthành đất cũng như các tính chất lý hoá, sinh học của đất Từ đó ảnh hưởng đếncây trồng

Trang 16

- Dinh dưỡng còn là nguồn thức ăn cho các vi sinh vật sống trong đất.

5.2 Yêu cầu về chất dinh dưỡng của cây trồng.

Cũng như các sinh vật khác, cây trồng cũng cần có nguồn dinh dưỡng để sinhtrưởng và phát triển Tuy nhiên nguồn dinh dưỡng của cây trồng là các hợp chất

vô cơ tồn tại trong đất Yêu cầu về dinh dưỡng của cây trồng được thể hiện quacác mặt sau

- Các loại cây trồng khác nhau có yêu cầu về hàm lượng cũng như thành phầncác loại dinh dưỡng khác nhau Có loại cây cần nhiều đạm và lân hơn (như lúa),

có loại cây cần nhiều kali hơn (như cây có củ), còn có loại cây cần nhiều Canxi

và Lân hơn (như Đậu Đỗ)

- Ở các thời kỳ sinh trưởng khác nhau, nhu cầu chất dinh dưỡng của một câycũng có sự thay đổi Trong thời kỳ nảy mầm, cây lấy chất dinh dưỡng dự trữtrong nội nhũ và tử diệp Thời kỳ chín, quá trình hút chất dinh dưỡng chậm lại.Còn trong thời kỳ trưởng thành, đây là thời kỳ cây cần hút chất dinh dưỡng ởtrong đất nhiều nhất Thời kỳ này cũng có nhiều giai đoạn khác nhau, cần chấtdinh dưỡng khác nhau tuỳ vào loại cây

VD về nhu cầu đạm ở cây lúa qua các thời kỳ chúng ta có thể thấy:

Thời kỳ mạ: Lượng đạm cây hút khoảng 10% so với tổng số, cường độ hút đạmthấp nhất so với các thời kỳ còn lại

Thời kỳ đẻ nhánh: Nhất là lúc đẻ nhánh rộ, cường độ hút đạm mạnh nhất Thời

kỳ này cây hút khoảng 40% lượng đạm trong tổng số

Thời kỳ làm đòng: Đạm rất cần cho quá trình sinh trưởng và làm đòng Do đótrong thời kỳ này cây lúa cũng hút khoảng 40% lượng đạm trong tổng số

Thời kỳ sau trỗ: Sau trỗ thân lá cây không sinh trưởng nữa, nếu hút nhiều đạm

sẽ không tổng hợp thành Prôtit được Thời kỳ này, cây lúa hút khoảng 10%lượng đạm tổng số cây cần

Do đó khi điều tiết chất dinh dưỡng trong đất phải chú ý nhu cầu về chất dinhdưỡng của từng loại cây trồng cũng như trong các thời kỳ sinh trưởng của câytrồng để có kế hoạch cung cấp chất dinh dưỡng một cách hợp lý

* Chất dinh dưỡng trong đất có hai dạng là hữu cơ và vô cơ

- Dạng vô cơ bao gồm ba dạng là tan trong nước, khó tan và trao đổi

- Dạng hữu cơ bao gồm tàn dư xác bã động thực vật

Thức ăn hữu cơ ở trong đất gồm nhiều loại thành phần rất phức tạp, hàm lượngkhá cao, song nói chung, cây trồng không thể hút sử dụng được một cách trựctiếp mà trước hết phải nhờ tác dụng phân giải của vi sinh vật để biến thành dạngđơn giản và hoà tan, thì cây trồng mới hút được Chất dinh dưỡng khó tan trongchất vô cơ cũng phải thông qua phân giải thành chất dễ tan mới thành chất cóích cho cây Hai loại chất dinh dưỡng tan trong nước và trao đổi, tuy cây trồng

có thể hút trực tiếp được song hàm lượng của chúng ở trong đất thường lại ít,không đủ thoả mãn nhu cầu của cây

Như vậy lượng dự trữ chất dinh dưỡng của cây trong đất tuy phong phú songthức ăn dễ tiêu thì vẫn thiếu nhiều Để điều tiết chế độ dinh dưỡng trong đất,không chỉ bổ sung nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây, mà còn phải làm chochất dinh dưỡng trong đất từ dạng hữu cơ, khó tan biến thành dinh dưỡng dễ tan.Muốn làm được việc đó phải đảm bảo chế độ nước, không khí tốt, tạo điều kiện

Trang 17

thuận lợi cho hoạt động vi sinh vật Biện pháp kỹ thuật nhằm điều hoà chế độdinh dưỡng trong đất gồm bón phân hữu cơ, vô cơ, làm đất và luân canh chínhxác Sau mỗi vụ, cây trồng cũng trả lại cho đất một phần dinh dưỡng thông quatàn dư thực vật để lại hoặc do quá trình tổng hợp đạm khí trời (các cây họ đậu).

Do đó, để xây dựng kế hoạch bón phân cho một loại cây trồng chúng ta phải dựavào hàm lượng dinh dưỡng có sẵn trong đất, lượng dinh dưỡng cây trồng để lạimỗi vụ cũng như dựa vào lượng dinh dưỡng cây cần mỗi vụ để từ đó tính toánlượng dinh dưỡng còn thiếu cần bổ sung vào trong đất

5.3 Biện pháp điều tiết.

Cần nắm vững số lượng cũng như hàm lượng các chất dinh dưỡng tồn tạitrong từng loại đất để bố trí các loại cây trồng hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụngcác chất dinh dưỡng

Tiến hành các biện pháp bảo vệ đất, tránh hiện tượng rửa trôi đất làm mất cácchất dinh dưỡng trong đất Tùy loại cây trồng, loại đất hàng năm cần bón thêmcác loại phân bón hợp lý để nâng cao hàm lượng dinh dưỡng trong đất

Tăng cường trồng các loại cây phân xanh, làm nguồn cung cấp chất hữu cơ chođất Tiến hành các biện pháp cày bừa, xới xáo, tưới tiêu hợp lý, tăng cường hoạtđộng của các vi sinh vật phân giải đất

* Ở trên chúng ta đã trình bày 5 điều kiện sống cơ bản của cây trồng là ánh sáng,nhiệt độ, không khí, nước và dinh dưỡng Đồng thời cũng đề cập đến biện phápđiều tiết các điều kiện đó trong canh tác Song trong tự nhiên, các điều kiện đókhông thể tách rời nhau, mà luôn giữ quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng kết hợpvới nhau thành một thể thống nhất Sự sinh trưởng phát triển của bất cứ một loạicây trồng nào, không bao giờ chỉ do tác động của một điều kiện sinh sống mà dotác động tổng hợp của tất cả các điều kiện sinh sống Do đó khi nghiên cứu vềđiều kiện sống của cây trồng, không những chỉ xét từng điều kiện mà phải chú ýxét cả sự quan hệ giữa chúng với nhau

Trang 18

Chương 2: CƠ CẤU CÂY TRỒNG VÀ CHẾ ĐỘ LUÂN CANH

1 Cơ cấu cây trồng trong hệ thống trồng trọt.

1.1 Khái niệ m cơ cấu cây trồng.

Để tăng hiệu quả kinh tế cho một vùng sản xuất nông nghiệp, ngoài việc tăngnăng suất của từng loại cây trồng thì việc bố trí một cơ cấu cây trồng phù hợpvới điều kiện tự nhiên của vùng là một việc hết sức quan trọng Nước ta nằmtrong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của gió mùa, kéo dài trên vĩ tuyến

15 lên có nhiều vùng khí hậu khác nhau Sự khác nhau đó đã dẫn đến thành phầncây trồng và cơ cấu mùa vụ ở mỗi tiểu vùng cũng có sự khác nhau Vì vậy, đểphát huy được tiềm lực nông nghiệp của mỗi vùng thì việc bố trí cơ cấu câytrồng hợp lý cho mỗi vùng là hết sức cần thiết Cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ tậndụng được các nguồn lợi tự nhiên và kinh tế xã hội của từng vùng nhất định

Có thể hiểu cơ cấu cây trồng như sau:

Cơ cấu cây trồng là thành phần và các loại giống cây trồng bố trí theo không gian và thời gian trong một cơ sở hay một vùng sản xuất nông nghiệp.

Cơ cấu cây trồng là một trong những nội dung của một hệ thống các biện pháp

kỹ thuật gọi là chế độ canh tác Ngoài cơ cấu cây trồng, chế độ canh tác còn baogồm chế độ luân canh, làm đất, bón phân, chăm sóc cây trồng, phòng trừ sâubệnh và cỏ dại Cơ cấu cây trồng là yếu tố cơ bản nhất của chế độ canh tác vì nóquyết định nội dung của các biện pháp kỹ thuật khác

Cơ cấu cây trồng của một vùng sản xuất nông nghiệp sẽ thể hiện cho chúng tabiết được một số đặc điểm sau:

- Số mùa vụ bố trí trong một năm: Tuỳ điều kiện thời tiết, đất đai và địa hình cụthể mà các vùng khác nhau có thể bố trí số vụ trong năm từ 1 vụ, 2 vụ, 3 vụ hặcnhiều hơn 3 vụ Số mùa vụ trong năm nhiều hay ít sẽ thể hiện trình độ thâm canh

và sử dụng đất nông nghiệp ở từng nơi Ở nhiều vùng trồng lúa, trước đây chỉgieo trồng được một vụ lúa một năm bắt đầu vào đầu mùa mưa và kết thúc vàocuối mùa mưa hoặc đầu mùa khô Việc xây dựng các công trình thuỷ lợi để tướinước trong mùa khô đã nâng được diện tích cấy lúa lên hai vụ (đồng bằng SôngHồng) hoặc ba vụ (Nam trung bộ) trong một năm, điều đó phản ánh trình độkhai thác đất lúa và thâm canh đất lúa tiến bộ Ở một số vùng ngoài hai vụ lúacòn phát triển được một vụ hoa màu trên đất lúa với chế độ canh tác 2 lúa + 1màu thì chế độ sử dụng đất lúa lại càng tiến bộ hơn và tổng sản phẩm trồng trọt

có thể cao hơn

- Thành phần cây trồng trong từng mùa vụ: Tuỳ điều kiện thời tiết và chế độ tướitiêu cụ thể của từng vùng mà thành phần cây trồng trong mỗi mùa vụ có sự khácnhau Thành phần cây trồng trong từng mùa vụ sẽ cho chúng ta biết được sự hợp

lý của cơ cấu cây trồng đối với điều kiện thời tiết trong từng mùa vụ cụ thể.Đồng thời nó thể hiện sự đa dạng hoá trong sản xuất cũng như tiêu thụ các sảnphẩm nông sản Tại đồng bằng Sông Hồng trước đây thường hay canh tác mộtnăm 2 vụ lúa dài ngày (vụ lúa mùa và vụ lúa chiêm), ngày nay hai vụ lúa này đãđược thay bằng hai vụ lúa ngắn ngày (vụ hè thu và vụ xuân) đồng thời dànhđược một khoảng thời gian trong vụ đông xuân để đưa và trồng các loại hoa

Trang 19

màu Điều này đã thể hiện được trình độ thâm canh đất lúa ngày càng cao, đồngthời tạo ra được tổng sản lượng nông nghiệp ngày cào cao và phong phú hơn.

- Tỷ lệ diện tích trồng trọt giữa các loại cây trồng: Có thể xem xét các tỷ lệ nàytheo nhiều cách như :

Tỷ lệ giữa các loại cây lâu năm và cây hàng năm: Tỷ lệ các loại cây hàng nămcao hay thấp nói lên trình độ sự dụng đất nông nghiệp theo hướng thâm canhhay quảng canh Trong các loại cây hàng năm thì có tỷ lệ giữa các loại cây lươngthực thực phẩm, cây thức ăn gia súc và các loại cây nông nghiệp Tỷ lệ câylương thực cao, tỷ lệ các loại cây thức ăn gia súc và cây công nghiệp thấp phảnánh trình độ phát triển nông nghiệp còn thấp Vấn đề lương thực chưa được giảiquyết một cách vững chắc, cơ sở thức ăn cho gia súc còn yếu, và việc cung cấpcác nguyên liệu cho công nghiệp cũng chưa được nhiều Ngược lại tỷ lệ các loạicây thức ăn gia súc cao trong một cơ cấu cây trồng có thể cho những nhận địnhngược lại: ngành sản xuất lương thực đã thoả mãn được đầy đủ các nhu cầulương thực của xã hội và đã cho phép dành một lỷ lệ đất nông nghiệp lớn hơn đểsản xuất thức ăn cho gia súc, tạo ra các loại thực phẩm bổ hơn, ngon hơn nhưthịt trứng sữa cần thiết cho sự phát triển và hoạt động bình thường của conngười Các nước có nền nông nghiệp phát triển có tỷ lệ diện tích dành cho cácloại cây công nghiệp và thức ăn gia súc ngày càng cao, chưa kể đến một phầnkhá lớn những sản phẩm của các cây lương thực cũng đã được sử dụng để sảnxuất ra các loại thức ăn gia súc với khối lượng ngày càng nhiều nhằm thoả mãnyêu cầy ngày càng tăng của các hoạt động chăn nuôi theo hướng công nghiệphoá Cũng chính trên những cơ sở ấy và tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi đã tăng lênkhá nhiều trong tổng sản lượng giá trị sản lượng nông nghiệp

Tỷ lệ các loại cây công nghiệp trong cơ cấu cây trồng cũng phản ánh trình độphát triển sản xuất lương thực trong nông nghiệp, và trình độ của công nghiệpchế biến các loại nông sản phẩm Một nền nông nghiệp có ít sản phẩm hàng hoá,sản xuất lương thực còn bấp bênh thì tỷ lệ các loại cây công nghiệp thấp Ngayđối với cây công nghiệp hàng năm chưa nói đến cây công nghiệp lâu năm

Trong các cây lương thực thì tỷ lệ giữa các loại cây lương thực khác nhau cũng

là một trị số cần xem xét Đối với các loại cây lương thực trồng cạn có nhữngloại cây tương đối khó tính, khó trồng nhưng có tiềm năng về năng suất lớn, lại

có nhưng loại cây tương đối dễ tính, đòi hỏi ít phân bón và công chăm sóc hơn

Tỷ lệ các loại cây trồng cạn cao, nó phản ánh trình độ thâm canh cao hơn trongsản xuất và cũng chỉ rõ xu thế thực tiễn nông nghiệp của mỗi vùng hay mỗinước Cơ cấu cây trồng trong những thời gian nhất định đều nhằm thoả mãnnhững nhu cầu nhất định cả xã hội Tuy nhiên nhu cầu của xã hội thì luôn luônthay đổi, bên cạnh đó điều kiện tự nhiên của một vùng nhất định cũng thườngxuyên có sự thay đổi Những thay đổi này dẫn đến cơ cấu cây trồng của mộtvùng cũng thường xuyên có sự thay đổi theo xu hướng thích nghi

Từ những nhận định trên chúnh ta có thể thấy, khi xác định cơ cấu cây trồng củamột vùng hay một đơn vị sản xuất, việc đầu tiên phải đề cập tới là: số mùa vụtrong một năm, loại cây, loại giống trong từng mùa vụ cũng như tỷ lệ diện tíchgieo trồng các loại cây đó trong toàn vùng để cuối cùng có một tổng sản lượng

Trang 20

và năng suất lao động cao nhất trong những điều kiện tự nhiên và xã hội nhấtđịnh sẵn có.

1.2 Ý nghĩa của cơ cấu cây trồng.

- Là một biện pháp kinh tế, kỹ thuật nông nghiệp hoàn chỉnh có mục tiêu đểhoàn thành kế hoạch sản xuất của một vùng hay một đơn vị sản xuất nôngnghiệp

- Cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ khai thác được các điều kiện tự nhiên và xã hội củavùng vì nó giải quyết vấn đề trồng cây gì, ở đâu, vào lúc nào để cây trồng đạtnăng suất cao nhất

- Làm cơ sở cho việc lập kế hoạch sản xuất của mỗi vùng Nó cho biết loại cây,diện tích, loại giống cây trồng, loại đất, số vụ trong năm Đây là những căn cứcủa việc lập kế hoạch

- Cơ cấu cây trồng quyết định sự phát triển của các ngành như chăn nuôi, trồngtrọt và chế biến Vì nó cung cấp nguyên liệu cho các ngành này

- Quyết định sự phát triển của các hệ sinh thái trong vùng và chi phối các biệnpháp canh tác, các phương thức sản xuất

- Cơ cấu cây trồng có mối liên hệ chặt chẽ với phương hướng sản xuất Một mặt,phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng như ng mặt khác cơ cấu câytrồng là cơ sở hợp lý nhất để xác định phương hướng sản xuất

- Xác định cơ cấu cây trồng còn là nội dung của việc phân vùng sản xuất nôngnghiệp, công việc không thể thiếu được để xây dựng một nền nông nghiệp sảnxuất lớn có hiệu quả, kế hoạch và mang tính chất sản xuất hàng hoá cao

Ở Miền Bắc nước ta trước đây vẫn thường trồng một năm hai vụ lúa: vụ ĐôngXuân (tháng 12 - tháng 5) và một vụ lúa mùa phản ứng ánh sáng (7 - 11) ở đấttrong đê và chỉ có một vụ (vụ Đông Xuân) ở đất ngoài đê Ngày nay chúng ta đãthay vụ Đông Xuân bằng vụ Xuân (2-6), thay vụ lúa Mùa bằng vụ lúa mùa sớm(7-10) cùng với các giống mới đã cho năng suất từng vụ cao hơn

Ngoài việc nâng cao năng suất từng vụ, việc thay đổi giống đã mở ra khả năngtăng thêm vụ Đông (10-2), từ một vụ lên hai vụ ở đất ngoài đê và từ hai vụ tănglên ba vụ ở đất trong đê Năng suất trên một sào bắc bộ (360 m2) ruộng hai vụtrước đây tổng cộng là 140 - 230 kg/sào Nay làm ba vụ năng suất tổng cộng 420

- 660 kg/sào

Tăng vụ đi đôi với tăng năng suất từng vụ có ý nghĩa rất lớn, đặc biệt là đối vớinhững nước đông dân và ít đất như nước ta Việc áp dụng thâm canh trên cơ sởmột cơ cấu cây trồng hợp lý cũng làm tăng khối lượng sản phẩm trên một đơn vịdiện tích, càng làm phát huy tác dụng của thâm canh Điều này càng có ý nghĩađối với các nước đang phát triển, dân số đông diện tích ít

1.3 Cơ sở khoa học của việc xác định cơ cấu cây trồng.

Cơ cấu cây trồng hợp lý trước hết phải có thành phần cây trồng hợp lý.Muốn vậy phải dựa vào kế hoạch của nhà nước, dựa vào đời sống của nhân dân,dựa vào nhu cầu của thị trường Ngoài ra, yếu tố quyết định nhất khi xác định cơcấu cây trồng là phải căn cứ vào một số điều kiện cụ thể của vùng sản xuất Baogồm những yếu tố sau đây:

Trang 21

1.3.1 Khí hậu và cơ cấu cây trồng.

Tất cả các điều kiện khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, thuỷ văn đã chi phối cơcấu cây trồng của tất cảc các vùng trong cả nước trong những tính chất chungnhất Còn trong những điều kiện cụ thể lại là những cơ sở để hình thành nênnhững vùng nông nghiệp khác nhau, với nhữ ng cơ cấu cây trồng, chế độ canhtác thích hợp với mỗi địa phương thậm chí với mỗi chân ruộng, mỗi sườn đồi

* Nhiệt độ và cơ cấy cây trồng:

Để bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp với nhiệt độ của từng mùa, từng vùng, cầnphải nắm được một số đặc điểm sau:

- Nhiệt độ thích hợp của cây trồng: Theo yêu cầu về nhiệt độ cây trồng đượcphân làm hai loại: cây ưa nóng và cây ưa lạnh Trong đó lấy mốc 200C để phânbiệt giữa chúng Khoảng thời gian có nhiệt độ bình quân ngày của từng vùng trênhoặc dưới 200C là một chỉ tiêu để xác định có thể trồng một vụ cây ưa lạnh hoặc

ưa nóng Trong đó cần chú ý đảm bảo nhiệt độ thích hợp cho cây ở giai đoạn rahoa kết quả (khoảng 45-60 ngày) Nghĩa là cần khoảng 2 tháng có những ngàytrên 20oC cho những cây ưa nóng và dưới 20oC cho những cây ưa lạnh Vì vàogiai đoạn này, nếu nhiệt độ không phù hợp, quá trình hình thành hoa, thụ tinhkhông an toàn dẫn đến hiện tượng hoa bị thui và hạt bị lép, sức chứa giảm, năngsuất giảm

- Khả năng cung cấp nhiệt độ cho cây trồng: Đối với việc bố trí cơ cấu câytrồng, nhất là đối với các cây hàng năm, điều quan trọng nhất là mỗi vùng, mỗinăm có thể làm mấy vụ cây trồng Điều này phụ thuộc vào tổng số nhiệt lượngmỗi năm có ở từng vùng và số nhiệt lượng cây trồng cần mỗi vụ Để thống kênhiệt lượng, có thể dùng phương pháp tính tổng số nhiệt độ Có nhiều cách tínhkhác nhau, phổ biến nhất là lấy tổng nhiệt độ bình quân mỗi ngày và phải loạitrừ những ngày có nhiệt độ tối thấp (nhiệt độ giới hạn của sự sinh trưởng) Ởnước ta số ngày có nhiệt độ bình quân dưới 10oC rất ít, do đấy có thể cộng nhiệt

độ của tất cả các ngày trong năm

Tổng nhiệt lượng hàng năm của nước ta dao động từ 55850C (Sapa) đến

101910C (Mĩ Tho) Trong đó:

Tổng nhiệt lượng của vùng Hà Nội là 84270 C

Tổng nhiệt lượng của khu vực Bình Trị Thiên cũ: vùng ven biển khoảng

8700-90000C Vùng núi cao (Nam Đông, A Lưới) khoảng 7700-80000C

- Tổng số nhiệt độ cây cần một vụ: Để hoàn thành chu kỳ sinh trưởng mỗi câycần một tổng ôn nhất định Tổng ôn phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng và yêucầu nhiệt độ cao hay thấp của cây

Ví dụ: cây ưa lạnh như khoai tây có thời gian sinh trưởng 80-90 ngày cần tổngôn: 1500-17000C Cây ưa nóng như lúa có thời gian sinh trưởng 100 - 120 ngàycần tổng ôn: 2500 -2600oC Cây trung gian như đậu Côve có thời gian sinhtrưởng 80 -110 ngày cần tổng ôn: 1600 - 2000oC

Nếu tính cả nhiệt độ cho thời gian làm đất một vụ cây ưa lạnh cần 300oC, cây

ưa nóng cần 400oC thì một vụ cây ưa lạnh cần khoảng 1800-2000oC, và cây ưanóng khoảng 30000C Nếu làm một năm hai vụ cây ưa nóng và một vụ cây ưalạnh (phía bắc) cần khoảng 7800 - 8000oC; một năm 3 vụ cây ưa nóng (phíaNam) cần 90000C

Trang 22

và khu vực bắc Miền Trung có tổng nhiệt độ hàng năm cho phép cả hai vụ lúa cóthể hoàn thành chu kỳ sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên thời vụ của mỗi vụ lạichịu sự chị sự chi phối hết sức chặt chẽ của điều kiện nhiệt độ trong từng thời kỳchuyển tiếp Vụ lúa đông xuân phải được gieo cấy vào thời vụ thích hợp để lúakhông trổ quá sớm, nhằm tránh những đợt gió mùa đông muộn Vụ mùa phảixắp xếp để lúa không trổ quá muộn, tránh những đợt gió mùa đông sớm Tại cácvùng núi Bắc Bộ chỉ có thể làm một vụ lúa mùa, và vụ này cũng phải trổ, phơimàu và làm hạt trước khi trời chuyển lạnh Trong mùa đông lạnh, vùng này cóthể gieo trồng một số loại rau quả có nguồn gốc ôn đới có khả năng chịu lạnh.Đây đang là một xu thế khá phổ biến trong có cấu cây trồng của vùng này.

Trong khi đó khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, và Miền Nam, có nhiệt

độ tương đối ổn định, mùa đông không lạnh lắm, nên nhiệt độ không còn là yếu

tố hạn chế đến cơ cấu cây trồng của từng vùng nữa Tại khu vực Nam Trung Bộ

và một số tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long người dân có thể canh tác được

3 vụ lúa trong một năm cho hiệu quả kinh tế khá cao

* Ánh sáng và cơ cấu cây trồng:

Cây xanh dựa vào ánh sáng để tiến hành quá trình quang hợp, tuy nhiên yêu cầu

về ánh sáng của mỗi loại cây trồng lại có sự khác nhau

Yêu cầu về ánh sáng của cây trồng được thể hiện trên các mặt sau:

- Cường độ chiếu sáng: dựa vào yêu cầu về cường độ chiếu sáng người ta chiacây trồng làm hai loại

+ Cây âm tính: là những cây trồng thích hợp với điều kiện chiếu sáng yếu.Chúng không chịu được điều kiện ánh sáng mạnh

VD: Lúa mì, khoai tây, cà chua, cà phê Arabica

+ Cây dương tính: là những cây trồng thích hợp với điều kiện ánh sáng mạnh.Trong điều kiện ánh sáng yếu chúng sẽ sinh trưởng phát triển kém

VD: Ngô, mía, kê, dứa, cà phê Rôbusta, chuối

Khi bố trí cây trồng chúng ta cần dựa vào đặc điểm này để có sự phân vùng địa

lý cũng như tạo điều kiện trồng trọt cho cây trồng có được cường độ ánh sángthích hợp nhất

- Thời gian chiếu sáng trong ngày (chu kỳ quang): Một số loại cây trồng để rahoa kết quả được chúng yêu cầu phải có thời gian chiếu sáng trong ngày thíchhợp Căn cứ vào đặc điểm này người ta phân cây trồng ra làm ba nhóm

+ Nhóm cây ngày ngắn: Là những cây trồng chỉ ra hoa kết quả trong điều kiệnchiếu sáng dưới 12 giờ trong một ngày như lúa, khoai lang, đậu tương, lạc, mía,cúc, thược dược

Trang 23

+ Nhóm cây ngày dài: Bao gồm những loại cây chỉ ra hoa kết quả trong điềukiện ngày dài trên 12 giờ chiếu sáng hoặc liên tục chiếu sáng như lúa mì, mạch,bắp cải, ngô phương bắc, layơn

+ Nhóm cây trung tính: Gồm những cây không có phản ứng với độ dài chiếusáng trong ngày Nhóm cây này thường thuộc loại cây cảm ôn, trong điều kiệnnhiệt độ cao cây thường phát dục nhanh, ra hoa sớm (cà rốt, dưa chuột, thuốc lá,bông )

Đặc điểm về ánh sáng trong các vùng của nước ta được thể hiện như sau:

Càng vào Nam độ dài của ngày và đêm càng thay đổi Miền Bắc trong mùa

hè có ngày dài đêm ngắn, trong mùa đông có ngày ngắn đêm dài Sự khác biệtnày sẽ thu hẹp đần ở các vĩ độ thấp Như vào tiết hạ chí ngày ở Hà Nội dài 13 gờ

30 phút, ở Quảng Trị 13 giờ 10 phút, Quảng Ngãi 13 giờ và ở Phan Thiết 12 giờ45’ Vào tiết chí đông, ở Hà Nội dài 10 giờ 30’, ở Quảng Trị 11 giờ, Quảng Ngãi

11 giờ 15 và ở Phan Thiết 11 giờ 30

Tổng số giờ nắng cũng tăng dần khi đi về phía Nam Hà Nội trung bình hàngnăm có 1636 giờ nắng, Quảng Trị 1750 giờ, Quy Nhơn 2080 giờ, Nha Trang

2250 giờ, Phan Thiết 2330 giờ, TP Hồ Chí Minh 2409 gờ và Cần Thơ 2701 giờ

Hà Nội vào tháng 3 (mưa phùn ) có 49 giờ nắng, tháng 7 cao nhất có 149 giờnắng Tp Hồ Chí Minh vào tháng 3 có 254 giờ nắng và vào tháng ít nắng nhất(tháng 8) vẫn có 155 giờ nắng Chế độ ánh sáng này là cơ sở thiên nhiên thuậnlợi cho tiềm năng năng suất cao của nhiều loại cây trồng ở Miền Nam

* Lượng mưa và cơ cấu cây trồng:

Tại những vùng không có điều kiện tưới (vùng đồi núi phía Bắc và khu vựcTây Nguyên) thì nước mưa là nguồn cung cấp phần lớn lượng nước mà cây yêucầu Vì vậy khi bố trí cơ cấu cây trồng và mùa vụ tại những vùng này phải đặcbiệt chú ý đến thời điểm mưa và lượng nước mưa trong toàn mùa để xác địnhthời điểm gieo trồng Tại khu vực Miền Trung, mưa thường tập trung vào tháng

10 đến tháng 11, với lượng mưa khá lớn thường gây lũ lụt Vì vậy phải bố trímùa vụ để có điều kiện thu hoạch trước thời điểm này, nhằm tránh cho cây trồngkhông bị ngập úng

Ở Miền Bắc mùa hè tập chung phần lớn lượng nước mưa trong năm (90%) ởvùng núi và 60-70% ở vùng đồng bằng Số ngày mưa khoảng 80-100 ngày ở đồngbằng và 100-120 ngày ở vùng núi Trung bình Miền Bắc có lượng mưa hàng nămtrên dưới 1500mm/năm Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 ở vùng núi và vàotháng 5 ở vùng đồng bằng Mưa kéo dài đến tháng 10 và thường tập trung vào cáctháng 7-8 Mùa đông ở Miền Bắc cũng thường có các đợt mưa dông vào nhữngtháng đầu và cuối mùa đông, tuy nhiên lượng mưa này thường nhỏ Tổng cộnglượng mưa toàn mùa đông chỉ chiếm khoảng 10-20% lượng mưa cả năm với với sốngày mưa khoảng 30-60 ngày Mưa ở các tỉnh Miền Trung bắt đầu từ tháng 8 tớitháng 12 có nơi đến tháng 1 và thường tập trung vào tháng 10 tháng 11 mùa khôkéo dài từ tháng 1 đến tháng 7 Ở khu vực bắc Miền Trung thường có lượng mưahàng năm lớn, nhiều vùng đạt tới 3500- 4000mm/năm do có gió mùa đông bắc thổiqua biển đem một lượng nước lớn vào

Nam Bộ có chế độ mưa điều hoà, điển hình của chế độ mưa Nam Á Mỗinăm có 6 tháng mùa mưa và 6 tháng mùa khô Lượng mưa hàng năm đạt 1500-

Trang 24

1600mm Mưa nhiều nhất vào các tháng 7 và tháng 9, ít nhất và tháng 2 và tháng

8 Tây Nguyên, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kéo dài đến tháng 11, nhữngtháng có nhiều ngày mưa và có lượng mưa lớn là từ tháng 5 đến tháng 10 (1800-2900mm/năm) Khu vực Tây Nguyên, đông Nam Bộ và đồng bằng Sông CửuLong là những vùng có hạn chế về chế độ tưới tiêu nên cơ cấu cây trồng và mùa

vụ gieo trồng phụ thuộc rất lớn vào lượng mưa và thời điểm mưa Phần lớn cácloại cây trồng ở vùng này đều có lịch thời vụ bố trí theo cách này hay cách khác

để để lợi dụng lượng nước mưa trong cả mùa hay trong đầu hoặc cuối mùa mưa

và tranh thủ thu hoạch được trong mùa khô để có điều kiện thuận lợi cho việcthu hoạch và phơi sản phẩm

* Ẩm độ không khí và cơ cấu cây trồng:

Độ ẩm có liên quan đến sinh trưởng và năng suất của cây trồng Độ ẩmkhông khí quá cao, sẽ làm cho sự thoát hơi nước của cây trồng khó khăn, độ mởcủa khí khổng thu hẹp lại, dẫn đến lượng CO2 xâm nhập vào cây giảm xuốnglàm cho quang hợp giảm Độ ẩm không khí cao còn làm phát sinh bệnh tật nhưcác bệnh do phytopthora gây hại mạnh cho cây vụ đông; bệnh lở cổ rễ cho cây

bộ đậu Độ ẩm không khí quá thấp cũng sẽ gây hại cho cây trồng, nhất là ẩm độkhông khí thấp kèm theo nhiệt độ cao sẽ làm cho cây trồng thoát hơi nước nhiều,lượng nước hút lên không đủ bù đắp, cây trồng sẽ bị héo, hạt phấn và nhụi bịchết, tỷ lệ hạt lép tăng

Tuy vậy lại có những cây thích ứng với ẩm độ cao như các loại rau xà lách, cảibắp, su hào, dau diếp đây là những loại rau ăn lá có nhu cầu lượng nước lớn

mà bộ rễ lại không thuộc loại khoẻ (nhất là bắp cải) Nếu độ ẩm không khí thấplàm cây thoát hơn nước nhiều, bộ rễ không hút đủ nước cho sinh trưởng của cây,làm năng suất và phẩm chất cây thấp

Để xắp sếp cơ cấu cây trồng hợp lý cần nắm được tình hình diễn biến độ ẩmtrong năm

Miền Bắc có mưa phùn nên vào nửa sau mùa đông thường có ẩm độ không khíkhá cao (trên 90%) Còn nửa đầu mùa đông, vào những tiết hanh có ẩm độkhông khí xuống tới 50 - 60%

Tại Miền Nam các tháng mùa khô có ẩm độ không khí thay đổi từ 67 - 81%.Tây Nguyên có ẩm độ không khí thường xuyên cao trong mùa mưa (85 - 90%)

và từ 70 - 75% trong mùa khô

1.3.2 Đất đai và cơ cấu cây trồng.

Đất đai là nguồn lợi tự nhiên cung cấp năng lượng và vật chất cho cây do

đó con người cần nghiên cứu để lợi dụng tốt nhất Đất và khí hậu hợp thành mộtphức hệ khí hậu - đất tác động vào cây Phải nắm vững mối quan hệ giữa câytrồng và các đặc điểm của đất thì mới xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý

Về mặt cơ cấu cây trồng người ta đề cập tới tính thích ứng và tính biến độngnăng suất của cây trồng

Các tính thích ứng quyết định khả năng sống của cây trồng đối với các mức(độ mặn, độ chua, ngập nước hay độ ẩm khác nhau của đất)

Khi cây đã có đủ điều kiện thích ứng thì năng suất được quyết định bởi chế độnước và hàm lượng dinh dưỡng trong đất

Trang 25

Tính chất khó giữ nước của các vùng đồi núi cao hơn Khả năng có nhiều nước

ở các vùng châu thổ đã quyết định loại cây trồng chủ yếu ở các vùng đồng bằngtrong mùa mưa là cây lúa nước Khi nghiên cứu về đất đai để xác định cơ cấu câytrồng chúng ta cần quan tâm tới một số vấn đề sau:

* Địa hình.

Địa hình nước ta kéo dài 1650 km từ Bắc đến Nam, với chiều ngang thu hẹpnhất ở Quảng Bình (50km), với những giải núi chênh chếch hầu như suốt từ Bắctới Nam Trong đó quan trọng nhất là dãy Trường Sơn đã tạo cho nước ta haimặt sườn khác nhau khá rõ, sườn phía Tây Nam mang nặng tính chất Nam Á,sườn phía Đông Bắc mang nặng tích chất Đông Á Những con sông lớn nhưsông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Cửu Long đều chảy theo hướng Tây bắcĐông nam và hình thành nên những châu thổ rộng hay hẹp ở bờ biển phía Đông.Diện tích của các châu thổ hẹp hơn nhiều so với diện tích của đồi núi đã chothấy rõ ràng là nền nông nghiệp việt nam có tính chất đa dạng giữa các vùng.Địa hình là một yếu tố phức tạp ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác Trước hết địahình ảnh hưởng đến tình hình khí hậu Ví dụ, sự khác nhau về độ cao dẫn đếnchế độ nhiệt, chế độ ẩm khác nhau Ở đồng bằng châu thổ địa hình có quan hệchặt chẽ với chế độ nước: các chỗ cao thường là đất nhẹ và thoát nước, các chỗthấp thường là đất nặng và úng nước

Ở vùng đồi núi, yếu tố quan trọng nhất của địa hình là độ dốc của sườn vì nóquan hệ tới vấn đề xói mòn đất Việc sử dụng đất dốc để trồng các loại cây nàocòn phụ thuộc vào các yếu tố khác như : mưa gây xói mòn, tính chất đất và nhất

là phụ thuộc vào các biện pháp canh tác được sử dụng để chống xói mòn và điềukiện cụ thể của địa phương

VD: Nga đề nghị chế độ sử dụng ruộng đất có các độ dốc khác nhau như sau: 0-50 : Ít dốc, ít bị rửa trôi, có thể trồng bất cứ cây gì, tốt nhất là các cây hàng rộng

5-120 : Dốc, bị rửa trôi nhiều, có thể trồng các cây hàng hẹp (lúa mì) Ơ vùngnúi nên trồng các loại cây ăn quả theo băng, có băng cây chống xói mòn

12-200: Dốc khá, xói mòn mạnh Nên trồng cây ăn quả có làm nương bậcthang với các công trình ngăn nước

20-280: Dốc mạnh, có thể trồng cây ăn quả bắt buộc ở nương bậc thang với cáccông trình thuỷ lợi

20-300: Chỉ có thể trồng cây lâu năm và cỏ, rất hạn chế làm đất

Trên 300 : Không làm đất được, chỉ trồng rừng, cây lâu năm và cỏ cải tiến

Trang 26

Như vậy là độ dốc giới hạn trồng cây hàng năm ở vùng Crưm là 120, ở vùngbiển Caribê là 200 và Inđônêxia là 220.

Các giới hạn này xác định phải tuỳ tình hình cụ thể từng vùng Ở nước ta phíabắc đất dốc nhiều, các giới hạn đó phải cao hơn ở phía nam là nơi đất dốc ít.Nghiên cứu về địa hình đất đai ở nước ta thấy có một số đặc điểm sau:

- Các vùng núi: Theo thống kê, diện tích đất miền núi chiếm khoảng 63% diệntích đất Tự nhiên của nước ta trong đó có nhiều vùng với độ cao thấp khác nhau,hình thành nên những tiểu vùng khí hậu khác nhau Đây là vùng còn gặp nhiềukhó khăn trong việc canh tác và bố trí cơ cấu cây trồng do: Đây là vùng có mật

độ dân cư thấp, thành phần chính là các dân tộc thiểu số, trình độ canh tác thấp.Bên cạnh đó quá trình trồng trọt của vùng này thường xuyên gặp khó khăn dohạn hán và đất đai bị xói mòn

Vì vậy việc bố trí cơ cấu cây trồng ở vùng này theo hướng phù hợp với ngườidân, phù hợp với điều kiện khí hậu và địa hình là một việc làm hết sức cần thiết

Có thể chia Miền núi theo độ cao thành các vùng như sau:

+ Vùng núi trung bình và vùng núi cao trên 700-900 m

Diện tích toàn quốc khoảng 3433,3 nghìn ha Trong đó các tỉnh phía Bắc 2478,7nghìn ha, các tỉnh phía Nam 954,6 nghìn ha Vùng này thích hợp cho việc pháttriển các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và các loại cây dược liệu có giá trịkinh tế cao Tuy nhiên rất khó khăn để trồng các loại cây lương thực ở vùng này,nếu có trồng cũng chỉ canh tác được một vụ vào mùa mưa

Mô hình ruộng bậc thang để giữ nước trồng lúa hoặc trồng màu trong mùa mưa

là đặc trưng ở một số tỉnh phía Bắc (Cao Bằng, Hà Tuyên) ở vùng này

Nhiều mô hình cây trồng có giá trị kinh tế cao cũng đã được hình thành ở vùngnày như: cây ăn quả ôn đới (mận, lê, táo) ở Cao Băng, Lạng Sơn, cây chè ở YênBái, Bắc Sơn, Sơn La, cây dược liệu, rau quả ở Sapa, Bắc Hà (Lào Cai), ĐồngVăn, Mèo Vạc (Hà Giang), Mộc Châu, Ngọc Linh (Kon Tum), Đà Lạt (LâmĐồng) Khả năng mở rộng sản xuất tại vùng này còn lớn, nhưng khó khăn về chếbiến và vận chuyển đang còn là hạn chế của vùng này

+ Vùng núi thấp và cao nguyên dưới 700 m

Đây là vùng có diện tích đất rừng chiếm nhiều Tiềm năng đất nông nghiệp lớn,

có tiềm năng để phát triển các cây công nghiệp có giá trị cao như chè, cà phê chè(ở các tỉnh phía Bắc), cao su, cà phê, hồ tiêu và cây ăn quả nhiệt đới (tại TâyNguyên và một số tỉnh Miền Nam)

Một số mô hình có giá trị kinh tế cao như vải thiều Lục Ngạn (Hà Bắc), câynhãn ở Tây Bắc, cây cà phê, hồ tiêu ở Tây Nguyên, cây Điều, Cao Su ở Nam Bộđang là những điển hình về cơ cấu cây trồng của vùng này

Tại một số vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và vùng núi Duyên Hải MiềnTrung, đồng bào còn có phương thức canh tác gieo trồng lúa cạn hoặc các loạihoa màu như ngô, sắn, đậu trên các quả đồi thấp Đây là hình thức canh tác lạchậu, vì thường chỉ gieo trồng được một vụ vào mùa mưa, các mùa còn lại đất bị

bỏ trống, khả năng xói mòn rất cao

+ Vùng thung lũng và phù sa ven sông ở miền núi

Đây là những diện tích đất khá bằng phẳng ở Miền Núi, rất quý giá để trồng lúa

Trang 27

và phát triển các cây lương thực nhằm cung cấp nguồn lương thực tại chỗ choMiền Núi Để khai thác có hiệu quả vùng này thì việc xây dựng các công trìnhthuỷ lợi vừa và nhỏ để tăng khả năng thâm canh và thời gian sủ dụng đất là việclàm hết sức cần thiết.

Điển hình tại vùng này là một số khu vực đã được khảo sát và xây dựng cáccông trình thuỷ lợi nên rất thuận lợi cho việc trồng lúa và phát triển hoa màunhư: Easoup, K’rông Ana-Lăk (Đắc Lắc), Ajunpa (Gia Lai), Đa Tẻh (LâmĐồng), Sông Quao (Bình Thuận)

- Các vùng đồng bằng: Có địa hình thấp trũng, đây là vùng sản xuất nông nghiệptrù phú và được khai thác từ rất sớm Cơ cấu cây trồng ở đây rất phong phú và

đa dạng cho thấy trình độ canh tác tại vùng này là rất cao

+ Đồng bằng Bắc Bộ: Rộng 15000 km2, được bồi tụ bởi hai con sông lớn là sôngHồng Và sông Thái Bình Khu vực này có địa hình khá bằng phẳng

Vùng đồng bằng Bắc Bộ có thể chia là 2 vùng chính với chế độ canh tác khácnhau bao gồm: Vùng phía bắc sông hồng, đất tương đối cao, dễ thoát nước, đất

có thành phần cơ giới nhẹ, vùng này có thể canh tác một năm 2 vụ lúa và một vụmàu rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Vùng thứ hai là trung tâm đồngbằng bắc bộ, có địa hình trũng, đất thuộc thành phần cơ giới nặng, khó thoátnước, tại vùng này thường chỉ cấy được một vụ lúa chiêm, còn vụ mùa bỏ hoá

do đất bị ngập nước Tóm lại vùng đồng bằng Bắc Bộ là vùng nông nghiệp cótrình độ thâm canh cao, nhất là trong nghề trồng lúa nước

+ Các vùng đồng bằng ven biển Trung Bộ: Bao gồm nhiều vùng đồng bẳng nhỏkhác nhau kéo dài từ Thanh Hoá đến Phan Rang, Phan Thiết Vùng đồng bằngnày được hình thành sau các cuộc vận động của phù sa sông và phù sa biển kiếntập và bồi lấp các vùng biển cũ hình thành nên Phía Bắc có các đồng bằngtương đối rộng, càng vào phía nam đồng bằng càng hẹp dần

Đặc điểm của vùng này là có nhiều địa hình khác nhau hình thành lên những

cơ cấu cây trồng và phương thức canh tác khác nhau, trong đó tại một số vùngtrũng, được cải tạo và xây dựng hệ thống thuỷ lợi nên đã hình thành lên nhữngvùng trồng lúa nước tương đối màu mỡ và thuận lợi như đồng bằng Nghệ An,đồng bằng Quảng Nam, Quảng Ngãi và đồng bằng Bình Định Bên cạnh đó làcác bãi bồi ven sông có lượng phù sa cao, đất màu mỡ rất thuận lợi để phát triểncác cây rau màu và đậu đỗ Ngoài ra khu vực này còn có một diện tích tương đốilớn đất cát và cồn cát ven biển Tại những vùng này thường chỉ trồng được một

vụ rau màu hay đậu đỗ vào mùa mưa, mùa khô đất thiếu nước nên cây trồng sinhtrưởng phát triển rất khó khăn

+ Đồng bằng Nam Bộ: Bao gồm khu vực Châu thổ sông Cửu Long và châu thổsông Đồng Nai Trong đó rộng nhất là Châu thổ sông Cửu Long (với 4 triệu ha).Châu thổ sông Cửu Long là vùng trồng lúa quan trọng nhất nước ta, chiếm tỷ lệdiện tích lớn nhất trong tổng diện tích trồng lúa Đất đai ở Châu thổ sông CửuLong gồm nhiều loại như đất đất phù sa ven sông, đất phèn, đất mặn Các loạiđất phèn và mặn chỉ có thể sử dụng trong mùa mưa và lũ do nước mưa và lũ cótác dụng rửa phèn và mặn Tuỳ theo mực nước ngập từ Bắc xuống Nam mà vùngnày được chia làm 3 vùng có chế độ canh tác lúa khác nhau: Vùng sát biên giớiCampuchia có mực nước sâu trên 1m thường được sử dụng để gieo các giống

Trang 28

lúa nước nổi Vùng giữa đồng bằng có mực nước ngập trên 0,5 m thường phảicấy lúa hai lần và sử dụng các giống lúa dài ngày Vùng còn lại ở gần biển cómực nước ngập dưới 0,4 m có thể gieo trồng hai vụ lúa một năm, trong đó vụ hèthu sử dụng các giống ngắn ngày.

Trên các loại đất cù lao ở giữa sông, các bãi bồi đất tương đối cao, nhiều loạihoa màu cũng được trồng trong mùa khô với trình độ thâm canh khá cao Đồngbằng sông Cửu Long còn thích hợp với nhiều loại cây ăn quả được trồng trênnhững líp đất đã được tôn lên để cải tạo đất và chống úng trong mùa mưa lũ

Cơ cấu cây trồng của châu thổ sông cửu long chịu ảnh hưởng nhiều của chế độthuỷ văn và phụ thuộc nhiều vào khả năng làm chủ được nước

Để bố trí cơ cấu cây trồng cần nắm vững chế độ nước, khả năng tác động củacon người và đặc tính của cây trồng

Về chế độ nước: Vào mùa mưa nơi thấp thường có lớp nước cao, nơi trung bình

có lớp nước vừa, nông và nơi cao đất đủ ẩm, vào mùa mưa ít ở nơi thấp đất đủ

ẩm, nơi cao đất hạn (thiếu nước) Ơ đất bãi ngoài đê hàng năm đất còn bị ngập

do nước sông dâng vào mùa mưa

Ơ các vùng bị ngập thường phải chú ý thời gian bị ngập (thời điểm bắt đầu vàkết thúc), độ cao lớp nước, tốc độ ngập Tuỳ theo đặc điểm ấy mà bố trí các vụlúa và giống lúa khác nhau

- Về khả năng tác động của con người: Các công trình thuỷ lợi và các biện pháptưới, tiêu đã làm giảm tác hại của nước và tạo điều kiện thuân lợi cho cây trồng.Việc tưới nước vào mùa khô đã làm tăng diện tích trồng lúa vụ chiêm xuân ởMiền Bắc hay các cây rau màu vụ đông Việc tiêu nước khi mưa lớn đã hạn chếđược úng ngập câytrồng nên đã tăng được diện tích trồng lúa mùa ở chân sâu

- Về cây trồng: Đặc tính sinh thái của cây trồng rất khác nhau, có cây sống ở đấtngập nước (như lúa, cói), có cây sống trên cạn (như ngô, đậu tương, lạc ) dựavào tình hình nước diễn biến trong năm và địa hình để bố trí nhiều cơ cấu câytrồng một năm như: Hai vụ lúa, một màu một lúa, hai lúa một màu, ba màu mộtlúa, ba vụ màu

Ở đất ngoài đê cần gieo trồng ngay sau khi nước rút và thu hoạch ngay khi nướcngập, thường mỗi năm hai vụ màu Gần đây với việc lựa chọn được nhiều giốnglúa có khả năng chịu ngập tới 7-10 ngày, có tốc độ vươn cao 3-5 cm/ngày, lạicao cây (150-170 cm) càng mở rộng khả năng ổn định cho lúa chân sâu

Trang 29

dưỡng và dễ làm đất Đất nặng giữ nước và dinh dưỡng tốt hơn nhưng thoátnước chậm, hay bị úng, ít không khí và làm đất khó.

Mỗi cây sinh trưởng tốt ở một loại thành phần cơ giới Các cây như lúa, cói sinhtrưởng tốt trên đất thịt vừa và thịt nặng có lớp nước trên mặt Nếu trồng lúa trênđất nhẹ tuy có tưới nước và bón phân đầy đủ, cũng không có sinh trưởng cân đối

và năng suất cao bằng đất thịt nặng Ở đất này các cây trồng cạn thường sinhtrưởng tốt và cho năng suất cao như ngô, lạc

Một số cây có phạm vi thích ứng rộng hơn: Cây ngô có thể sinh trưởng tốt vàcho năng suất cao cả trên đất thịt trung bình và thịt nặng mà cây họ đậu và khoaithì lại sinh trưởng kém trên những loại đất đó Các cây có khả năng thích ứngrộng rễ được mở rộng nếu như có giá trị kinh tế cao

Về mặt thổ nhưỡng học có thể chia đất đai nước ta thành hai loại dựa theo quátrình hình thành

Loại thứ nhất bao gồm các loại đất tại chỗ đã được hình thành trong quá trìnhphong hoá đá mẹ Đây là loại đất được hình thành tại tất cả các vùng đồi núi củanước ta Quá trình hình thành đất này thường kết hợp với quá trính tích tụ nhôm

và sắt kết hợp với sự rửa trôi các chất kiềm đã tạo lên các loại đất đỏ vàng có độphì khác nhau tuỳ vào điều kiện của mỗi vùng Loại đất này có đặc điểm chung

là chỉ duy trì được các tính chất vật lý, hoá học và sinh học của chúng khi đượccây rừng hay thảm thực vật che phủ Đối với loại đất này chỉ cần phá rừng đi và

có chế độ canh tác không đúng kỹ thuật thì chỉ một thời gian sau đất sẽ bị thoáihoá nghiêm trọng Do đó, đất này tương đối khó khăn khi bố trí cây trồng màkhông có các biện pháp kỹ thuật cần thiết để chống xói mòn Kinh nghiệm củamột số dân tộc miền núi cho thấy, hình thức làm ruộng bậc thang để trồng lúanước là một hình thức tương đối tốt để sử dụng loại đất này Ngoài ra tại cácvùng này còn được bố trí để trồng các cây công nghiệp hay cây ăn quả lâu năm

có hệ số che phủ đất lớn kết hợp với các băng chống xói mòn cũng hạn chế được

sự tác động đến đất, giảm được xói mòn

Loại thứ hai là các loại đất được bồi tụ do các con sông lớn nhỏ và biển bồi đắp

ở vùng châu thổ, hay do các con sông suối nhỏ bồi đắp ở vùng thung lũng haybồn địa hẹp của vùng núi Đất đai thuộc loại này tương đối thuận lợi cho quátrình canh tác nông nghiệp đặc biệt là trồng lúa nước, do đó các loại đất bồi tụnày đã chi phối hoạt động nông nghiệp và cơ cấu cây trồng của nước ta Cho đếnhiện nay những vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu của nước ta vẫn là nhữngvùng châu thổ hoặc các cánh đồng tại các vùng thung lũng cao nguyên đã đượccanh tác từ lâu đời

* Độ chua, mặn.

- Nhóm đất mặn:

Ở Việt Nam do tác động của biển, đã hình thành một loại đất đặc biệt, đó là đấtmặn Nhóm đất này là “đất có vấn đề", tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng venbiển miền Bắc như : Thái Bình, Thanh Hóa và vùng ven biển Miền Nam, từ cáctỉnh Bến Tre, Tiền Giang, xuống Bạc Liêu, Cà Mau lên đến tỉnh Kiên Giang.Dọc ven biển các tỉnh Miền Trung đất cũng bị nhiễm mặn, nhưng do địa hìnhdốc nên thuỷ triều tràn vào thấp hơn so với ở Bắc Bộ và Nam Bộ Nhóm đấtmặn có diện tích khoảng 1 triệu ha

Trang 30

Gọi là đất mặn vì đất bị nhiễm mặn do nước biển và có chứa nhiều loại muốikhác nhau, trong đó muối clorua bao giờ cũng chiếm ưu thế Căn cứ vào nồng

độ muối hoà tan với tỷ lệ clo trong đó, Hội Khoa học Đất Việt Nam chia đất mặn

ra thành các loại như sau:

Đất mặn ngoài đê biển (đất mặn sú vẹt): Diện tích 105.300ha, thường xuyênngập nước biển và chỉ thích nghi với tập đoàn cây rừng ngập mặn, như: đước,

sú, vẹt, mắm, bần, Tuy có diện tích ít nhưng vô cùng quan trọng trong việc bảo

vệ bờ biển và nuôi trồng thuỷ sản

Đất mặn nội đồng gồm:

+ Đất mặn nhiều: diện tích 139.610ha, phần lớn tập trung ở vùng ven biển Đồngbằng sông Cửu Long 102.000ha Những vùng ven biển khác đều có nhưng diệntích ít hơn, như Đông Nam Bộ 19.590ha, Duyên hải Miền Trung 11.420ha, Khu

IV cũ 6.600ha Hệ thống thuỷ lợi, chế độ thuỷ văn cũng tác động làm thay đổitính chất và diện tích đất mặn nhiều

Đất mặn trung bình: Diện tích 732.580ha, nằm bên trong vùng mặn nhiều, đại

bộ phận ở địa hình trung bình và cao chịu ảnh hưởng của thuỷ triều Đất đượcxây dựng các công trình tưới tiêu, nhiều vùng đã có năng suất lúa cao Đất nàyphần lớn tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 586.420ha (80%),Đồng bằng sông Hồng 53.300ha (7,3%), Khu IV cũ 38.350ha (5,2%), duyên hảimiền Trung 35.560ha (4,9%) và một ít ở Đông Nam Bộ Nước mặn từ chỗ có hạitrở thành nguồn lợi Trước đây, đến những vùng đất mặn, dù ở miền Bắc haymiền Nam đều thấy chung một cảnh là "đất không nuôi nổi người", nhưng nay

đã khác, do việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và sự hiểu biết của người dân

về đất mặn đã tăng lên, đồng lúa trĩu hạt, kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản, đờisống của dân đã được cải thiện rõ rệt Để sử dụng các loại đất mặn có thể ápdụng biện pháp rửa mặn bằng nước hoặc chọn tạo đưa vào sử dụng các giốngcây trồng có khả năng chịu mặn Đối với các giống lúa trồng vụ mùa chịu đượcnồng độ muối Clorua natri trong đất trên 0.4% thì gọi là giống chịu mặn

+ Ngoài ra, ở đồng bằng Nam Bộ, việc phân loại đất mặn phải căn cứ vào thờigian bị ảnh hưởng nước mặn trong năm Nồng độ muối trong nước sông trên 0,4g/lít thì coi là nước mặn Từ căn cứ này phân thành 4 vùng:

Vùng A: nước ngọt quanh năm

Đất phèn được hình thành trên các sản phẩm bồi tụ phù sa với vật liệu sinh phèn.Vùng Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, kể cả một số nơi ở Hải Phòng,Thái Bình khi đào đất tới độ sâu nào đó, người ta thấy xuất hiện màu đen, cómùi hôi của khí sunphua hyđrô (H2S) Nếu để đất màu đen đó hong khô ngoàikhông khí sẽ xuất hiện màu vàng và bốc mùi của chất lưu huỳnh - đó chính làchất phèn gồm hỗn hợp của Sunphát nhôm và sunphát sắt Hiện tượng này liên

Trang 31

quan đến nguồn gốc hình thành của đất phèn Các nhà khoa học cho rằng, sựôxy hoá các sản phẩm hữu cơ chứa lưu huỳnh (xác các cây sú, vẹt, mắm, đước,tràm, ) là nguyên nhân chính để sinh ra chất phèn.

Đất phèn được xác định bởi sự có mặt trong phẫu diện đất hai loại tầng chuẩnđoán chính là tầng sinh phèn Đất chỉ có tầng sinh phèn gọi là đất phèn tiềmtàng, đất có tầng phèn gọi là đất phèn hiện tại

Về tính chất của đất phèn, trước hết phải là độ chua Các hợp chất hữu cơ chứalưu huỳnh bị phân giải yếm khí tạo nên các sunphua, khi gặp không khí chúnglại bị ôxy hoá thành các sunphat và axit sunphuaric (H2SO4) Axít này công pháphần khoáng của đất tạo ra sunphát nhôm (phèn nhôm) và sunphát sắt (phènsắt) Hình thái phẫu diện của đất phèn rất đặc trưng, và chia ra bốn tầng rõ rệt:tầng canh tác, tầng đế cày, tầng đất có chứa nhiều xác thực vật và cuối cùng làtầng cát lỏng màu xám đen, Hàm lượng hữu cơ rất khác nhau, trung bình từ2,5 - 3,5%, những nơi có dấu vết thực vật có thể tới 5 - 6% Hàm lượng N tổng

số phổ biến từ 0,10 0,15%, đặc biệt rất nghèo lân, thường chỉ khoảng 0,04 0,08% Do đó, nếu bón đúng cách, hiệu lực của phân lân rất cao Nhìn chung, độphì tiềm tàng của đất phèn không thua kém đất phù sa sông Hồng và sông CửuLong, nhưng vì quá chua nên năng suất cây trồng chưa cao

-Đây là tính chất hoá học của đất ảnh hưởng rất mạnh đến sự sinh trưởng của câytrồng và giới hạn phát triển của chúng

Độ chua theo độ chua (pH) có thể chia đất ra các loại sau:

Độ chua không phù hợp làm cho cây trồng khó hút các chất dinh dưỡng của đất,

vi sinh vật trong đất không phát triển được, ngoài ra còn bị ngộ độc bởi nhữ ngion có liên quan đến độ chua của đất Ví dụ: đất rất chua ở ta phần nhiều là đấtphèn có chứa Sunfat abumin Ở đất này, ngoài tác hại của độ chua còn có hiệntượng độc do nhôm và ion SO4 gây ra Với đất nhiệt đới lúc pH = 5,4 thì độ nonhôm trong phức hệ hấp thu cation là 0%, pH = 4,2 độ no nhôm là 60%

Năng suất sẽ giảm 50% (vùng nhiệt đới) khi trồng ngô trên đất có độ pH =4,4,với độ no Nhôm là 2,5 mg đl/100g, còn đối với đậu tương khi pH = 5,0 và độ

no Nhôm khoảng 0,5 mg đl/100g

Cây trồng có quan hệ với độ chua khác nhau, có những cây thích chua như chè,lại có những cây chịu được chua và không chịu được chua

* Hàm lượng các chất dinh dưỡng:

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất chủ yếu quyết định năng suất câytrồng hơn là quyết định tính thích ứng Tuy vậy, trong các loại cây trồng cũng cónhững loại cây trồng đòi hỏi phải trồng ở nơi đất tốt, có cây chịu được đất xấu.Hàm lượng các chất dinh dưỡng có thể thay đổi bằng cách bón phân Về mặtkinh tế, thì các loại đất tốt nên trồng các loại cây và giống phản ứng mạnh với

độ màu mỡ và có giá trị kinh tế cao

Trang 32

Đối với các loại cây trồng cạn cần nghiên cứu tỷ lệ NPK để bố trí các loại câyphù hợp với yêu cầy của nó Cây hoà thảo, cây rau là các loại cây yêu cầu đấtnhiều đạm, các cây họ đậu yêu cầu đất có nhiều lân và canxi, các loại cây có củthì yêu cầu đất có nhiều Kali hơn

1.3.3 Đặc tính sinh vật học của các loại cây trồng và giống cây trồng.

Cơ cấu cây trồng hợp lý phải trả lời được câu hỏi: loại cây gì, giống gì, trồng ởđâu, tỷ lệ diện tích bao nhiêu và trồng bằng phương thức gì để phù hợp với điềukiện đất đai và khí hậu của vùng, đồng thời thành phần cây trồng không ảnhhưởng đến nhau

* Cây trồng và cơ cấu cây trồng:

Cây trồng là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái nông ngiệp, nội dung chủ yếucủa việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn loại cây trồng nào để lợi dụng tốtcác điều kiện khí hậu và đất đai Mặt khác, cây trồng là các nguồn lợi tự nhiệnsống, nhiệm vụ của nông nghiệp là phải sử dụng nguồn lợi tự nhiên ấy một cáchtốt nhất, nghĩa là dành cho chúng các điều kiện khí hậu và đất đai thích hợpnhất Khác với khí hậu và đất đai, là các yếu tố mà con người ít có khả năng thayđổi, hay chỉ thay đổi trong một phạm vi nhất định Đối với cây trồng, con người

có thể lựa chọn và di thực chúng và với trình độ hiểu biết của sinh học hiện đạicon người có khả năng thay đổi bản chất của chúng theo hướng mà mình mongmuốn Muốn bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý chúng ta cần nắm vững yêu cầu củacác loài và giống cây trồng đối với các điều kiện khí hậu, đất đai và khả năngcủa chúng sử dụng các điều kiện ấy Sau đây là những vấn đề cần quan tâm khixác định cơ cấu cây trồng

- Năng suất của cây trồng và giống cây trồng: Các loài và giống năng suất cao

sẽ được đưa vào trong cơ cấu cây trồng Năng suất có liên quan đến sức chứa vànguồn

Sức chứa (Sink): Là số lượng và độ lớn của các cơ quan có khả năng chứa cácchất đồng hoá để tạo ra năng suất như số bông, số quả, số hạt, số củ, số thân vàkích thước của các bộ phận ấy Mỗi cây trồng có đặc điểm sức chứa riêng Bông

to làm cho năng suất lúa và ngô tăng, nhưng ở ngô số hạt/bắp quan trọng hơntrọng lượng 1000 hạt Ơ lúa trọng lượng hạt là yếu tố quyết định trọng lượngbông Nguồn (source): Là lượng đồng hoá được chuyển từ lá về bộ phận chứanăng suất Để tăng nguồn các nhà tạo giống đã chú ý cải tiến kiểu lá để nâng cao

hệ số diện tích lá và cường độ quang hợp ở lá, đồng thời giảm chi phí mất mát

do hô hấp

Giữa sức chứa và nguồn có mối quan hệ rất chặt chẽ, có tác động qua lại, làmtăng sức chứa bằng cách nhân tạo, cường độ quang hợp ở lá giảm vì cản trở việcvận chuyển sản phẩm quang hợp

Trong thực tế rất khó phân định rõ chỉ tiêu đại diện cho sức chứa và chỉ tiêu đạidiện cho nguồn Chẳng hạn trọng lượng bông hay trọng lượng hạt cao có thể vừa

là do tăng sức chứa vừa là do tăng nguồn Để làm rõ vấn đề này viện sĩ Đào ThếTuấn đã dùng phương pháp phân tích thành phần chính của quá trình tạo năngsuất trên 276 ruộng lúa khác nhau kết quả đã tính được hai thành phần chínhquan trọnh nhất ảnh hưởng đến năng suất

- Thành phần sức chứa tương quan với thời gian tạo ra diện tích lá trước trỗ: số

Trang 33

nhánh, số bông và số hoa một mét vuông quyết định 29,9% năng suất.

- Thành phần nguồn tương quan với chất khô và hiệu suất quang hợp sau trỗ: sốhạt một bông và số hạt một mét vuông, trọng lượng bông và trọng lượng 1000hạt, quyết định 23,1% năng suất

Các giống lúa có lá nằm ngang (lá rũ) không thể cấy dày được nên không thểtăng được sức chứa (số bông ít) và cũng không tăng được nguồn (khi tăng diệntích lá thì có hiện tượng lá che lấp lẫn nhau) nên năng suất thấp Các giống lúamới, lá đứng vừa tăng được sức chứa, vừa tăng được nguồn nên đã nâng caonăng suất lúa rõ rệt Thêm nữa, các giống to bông (số hạt nhiều trọng lượng hạtlớn) cho năng suất cao ở điều kiện ánh sáng không mạnh, vì có sức chứa caohơn và có khả năng làm tăng cả nguồn nữa

- Thời gian sinh trưởng và năng suất cây trồng:

Khi bố trí cơ cấu cây trồng cần phải biết rõ thời gian sinh trưởng của từng loạicây trồng từ lúc gieo đến lúc thu hoạch để có sự bố trí mùa vụ cho ăn khớp,tránh tình trạng một loại cây trồng trong cơ cấu cây trồng có thời gian sinhtrưởng quá dài dẫn đến chậm trễ thời vụ của các cây trồng khác

Một điều cần chú ý là thời gian sinh trưởng của một loại giống cây trồng thườngbiến động tuỳ theo nơi trồng và mùa vụ trồng, do chế độ nhiệt và ánh sáng củamỗi vùng, mỗi mùa vụ có sự khác nhau Vì vậy khi đưa cây trồng từ khu vựcnày sang khu vực khác hoặc mùa vụ khác thì cần phải tiến hành khu vực hoátrước khi trồng đại trà

Nguyên tắc chung là cùng một loại cây trồng nếu bố trí trồng vào các thời điểmhoặc các vùng có cường độ ánh sáng và nhiệt độ càng cao thì thời gian sinhtrưởng càng rút ngắn lại

Ngoài căn cứ vào thời gian sinh trưởng của các giống còn phải căn cứ vào thời

vụ thích hợp của nó mà bố trí cho phù hợp Nếu gieo trồng không đúng thời vụ

sẽ gây tình trạng ra hoa kết quả không đúng thời điểm có điều kiện khí hậuthuận lợi, gây ảnh hưởng đến năng suất của bản thân cây trồng đó

Không phải năng suất bao giờ cũng tỷ lệ thuận với thời gian sinh trưởng Tạođược những giống ngắn ngày với năng suất cao là phương án lý tưởng vì sẽ gieotrồng được nhiều vụ có năng suất cao trong một năm Cần phải có một mô hìnhnăng suất cao của ruộng cây trồng

Ví dụ ruộng lúa cho thấy: Đặc điểm về thời gian sinh trưởng của ruộng lúa năngsuất cao theo tổng thời gian sinh trưởng là: từ mọc đến phân đòng 1/3 tổng thờigian, làm đòng đến trỗ 1/3 và trỗ đến chín 1/3 Ruộng cây trồng này dùng 1/2thời gian sinh trưởng để đạt chỉ số lá tối đa (tương ứng với cường độ chiếusáng), và duy trì đến sau trỗ 15-20 ngày thì giảm dần (có liên quan đến sự dichuyển chất hữu cơ về hạt) Ơ giống lúa có thời gian sinh trưởng dài hơn năngsuất không thể cao hơn vì trước và sau gian đoạn trỗ chỉ số diện tích lá khôngthể cao hơn (chỉ số diện tích lá tối đa do cường độ ánh sáng quyết định) Khicùng đạt chỉ số diện tích lá tối đa như nhau thì ruộng cây trồng tạo nên sức chứa

và nguồn tương đương Các giống dài ngày chi phí năng lượng cho hô hấp, duytrì sinh khối nhiều hơn Khối lượng chất hữu cơ dành cho các bộ phận giá đỡ(thân, cành) của các giống dài ngày cũng lớn hơn, do đó hệ số kinh tế thấp hơn.Nếu tính năng suất trong một đơn vị thời gian thì các giống ngắn ngày canh tác

Trang 34

hợp lý cao hơn các giống dài ngày Rút ngắn thời gian bỏ đất trống, trồng mộtnăm nhiều vụ cây ngắn ngày năng suất cao đã làm tăng rõ rệt năng suất một đơn

vị diện tích đất trong một năm Tuy vậy, trong sản xuất người ta vẫn cần phải cócác giống có thời gian sinh trưởng dài Ví dụ giống lúa cấy vụ mùa ở ruộngtrũng Để tránh lúa bị ngập úng, sau khi cấy cần phải có mạ đủ cao và cấy vàolúc nước chưa quá sâu (gieo mạ cuối tháng 5, đầu tháng 6; cấy cuối tháng 6 đầutháng 7) Lúa làm đòng và trỗ không quá sớm tránh thời gian mưa nhiều Lúa trỗvào 15/10 và chín vào 14/11 Thời gian sinh trưởng của lúa phải trên 150 ngàymới an toàn cho lúa sau khi cấy, trước và sau khi trỗ

1.3.4 Đặc điểm của quần thể sinh vật học.

Xây dựng cơ cấu cây trồng là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, ngoài thành phầnsống chủ yếu là cây trồng, còn các thành phần sống khác như cỏ dại, sâu bệnh,các vi sinh vật, các động vật, các côn trùng có ích các thành phần sống nàycùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật chúng chi phối sự sinh trưởngphát triển của cây trồng

Khi bố trí cơ cấu cây trồng cần chú ý đến mối quan hệ theo nguyên tắc:

- Lợi dụng mối quan hệ tốt giữa các sinh vật sống với cây trồng

- Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống tác hại đối với cây trồng docác sinh vật khác gây nên Trong quần thể cây trồng, quần thể chủ đạo của câytrồng có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Mật độ của quần thể do con người quy định trước từ lúc gieo trồng

- Sự sinh sản, tử vong và phát tán không xảy ra một cách tự phát mà chịu sự điềukhiển của con người

- Sự phân bố không gian tương đối đồng đều vì do con người điều khiển

- Độ tuổi của quần thể cũng đồng đều vì có sự tác động của con người

Trong cơ cấu cây trồng cũng xẩy ra sự cạnh tranh cùng loài hoặc khác loài Khigieo trồng một loại cây trồng thì vấn đề cạnh tranh cùng loài rất quan trọng Cầnxác định mật độ gieo trồng và các biện pháp điều chỉnh quần thể để giảm sựcạnh tranh trong loài Sự cạnh tranh khác loài cũng xẩy ra khi ta trồng xen hoặcgiữa cây trồng với cỏ dại

Ví dụ quan hệ giữa cây hoà thảo và cây bộ đậu được nghiên cứu kỹ khi trồng cỏ.Khi bón ít đạm cây bộ đậu mọc tốt hơn cây hoà thảo và ngược lại

Quan hệ giữa cỏ dại và cây trồng: Cỏ dại tranh chấp ánh sáng, nước thức ăn vớicây trồng, cỏ dại còn là môi trường truyền sâu bệnh hại cây trồng Song cỏ dạichỉ lấn át cây trồng khi sinh trưởng tốt hơn cây trồng cả về số lượng và trọnglượng Theo một số tác giả Nhật Bản thì cỏ dại chỉ hại lúa khi có trọng lượngkhô dạt 200g/m2 Chỉ khi mức độ cỏ dại đạt mức độ này mới cần trừ cỏ

Cây trồng có thể tác động lẫn nhau hoặc giữa cây trồng và cỏ dại cũng có thể tácđộng lẫn nhau qua các chất có hoạt tính sinh lý do cây tiết ra hay do sự phân huỷxác cây để lại Phần nhiều các chất do cỏ dại tiết ra hay để lại đều kìm hãm câytrồng Mối quan hệ giữa cây trồng với các loại động vật hoặc vi sinh vật cũng rấtphức tạp Quan hệ này phân làm hai loại:

- Quan hệ tốt: Quan hệ giữa cây bộ đậu với vi sinh vật cộng sinh cố định đạm,cây đậu cung cấp dinh dưỡng cho vi sinh vật và vi sinh vật cố định đạm cungcấp cho cây đậu

Trang 35

- Quan hệ có hại: Biểu thị ở sự ký sinh và ăn nhau Vật ăn nhau sống tự do ăncây cỏ hay hay động vật và chúng giết chết vật mồi Vật ký sinh sống nhờ vàovật chủ và không giết vật chủ.

Trong cơ cấu cây trồng quan hệ này rất quan trọng Các loài sâu và vi sinh vậtgây hại có thể phát triển thành dịch và phá hại mùa màng

Vậy khi xác định cơ cấu cây trồng cần chú ý các mặt sau:

- Xác định thành phần cây trồng và giống cây trồng thích hợp với điều kiện cụthể của cơ sở sản xuất

- Bố trí cây trồng theo thời vụ tốt cũng tránh tác hại của cỏ dại và sâu bệnh Dịchsâu bệnh hại phát triển theo lứa và theo mùa, tác hại của chúng xẩy ra nghiêmtrọng trong thời kỳ sinh trưởng phát triển nhất định của cây trồng Vì vậy, xácđịnh thời vụ tốt cũng có khả năng tránh được tác hại của sâu bệnh

- Trồng xen nhiều loại cây trong cùng một ruộng có tác dụng làm tăng hay giảmsâu bệnh và cỏ dại

Trồng xen nhiều loại cây có tác dụng kìm hãm cỏ dại rõ rệt Trồng xen ngô vớicác loại đậu, mía với cây phân xanh, cây bộ đậu, lúa và bèo dâu làm kìm hãm cỏdại một cách rõ rệt Ơ mỹ người ta trồng lúa miến hay cỏ luzec bên cạnh ruộngbông làm giảm lượng thuốc trừ sâu bông

- Tăng cây bộ đậu trong cơ cấu cây trồng làm tăng tập đoàn vi khuẩn cố địnhđạm, làm giàu nguồn đạm cho đất Theo nhiều tác giả thì trồng một vụ cây họđậu lượng đạm do vi khuẩn cố định được từ 20-120 N/ha/năm

1.3.5 Giá trị kinh tế của cơ cấu cây trồng.

Khi xác định cơ cấu cây trồng cần tính toán giá trị kinh tế Cơ cấu cây trồng mớiphải đạt giá trị kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ Tất nhiên yêu cầu kinh tếcao thì các loại cây trồng đều phải đạt năng suất cao, nhưng do tăng vụ nên cóthể một số vụ, một số cây trồng năng suất không cao Do đó phải lấy tổng sảnlượng làm cơ bản để hạch toán kinh tế Ngoài ra khi hạch toán kinh tế còn chú ýđến vấn đề phân công của xã hội Bởi vì sản xuất nông nghiệp trong xã hội chủnghĩa là cân đối, có kế hoạch và toàn diện Sản phẩm nông nghiệp phải đảm bảolương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp, thức ăn gia súc và sảnphẩm làm hàng hoá

Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất đa dạng, ngoài cây trồngchủ yếu, cần bố trí những cây trồng bổ sung để tận dụng điều kiện tự nhiên và xãhội của vùng và của cơ sở sản xuất Tóm lại về mặt kinh tế, cơ cấu cây trồng cầnthoả mãn các yêu cầu sau:

- Đảm bảo yêu cầu chuyên canh và tỉ lệ sản phẩm hàng hoá cao

- Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi tận dụngcác nguồn lợi tự nhiên

- Đảm bảo việc đầu tư lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao

- Đảm bảo giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao hơn cơ cấu cây trồng cũ

Việc đánh giá giá trị kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một số chỉ tiêunăng suất, giá thành thu nhập (giá trị bán sản phẩm trừ đi chi phí) và mức lãi (%của thu nhập so với chi phí)

Song việc đánh giá giá trị kinh tế rất phức tạp Mỗi loại cây trồng, mỗi loại sản

Trang 36

phẩm có giá trị kinh tế, giá trị sử dụng rất khác nhau Trong điều kiện nước ta lúa làcây trồng chính, là cây lương thực chủ yếu nhiều năm, nhiều địa phương thườngquy đổi màu ra thóc và hạch toán kinh tế theo sản lượng thóc Đối với những vùngsản xuất cây hàng hoá việc quy đổi ra thóc cũng gặp nhiều khó khăn và thiếu chínhxác do giá cả sản phẩm phụ thuộc vào cung và cầu của thị trường

Khi gặp vụ rau giáp vụ, sản lượng rau tuy thấp nhưng giá trị lại rất cao Nhữngnăm mất mùa giá lương thực cũng tăng cao hơn các sản phẩm khác

Thường đối với cây lương thực, thực phẩm và cây thức ăn gia súc có thể dùngđơn vị thức ăn gia súc Đơn vị thức ăn gia súc là tiêu chuẩn dùng trong chănnuôi để đánh giá chất lượng của các loại thức ăn, dùng đơn vị tinh bột làm tiêuchuẩn - giá trị đơn vị thức ăn gia súc có trong các bảng về giá trị dinh dưỡng củathức ăn gia súc

Tuy vậy, chỉ mới đánh giá được giá trị cung cấp năng lượng của cây trồng chứchưa tính được toàn bộ giá trị dinh dưỡng do đó phải thêm một chỉ tiêu nữa lànăng suất prôtêin

Đối với cây công nghiệp và cây có sản phẩm hàng hoá không thể dùng các chỉtiêu trên mà phải tính bằng giá thành

Khi đánh giá giá trị kinh tế của cơ cấu cây trồng cần dựa vào năng suất bìnhquân của cây trồng và giá cả thu mua của nhà nước Tuy vậy, cũng cần chú ý đếnnhững điều kiện ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm như khí hậu, thời tiết, vị tríđịa lý và các điều kiện xã hội khác

2 Luân canh cây trồng.

Sự thay đổi cây trồng theo không gian: Là luân phiên nơi trồng của một loại cây,

đó là luân phiên địa điểm trồng trong khu vực luân canh, tạo điều kiện để câytrồng luân canh về thời gian Như vậy, luân canh theo không gian chính là nóimột loại cây trồng thay đổi nơi trồng từ mảnh đất này sang mảnh đất khác

Ví dụ: có 3 cánh đồng khác nhau và 3 công thức luân canh khác nhau:

A: khoai tây-lạc-lúa mùa

B: rau-ngô-lúa mùa

C: khoai lang-đậu-lúa mùa

Để thay đổi cây trồng theo không gian người ta tiến hành thực hiện các côngthức luân canh (A, B, C) trên cánh đồng khác nhau (I, II, III) và trong các nămkhác nhau như sau:

Cánh đồng năm thứ nhất năm thứ hai năm thứ ba

Trang 37

dài hơn 8- 12 năm Ở nước ta chu kỳ luân canh phổ biến nhất là một năm, nghĩa

là trên một cánh đồng, trong một năm được trồng nhiều loại cây khác nhau.Trong chu kỳ luân canh, các cây trồng được bố trí theo một trật tự nhất định vàgiữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, nếu đảo lôn trật tự đó sẽ gây ra nhiều khó khăn.Công thức luân canh là một số cây trồng được trồng trên cánh đồng trong một năm.Chu kỳ luân canh ở nước ta chỉ có 1 năm, do đó nhiều người gọi là công thức luâncanh Chế độ luân canh (hay hệ thống luân canh) được thực hiện cho một cơ sở sảnxuất hay một vùng Ở nước ta có 3 chế độ luân canh chính đó là:

Luân canh giữa cây trồng cạn với nhau

Luân canh giữa cây trồng cạn với cây trồng nước

Luân canh giữa cây trồng nước với cây trồng nước

Tại nhiều vùng chế độ luân canh còn được thể hiện chi tiết bằng các hình thứcnhư : Chế độ luân canh vùng lúa, chế độ luân canh vùng rau màu, vùng cây côngnghiệp

Độc canh là trồng liên tục một loại cây trồng hoặc một nhóm cây trồng trongnhiều năm

Ví dụ: Lúa đông xuân-lúa hè thu

Khí hậu nước ta chia làm hai mùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa) vì vậy nhiềuvùng, nhiều cánh đồng có thể trồng một vụ cây trồng cạn một vụ cấy lúa Do tậpquán và trình độ kỹ thuật chưa cao nên mùa khô chỉ trồng một loại cây, còn mùamưa cấy lúa

Ví dụ: khoai lang-lúa mùa hoặc một màu hai lúa như: khoai tây-lúa xuân-lúamùa Những hình thức này, nếu xem xét trong một công thức thì đó là luân canh.Song một công thức như vậy thực hiện liên tục nhiều năm thì cũng coi như độccanh Nhiều vùng trồng khoai tây liên tục (dù có hai vụ lúa kèm theo) thấy sâubệnh tăng và năng suất thấp do đó phải đổi đất trồng khoai tây, tức là khoai tâyphải được luân canh theo không gian (khoai đất lạ )

2.2 Ý nghĩa và tác dụng của luân canh

* Ý nghĩa.

- Luân canh là biện pháp kỹ thuật nông nghiệp hoàn chỉnh có tổ chức để hoànthành mục tiêu sản xuất nông nghiệp ở một cơ sở sản xuất dựa trên cơ sở lợidụng tốt nhất các điều kiện thiên nhiên và xã hội cụ thể của vùng sản xuất Chỉkhi có chế độ luân canh ổn định thì kế hoạch sản xuất mới ổn định và mới đạtđược tổng sản lượng cao, hiệu quả kinh tế cao

- Luân canh là trung tâm của các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp khác Tất cảcác biện pháp kỹ thuật nông nghiệp đều căn cứ vào chế độ luân canh mà xácđịnh nội dung của mình

Ví dụ: Các chế độ canh tác khác như thuỷ lợi, bón phân, tưới nước làm đất, diệttrừ cỏ dại đều căn cứ vào loại cây trồng, giống cây trồng, trình tự luân phiêncây trồng trong hệ thống luân canh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật cụ thểcho suốt cả chu kỳ luân canh

Cùng loại cây trồng, hoặc giống cây trồng như ở các vị trí khác nhau trong hệthống luân canh thì yêu cầu các biện pháp kỹ thuật về thời vụ, lượng phân bón

và cách bón phân, chế độ tưới nước, làm đất, phòng trừ cỏ dại khác nhau

Ví dụ trong hai hệ thống luân canh:

Trang 38

A: Khoai tây-lúa xuân-lúa mùa.

B: Bèo dâu-lúa xuân-lúa mùa

Thì lúa xuân sau bèo dâu (B) có yêu cầu về đất và lượng phân bón khác lúa xuânsau khoai tây (A)

Hoặc trong hai hệ thống luân canh khác:

A: Lúa mùa sớm-khoai tây-lúa xuân

B: Lúa mùa-lúa xuân-cày ải

Thì lúa múa (A) phải chọn giống mùa sớm để kịp làm cây vụ đông (khoai tây),còn trường hợp (B) phải cấy mùa chính vụ hoặc muộn để đạt năng suất cao nhất.Muốn xây dựng tốt, chính xác kế hoạch sản xuất ở một vùng hoặc một cơ sở sảnxuất đầu tiên phải xác định chế độ luân canh chính xác Sau đó mới xây dựng kếhoạch về vật tư, lao động, kỹ thuật theo từng cây trồng, giống cây trồng trong

hệ thống luân canh

- Chế độ luân canh chính xác nhằm tăng hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên thiênnhiên (đất đai, bức xạ mặt trời, lượng mưa, nguồn nước sẵn có ) với mức đầu tưtài nguyên kinh tế nhất định (vốn vật tư, tranh bị, lao động ) để phát triển sản xuấtnông nghiệp đặc biệt là tổng sản lượng nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất Bất cứmột kế hoạch phát triển nông nghiệp nào cung nhằm tăng hiệu suất sử dụng tàinguyên của môi trường thiên nhiên Phát triển một cây là phát triển những hệ canhtác mà cây đó là một hợp phần chính Vì vậy, độc canh không có khả năng sử dụngtoàn bộ tài nguyên thiên nhiên và là sai lầm về khoa học

* Tác dụng của luân canh:

- Điều hoà dinh dưỡng và nước trong đất: Cây trồng hút nước và dinh dưỡng từđất, qua quá trình trao đổi vật chất đã tổng hợp nên các chất hữu cơ, tích luỹtrong cơ thể tạo thành các sản phẩm Vì vậy, sản phẩm thu hoạch càng nhiều thìđất mất đi lượng dinh dưỡng càng lớn Song mỗi loại cây trồng cho số lượng vàloại sản phẩm cũng khác nhau và chúng lấy đi các chất dinh dưỡng từ đất với sốlượng từng loại cũng rất khác nhau

Rõ ràng số lượng các loại dinh dưỡng do cây lấy đi tuỳ theo từng loại cây và sảnlượng thu hoạch Cho nên trồng độc canh, cây sẽ lấy đi một số dinh dưỡng nào

đó với một số lượng lớn và các chất đó trở thành yếu tố tối thiểu hạn chế năngsuất cây trồng Bên cạnh việc lấy dinh dưỡng từ đất, cây trồng cũng để lại dinhdưỡng cho đất (bộ phận già, bộ phận con người không thu hoạch) Một số cây(cây bộ đậu) cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm làm cho hàm lượng đạm trongđất ngày càng cao, ngược lại chúng lại lấy đi nhiều P, Ca và các yếu tố này trởthành yếu tố hạn chế năng suất cây bộ đậu Nếu luân canh hợp lý, trồng nhiềuloại cây thì các chất dinh dưỡng lấy đi hoặc để lại đất sẽ trở nên điều hoà, cânđối Qua biện pháp bón phân, con người cũng làm giàu thêm dinh dưỡng trongđất Các vùng nông nghiệp thường có hai mùa: Mùa mưa và mùa khô vì vậyluân canh cây trồng cạn với cây trồng nước cũng là biện pháp sử dụng chế độnước trong đất có hiệu quả và cũng là biện pháp điều tiết chế độ nước trong đất

- Luân canh chính xác có tác dụng cải tạo và bồi dưỡng đất

Các loại cây trồng khác nhau do đặc điểm sinh học khác nhau như cây họ đậu có

bộ rễ ăn sâu làm cho đất tơi xốp Cây lúa sống trong điều kiện ngập nước làmcho đất dí dẽ, chặt bí Cây yêu cầu vun xới nhiều như ngô, bông làm cho đất

Trang 39

luôn tơi xốp thoáng khí Vì vậy luân canh làm cho tính chất lý học được điềuhoà, các đặc tính của đất được cải thiện Nhiều loại cây nhất là cây bộ đậu, câyphân xanh có tác dụng bồi dưỡng đất làm cho đất ngày càng màu mỡ, cần bố trícác cây này trong hệ thống luân canh.

Ngay một số đất có đặc tính xấu như đất mặn, đất chua, đất phèn thông qualuân canh (cói bãi-lúa chăm-cói đồng) cũng có tác dụng cải tạo đất

- Chống xói mòn bảo vệ đất: Những vùng đất dốc thuộc vùng đồi núi thường xóimòn nghiêm trọng, độ phì đất giảm nhanh, năng suất cây trồng ngày càng thấp.Nếu trồng cây hàng năm đất lại càng dễ bị xói mòn cho nên chỉ gieo trồng được2-4 năm rồi bỏ hoá để khôi phục độ phì từ 20-30 năm Ở miền Tây Bắc nước tahàng năm đất bị xói mòn từ 250-400 tấn/ha, do đó năng suất cây trồng giảm rấtnhanh

- Phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại: Sâu bệnh hại cây trồng thường có tính chất

chuyên tính, tức là thường hại một loại cây trồng Do đó khi luân canh nhiều loạicây trồng trong một năm sẽ làm cho nguồn thức ăn và môi trường sống của sâubệnh bị gián đoạn dẫn đến chúng sẽ bị tiêu diệt

Bên canh đó khi tiến hành luân canh những loại cây trồng có môi trường sốngkhác nhau cũng làm mật độ sâu bệnh giảm đi rất nhiều do môi trường sống củachúng bị thay đổi Hình thức này thường được tiến hành khi luân canh giữa câytrồng nước và cây trồng cạn, ví dụ tại một số vùng vào vụ đông xuân thườngtháo cạn nước để trồng các cây trồng màu và cây công nghiệp, đến vụ mùa thìlại tháo nước vào để cấy lúa

Sâu bệnh bao gồm nấm, vi khuẩn và cả trứng sâu tồn tại trong đất khi chuyển từmôi trường cạn sang môi trường ngập nước sẽ bị tiêu diệt

Ví dụ: Cây họ cà (khoai tây, cà chua, thuộc lá, cà bát ) bị bệnh sương mai pháhại nặng Bào tử nấm bệnh tồn tại trong đất trong thời gian dài (3 năm hoặchơn) Nếu luân canh với lúa, cây lúa không bị bệnh hại, lúa lại sống trong điềukiện tưới ngập làm cho bệnh hại giảm nhiều

Cây lúa luân canh với các cây trồng cạn đều có tác dụng tốt về mặt phòng ngừasâu bệnh của cả hai loại cây, ngoài ra còn làm giảm một số bệnh sinh lý của lúanhư nghẹt rễ, yếm khí

Nhiều loại cây trồng lại có tác dụng đối kháng với một số sâu bệnh hại cây khác.Những cây trồng dễ nhiễm sâu bệnh, những vùng dễ có dịch hại cây trồng, tácdụng của luân canh cây trồng lại càng rõ rệt

- Điều tiết hoạt động của vi sinh vật trong đất: Mỗi loại cây trồng cùng với cácbiện pháp kỹ thuật thích hợp đã tạo điều kiện cho sự sinh trưởng, phát triển vàhoạt động của một quần thể sinh vật đất phù hợp Cây trồng cạn phù hợp với cácloại vi sinh vật háo khí hoạt động, có tác dụng làm tăng sự phân huỷ các chấthữu cơ trong đất Cây trồng nước lại phù hợp với quần thể vi sinh vật yếm khíthường tạo ra các chất độc cho đất Cho nên luân canh cây trồng cạn với câytrồng nước cũng dẫn đến làm thay đổi hệ vi sinh vật đất

Một số cây trồng lại có thể tiết ra các chất hữu cơ, hoặc sự phân giải tàn dư củacây trồng lại có tác dụng ức chế kìm hãm hoặc kích thích hệ vi sinh vật của câytrồng khác

Ví dụ trồng ngô làm tăng sự hoạt động của vi khuẩn cố định đạm hệ rễ cây bộ

Trang 40

đậu Lúa mì ức chế vi khuẩn cố định đạm yếm khí

- Tăng năng suất cây trồng và tăng tổng sản lượng nông nghiệp một cách liêntục Chế độ luân canh hợp lý đòi hỏi cơ cấu cây trồng ở mỗi vùng phải đượcnghiên cứu kỹ, nghĩa là thành phần cây trồng được chon lọc và bố trí ăn khớpvới điều kiện cụ thể của vùng, tỷ lệ cây trồng được xác định thoả đáng, từng loạicây trồng được bố trí trên địa bàn rất thích hợp Tuần tự luân phiên giữa các loạicây trồng cũng được bố trí ăn khớp giữa cây trồng trước và sau, tạo nên mộtquan hệ hữu cơ, phát huy sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các loại cây trồng, từ đó tạođiều kiện nâng cao năng suất đồng thời của cả hệ thống cây trồng trong vùng

Do thành phần cây trồng và sự bố trí địa bàn từng loại cây thích hợp làm cho đấtcàng trồng càng tốt, năng suất cây trồng sẽ tăng liên tục

Cơ sở sản lượng của hệ canh tác là sự phát triển của cây trồng Sự phát triển củacây trồng phụ thuộc vào điều kiện môi trường và công tác quản lý Sự phát triểncủa cây trồng và năng suất cây trồng có thể coi là kết quả của hai véctơ nhiềuthứ nguyên: véctơ môi trường (E) và véctơ quản lý (M) Như vậy năng suất củacây trồng được tính theo công thức:

Y = f(M, E)

Đối với mỗi vùng tình hình phân phối tài nguyên (chất lượng đất, canh tác,nước, khả năng giao lưu, tín dụng thị trường) và điều kiện môi trường khôngthống nhất Cho nên ở mỗi vùng cần xác định chế độ luân canh phù hợp Chế độluân canh phù hợp có tác dụng nâng cao năng suất từng cây trồng nói riêng vàtổng sản lượng nông nghiệp nói chung Bởi vì chế độ luân canh chính xác khôngnhững lợi dụng tốt nhất các yếu tố và điều kiện thiên nhiên của môi trường màcòn phát huy vai trò của các yếu tố quản lý

cây trồng như chọn giống, gieo trồng chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, bón phân,làm cỏ và thu hoạch

Ví dụ: Ơ nước ta các địa phương đều cho thấy lúa xuân luân canh với cây vụđông cho năng suất cao và ổn định hơn chỉ cấy hai vụ lúa (lúa xuân và lúa mùa)

- Điều hoà lao động và sự sử dụng các vật tư kỹ thuật khác: Một trong nhữngđặc điểm của sản xuất nông nghiệp là thời vụ khẩn trương Mỗi loại cây trồngđòi hỏi phải gieo trồng, chăm sóc trong khoảng thời gian nhất định cho nên laođộng, các vật tư phục vụ nông nghiệp như máy móc, công cụ, phân bón cũngphải tập trung trong thời gian ngắn

Ví dụ cấy hai vụ lúa (xuân và mùa), thời vụ gieo trồng chủ yếu là tháng 2 vàtháng 7 hàng năm, thời vụ thu hoạch là tháng 6 và tháng 11 Trong thời vụ gieotrồng và thu hoạch rất căng thẳng về lao động và vật tư, kỹ thuật Song nếu cóchế độ luân canh chính xác, nhiều loại cây trồng được bố trí trong luân canh cóthời vụ gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch khác nhau làm cho tình trạng lao động

và sử dụng vật tư nông nghiệp được điều hoà trong các tháng Trong luân canhnếu bố trí nhịp nhàng giữa tăng vụ chuyển vụ, rải vụ sẽ có tác dụng rất lớn trongviệc điều hoà lao động cũng như sử dụng vật tư nông nghiệp tạo điều kiện nângcao hiệu quả kinh tế, hiệu quả sử dụng, năng suất lao động của lao động và cácvật tư kỹ thuật

2.3 Vị trí của các nhóm cây trồng trong luân canh.

Một vấn đề quan trọng trong xây dựng chế độ luân canh là phải xác định đúng vị

Ngày đăng: 25/10/2022, 10:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lý Nhạc, Dương Hữu Tuyền, Phùng Đăng Trinh - Giáo trình Canh tác học - Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, 1987 Khác
2. Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, Canh tác bền vững trên đất dốc ở Việt Nam.NXB Nông nghiệp, Hà Nội.1998 Khác
3. Phùng Đăng Chinh, Lê Trường - Cỏ dại và biện pháp phòng trừ. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
4. Hà Thị Hiến - Cỏ dại và biện pháp phòng trừ. Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, 2001 Khác
5. Ngô Duy Đông - Nhưng kinh nghiệm thâm canh tăng vụ. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội, 1987 Khác
6. Bùi Huy Đáp - Về cơ cấu nông nghiệp Việt Nam. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội 1983 Khác
7. Lý Nhạc - Phương pháp xây dựng chế độ luân canh. Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội, 1980 Khác
8. Nguyễn Mạnh Chính, Mai Thành Phụng, Cỏ dại trong ruộng lúa và biện pháp phòng trừ, NXB Nông Nghiệp, 2000 Khác
9. Phạm Văn Lâm, Biện pháp canh tác phòng chống sâu bệnh và cỏ dại trong nông nghiệp. NXB Nông nghiệp 1999 Khác
10. Nguyễn Xuân Quát, Sử dụng đất nông nghiệp tổng hợp và bền vững, NXB Nông Nghiệp 1996 Khác
11. Đào Thế Tuấn, Cơ sở khoa học của việc xác định cơ cấu cây trồng, NXB Nông nghiệp 1977 Khác
12. Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Canh tác đất dốc bền vững, NXB Nông Nghiệp, 2006 Khác
13. Trần Danh Thìn, Nguyễn Hữu Trí, Hệ thống phát triển nông nghiệp bền vững. NXB Nông nghiệp, 2006 Khác
14.Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, Sử dụng bền vững đất miền núi vè vùng núi cao ở Việt Nam, NXB Nông Nghiệp 2002 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w