TÁC PHẨM TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH BÀI 1 TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH I KIẾN THỨC CƠ BẢN 1 Hoàn cảnh sáng tác 1 1 Trên thế giới Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Hồng quân Liên Xô tấn c.
Trang 1BÀI 1: TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH
- 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình ( Hà Nội), Chủ Tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính Phủ lâm
thời nuớc Việt Nam dân chủ cộng hoà , đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước hàng vạn đồng bào,
khai sinh ra nước VN mới
=> Như vậy:
- Tuyên ngôn Độc lập ra đời giáng một đòn tâm lý mạnh mẽ vào những thế lực muốn xâm lược
Việt Nam, đồng thời muốn tuyên bố với toàn thể thế giới quyền độc lập tự do bình đẳng củangười dân Việt Nam, khẳng định ý chí sắt đá của toàn thể dân tộc Việt Nam quyết bảo vệ nền độclập tự do của mình, không cho phép bất kì kẻ thù nào đặt chân lên lãnh địa của dân tộc Việt Nam
- Bản Tuyên ngôn Độc lập được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ ba của dân tộc Việt Nam, có
sự tiếp nối, nâng cao của dòng chảy lịch sử dân tộc trong thời đại mới Bản tuyên ngôn không chỉgiải quyết được yêu cầu độc lập cho dân tộc như hai bản tuyên ngôn trong thời kỳ phong kiến:
Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và Bình Ngô đại Cáo của Nguyễn Trãi mà còn giải quyết
thêm một yêu cầu hết sức quan trọng là dân chủ cho nhân dân
2 Mục đích sáng tác
+ Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủCộng hòa trước quốc dân đồng bào và thế giới
+ Vạch trần và bác bỏ luận điệu xảo trá của thực dân Pháp trước dư luận quốc tế
+ Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới đối với cách mạng Việt Nam.Thể hiện lập trường nhân đạo, chính nghĩa, nguyện vọng hòa bình cũng như tinh thần quyết tâmbảo vệ độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam
3 Đối tượng
- Hồ Chí Minh viết cho đồng bào cả nước và nhân dân thế giới
- Bản Tuyên ngôn Độc lập còn hướng tới bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp, những kẻ đang có âm mưu
xâm lược Việt Nam
4 Giá trị của bản tuyên ngôn
4.1 Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện lịch sử vô giá (giá trị lịch sử)
* Đối với trong nước
+ Tuyên ngôn Độc lập không chỉ báo hiệu sự chấm dứt ách thống trị hàng ngàn năm phong kiến,
ách thống trị ngót trăm năm của thực dân, sự sụp đổ của chế độ phát xít tàn bạo mà còn khẳngđịnh sự ra đời của một chế độ hoàn toàn mới: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỉ nguyênđộc lập cho toàn thể dân tộc, tự do cho những người lao động bị áp bức
+ Nói cách khác, với Tuyên ngôn Độc lập: thiên trường hận của dân tộc Việt Nam chấm dứt, thiên
trường ca hạnh phúc của dân tộc Việt Nam bắt đầu
* Đối với quốc tế
Trang 2+ Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định tư thế độc lập và tư cách bình đẳng của nước Việt Nam mới
- Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, buộc công luận quốc tế phải chấp nhận
+ Tuyên ngôn Độc lập còn là tiếng súng khởi đầu cổ vũ, báo hiệu sự thức tỉnh của các dân tộc bị
áp bức, sự sụp đổ tất yếu không gì cưỡng lại được của chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương nóiriêng và thế giới nói chung
4.2 Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực (giá trị văn học)
* Giá trị nội dung
- Tuyên ngôn Độc lập chan chứa lòng yêu nước và tự hào dân tộc sâu sắc:
+ Bản tuyên ngôn khẳng định, đòi quyền độc lập tự do, dân chủ cho đất nước
+ Là bản cáo trạng đanh thép về tội ác man dợ vô nhân đạo của thực dân Pháp ngót một thế kỷ ápbức đồng bào ta, đất nước ta
+ Ca ngợi tinh thần nhân ái, đức hòa hiếu của con người Việt Nam
+ Nêu cao ngọn cờ quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc Dù phải hy sinh tất cả tinh thần, lực lượng,tính mạng và của cải cũng nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ
- Bản Tuyên ngôn Độc lập của Bác còn là tác phẩm chứa đựng giá trị nhân văn cao đẹp, không
trực tiếp nói về vấn đề nhân quyền nhưng vấn đề nhân quyền vẫn được đặt ra trong bản tuyênngôn Ở một đất nước thuộc địa như Việt Nam muốn thực hiện quyền của con người thì trước hếtphải giành quyền độc lập dân tộc Với nhiệt tình đòi tự do độc lập cho dân tộc Việt Nam, đòiquyền bình đẳng cho các dân tộc trên thế giới, không kể da trắng, da đen hay da vàng là mongước lớn lao của Hồ Chí Minh Hướng tới một xã hội công bằng dân chủ, văn minh Đó là chiềusâu tư tưởng nhân văn cao đẹp của Người
* Giá trị nghệ thuật
- Là áng văn chính luận mẫu mực, cô đọng Mỗi câu, mỗi chữ đều hàm chứa suy tư, cảm xúc của
một con người suốt đời đấu tranh vì độc lập dân tộc và tự do của con người, của nhân loại
- Hệ thống luận cứ, luận chứng chân thực và chính xác, giàu sức thuyết phục, đa dạng về giọngđiệu: đanh thép khi đối thoại với quân thù, mềm mỏng khi đối thoại với thế giới tiến bộ và thathiết khi nói với đồng bào, đồng chí
- Kết cấu chặt chẽ khoa học mà vẫn linh hoạt, nhịp nhàng, phù hợp với cảm xúc đó là sự kết hợptuyệt diệu giữa lý trí sáng suốt với tấm lòng yêu nước nồng nàn
+ Đoạn 2: (từ “thế mà” đến “lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà”): Tố cáo tội ác của thực dân
Pháp và khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước ViệtNam Dân chủ Cộng hoà
+ Đoạn 3 (còn lại): Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập, tự do của dântộc
6 Thể loại: Văn chính luận
- Hồ Chí Minh chọn thể loại này vì văn phong phù hợp với tính chất trang trọng, trang nghiêmcủa bản tuyên ngôn
- Văn chính luận của Hồ Chí Minh luôn gắn lí luận với thực tiễn, lập luận chặt chẽ, logic; lí lẽmạch lạc, bằng chứng xác đáng; giọng văn hùng hồn, giàu tính luận chiến; chất trí tuệ uyên thâm
và giàu cảm xúc, có sức thuyết phục cao
=> Tuyên ngôn Độc lập mang đầy đủ những đặc điểm này của văn chính luận Hồ Chí Minh
7 Nội dung tác phẩm
7.1 Phần 1: Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn
Trang 3- Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn từ hai bản tuyên ngôn của người
Pháp và người Mĩ
+ Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo
hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được Trong những quyền ấy có quyền đượcsống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”
+ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền cách mạng Pháp 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình
đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”
=> Đó là những danh ngôn, là những chân lý lớn của nhân loại “không ai có thể chối cãi được”
Đó lại là tư tưởng lớn của chính tổ tiên người Mĩ, người Pháp, không có lý gì người Mĩ ngườiPháp lại dám phản bội lại tổ tiên của mình
- Hồ Chí Minh đã từng nói “Đối với kẻ địch, chúng ta phải khôn khéo và kiên quyết” Việc trích
dẫn danh ngôn của người Mĩ, người Pháp để mở đầu cho Tuyên ngôn Độc lập của ta là một lập luận vừa kiên quyết vừa khôn khéo Có thể coi đó là sách lược “gậy ông đập lưng ông” rất đích
đáng của Hồ Chí Minh (dùng chính lý lẽ của đối phương để đập lại đối phương)
- Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn còn có ý nghĩa Bác đã đặt ba cuộc cách mạng của nhân loạingang bằng nhau, trong đó cách mạng Việt Nam cùng lúc thực hiện hai nhiệm vụ của người Mĩ
và người Pháp Điều này bản Tuyên ngôn Độc lập đã nêu rõ ở phần sau:
+ “Dân tộc ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước ViệtNam độc lập” Đó là nhiệm vụ của cách mạng Mĩ
+ “Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủng mấy mươi thế kỷ để lập nên nước Việt Nam dân chủcộng hòa” Đó là nhiệm vụ của cách mạng Pháp
=> Bác coi ba dân tộc ngang bằng nhau vì vậy bản tuyên ngôn cũng có ý nghĩa như nhau Nhưthế niềm tự hào dân tộc được gửi gắm một cách kín đáo
- Từ vấn đề nhân quyền, vấn đề quyền cá nhân đặt ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập của người
Mĩ, Bác đã suy rộng ra vấn đề quyền dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình
đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”
=> Đây là một đóng góp lớn về tư tưởng của Người đối với phong trào giải phóng dân tộc trênthế giới sẽ được phát triển mạnh mẽ ở nửa sau của thế kỷ XX
7.2 Phần hai: Cơ sở thực tế của bản tuyên ngôn
a Bác đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp đối với đất nước ta thực chất đây cũng là cuộc tranh luận gầm với những luận điệu của bọn thực dân Pháp
* Pháp kể công “khai hóa” thì bản Tuyên ngôn Độc lập đã kể tội chúng:
- Về chính trị:
+ Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào
+ Chúng thi hành những luật pháp dã man, chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc đểngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, ngăn cản dân tộc ta đoàn kết
+ Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng giết những người yêu nước thương nòi củata
- Về kinh tế:
+ Chúng bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy
+ Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu
+ Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng, nhập cảng
+ Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí
+ Chúng không cho những nhà tư sản ta ngóc đầu lên
+ Chúng bóc lột nhân dân ta một cách vô cùng tàn nhẫn
=> Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp là gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945 đã giết hơn haitriệu đồng bào ta từ Quảng Trị đến Bắc Kì
* Pháp kể công bảo hộ thì bản tuyên ngôn đã lên án chúng “trong 5 năm chúng đã bán nước ta
hai lần cho Nhật”
Trang 4* Thực dân Pháp khẳng định Đông Dương là thuộc địa của chúng thì bản Tuyên ngôn Độc lập đã
chỉ rõ:
- “Sự thật là từ mùa thu 1940 nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải là thuộc địa
của Pháp nữa”
- “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”
* Pháp nhân danh đồng minh tuyên bố đã thắng Nhật vậy chúng có quyền lấy lại Đông Dương thì
bản Tuyên ngôn Độc lập vạch rõ: chúng là kẻ phản bội đồng minh, đã hai lần dâng Đông Dương cho Nhật, bản Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định chỉ có việt minh (Việt Nam độc lập đồng minh
hội) mới thực sự thuộc phe đồng minh vì đã đứng lên đánh Nhật giải phóng Đông Dương
* Ngoài ra, bản Tuyên ngôn Độc lập còn lên án tội ác dã man và tư cách đê hèn của bọn thực dân
Pháp:
- Khi thua chạy chúng đã nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng
- Ngược lại Việt Minh đã tỏ rõ lòng nhân đạo giúp cho nhiều người Pháp chạy ra biên thùy, cứucho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam của Nhật bảo vệ tính mạng và tài sản của họ
b Tuyên bố:
- Thoát ly hẳn mọi quan hệ với thực dân Pháp
- Xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam
- Xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam
Bày tỏ: Quyết tâm chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp Bày tỏ niềm tin với Đồng minh.
=> Tất cả những lý lẽ và bằng chứng trên đã dẫn đến kết luận: “Một dân tộc đã gan góc chốngách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phátxít mấy năm nay dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”
7.3 Phần ba: Thể hiện rõ quyết tâm bảo vệ độc lập tự do đã giành được
- Tiếp tục lời tuyên bố và khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và tuyên
bố một cách công khai sự thật là đã thành một nước tự do và độc lập”
- Người bày tỏ quyết tâm như một lời kêu gọi: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinhthần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền độc lập và tự do ấy”
8 Nghệ thuật bản tuyên ngôn
* Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực, ngắn gọn, giản dị mà súc tích, trong
sáng mà đanh thép, sắc sảo
- Ngắn gọn, giản dị mà súc tích: thể hiện một nội dung lớn diễn ra trong một thời gian dài gần
một thế kỷ, nhưng tác giả cô đọng lại trong vài ba trang giấy, từ ngữ mà Bác sử dụng đọc lên làhiểu ngay Đối với những câu dài có cấu trúc phức tạp Bác đã tìm cách diễn đạt thật ngắn gọn,các câu ngắn thì lại giàu ý tứ
- Trong sáng: trong sáng được thể hiện ở cách dùng từ, đặt câu tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn
mực của tiếng Việt Trong sáng về tư tưởng tình cảm, thái độ rõ ràng yêu gét phân minh trên lậptrường chính nghĩa
- Đanh thép, sắc sảo: thể hiện tính chiến đấu không khoan nhượng, thái độ dứt khoát, thể hiện
bản lĩnh vững vàng, kiên cường Sắc sảo ở trí tuệ, ở lối lập luận sắc bén
* Bố cục: chặt chẽ sáng rõ, ở mỗi phần đều có luận điểm chính được triển khai bằng cách lập
luận độc đáo, lý lẽ đanh thép, bằng chứng hùng hồn, cách đặt câu hết sức linh hoạt
* Bút pháp: có sự kết hợp hài hòa giữa lý trí và cảm xúc khi viết văn nghị luận.
Là áng văn chính luận mẫu mực, Tuyên ngôn Độc lập thể hiện rõ phong cách nghệ thuật trong
văn chính luận của Bác:
- Lập luận: chặt chẽ, thống nhất từ đầu đến cuối (dựa trên lập trường quyền lợi tối cao của cácdân tộc)
- Lí lẽ: xuất phát từ tình yêu công lí, thái độ tôn trọng sự thật, dựa vào lẽ phải và chính nghĩa củadân tộc
- Dẫn chứng: xác thực, lấy ra từ sự thật lịch sử
- Ngôn ngữ: đanh thép, hùng hồn, chan chứa tình cảm, cách xưng hô bộc lộ tình cảm gần gũi
Trang 5- Tình cảm: Lòng yêu nước thương dân nồng nàn, sâu sắc.
=> Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh vừa có giá trị lịch sử lớn lao, vừa xứng đáng là áng
“thiên cổ hùng văn” trong thời đại ngày nay.
BÀI 2: TÂY TIẾN
Đề 1: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
…Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
A Mở bài
* Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:
- Quang Dũng là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam thờichống Pháp (1946- 1954) - Ông là người nghệ sĩ đa tài: ông vẽ tranh, sáng tác nhạc, viết văn làmthơ nhưng người đọc biết đên nhiều hơn về Quang Dũng với tư cách một nhà thơ xứ Đoài lãngmạn tài hoa “Tây Tiến” là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Quang Dũng
* Nêu vấn đề cần nghị luận:
- Qua thi phẩm, Quang Dũng đã khắc họa được cảnh thiên nhiên và con người Tây Bắc đặc biệt
là đoạn thơ sau:
- Trích đoạn thơ
B Thân bài
1 Khái quát chung:
- Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1948 Quang Dũng đi dự đại hội toàn chiến sĩ thi đua toàn quân tại
Phù Lưu Chanh, nhớ về đồng đội ông đã viết bài thơ này Bài thơ lúc đầu có nhan đề là "Nhớ Tây Tiến" Sau đởi lại là "Tây Tiến" in trong tập "Mây đầu ô".
- Nội dung chính: Bài thơ được cấu trúc theo diễn biến tự nhiên của nỗi nhớ Nhớ về Tây Tiến,
nhà thơ Quang Dũng nhớ về thiên nhiên miền Tây Bắc với những vùng đất mình đã đi qua trênnhững con đường hành quân gian khổ, nhớ về sông nước miền Tây và những kỉ niệm đẹp đẽ củađời chiến binh, rồi từ đó mới nhớ về người lính Tây Tiến - những đồng chí, đồng đội của mộtthời
2 Dẫn dắt:
- Vị trí và nội dung đoạn thơ này: Đoạn thơ mở đầu của bài thơ là nỗi nhớ của tác giả về thiên
nhiên núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ, vừa mĩ lệ; hình ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đườnghành quân gian khổ mang vẻ đẹp lãng mạn, bi tráng
3 Phân tích
a Hai câu thơ đầu: Nỗi nhớ được diễn tả khái quát, nỗi nhớ thấm đẫm thời gian và không gian
- Nỗi nhớ bật lên thành tiếng gọi: Có thể nói cả bài thơ là nỗi nhớ trải dài, nỗi nhớ có khi lắngxuống tầng sâu trong tâm hồn nhưng cũng có khi bật lên thành tiếng gọi tha thiết:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
- Đối tượng của nỗi nhớ: Sông Mã, Tây Tiến, rừng núi
+ Sông Mã: là con sông từ thượng Lào chảy vào đất Việt Dòng sông ấy đã gắn bó vớiđoàn quân Tây Tiến, chứng kiến những vui, buồn trong cuộc đời người lính chiến binh Vì thế,Quang Dũng nhớ về đoàn quân Tây Tiến nhà thơ còn nhớ về dòng sông Mã thân thuộc, hơn thếnữa có thể đây còn là dòng sông tâm trạng, dòng sông chở nặng cảm xúc, nỗi niềm đầy vơi tronglòng thi nhân
+ Rừng núi: là hình ảnh khái quát về địa bàn hoạt động của người lính Tây Tiến Đó là nơirừng núi hoang vu, rậm rạp, địa hình hiểm trở,
+ Tây Tiến: là một đơn vị thành lập đầu năm 1947, Quang Dũng có mặt tại đơn vị ngay từnhững ngày đầu mới thành lập nên nhà thơ có sự gắn bó sâu sắc với đồng đội của mình
Trang 6- Nỗi nhớ của tác giả được thể hiện sâu sắc:
+ Câu thơ như một tiếng thở dài: Sông Mã xa rồi, lại cũng như một tiếng gọi: Tây Tiến ơi!.
Nỗi nhớ có cái gì đó khắc khoải, thể hiện sự tiếc nuối, trạng thái hụt hẫng cùng với khát vọng trở
về quá khứ thân thương mà hào hùng thuở nào, đó là sông Mã, là Tây Tiến
+ Điệp từ nhớ: diễn tả nỗi nhớ cháy bỏng, không nguôi cứ tuôn chảy dào dạt trong lòng thi
nhân, nhớ đến thổn thức, bồi hồi Hai từ nhớ được đặt trong cùng một câu thơ nhưng lại tách ralàm hai vế khiến cho nỗi nhớ như được tô đậm thêm cảm xúc Nỗi nhớ dào dạt như những lớp
sóng dâng trào mãnh liệt trong lòng thi nhân: Nhớ về rừng núi/ nhớ chơi vơi.
+ Nỗi nhớ của nhà thơ thật điển hình, đặc sắc: nhớ chơi vơi Hai từ chơi vơi là hai từ giàu sức gợi,
từng được dùng để diễn tả tâm trạng của con người Văn học viết về nỗi nhớ rất phong phú:
Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi Như đứng đống lửa, như ngồi đống than.
Nỗi nhớ của Quang Dũng thật khó định hình, định lượng, khó diễn tả, như gợi ra được cả
sự xa xôi về thời gian, không gian, nỗi nhớ như có cả tầm cao, bồng bềnh lan tỏa, không sao đongđếm được
+ Nỗi nhớ da diết, cháy bỏng, vang vọng: Quang Dũng sử dụng hai chữ chơi vơi kết hợp với sự láy lại ba lần của âm ơi (ơi, chơi vơi), đây là ba âm mở có kết cấu thanh bằng mang âm
hưởng vang vọng lan tỏa khiến cho nỗi nhớ như được ngân lên, nhớ đến thiết tha, thường trựctrong tâm hồn nhà thơ, cả không gian dường như cũng ngập tràn trong nỗi nhớ của tác giả
b Sáu câu thơ tiếp: Nỗi nhớ về thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, thơ mộng trên chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến
* Dẫn dắt:
Nỗi nhớ dắt nẻo nhà thơ trở về với những kỉ niệm khó quên gắn với thiên nhiên miền Tây, làmhiện lên một không gian, cảnh vật miền Tây dữ dội, hiểm trở mà hùng vĩ song cũng thật nên thơ,thi vị
* Nỗi nhớ gắn với những địa danh khó quên:
- Trong nỗi nhớ của Quang Dũng có nhiều địa danh xuất hiện như: Sài Khao, Mường Lát, nhữngđịa danh này vừa mang ý nghĩa cụ thể, vừa mang ý nghĩa tượng trưng khái quát
- Đây là những địa danh, tên những vùng đất mà người lính Tây Tiến đi qua, từng gắn bó Dườngnhư chỉ cần nhắc lại những địa danh ấy thôi là biết bao kỉ niệm của quá khứ lại ào ạt chảy vềtrong tâm trí nhà thơ
- Mặt khác, những địa danh này còn mang ý nghĩa khái quát, nó tượng trưng cho một không gianrất riêng của Tây Bắc xa xôi, lạ lẫm, hoang dã, bí ẩn
=> Những địa danh được nhà thơ nhắc đến không phải là những địa danh vô nghĩa trên bản đồ
mà đoàn quân Tây Tiến một thời đã đi qua mà nó đã tái hiện lại một thời kì lịch sử hào hùng củadân tộc với biết bao khó khăn, gian khổ:
Những tên làng, tên núi, tên sông Những cái tên đọc lên nghe muốn khóc.
* Bức tranh thiên nhiên vừa hiện thực, vừa lãng mạn:
- Hiện thực: núi rừng Tây Bắc hiện ra trong mờ ảo khói sương, sương dày như muốn che lấp cả
đoàn quân mỏi Hai chữ sương lấp cùng chữ mỏi đưa người đọc trở về với cuộc sống hiện thực
khốc liệt của người lính Sương núi lạnh giá cắt da, cắt thịt như muốn nhấn chìm đoàn quân
- Lãng mạn: tác giả viết hoa về chứ không phải là hoa nở, đêm hơi chứ không phải là đêm sương
khiến cho câu thơ thêm phần lãng mạn Sương núi bồng bềnh trong đêm tạo nên sự huyền ảo, mơ
hồ Đặc biệt hơn nữa là hình ảnh hoa về đã đem đến cho người đọc nhiều suy ngẫm, có thể hiểu
trong sự cảm nhận lãng mạn của người lính thì sương khói ở Mường Lát lúc tụ vào, lúc tan ratrông như những bông hoa khói vậy Cũng có thể, những người lính Tây Tiến trên đường hànhquân trở về Mường Lát họ mang theo những đóa hoa rừng ngát hương thơm, hoa đang cùng bung
nở trên chặng đường hành quân của người lính Tây Tiến, là người bạn đồng hành của người lính.Đây là những bông hoa thực, hoa hiện ra mờ ảo trong sương khói bồng bềnh Một trong những ý
Trang 7nghĩa mà ta không thể phủ nhận được là do hành quân trong đêm, đường lại nhiều đèo, lắm dốc,khúc khuỷu, gập ghềnh đầy hiểm nguy nên những người lính Tây Tiến đã phải đốt đuốc trongđêm Những ngọn đuốc soi sáng bước đường hành quân gian khổ ấy, đẹp lung linh như bông hoagiữa khói sương mờ ảo?
=> Dù hiểu theo cách nào, người đọc vẫn cảm nhận được những khó khăn, gian khổ mà ngườilính Tây Tiến đã phải trải qua để ta hiểu về hiện thực khốc liệt của chiến tranh để thêm cảm phục,thêm yêu vẻ đẹp tâm hồn của những người lính trẻ mộng mơ Những hình ảnh ấy khiến cho đoạnthơ bớt đi sự dữ dằn của hiện thực, người đọc có cảm giác như được xoa dịu, vơi đi những nhọcnhằn, vất vả mà người lính Tây Tiến phải chịu đựng
=> Trong hai câu thơ trên, tác giả vừa sử dụng hình ảnh gân guốc, vừa sử dụng hình ảnh thơmộng, đẹp đẽ kết hợp với nghệ thuật tiểu đối đã làm nổi bật hai vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắcvừa dữ dội, vừa nên thơ, đồng thời cũng làm nổi bật hai khía cạnh trong cuộc đời chiến đấu củangười lính Tây Tiến vừa gian khổ, vừa lãng mạn, yêu đời
* Chặng đường hành quân gian khổ của người lính Tây Tiến:
Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
- Tác giả sử dụng từ láy có giá trị tạo hình cao:
Trong hai câu thơ đầu, Quang Dũng sử dụng những từ láy (khúc kkuỷu, thăm thẳm, heo hút) đạtgiá trị biểu cảm cao, chúng lại được đặt liên tiếp nhau để đặc tả sự gian nan trùng điệp
+ Dốc khúc khuỷu vì đường đi là núi đèo hiểm trở, gập ghềnh, vừa lên cao đã vội đổ dốc,
cứ thế gấp khúc nối tiếp nhau -> độ cao ngất trời
+ Dốc thăm thẳm: không chỉ đo chiều cao mà còn là ấn tượng về độ sâu, cảm giác như hút
tầm mắt người, không biết đầu là giới hạn cuối cùng -> Độ sâu hun hút
+ Điệp từ dốc được nhắc đến liên tiếp hai lần trong một câu thơ, tách ra ở hai vế gợi ra một
địa hình hiểm trở chỉ có dốc là dốc cao và sâu Người đọc có cảm giác người lính vừa vượt quacon dốc này lại thấy hiện ra những con dốc khác ngay trước mặt mình
+ Heo hút cồn mây: heo hút gợi ra sự vắng vẻ, hiu quạnh, nghệ thuật đảo ngữ càng nhấn
mạnh điều đó Cồn mây là mây tụ lại, xếp tầng, hình ảnh thơ gợi ra vị trí của người lính Tây Tiếnđứng trong mây, trên đỉnh núi cao vời vợi Như vậy, dẫu câu thơ không nhắc đến sự khó khănnhưng người đọc vẫn hình dung ra chặng đường hành quân leo dốc, vượt đèo mà người lính phảitrải qua
=> Quang Dũng đã mở ra không gian ba chiều khiến hình ảnh thơ được chạm nổi thành một bứcphù điêu hùng vĩ về núi rừng Tây Bắc khiến người đọc liên tưởng đến chặng đường hành quâncủa người chinh phu trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm:
Hình khe thế núi gần xa Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
- Nghệ thuật nhân hóa: Súng ngửi trời
+ Trước hết, đây là một hình ảnh xuất phát từ cảm xúc trước hiện thực, những người línhTây Tiến hành quân trong mây mà tưởng như nòng súng chạm tới đỉnh trời
+ Đây là một hình ảnh đẹp, lạ và táo bạo làm rõ vẻ đẹp hào hùng, hào hoa của người línhTây Tiến
Hào hoa, lãng mạn: Tác giả không nói súng chạm trời mà là súng ngửi trời Hình ảnh thơmang nhiều ý nghĩa biểu tượng giúp người đọc phát hiện ra vẻ đẹp tâm hồn hào hoa, lãng mạncủa người lính Tây Tiến Tác giả sử dụng nghệ thuật nhân hóa khiến cho những vật vô tri, vô giáccũng trở nên có linh hồn sống động hơn Người lính đang tếu táo, đùa vui trêu ghẹo cả tạo hóa.Câu thơ khiến người đọc liên tưởng đến hình ảnh thơ mộng trong bài thơ Đồng chí của ChínhHữu: Đầu súng trăng treo, tâm hồn trẻ trung, sôi nổi, lạc quan của người lính lái xe trong Bài thơ
về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
Trang 8Hào hùng: Quang Dũng không nói đến người lính mà ta vẫn thấy người lính, không nóinúi cao mà ta vẫn thấy núi rất cao Chữ ngửi vẽ ra hình ảnh người lính đang ở tư thế chót vót trênđỉnh núi, đi giữa ngàn mây, nòng súng đang chạm vào vòm trời Điều đó cho thấy sự hùng vĩ củathiên nhiên Tây Bắc và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến Vẻ đẹp của con người trong tư thế sánhngang trời đất, làm chủ hoàn cảnh Vẻ đẹp của người lính Tây Tiến được tỏa sáng giữa đất trờiTây Bắc mang vẻ đẹp sử thi của văn học giai đoạn 1945 - 1975 Đó là vẻ đẹp tiêu biểu của ngườilính trong văn học chống Pháp:
Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo.(Lên Tây Bắc - Tố Hữu)
- Nghệ thuật đối lập: Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.
Thiên nhiên Tây Bắc dường như luôn luôn có ý định thử thách lòng người Tác giả sử dụng nghệthuật đối lập cùng cách ngắt nhịp 4/3, kết hợp với điệp từ ngàn thước với hai động từ chỉ hướnglên, xuống khiến cho câu thơ như bị bẻ gãy làm đôi để miêu tả hai chiều không gian Tây Bắc vừa
có độ cao chót vót, vừa có độ sâu thăm thẳm Dốc đột ngột vút lên thẳng đứng rồi lại đột ngột gãygập đổ xuống một cách bất ngờ, nguy hiểm
- Tác giả sử dụng tài hoa thanh trắc kết hợp với thanh bằng:
+ Thanh trắc được sử dụng với mật độ dày đặc (liên tiếp ở ba câu thơ: Dốc lên khúckhuỷu ngàn thước xuống) đã vẽ nên những đường nét gân guốc, rắn rỏi về địa hình vùng caoTây Bắc hiểm trở, đó cũng là chặng đường hành quân vô cùng gian nan mà người lính Tây Tiếnphải trải qua
+ Thanh bằng được sử dụng nguyên văn trong một câu thơ: Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi đã tạo cho câu thơ những nét vẽ dịu mát Không gian được cảm nhận qua điểm nhìn của
người lính Tây Tiến khi người lính hành quân lên đến đỉnh núi phóng tầm mắt ra xa, dưới kia lànhững ngôi nhà bồng bềnh trong biển mưa Người đọc không còn thấy dấu vết của sự mệt mỏibởi phải vượt rừng, leo núi nữa, bây giờ là tâm trạng bâng khuâng, thư thái của con người khi
vượt lên đến đỉnh dốc, vượt qua biết bao gian lao, vất vả, thử thách để có được cảm giác Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non (Hồ Chí Minh)
=> Nhận xét: Bốn câu thơ có sự kết hợp hài hòa giữa các thanh điệu, quả đúng Quang Dũng làmột nghệ sĩ đa tài, ông có tài không chỉ về thơ ca mà còn cả âm nhạc và hội họa nữa Những câuthơ này thật xứng đáng là lời thơ Thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc Phải chăng vì thế màXuân Diệu cho rằng: Đọc thơ của Quang Dũng như ngậm nhạc ở trong miệng Trong những câuthơ này, Quang Dũng còn sử dụng nghệ thuật của thơ Đường vẽ mây nảy trăng khi nhà thơ tảcảnh núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, dữ dội để làm nổi bật lên hình ảnh người lính Tây Tiếntrên bước đường hành quân và chiến đấu đầy gian khổ, vất vả, hi sinh nhưng vẫn lạc quan hồnnhiên yêu đời, lãng mạn
c Sáu câu thơ cuối: Nỗi nhớ về người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ mang vẻ đẹp bi tráng (vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn)
- Hiện thực trên bước đường hành quân của người lính Tây Tiến:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục trên súng mũ bỏ quên đời!
+ Hai chữ anh bạn chứa đựng những tình cảm gắn bó giữa những người bạn thân thiết,
giữa những đồng chí, đây là cách nói thân thuộc, gần gũi
+ Hiện thực bi tráng được diễn tả qua những từ ngữ: Dãi dầu, gục Đó là những vất vả,
gian lao mà người lính Tây Tiến phải trải qua trên chặng đường hành quân gian khổ và quá trình
chiến đấu với quân thù Đặc biệt là chữ gục có nhiều cách hiểu: Có thể đó là sự mệt mỏi khiến
người lính ngủ gục trên súng mũ như muốn quên đi tất cả, có thể đây là cách nói giảm, nói tránhdiễn tả sự hi sinh của người lính vì Tổ quốc
Trang 9- Vẻ đẹp bi tráng của người lính: Quang Dũng vẫn tiếp tục sử dụng cách nói giảm, nói tránh khi
viết về vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến qua các cụm từ: không bước nữa, bỏ quên đời.
Chiến đấu và hi sinh đó là hiện thực khốc liệt của chiến tranh Nhà thơ Quang Dũng đã khôngngần ngại nói đến cái chết mặc dù câu thơ không có từ nào nói đến cái chết Hiệu quả của nghệthuật nói giảm nói tránh vừa gợi được tình thương, vừa gợi đựơc sự bình thản chứ không bi
lụy Tác giả không viết là ngủ quên đời mà là bỏ quên đời thì mới thật ngang tàng, bất cần.Với
cách nói này câu thơ có bi mà không có lụy, ngược lại hết sức hùng tráng gợi ra chất phong trần,ngang tàng của người lính mang vẻ đẹp của những tráng sĩ thuở xưa Người tráng sĩ xưa mang lítưởng anh hùng, quyết ra đi lập nên sự nghiệp lớn Chí lớn chưa thành thì không bao giờ nói trởlại Họ sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, quê hương, coi cái chết thật nhẹ nhàng
- Thiên nhiên Tây Bắc bí hiểm, hoang dại luôn rình rập người lính:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
+ Thiên nhiên hoang dã, dữ dội được miêu tả trong tiếng gầm thét của thác, bóng dáng củacọp trêu người
+ Địa danh Mường Hịch: Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng địa danh Mường Hịch đọc
có cảm giác như tiếng chân cọp đi trong đêm khuya Hai chữ Hịch, cọp với hai dấu nặng trĩuxuống nghe rờn rợn Câu thơ nói đủ sự khốc liệt của chiến trường người lính Hai dấu chấm nặngnhư xoáy vào lòng đất gợi cảm giác ghê sợ, hãi hùng
+ Sử dụng từ láy và điệp từ: Chiều chiều, đêm đêm gợi cho người đọc ấn tượng mạnh mẽ
về thời gian diễn ra triền miên nơi rừng thiêng thác sâu, cọp dữ, nơi ấy luôn là mối đe dọa khủngkhiếp đối với người lính Tây Tiến Sự nguy hiểm ấy thường diễn ra vào lúc chiều tối, đêm sâu vàthường xuyên, liên tục không phải là một chiều, một đêm mà chiều nào cũng thế, đêm nào cũngthế Như vậy, người lính Tây Tiến không chỉ bị ngã xuống trước họng súng của kẻ thù mà còn cóthể bị ngã xuống bởi rừng thiêng, thác hiểm
- Tình quân dân thắm thiết:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
+ Một lần nữa nỗi nhớ lại bật lên thành lời, tác giả đã thốt lên Nhớ ôi Hai từ này manggiọng điệu cảm thán bộc lộ nỗi nhớ nhung trào dâng mãnh liệt Câu thơ có ba thanh trắc ngắtquãng đều đặn tạo nên âm điệu câu thơ vút lên đẩy nỗi nhớ nhung lên cung bậc cao nhất
+ Tác giả nhớ về: Mai Châu, bữa xôi sốt dẻo ấm áp tình quân dân Câu thơ có hai cáchhiểu
Cách thứ nhất là cách định danh thời gian của tác giả: Có thể hiểu người lính Tây Tiếndừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín đón nhận bát xôi hương nếp đầu mùa Đặc biệt có bàntay thơm thảo của em làm nên hương vị nồng ấm ấy làm vấn vương lòng người chiến sĩ Tây Tiến.Hương nếp thơm hay đó chính là sự thơm thảo của lòng người, của tình em nồng ấm? Điều nàytrong bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên đã từng viết:
Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương.
Cách hiểu thứ hai đầy lãng mạn: Hai chữ mùa em là một sáng tạo ngôn ngữ tài hoa củatác giả gợi đầy tình thương và nỗi nhớ, trìu mến và thân thương Chữ mùa gợi sự đầy đủ, ăm ắp
sự sống, mang hương vị của đồng nội, còn chữ em gợi vẻ đẹp xuân sắc của người thiếu nữ Hai từmùa em đã gợi tả tinh tế cảm giác xao xuyến, say mê của các chàng trai Hà Thành hào hoa, lãngmạn trước sản vật và con người Tây Bắc
=> Có lẽ khi viết những câu thơ này, Quang Dũng còn giữ nguyên ấn tượng hồi hộp, xúc độngkhi được đón nhận tình cảm quân dân nồng ấm Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ ấy,tình quân dân đã làm vơi đi những khó khăn mà người lính phải trải qua Đây sẽ mãi mãi lànhững kỉ niệm đẹp đẽ làm ấm lòng người lính trên chặng đường hành quân gian lao, đầy thửthách
Trang 10- Nghệ thuật: Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Quang Dũng lãng mạn, tài hoa ở cách xâydựng hình ảnh, bút pháp hiện thực kết hợp với lãng mạn, nghệ thuật tương phản, nhân hóa, cách
sử dụng từ ngữ, thể thơ thất ngôn trường thiên
IV Đánh giá chung
- Đoạn thơ chỉ là khúc nhạc dạo đầu của nỗi nhớ chảy dọc mạch thơ Tây Tiến song cũng đã ghilại những vẻ đẹp riêng của thiên nhiên, cuộc sống, nhất là vẻ đẹp của người lính Tây Tiến
- Nỗi nhớ mà Quang Dũng gửi trong đoạn thơ, bài thơ cũng là nỗi nhớ chung của những ai từng
đi qua vùng đất miền Tây, từng trải qua những năm tháng chiến đấu đầy gian lao của cuộc khángchiến chống Pháp Sự gắn bó của nhà thơ với thiên nhiên, con người nơi ấy là biểu hiện của tấmlòng gắn bó với quê hương, đất nước Đó chính là tình cảm yêu nước cao đẹp trong thơ ca cáchmạng Việt Nam
C Kết bài
Đoạn thơ đã khắc họa một cách sống động về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ,vừa mĩ lệ; hình ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân gian khổ mang vẻ đẹp lãngmạn, bi tráng
=> Đoạn thơ xứng đáng là một trong những đoạn thơ hay nhất viết về hình ảnh người lính trongnhững ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Đề 3: Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau:
Doang trại bừng lên hội đuốc hoa
… Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
I Mở bài
- Quang Dũng là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam thờichống Pháp (1946- 1954) - Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ông vẽ tranh, sáng tác nhạc, viếtvăn , làm thơ nhưng người đọc nhớ nhiều về Quang Dũng với tư cách một nhà thơ xứ Đoài lãngmạn Trong thế giới nghệ thuật thơ Quang Dũng có một cái tôi hào hoa lãng mạn có khả năngdiễn tả một cách tinh tế vẻ đẹp của thiên nhiên con người quê hương đất nước
- "Tây tiến" là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Quang Dũng Qua thi phẩm, Quang Dũng đã khắchọa được cảnh thiên nhiên và con người Tây Bắc đặc biệt là đoạn thơ sau:
Doang trại bừng lên hội đuốc hoa
… Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
I Thân bài
1 Khái quát đoạn thơ: Hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính (như đề 2)
2 Dẫn dắt
- Vị trí: Là khổ thơ thứ hai của bài thơ
- Nội dung đoạn thơ trước: Trước đó với 14 câu thơ đầu Quang Dũng đã khắc họa bức tranh
thiên nhiên tây Bắc với vẻ đẹp hung vĩ dữ dội thoáng đôi nét mộng mơ huyền ảo và hình nảhngười lính Tây Tiến với vẻ đẹp lãng mạn trên con đường hành quân
- Nội dung đoạn thơ này: Dường như hai câu thơ cuối của khổ thơ mở đầu "Nhớ ôi Tây Tiến
cơm lên khói- Mai Châu mùa em thơm nếp xôi": đã hé mở mạch cảm xúc tràn đầy thương nhớ tớitình quân dân thắm thiết để bước sang khổ thơ thứ hai đã mở ra một dáng vẻ khác của núi rừngTây Bắc mang vẻ đẹp tài hoa mỹ lệ thể hiện qua đêm liên hoan đốt lửa trại và khung cảnh miềnTây thơ mộng
3 Phân tích
a Bốn câu thơ đầu: Đêm liên hoan lửa trại thắm thiết tình quân dân
- Trên chặng đường hành quân gian khổ người lính nghỉ chân ở bản làng của những đồng bào dântộc đời sống tinh thần của họ được gửi gắm vào những đêm lien hoan văn nghệ có đồng bào địa
Trang 11phương đến góp vui Đó là thế giới tràn ngập ánh sáng, vũ điệu, âm thanh: Doạnh trại bừng lên hội đuốc hoa
+Hai chữ "doanh trại" chỉ là sự hoành tráng hóa cái nhìn của Quang Dũng nâng hiện thựcgiản dị thành cái lớn lao vững mạnh gợi một không khí uy nghiêm hào hùng trong những ngàytháng gian khổ Bởi lẽ những người lính trong những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp sinhhoạt rất thiếu thốn làm sao có thể có những doanh trại được Nhà thơ Nguyên Hồng cũng đã từngviết:
Chúng tôi đi Sờn mép ba lô Tháng năm bạn cùng thôn xóm
… Chúng tôi đi mang đời lưu động Nghỉ lại rất nhiều nơi không nhớ hết tên nhà
+ Đi cùng với hình ảnh doanh trại là "hội đuốc hoa" Nghĩa gốc của chữ "đuốc hoa" làngọn đèn thắp trong đêm tân hôn Quang Dũng đã sáng tạo thành hội đuốc hoa H/ả này thật lãngmạn tạo nên một màu sắc vừa cổ kính vừa hiện đại vừa thiêng liêng Nhà thơ đã lấy sự đằm thắmtrong tình yêu lứa đôi để ngợi ca sự đằm thắm trong tình nghĩa quân dân cá nước Đây là cảm xúcthường gặp trong thơ ca cách mạng Ở bài Việt Bắc khi nhớ về quê hương cách mạng Tố Hữucũng đã từng viết:
Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi nắng chiều lung nương
Chữ "bừng" trong câu thơ đầu tiên diễn tả ánh sáng của những ngọn đuốc đẩy lùi bóng tối của núirừng Mặt khác còn diễn tả niềm vui đó là âm thanh của tiếng cười tiếng hát vang lên tưng bừngrộn rã
- Câu thơ thứ hai khắc họa vẻ đẹp của con người: Kìa em xiêm áo tự bao giờ
+ Hai chữ “ kìa em” diễn tả sự vui sướng ngạc nhiên đó là tiếng reo vui khi bắt gặp nét đẹpthi vị của cuộc sống
Câu thơ có hai cách hiểu:
./ Theo nhà thơ Trần Lê Văn: Cô em mà QD nhắc tới ở đây không phải là ai khác mà đóchính là những người lính Tây Tiến họ hóa trang làm những cô gái để diến kịch Đây là nét dídỏm tinh nghịch của những người lính Tây Tiến
./ Theo ngôn từ diễn đạt trong câu thơ thì em có thể hiểu là những cô gái miền sơn cước ./ Dẫu hiểu theo cách nào thì cũng thấy nét thi vị của cuộc sống đời thường giữa bối cảnhchiến tranh khôc liệt Dường như những hình ảnh tười tắn trẻ trung của con người đã xua tan cáikhắc nghiệt trên chặng đượng hành quân của người lính
- Câu thơ thứ 3 gợi vẻ đẹp âm thanh và vũ điệu: Khèn lên man điệu nàng e ấp
Người lính Tây Tiến trong đêm liên hoan đắm mình mơ màng trong tiếng khèn với những mạnđiệu khèn lá loại nhạc cụ độc đáo của vùng núi cao Tây Bắc Nhà thơ diễn tả tiếng khèn bằng hai
từ "man điệu" vừa gợi tả âm thanh vừa gợi tả vũ điệu mang đậm màu sắc của núi rừng Tây Bắc
- Câu thơ thú tư có sự lưu giữ kỉ niệm: Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Câu thơ có 7 chữ thì có tơi 6 thanh bằng tiếng nhạc thơ vang lên nhẹ nhàng diễn tả tâmhồn người lính bay bổng phiêu du tới những vùng đất xa xôi đến tận Viên Chăn – thủ đô của nướcbạn Lào hướng về một ngày mai thanh bình vang trong khúc hát khải hoàn
Tóm lại, chỉ với 4 câu thơ QD dã thể hiện tâm hồn lãng mạn của người lính Tây Tiến khiđược sống trong tình quân dân thắm thiết Có thể nói đây là một xúc cảm thường gặp trong thơ cacách mạng Hoàng Trung Thông có viết:
Các anh về Xôn xao làng bé nhỏ Nhà lá đơn sơ Tấm lòng rộng mở
Trang 12Có điều QD đã lây cái lãng mạn hào hoa, lấy sự mặn nồng của tình yêu lứa đôi nhiệt huyếtcủa tuổi trẻ để tô đậm tình quân dân Vì thế thơ QD mang vẻ đẹp riêng đầy xúc cảm.
- Chỉ với 4 câu thơ nhưng QD đã vẽ được bức tranh vừa phong phú về màu sắc vừa đa dạng về
âm thanh Điều này cho thấy sự nhay cảm của QD với vẻ đẹp thi vị khác thường của con ngườivăn hóa vùng cao Tây Bắc Đồng thời cho thấy sự lạc quan yêu đời của người lính Tây Tiến
b Bốn câu thơ sau: Bức tranh Châu Mộc mĩ lệ huyền ảo
- Với người lính Tây Tiến mỗi vùng đất đi qua thấm đẫm bao kỉ niệm Nỗi nhơ đã gợi về miền đấtChâu Mộc Châu Mộc là một địa danh ở Sơn La nơi có cánh đồng cỏ bát ngát mênh mông, có dãynúi Pha Luông cao ngất trời Quang Dung cũng như người lính Tây Tiến đã từng gắn bó với miềnđất Châu Mộc Năm tháng trôi qua cảnh và người nơi miền đất ấy trở thành nỗi nhớ da diết
- Vẻ đẹp của bức tranh thơ được QD vẽ bằng những nét điển hình:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
+Từ "người" được QD sử dụng rất tài tình ở đây nó mang nghĩa vừa cụ thể vừa phiếmchỉ, vừa là tác giả vừa là đồng đội những người đồng đội đã từng sống chết có nhau ở binh đoànTây tiến
+ Từ "ấy" không xác định được thời gian nhưng lại gợi về thời khắc khó quên một đikhông trở lại trong nỗi nhớ đầy vơi của Quang Dũng
+ Thời gian của bức tranh thơ là một buổi chiều sương giăng mắc, không khí huyền thoạikhiến cho con người và cảnh vật mờ đi hư ảo như một bức tranh thủy mặc cổ điển khiến chongười đọc nhớ đến tứ thơ cũng rất thi vị của Chế Lan Viên trong "Tiếng hát con tàu":
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương.
Không gian của bức tranh thơ là cảnh song nước mênh mông với bến bờ hoang dại nguyênthủy đượm màu cổ tích
+Trên nền không gian và thời gian ấy là hình ảnh "hồn lau nẻo bến bờ" hình ảnh hoa lau
gợi nét đặc trưng của thiên nhiên vùng cao hoa lau mọc khắp đồi rung vách đá
- Bằng nghệ thuật nhân hóa "hồn lau" QD đã diễn tả được thần thái của cảnh vật thiên nhiên TâyBắc như có linh hồn phảng phất trong gió trong mây trở thành kí ức không thể phai nhòa củangười lính Tây Tiến
- Trong dòng hoài niệm da diết thi nhân nhớ về dáng người mờ xa trên thuyền độc mộc
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
+ Độc mộc là loại thuyền dài và hẹp làm bằng than của một cây gỗ to khoét thủng thíchhợp với vùng núi cao Hình ảnh dáng người trên độc mộc có thể hiểu là người lính Tây Tiếnnhưng cũng có thể hiểu là hình ảnh những con người Tây Bắc, những người thiếu nữ Tây Bắcdân tộc Thái, Mường…với vẻ đẹp mềm mại duyên dáng mà cũng rất đỗi khỏe khoắn
+ Câu thơ “ trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” là một câu thơ đa nghĩa
./ Nghĩa thực: Những bông hoa rừng như muốn làm duyên bên dòng nước lũ
./ Nghĩa ẩn dụ: Hình ảnh thơ có sự hô ứng với câu thơ trước dáng người trên độc mộc nhưnhững bông hoa đong đưa trên dòng nước lũ
+ Nhà thơ dung hai chữ “ đong đưa” chứ không phải dung đưa” vì nếu "đung đưa" chỉ lả
đơn thuần chuyển động đưa đi đưa lại mang tính chất vật lí còn "đung đưa" vừa tả cảnh vừa tảtình bông hoa trở thành một sinh thể duyên dáng và rất đa tình Chữ “ trôi” gợi sự nhẹ nhànhthanh thoát Thiên nhiên và con người gần gũi, hài hòa và sống động
Câu thơ trên xuất hiện hai câu hỏi tu từ người đi "có thấy", "có nhớ" hỏi mà không đợicâu trả lời bởi đó là dòng độc thoại nội tâm của tác giả đang chìm đắm trong nỗi nhớ thương dadiết
Trang 13- Đoạn thơ không chỉ có sự kết hợp giữa chất chất thơ và chất họa mà còn có cả chất nhạc- nhạcđiệu được cất lên từ một tâm hồn say đắm với cảnh và người miền Tây dung như nhận xét củaXuân Diệu "Đọc bài thơ Tây Tiến ta có cảm giác như ngậm nhạc trong miệng".
khó mà tách biệt Nhận xét về cái hay, cái đẹp của đoạn thơ này Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: Đọc
đoạn thơ này, ta như lạc vào thế giới của cái đẹp, của cõi mơ, của cõi nhạc.
III Kết luận
Đoạn thơ như một bức tranh thủy mặc với những nét vẽ chấm phá tinh tế mềm mại tài hoa đãtruyền tải được cái hồn của cảnh vật và con người Tây Bắc Bằng một cảm hứng lãng mạn QD đãkhắc họa được vẻ đẹp duyên dáng thơ mộng của \ đất và người Tây Bắc, từ đó thể hiện đượcphong cách lãng mạn tài hoa của hồn thơ QD
Đề 4: Phân tích (cảm nhận) đoạn thơ sau:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
… Sông Mã gầm lên khúc độc hành
I.Mở bài: (Xem lại đề 2)
II Thân bài
1 Khái quát chung: Hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính (như đề 2)
2 Dẫn dắt
- Vị trí: - Khổ thơ được phân tích là khổ thơ thứ 3 của bài thơ "Tây Tiến"
- Nội dung đoạn thơ trước: Trước đó hai khổ đầu của đoạn thơ đã tái hiện bức tranh Tây Bắc
hùng vĩ, dữ dội thơ mộng huyền ảo cùng hình ảnh con người Tây Bắc duyên dáng tài hoa "Người đi…đong đưa"
- Nội dung đoạn thơ này: Đến 8 câu thơ này có kết cấu thật lạ 4 câu thơ đầu nói về cõi sống còn
4 câu sau nói về cõi chết của người lính Cảm hứng lãng mạn và chất bi tráng làm cho cả chuyệnsống và chết cũng trở nên độc đáo khác thường từ đó QD khắc họa thành công bức tượng đàingười lính Tây tiến
3 Phân tích đoạn thơ
a Ngoại hình bi hùng của người lính Tây tiến
- Bút pháp bi tráng của QD không né tránh cái bi thương mà nhìn thẳng vào những gian khổ hisinh của người lính bằng nét bút rất lạ
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
- Ở phần đầu bài thơ QD đã dung hai từ "đoàn quân": "Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi" đếnđây QD chuyển thành "đoàn binh" Hai chữ "đoàn binh" kết hợp với nghệ thuật đảo cấu trúc cúpháp đưa hai chữ "Tây tiến" lên đầu dòng thơ tạo nên một giọng điệu khỏe khoắn gợi khí thếxung trận mạnh mẽ
- Hình ảnh những cơn sốt rét rừng được nói đến khá nhiều trong thơ ca kháng chiến chống Phápvới những giọng điệu đa dạng
+ TH nói về anh vệ quốc quân – giọng thơ thương mến
Giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ
Trang 14Anh vệ quốc quân ơi Sao mà yêu đến thế(cá nước)
+ Chính hữu cũng nói về sốt rét bằng giọng thơ mộc mạc :
Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi”
+ QD nói về sốt rét nhưng với giọng thơ khác dữ dội hơn với hai chi tiết "Không mọc tóc, xanh màu lá" chỉ cái khốc liệt Người lính bị những cơn sốt rét rừng làm cho xanh mặt, trọc đầu
hình ảnh đoàn quân hiện lên kì dị
- Nếu cái bi là một sự thật thì cái "tráng" cái "hùng" cũng là một sự thật mạnh mẽ Cụm từ "khôngmọc tóc" là một cách nói đặc biệt QD đã chuyển thế bị động thành chủ động cứ làm như ngườilính không cần mọc tóc bằng một cách nói đầy vẻ bất cần gợi khẩu khí kiêu hung ngang tang rấtlính Da "xanh màu lá" chứ không phải xanh xao đó là màu xanh của áo lính hay màu xanh của lárừng ngụy trang Hình ảnh thơ gợi sức mạnh của đoàn quân Tây tiến hòa trong những cánh rừngthiêng bạt ngàn
- QD có tài tạo hình ảnh thơ thật gân guốc "dữ oai hùm" khí phách cuả người lính đã đè bẹp bệnh
tật các chàng trai da xanh xao vì sốt rét nhưng vẫn mang cái oai linh của các trang hổ tướng mộtthời Ngoại hình của người lính trong thơ QD khác với ngoại hình của người lính trong thơ Chính
Hữu: Áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá
b Câu 3,4: Tâm hồn hào hoa lãng mạn của người lính
- Giữa cái gân guốc của hiện thực chiến tranh khốc liệt ý thơ của QD bay lên một giấc mơ lãngmạn
Mắt trùng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ HN dáng Kiều thơm
- Nói về giấc mơ, nỗi nhớ cảu người lính đó là cảm xúc quen thuộc trong thơ ca kháng chiến.Người lính trong Đồng chí của Chính Hữu ra đi từ đồng ruộng họ nhớ về giếng nước, gốc đa,ruộng nương còn người lính trong Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội nỗi mộng mơ của họcũng thật khác lạ thanh lịch hào hoa
- Câu thơ "Mắt trùng gửi mộng qua biên giới" thể hiện nỗi mộng mơ không xác thực về đối tượng
và địa điểm gửi mộng
+ Hai chữ “mắt trừng” miêu tả hình ảnh đôi mắt mở to dữ dội ngùn ngụt ý chí và lòng cămthù Đôi mắt ấy bộc lộ toàn bộ nội lực của người lính diến tả tận cùng cái oai phong lẫm liệt và cảcái đằm thắm trong trái tim của người lính
+ Vì thế có thể hiểu người lính Tây Tiến gửi mộng qua biên giới tới những người đồng chínước bạn Lào Đó là giắc mộng hòa bình cho quê hương đất nước
- Câu thơ "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" thể hiện nỗi nhớ có hình hài của người lính
+ Người lính Tây Tiến mơ về thành đô hoa lệ nơi họ từ biệt ra đi "Dáng kiều thơm" ở câuthơ trước hết gợi bóng dáng của kinh thành Hà Nội vàng son, thanh lịch:
Từ thủa mang gươm đi mở cõi Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long
(Huỳnh Văn Nghệ)
+ Mặt khác từ dáng kiều là cách nói mĩ lệ hóa của văn học cổ QD sử dụng để nói về ngườithiếu nữ Hà Thành xinh đẹp QD bổ sung thêm chứ "thơm" khiến cái đẹp tỏa hương ngào ngạtgợi sự e ấp nâng niu
+ Như vậy người lính có đôi mắt trừng như lửa cháy hờn căm và phẫn nộ để thiêu ddoots
kẻ thù nhưng lại biết mơ về những cô gái Hà Thành thanh lịch kiều diễm Điều này cho thấynhững vẻ đẹp tâm hồn của người lính
c Bốn câu thơ cuối
- Đi liền với cái mộng mơ là cái chết nhưng chỉ có điều sự hi sinh của người lính lại được nói
bằng cảm hứng lãng mạn mang màu sắc bi tráng Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Trang 15+ Từ "rải rác" kết hợp với "mồ viến xứ" cho thấy đây không phải là một cái chết mà nhiềucái chết Người lính Tây Tiến ngã xuống nơi biên ải xa xôi những nấm mồ nằm hoang lạnh gợi tanhớ đên cái hoang vu bi thương trong Chinh phụ ngâm:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo
+ Nỗi bi thương được vơi đi bớt phần nào khi QD sử dụng nhiều từ Hán việt điều này tạonên màu sắc trang nghiêm thành kính Những nấm mồ hoang trở thành bất tử vĩnh hằng bởi sự hisinh của người lính là cao cả thiêng liêng họ ngã xuống vì quê hương đất nước
- Câu thơ thứ 6 khắc họa tư thế lên đường của người lính với lí tưởng quyết tử cho TQ quyết sinh:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
+ hai chữ "đời xanh" chỉ tuổi thanh xuân mơn mởn tràn đầy sức sống Không có cái gì quí và dẹpbằng tuổi trẻ vậy mà hai chữ "chẳng tiếc" lại ném xuống dòng thơ thật dứt khoát Ở đây ngườilính đã coi tính mệnh của Tổ quốc lớn hơn sinh mệnh của chính mình Đây là lí tưởng cao đẹpcảu con người VN mỗi khi TQ bị xâm lăng
-Với triết lí và lẽ sống cao đẹp đó người lính Tây Tiến cho đên giây phút cuối cùng trở về với đất
mẹ vẫn sáng lên vẻ đẹp tâm hồn cao cả:
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành
+ Câu thơ mang ý nghĩa hiện thực sâu sắc: "tử sĩ nằm xuóng không đủ manh chiếu đểliệm…họ được chon cất trong chiếc áo của mình" (lời Quang Dũng) cái hay của câu thơ ở chỗhiện thực bi thương dược Quang Dũng tái hiện bằng đôi mắt lãng mạn vừa yêu thương vừa trântrọng thành kính Nhà thơ phủ lên thi thể của đông đội hình ảnh áo bào, đây là một hình ảnh ước
lệ gợi âm hưởng "xa trường gửi thây" gợi cái chết của tráng sĩ thuở xưa Bởi thế giây phút tiễnđưa đồng đội về cõi bất tử được thiêng liêng hóa bằng hính ảnh áo bào đầy sang trọng cổ kính
+ Cụm từ "anh về đất" giảm nhẹ sự mất mát đau thương Đất là quê mẹ là tổ quốc thiêngliêng dién tả thái độ đón nhận cái chết của những người lính họ về với dất mẹ để hóa thân vàosông núi sống mãi với đất trời
Ôi đất nước sau 4 nghìn năm đi đâu ta chẳng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
+ Câu thơ cuối xoay chuyển cả một vùng trời đất vang dội như một khúc nhạc kì vĩ củathiên nhiên sông Mã đã từng mở đầu bài thơ "Sông Mã…ơi" đến đây lại xuất hiện Chữ “ gầm’ có
âm điệu thật ấn tượng gợi liên tưởng bi hùng như khúc nhạc chiêu hồn tử sĩ đưa họ về với cõitrường cửu Điều đáng nói nữa là khúc nhạc sông Mã còn "gầm lên" từ chính đáy lòng của QuangDũng Khổ thơ khép lại, người lính Tây Tiến ra đi nhưng dư âm của tiếng sông Mã gầm thét sẽcòn ngân vang mãi trong tâm hồn người đọc như nhà thơ Lê Đại Hành đã từng viết:
Sông Mã gầm lên sông Mã ơi!
Người yêu sông Mã đã qua đời
Để đời nhớ mãi quân Tây Tiến Khúc độc hành ca của một thời
III.Kết luận
Trang 16- Bằng bút pháp lãng mạn và tinh thần bi tráng Quang Dũng đã khắc họa thành công bức chândung người lính Tây Tiến tiêu biểu cho vẻ đẹp và sức mạnh của anh bộ đội cụ Hồ trong cuộckháng chiến chống Pháp Đó là bức tượng đài được khắc tả bằng cả tình yêu của Quang Dũng vớiđồng đội, đất nước, quê hương
- Đặt trong bối cảnh buổi đầu của cuộc kháng chiến còn nhiều gian lao đây chính là cách QD ngợi
ca tinh thần lạc quan ngợi ca chủ nghĩa anh hùng của người lính Tây Tiến nói riêng và của conngười Việt nam nói chung
- “Việt Bắc” là một trong những bài thơ hay nhất của đời thơ Tố Hữu, đồng thời cũng là đỉnh caocủa thơ ca kháng chiến chống Pháp, được xem là bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiến chốngPháp gian khổ, anh hùng của dân tộc và lời tri ân sâu nặng về nghĩa tình cách mạng
- Bài thơ được sáng tác trong một hoàn cảnh đặc biệt
II.Thân bài
1 Bài thơ VB được viết ở khúc giao thời của lịch sử
- Tháng 7/1954 sau gần một thế kỉ dân tộc ta đứng lên kháng chiến chống Pháp đã đi đến thắnglợi với chiến thắng ĐBP lừng lẫy
- Sau chiến thắng ĐBP thực dân Pháp buộc phải ngồi đàm phán kí hiệp định Giơ-ne-vơ với chúng
ta tại Thụy Sĩ đã mở ra một thời kì mới cho đất nước ta Miền bắc hoàn toàn giải phóng và xâydựng CNXH Miền nam tiếp tục đấu tranh thống nhất nước nhà
2 VB còn được viết ra trong khúc giao thời của lòng người
- Sau chiến thắng Điên Biên vào tháng 10/1954 TƯ Đảng, chính phủ, cán bộ cách mạng rời chiếnkhu Việt Bắc về tiếp quản Hà Nội
- Trong không khí của cuộc chia tay Tố Hữu đã xúc động viết bài thơ này
3 Ra đời trong hoàn cảnh như vậy VB trở thành khúc tình ca và cũng là bản anh hùng ca về cách
mạng về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến đồng thời là lời nhắn nhủ hãy nhớ mãi vàphát huy những truyền thống anh hùng bất khuất nghĩa tình cách mạng của con người Việt Nam
4 Bài thơ VB được chọn để đặt tên chung cho tập thơ VB được Tố Hữu sáng tác trong suốt quá
I Mở bài
- Tố Hữu là nhà thơ lớn, con chim đầu đàn của nền thơ ca cách mạng Việt Nam; các chặng đườngthơ luôn gắn bó với các chặng đường cách mạng dân tộc; phong cách thơ mang khuynh hướng trữtình chính trị và đậm đà tính dân tộc
- “Việt Bắc” là một trong những bài thơ hay nhất của đời thơ Tố Hữu, đồng thời cũng là đỉnh caocủa thơ ca kháng chiến chống Pháp, được xem là bản tổng kết bằng thơ cuộc kháng chiến chốngPháp gian khổ, anh hùng của dân tộc và lời tri ân sâu nặng về nghĩa tình cách mạng
Trang 17- Trong bài thơ đoạn thơ sau được xem là đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu.
+ Trong không khí của cuộc chia tay Tố Hữu đã xúc động viết bài thơ này
-Nội dung chính:Cả bài thơ dâng đầy nỗi nhớ, nỗi nhớ khởi đầu từ cuộc chia taycủa anh cán bộ
miền xuôi với người dân VB
2 Dẫn dắt
- Vị trí: - Đoạn thơ có vị trí khai mở cảm xúc cho cả bài thơ
- Nội dung đoạn thơ này: Đoạn thơ mở đầu đã khắc họa khung cảnh chia li thấm đẫm màu sắc
núi rừng, chan chứa tình cảm quyến luyến bịn rịn giữa người đi kẻ ở
3.Phân tích
a 4 câu đầu: Lời của người ở lại
Mình về mình có nhớ ta
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn
- Điều thú vị ở 4 câu thơ này là lời của người ở lại nhắn gửi người về xuôi Đó là sự khéo léo vàhợp lí trong cách sắp xếp cấu tứ thơ của Tố Hữu Người ở lại dự cảm người về xuôi đổi thay nên
có lời nhắn người về hãy nhớ tình cảm thủy chung
- Tố Hữu đã vận dụng hai đại từ mình- ta trong hình thức đối đáp giao duyên để thể hiện tình cảmgắn bó thủy chung của nhân dân với cách mạng trong kháng chiến
- Người ở lại mong người về xuôi hãy nhớ những năm tháng gắn bó mặn nồng “mười lăm năm
ấy thiết tha mặn nồng”
+ “Mười lăm năm” tính từ thời kháng Nhật, từ khi BH về nước năm 1941 sau bao năm ở
nước ngoài Người đã chọn VB làm căn cứ địa cách mạng, 15 năm là khoảng thời gian đủ dài đểngười ta khắc ghi cuộc sống ân tình chia ngọt sẻ bùi từ những ngày tháng gian khổ đến khi thắng
lợi Những từ “thiết tha, mặn nồng” diễn tả thật hàm súc tình cảm quân dân bền chặt.
Câu thơ khiến ta nhớ đên khoảng thời gian Kim – Kiều xa cách:
Những là dày ước mai ao Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình
- Người ở lại còn khơi gợi những kỉ niệm trong không gian VB: nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn
+ Câu hỏi chất chứa tình cảm lưu luyến bao hàm lời dặn dò kín đáo: Đừng quên VB vì VB
là quê hương là cội nguồn cách mạng
+ Qua hình ảnh sông nguồn, núi rừng Tố Hữu đã nhắc nhở về dạo lí của dân tộc “ uốngnước nhớ nguồn”
- Bốn câu thơ điệp lại 4 lần từ nhớ gợi nốt nhấn của tâm trạng tạo thành một điệp khúc của tìnhcảm khiến con người nhớ thương như những con sóng lan tỏa thật mạnh mẽ Mặt khác 4 câu thơ
còn sử dụng hai câu hỏi tu từ “có nhớ ta? Có nhớ không?”
b 4 câu sau: Tâm trạng của người về xuôi
- Người ra đi ngập tràn nỗi nhớ nhung tâm trạng quyến luyến không nỡ rời xa Đại từ “ai” là mộtđại từ thường gặp trong ca dao dân ca vừa phiếm chỉ vừa cụ thể làm cho lời thơ trở nên bângkhuâng tha thiết như khúc hát giao duyên quan họ
- Chỉ bằng hai câu thơ lục bát Tố Hữu diễn tả được 3 trạng thái tình cảm sâu sắc cuả người vềxuôi
+ Tha thiết như tiếng nói cất lên từ tấm lòng đầy yêu thương, hai chữ này hô ứng với hai chữ
“thiết tha” ở hai câu thơ trước tạo nên sự cộng hưởng về cảm xúc một mạch ngầm tri kỉ thật đẹp
đẽ hài hòa giữa người đi và người ở
Trang 18+ Từ “bâng khuâng” diễn tả tâm trạng có sự nuối tiếc, hụt hẫng
+ “ bồn chồn” diễn tả trạng thái nôn nao chờ đợi thấp thỏm không yên
Có thể nói 3 từ này "tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn" thật gợi hình và gợi cảm kết hợp
với phép đảo ngữ, nghệ thuật tiểu đối vừa tạo được chất nhạc thơ ngọt ngào vừa diễn tả nhớthương quyến luyến bịn rịn
- Đọng lại ấn tượng sâu đạm của người về xuôi là hình ảnh “áo chàm” tác giả sử dụng biện phápnghệ thuật hoán dụ “ áo chàm” là trang phục đặc trưng hiện lên bóng dáng thân yêu giản dị củangười dân VB trong buổi chia tay Sâu xa hơn ý thơ còn khẳng định tình cảm thủy chung son sắtbởi áo chàm cũng có thể hiểu là màu của lòng người khó phai mờ,
- Hành động “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”.
+ Ở đây không phải là không có một cái gì đó để nói mà là muốn nói rất nhiều nhưng cổ họngnghẹn ngào không thể nói được cái “cầm tay khong nói lên lời” chứa đựng bề sâu của cảm xúc.Chính Hữu cũng đã từng viết “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
+ Cái nắm tay của Chính Hữu xiết tình đồng đội, đồng chí giữa buổi chung chiến hào Cái nắmtay trong thơ Tố Hữu xiết chặt tình nghĩa đồng bào, tình quân dân cá nước trong buổi chia tay
"cầm tay" là sự giao thoa cảu cảm xúc, tâm trạng ngưng đọng trong hành động mọi lời nói trở nênthơ thẩnđể phá vỡ không gian cảu thương yêu
Nghệ thuật: nhịp thơ lục bát đều đặn ở 4 câu đầu đến đay vì chút bối rối của lòng người mà thayđổi trở nên nghẹn ngào phá vỡ nhip thông thường của thơ lục bát tạo nên một nhịp thơ thật độcđáo
4 Đánh giá
Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu, mặt khác cũng thể hiện một hồn thơ đậm đà tínhdân tộc với nhịp điệu lục bát duyên dáng, tứ thơ đối đáp mình – ta truyền thống mà hiện đại,giọng thơ tâm tình ngọt ngào thương mến Đoạn thơ nói riêng bài VB nói chung xứng đáng là bài
ca không thể nào quên
Đề 3:Cảm nhận của anh/ chị về đoạn thơ sau:
Mình đi có nhớ những ngày
… Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa
I.Mở bài: như đề trên
II Thân bài
1 Khái quát chung:
- Hoàn cảnh sáng tác: như đề trên
- Nội dung chính: Cả bài thơ dâng đầy nỗi nhớ, nỗi nhớ khởi đầu từ cuộc chia tay của anh cán bộmiền xuôi với người dân VB
2 Dẫn dắt
- Vị trí: - Đoạn thơ được phân tích nằm sau 8 câu thơ mở đầu của bài thơ VB.
- Nội dung đoạn thơ trước: Trước đó bài thơ miêu tả khung cảnh chia tay thấm đẫm sắc màu núi
rừng VB và tâm trạng bịn rịn, quyến luyến của người đi và người ở
- Nội dung đoạn thơ này: -Đến 12 câu thơ này là lời nhắn gửi của người ở lại với người về xuôi
hãy nhớ về buổi đầu kháng chiến gian khó nhớ về VB nghèo mà thấm đượm nghĩa tình và mongước người về xuôi hãy coi núi rừng VB như chính quê hương cuộc đời và tam hồn của mình
3 Cảm nhận đoạn thơ
a Bốn câu thơ đầu: Buổi đầu kháng chiến gian khó nhưng nghĩa tình
- Người ở lại dự cảm về sự đổi thay trong xa cách nên đã cất tiếng lòng nhắc nhở tha thiết vớimột niềm mong mỏi người về xuôi hãy thủy chung bền chặt nghĩa tình NV trữ tình xuất hiện với
lối xưng hô “ mình-ta”.
- Người ở lại đã cất lời hỏi người về xuôi có nhớ cuộc sống gian khó trong những năm tháng sốnggắn bó với núi rừng VB:
Trang 19“ Mình đi …cùng mù”
+ Các hình ảnh mưa nguồn, suối lũ kết hợp với cách nói tang tiến “ những mây cùngmù”trước hết gợi ra bức tranh dữ dội hoang sơ nơi núi rừng VB
+ Mặt khác từ hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt được Tố Hữu nhắc đến qua thủ pháp liệt
kê cùng 2 từ “ những, cùng” đã gợi ra những khó khan dồn dập liên tục Những khó khan ấy từbuổi đầu cách mạng còn non trẻ
- Hình ảnh VB còn nghèo cách mạng còn nghèo được phản chiếu qua hai câu thơ tiếp theo:
“ Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai”
+ Hình ảnh miếng cơm chấm muối là hình ảnh chân thực được lấy ra từ cuộc sống kháng
chiến đầy gian nan, thiếu thốn khi mà quân dân ta phải sống trong cảnh “ thương nhau chia củ sắn lùi…đắp cùng”
+ Hình ảnh “ mối thù nặng vai” đã cụ thể hóa, vật chất hóa mối thù của nhân dân ta vớiquân địch
+ BP tiểu đối giữa hai vế trong câu thơ “ Miếng cơm…nặng vai” làm nổi bật giữa một bên
là cuộc sống thiếu thốn gian khổ với 1 bên là lòng căm thù giặc đè nặng trên vai Cách nói của
TH thật giàu hình ảnh mối thù là một tình cảm trừu tượng mà có thể vảm nhận được bằng mộthình ảnh cụ thể Câu thơ mang mọt ý nghĩa mới mẻ sâu xa khắc đậm tính đoàn kết một lòng chiếnđấu cùng vượt qua gian khổ cùng mang mối thù thực dân đó là cội nguồn sức mạnh làm nênchiến thắng vang dội của quân và dân ta đó là một phẩm chất cao đẹp của con người VN mỗi khi
TQ bị xâm lăng
b Bốn câu tiếp: Lời nhắn gửi người đi hãy nhớ về núi rừng VB nghèo khó mà nghĩa tình
- Trước hết là nỗi nhớ về núi rừng:
“ Mình về rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già”
+ Tố Hữu đã sử dụng BPNT hoán dụ và nhân hóa “ rừng núi” để chỉ đồng bài VB, “ rừng núi nhớ ai” là nói đồng bào VB nhớ cán bộ cách mạng về xuôi, nỗi nhớ ở tràn ngập cả trong
không gian núi rừng VB
+ Hình ảnh “ trám bùi để rụng “ và “măng mai để già” là hình ảnh ẩn dụ gợi 2 lớp nghĩ:
./ Đồng bào VB muốn dành tặng những món ăn này cho chiến sĩ và mong ước ngày gặp lạinhưng người cán bộ cách mạng đã về xuôi nên trám bùi và măng mai không biết để cho ai?
./ Mặt khác nó cũng cho thấy sự cô dơn trống vắng trong lòng người ở lại
- Ngoài ra còn khắc họa một VB đầy ắp nghĩa tính thủy chung:
“ Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”
+ Hai câu thơ cho thấy sự giản dị, chân thực của những ngôi nhà ở VB đó là những máinhà tranh vách đất -> VB nghèo nhưng nghĩa tình thì đậm đà son sắt thủy chung
+ NT tiểu đối, đảo ngữ cùng nhhững từ láy gợi hình, gợi cảm trong 2 câu thơ đã làm sáng
tỏ tấm lòng cao quí , đùm bọc chở che của nhân dân với cán bộ CM Đó chính là chủ nghĩa yêunước chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Việt Bắc
c 4 câu cuối
Người ở lại nhắn gửi người về xuôi hãy coi núi rừng VB như quê hương cuộc đời cảu mình:
“Mình đi có nhớ núi non
… Tân Trào Hồng Thái mái đình cây đa”
-“Núi non” là hình ảnh hoán dụ chỉ đồng bào VB đó là vẻ đẹp của thiên nhiên của con người biết
bao ân tình người đi làm sao có thể quên
-Người ở lại mong người đi hãy tự hào về những trang sử hào hùng, những địa danh tên đất, tênlàng đã trở thành dấu son chói lọi cùng những thời khắc không thể nào quên của cách mạng.+ VB là nơi thành lập MTVM đã lãnh đạo toàn dân tộc kháng chiến chống Pháp
Trang 20+ Cây đa Tân Trào, mái đình Hồng Thái là nơi họp quốc dân đại hội 1945 là nơi làm lễ xuất quâncủa VN tuyên truyền giải phóng quân.
- Câu thơ “mình đi mình có nhớ mình" từ mình xuất hiện 3 lần có tính đa nghĩa vừa chỉ người dân
VB vừa chỉ cán bộ kháng chiến về xuôi Đồng bào VB muốn nhắc nhở cán bộ kháng chiến phảinhớ đến những phẩm chất tốt đẹp của chính mình , đừng tự đánh mất mình trong hoàn cảnh mới
- Câu thơ cuối có sự đổi chỗ thú vị từ “mái đình…Tân Trào” đổi thành “Tân Trào…cây da” đã
tạo nên tính nhạc độc đáo của câu thơ lục bát Trong câu thơ này người ở lại muốn khẳng địnhnhững điạn danh trên đã trở thành kỉ niệm không thể nào quên của cán bộ cách mạng
Đây là một qui luật tình cảm trong đời sống
“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”
3 Đánh giá
12 câu thơ trên không nhắc lại những tháng ngày hạnh phúc, vui vẻ chỉ nhắc đến những thángngày thiếu thốn, gian khổ bởi hạnh phúc dễ quên còn gian khổ luôn nhắc nhở con người khôngđược quên quá khứ
- 12 câu thơ có 6 lần hỏi mình đi có nhớ, mình về có nhớ trở thành một điệp khúc tâm trạng một
nỗi niềm nhớ nhung da diết khắc khoải nhắc nhở con người hãy nhớ về cội nguồn ân nghĩa cáchmạng
I Mở bài:
- Giới thiệu về tác giả: (tham khảo đề trước)
- Việt Bắc là một trong những bài thơ hay nhất của Tố Hữu, cũng là một trong những bài thơ đặcsắc nhất của thơ ca hiện đại Việt Nam Bài thơ là cuộc trò chuyện ân tình của mình và ta tựa nhưmột khúc hát giao duyên ngọt ngào tình tứ để từ đó đặt ra những vấn đề có ý nghĩa lớn của dântộc Trong bài thơ có một đoạn thơ mà ai đọc xong cũng phải nhớ mãi Bởi nó không chỉ thể hiệnđược tình cảm của những người chiến sĩ Cách mạng với Việt Bắc mà còn tái hiện rất cô đọng vẻđẹp độc đáo vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc trong bốn mùa cụ thể (trích dẫn đoạnthơ)
II.Thân bài
1 Khái quát chung:
- Hoàn cảnh sáng tác và nội dung chính: như đề trên
2 Dẫn dắt
- Vị trí: - Đoạn thơ được phân tích thuộc phần I (90 câu thơ) của bài thơ VB.
- Nội dung đoạn thơ trước: - Đoạn thơ được đánh giá là tuyệt bút đạt tới trình độ toàn bích,
trước đó đoạn thơ đã miêu tả khung cảnh chia tay thấm dẫm sắc màu VB, tâm trạng quyến luyếngiữa người đi và người ở Người Việt Bắc mong muốn nhắn gửi cán bộ về xuôi hãy thủy chung
Trang 21với quê hương cách mạng anh cán bộ HCM đã bày lời thề thủy chung cùng nỗi nhớ về nhịp sống
ở VB
- Nội dung đoạn thơ này: Đến đoạn thơ này Tố Hữu tập trung thể hiện nỗi nhớ của người về
xuôi đọng lại ở hình ảnh hoa và người Việt Bắc
3 Phân tích
a Hai câu thơ đầu
“ Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người”
- NV trữ tình xưng hô tình tứ mình-ta” (đề trước)
- Câu thơ thứ nhất không đơn thuần là một câu hỏi mà còn ngầm chứa đựng một thông điệp.Không biết mình có nhớ ta không còn ta thì luôn nhớ mình Nỗi nhớ được biểu đạt thật mãnh liệt
và cũng thật tế nhị sâu sắc
- Câu thơ thứ hai cụ thể hóa đối tượng gửi thương gửi nhớ người về xuổi hãy hãy nhớ về hoa vàngười Việt Bắc Hoa là vẻ đẹp tươi tắn mộng mơ của thiên nhiên, con người là đối tượng đẹp nhấtcủa cuộc sống Hòa với vẻ đẹp của thiên nhiên là con người VB thuận hậu ân tình
- Chữ nhớ được điệp lại hai lần trong hai câu thơ khiến tâm trnạg con người như trĩu xuống có tácdụng khai mở cảm hứng chủ đạo xuyên suốt đoạn thơ là sự nhớ nhung thật sâu sắc và thấm thía
b 8 câu tiếp Bức tranh tứ bình về cảnh sắc ở Việt Bắc
để tạo nên vẻ đẹp hài hòa của cấu trúc nội tâm Từ đó khắc họa được bức tranh 4 mùa Việt Bắcchan chứa niềm thương nỗi nhớ
* Bức tranh mùa đông: Thiên nhiên được cảm nhận trên 2 bình diện thiên nhiên và con người
- Thiên nhiên được cảm nhận ở màu xanh thấm của những cánh rừng bạt ngàn , màu đỏ tươi cảuhoa chuối nở bung rực rỡ
+ Mùa đông thường gắn với cái lạnh thấu xương tuy nhiên trong bài thơ Tố Hữu đã tạođược một tương phản rất nổi Trên nền xanh mênh mông của núi rừng đột ngột bừng lên màu hoachuối đỏ tươi như những ngọn đuốc giữa đại ngàn Màu đỏ là gam màu nóng gợi sự ấm áp hìnhảnh này rất hợp với ánh nắng chan hòa ở câu thơ thứ hai đã khắc hoạ được một mùa đông VB ấm
áp nơi có Đảng và Bác Hồ nơi thể hiện niềm tin và sức mạnh của cả dân tộc:
“Ở đâu u ám quân thù
*Bức tranh mùa xuân
- Thiên nhiên
+ Nếu trong bức tranh mùa đông gam màu chủ đạo là màu xanh và đỏ thì bức tranh mùa xuân có
sự thay đổi về màu sắc màu trắng tinh khiết của hoa mơ tràn ngập núi rừng Việt Bắc
+ Đây là vẻ đẹp đặc trưng của núi rừng Việt Bắc khi mùa xuân về
Trang 22+ Hai chữ “trắng rừng” là một sự sáng tạo ngôn ngữ thơ ca của Tố Hữu Chữ “ trắng” về bản
chất là tính từ nhưng ở đây đã được động từ hóa gợi sự chuyển biến về màu sắc và bước đi củathời gian Người đọc có cảm giác cả núi rừng Việt Bắc bỗng chốc bừng sáng vè sắc trắng của hoa
mơ
+ Như vậy với màu trắng cảu hoa mơ Tố Hữu đã gợi được vẻ đẹp trong sáng thuần khiết tràn đầysức sống một không gian thoáng rộng bao la của Việt Bắc khi xuân về Bút pháp miêu tả của THkhác nhau với đại thi hào Nguyễn Du khi viết về mùa xuân:
“ Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
- Con người:
+ Hình ảnh “người đan nón chuốt từng sợi giang” gợi sự tài hao khéo léo cảu con người VB
trong lao động Họ là những người tạo nên những chiếc nón giản dị , duyên dáng thấm đẫm màusắc văn hóa Việt
+ Mặt khác ý thơ còn thấm đẫm ân tình cách mạng Người Việt Bắc đan nên những chiếc nón gửitặng bộ đội, dân công
*Bức tranh mùa hè
- Thiên nhiên
+ Nếu bức tranh mùa đông và mùa xuân chỉ được đặc tả bang màu sắc thì đến bức tranh mùa hècòn có cả âm thanh Đây là câu thơ hay nhất trong đoạn thơ
+ Hai chữ “ đổ vàng” diễn tả 3 cuộc chuyển đổi:
/ Chuyển đổi trong không gian: Âm thanh đánh thức sắc màu chỉ trong chốc lát cả khu rừngnhuộm màu vàng kì ảo
./ Chuyển đổi thời gian: Màu vàng của rừng phách cho thấy thiên nhiên đã chuyển sang hè
./ Chuyển đổi cảm giác: Từ thính giác để nghe âm thanh chuyển sang thị giác để cảm nhận màusắc
+ Chữ “đổ” là một sáng tạo của Tố Hữu người đọc ngỡ như tiếng ve như một lọ mầu lớn nhuọm
màu cho cả rừng phách
- Con người:
+ Hình ảnh “ cô …mình” khắc họa vẻ đẹp cảu con người VB chịu thương chịu khó đọng lại trong
nỗi nhớ của người về xuôi
+ Hai chữ “ một mình” thể hiện chiều sâu trong nhớ thương xa cách Mới ngày nào người dân Vb
và các bộ cách mạng còn gắn bó vậy mà nay đã rời xa hai phương trời miền ngược – miền xuôi
*Bức tranh mùa thu
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”
+ Mặt khác khung cảnh thiên nhiên rừng thu trong đêm trăng còn gời không gian tâm tìnhtrong cuộc sống phù hợp với các khúc hát giao duyên cảu lứa đôi, của kẻ ở người đi
Trang 23+ Bốn chữ “ân tình thủy chun” đã nói được đạo lí của dân tộc đây là vẻ đẹp trong tâm hồn con
người Việt Nam
- Mượn hình thức trữ tình giàu tính dân tộc, Tố Hữu đã thể hiện thật thấm thía những tâm tìnhchung của con người Việt Nam trong thời đại Cách Mạng Đó là lẽ sống lớn, niềm vui lớn, tìnhcảm lớn- nội dung trữ tình bao trùm các sáng tác của thơ Tố Hữu
III Kết bài
- Vậy là người ra đi thông qua nỗi nhớ sâu sắc, đã khẳng định tấm lòng sắt son không gì có thểđổi thay của mình với Việt Bắc Bằng cách đó, người ra đi không chỉ giải tỏa được nỗi niềm bănkhoăn day dứt của người ở lại, mà còn tạo được lòng tin với con người nơi ấy
- Tiếng lòng của Tố Hữu gửi trọn trong đoạn thơ, bài thơ đâu chỉ là tiếng lòng của riêng nhà thơ,của riêng những con người Việt Nam đi kháng chiến mà thực sự đã trở thành tiếng lòng của cácthế hệ con người Việt Nam sau này mỗi khi hướng về Việt Bắc
Đề 5: Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc:
Những đường Việt Bắc của ta Đêm đểmầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sang như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng.
I Mở bài:( Tham khảo đề trước)
II Thân bài:
1 Khái quát chung:
- Hoàn cảnh sáng tác
- Nội dung chính: Cả bài thơ dâng đầy nỗi nhớ, nỗi nhớ khởi đầu từ cuộc chia tay của anh cán bộmiền xuôi với người dân VB
2 Dẫn dắt
- Vị trí: - Đoạn thơ được phân tích thuộc Phần I (90 câu thơ) của bài thơ Việt Bắc
- Nội dung đoạn thơ trước:
Nếu như những đoạn thơ trước tác giả diễn tả một Việt Bắc nghĩa tình thủy chung son sắt vớigiọng thơ ngọt ngào đằm thắm
- Nội dung đoạn thơ này: thì ở đoạn thơ này tác giả tái hiện lại một Việt Bắc tưng bừng khí thế
chiến đấu và chiến thắng qua giọng thơ sôi nổi hào hùng Đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ của anh bộđội kháng chiến về những năm tháng kháng chiến gian khổ và anh dung từ đó khắc họa bức
Trang 24tượng đài tổ quốc đi từ đau thương đến chiến thắng với một bút pháp sử thi và cảm hứng lãngmạn mang niềm tin và niềm lạc quan mạnh mẽ.
3 Phân tích đoạn thơ
* Câu 1,2: Những nẻo đường Việt Bắc
“Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rrạp như là đất rung”
- Hai câu thơ tái hiện lại không khí của thời đại chiến đấu Từ mọi miền TQ những đoàn quâncùng dân công hướng về mặt trận với sự sôi động của những ngày tổng tiến công
- Cụm từ “những đường Việt Bắc ” vừa gợi ra một không gian rộng lớn khắc họa hình ảnh những
con đường cụ thể trải khắp núi rừng đồng thời còn mang ý nghĩa biểu tượng cho con đường cách
mạng như Tố Hữu từng ca ngợi: "Đường cách mạng dài theo kháng chiến”
- Hình ảnh những con đường Việt Bắc đi liền với hai chữ “của ta” khắc họa tư thế làm chủ tự tin
vững mạnh của quân và dân ta Đồng thời khẳng định Việt Bắc là mảnh đất của niềm tự hào sâu
sắc Ý thơ này có sự gặp gỡ với cảm xúc của NKĐ trong bài thơ “Đất Nước”:
“Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta”
- Hình ảnh con đường ra trận được tác giả đặc tả trong không gian : đêm đêm” thể hiện một thờigian liên tục gợi hình ảnh một đoàn quân nối tiếp bền bỉ bất tận từ đêm này sang đêm khác Haichữ “ rầm rập” vừa gợi âm thanh vừa gợi hình ảnh Nó diễn tả được sự đông vui náo nức cùngsức mạnh của quân và dân ta
- Câu thơ sử dụng nghệ thuật so sánh
“ Đêm đêm …rung” kết hợp với nhịp thơ nhanh mạnh Âm hưởng thơ tưng bừng rộn rã khiến ta
có cảm giác như cả núi rừng đang rung chuyển bởi sức mạnh của con người được đo bằng thước
đo sông núi
*Câu 3,4: Hình ảnh đoàn quân
“Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu sung bạn cùng mũ nan”
- Hai câu thơ xuất hiện những từ láy mang giá trị tạo hình cao “điệp điệp trùng trùng” Đã miêu tảhình ảnh đoàn quân ra trận dài vô tận tựa như núi rừng trùng điệp đông đảo, mạnh mẽ
- Bên cạnh đó hình ảnh thơ vừa mang chất hiện thực vừa mang cảm hứng lãng mạn ánh sao… nan.
+ Đây là cảnh thực người lính hành quân trong đêm có sao sáng dẫn đường có thiên nhiên làmbạn
+ Hình ảnh thơ còn mang nghĩa tượng trưng Người đọc cảm nhận được như đất trời đang hànhquân cùng người lính Vẻ đẹp này ta từng gặp trong bài thơ đồng chí của Chính Hữu “đầu sungtrăng treo” nếu trăng trong đồng chí của Chính Hữu là ánh trăng hòa bình thì ánh sao trong ViệtBắc mang vẻ đẹp lí tưởng của niềm lạc quan, chiến thắng Từ đó khắc họa hình ảnh người línhvừa giản dị vừa lãng mạn anh hùng
+ Mặt khác hình ảnh thơ ngợi ca sức mạnh, tư thế vóc dáng của người lính sáng tựa sao rời Đó làsức mạnh mang tính sử thi Đây là cảm hứng ngợi ca
* Câu 5,6: Hình ảnh dân công
“Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”
- Hai câu thơ khắc họa hình ảnh dân công san đường, xẻ núi tải lương thực … ra chiến trường.Đây là cảnh tượng rất hoành tráng của cuộc chiến tranh nhân dân
- Hình ảnh “đỏ đuốc từng đoàn” là hình ảnh thơ giàu ý nghĩa vừa gợi sự đông vui vừa là biểu
tượng cho ngọn lửa nhiệt huyết của lí tưởng sẵn sàng chiến đấu vì tổ quốc vừa là ngọn lửa ấm ápnghĩa tình mà hậu phương dành cho tiền tuyến
Trang 25-Cách đặc tả “bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” đã phản ánh sức mạnh kì diệu của nhân dân
ta Đó là sức mạnh lấn át cả thiên nhiên đất trời Chính sức mạnh ấy đã làm nên chiến thắng ĐiệnBiên lừng lẫy chấn động địa cầu
*Câu 7,8: Ý thơ hướng về tương lai thể hiện một niềm tin chiến thắng.
“ Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
- Hình ảnh thơ bắt nguồn từ cảm xúc hiện thực đó là hình ảnh những đoàn xe ô tô nối đuôi nhau
ra chiến trường ánh đèn pha bật sáng xé tan màn đêm dày đặc của núi rừng Từ cảm xúc hiện thựcnày Tố Hữu muốn ca ngợi sức mạnh của lực lượng cơ giới của quân ta
- Hai câu thơ này còn mang ý nghĩa biểu tựong ẩn dụ:
+ “Nghìn đên thăm thẳm sương dày” ý thơ muốn nói đến những năm tháng đau thương nô
lệ của nhân dân ta dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai
+“ Đèn pha bật sáng như ngày mai lên” là biểu tượng cho tương lai tươi sáng cho độc lập
tự do của dân tộc
->Hai câu thơ mang niềm lạc qua tin tưởng mãnh liệt với âm hưởng lãng mạn cách mạng khỏekhoắn đã dựng lên bức tượng đài đất nước Việt Nam đi từ đau thương đến quật khởi anh hùng
*4 câu cuối: Niềm vui chiến thắng
Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc Điện Biên vui về.
Vui từ Đồng Tháp An Khê, Vui lên Việt Bắc đèo De núi Hồn.
- Tố Hữu có cách viết rất hay để diễn tả niềm vui chiến thắng “tin vui, vui từ, vui về, vui lên” không phải là một hai nơi rời rạc mà là “trăm miền” Cách diễn đạt ấy thể hiện niềm vui thắng
trận như reo lên trong lòng hàng triệu con người Bao trùm khắp chiều rộng và chiều dài của đấtnước từ Bắc vào Nam
- Trong 4 câu thơ xuất hiện nhiều địa danh “Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, Đồng Tháp, An Khê”
mỗi địa danh đều ghi tên các chiến công và đều là những mảnh đất thân yêu nghĩa tình
3 Đánh giá kết luận
- Đoạn thơ làm sống lại không khí hào hùng của một thời lịch sử không thể nào quên
- Viết về Việt Bắc chiến đấu và chiến thắng, Tố Hữu không viết riêng về một vùng đất mà trởthành biểu tượng chung cho sức mạnh kháng chiến, cho linh hồn cách mạng, cho ý chí của toàndân trong cuộc trường chinh vĩ đại
- Đoạn thơ giàu chất “sử thi” thể hiện rõ khả năng tạo được một bức tranh hoành tráng về lịch sử
dân tộc, gợi niềm tự hào về truyền thống yêu nước, anh hùng của dân tộc ta
III Kết luận.
- Bằng nguồn cảm hứng mạnh mẽ, chân thực của một hồn thơ tài năng và sáng tạo Chỉ với 12câu thơ mà Tố Hữu đã tái hiện lại được một bức tranh hoành tráng về sức mạnh to lớn của ĐấtNước và con người Việt Nam trong một thời kì lịch sử hào hùng Cho đến nay đã hơn nửa thế kỉtrôi qua nhưng mỗi khi đọc những vần thơ này ta lại cảm nhận được một ngọn lửa nhiệt tình CáchMạng, ngọn lửa ấy đang thôi thúc chúng ta hành động vì một nước Việt Nam ngày càng tươi sánghơn
- Qua đoạn thơ này ta dễ dàng nhận thấy được tính trữ tình chính trị, tính dân tộc đậm đà, cảmhứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi trong phong cách thơ Tố Hữu
BÀI 5: ĐẤT NƯỚC
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Nguyễn Khoa Điềm, 1943, xã Phong Hoà, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế
- Xuất thân trong gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng
Trang 26- 1964, tốt nghiệp Khoa Văn, trường Đại học sư phạm Hà Nội trở về miền Nam tham gia chiếnđấu và hoạt động văn nghệ đến 1975.
- Hiện nay: nghỉ hưu ở Huế, tiếp tục làm thơ
- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ thơ trẻ những năm chốngMĩ
- Phong cách thơ: Giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, mang màu sắc chính luận
2 Tác phẩm
2 Tác phẩm
a Hoàn cảnh sáng tác
- Trường ca “Mặt đường khát vọng”: hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên 1971, đầu 1974.
- Nội dung: Sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm ở miền Nam về đất nước, về sứmệnh thế hệ mình với quê hương đất nước
b Xuất xứ
- Phần đầu chương V của trường ca “Mặt đường khát vọng”
- Giá trị: Được xem là đoạn thơ hay về đề tài quê hương đất nước của thơ ca Việt Nam hiện đại
- Thể loại: trường ca (có sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình)
c Bố cục: 2 phần
- Phần 1: Từ đầu đến Làm nên đất nước muôn đời: Những nét riêng trong cảm nhận về đất nước
của Nguyễn Khoa Điềm
- Phần 2: Còn lại: Tư tưởng “Đất nước của Nhân dân”
II Đọc - hiểu văn bản
1 Phần 1: Những nét riêng trong cảm nhận của tác giả về đất nước
- Chọn những hình ảnh tự nhiên và bình dị để cảm nhận về đất nước:
“Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
… Đất Nước có từ ngày đó”
+ Nguyễn Khoa Điềm giúp ta cảm nhận đất nước một cách thật gần gũi: Đất Nước có trong câu
chuyện cổ tích “ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”, miếng trầu bà ăn, ngôi nhà mình ở,
chuyện đánh giặc ngoại xâm, chuyện phong tục tập quán, chuyện tình nghĩa sâu đậm
+ Lịch sử lâu đời của đất nước: được nhắc đến bằng câu chuyện cổ tích “Trầu cau”, truyền thuyết
Thánh Gióng, phong tục tập quán (Tóc mẹ thì bới sau đầu), nền văn minh lúa nước (Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng)
Đất nước được cảm nhận từ chiều sâu văn hoá và lịch sử
- Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận được đất nước là sự thống nhất hài hoà giữa các phương diệnkhông gian - địa lí, thời gian - lịch sử:
+ Tác giả chia tách khái niệm Đất Nước thành hai yếu tố đất và nước để cảm nhận và suy tư vềđất nước một cách sâu sắc:
./ Đất nước là nơi tình yêu đôi lứa nảy nở:
“Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn Nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
./ Đất Nước bao gồm cả núi sông, rừng bể:
“Đất là nơi xon chim phượng hoàng bay về hòn núi Bạc Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”.
Hình ảnh gợi không gian mênh mông: Niềm tự hào về đất nước trù phú, giàu đẹp, tài nguyên
vô tận
+ Đất Nước cũng chính là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao thế hệ: Từ quá
khứ (Những ai đã khuất), hiện tại (Những ai bây giờ), đến các thế hệ tương lai (Dặn dò con cháu chuyện mai sau)
Trang 27+ Tất cả đều không quên nguồn cội:
“Hằng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
- Mạch thơ thể hiện những suy ngẫm về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với Đất Nước
+ Đất Nước không ở đâu xa mà có mặt trong mỗi con người:
“Trong anh và em hôm nay, Đều có một phần Đất Nước”
Mỗi người Việt Nam đều được thừa hưởng một phần vật chất và tinh thần của đất nước
+ Đất nước là sự hài hoà hợp trong nhiều mối quan hệ: cá nhân với cá nhân (“Khi hai đứa cầm tay nhau - Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm), cá nhân với cộng đồng (Khi chúng ta cầm tay mọi người - Đất Nước vẹn tròn to lớn”)
Đất nước được xây dựng trên cơ sở của tình yêu thương và tình đoàn kết dân tộc
- Vì vậy, mỗi con người cần có trách nhiệm đối với đất nước:
"Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời”
Điệp ngữ “phải biết”, những từ ngữ “máu xương”, “gắn bó”, “san sẻ”, “hoá thân”, cách xưng
hô thân mật “Em ơi em”, giọng thơ ngọt ngào tha thiết như lời tâm sự, nhắn gửi chân thành dànhcho thế hệ trẻ cũng như bản thân mình
3 Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân
a Những phát hiện mới mẻ về không gian- lãnh thổ - địa lí của đất nước
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước mình những núi Vọng Phu
… Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”
Dưới cái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm, thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩmcủa tạo hoá mà còn được hình thành từ cuộc đời và số phận của nhân dân, từ: người vợ nhớchồng, cặp vợ chồng yêu nhau, người học trò nghèo, đến những người dân vô danh được gọibằng những cái tên mộc mạc như Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
- Từ đó, tác giả đi đến một kết luận mang tính khái quát:
“ Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước một lối sống cha ông
Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hoá núi sông ta.”
Theo tác giả: Những thắng cảnh đẹp, những địa danh nổi tiếng khắp mọi miền của đất nướcđều do nhân dân tạo ra, đều kết tinh của bao công sức và khát vọng của nhân dân, của những conngười bình thường, vô danh
- Trên phương diện thời gian - lịch sử cũng chính nhân dân, những con người bình dị, vô danh đã
“Làm nên đất nước muôn đời”:
+ Chính vì vậy, khi cảm nhận Đất Nước bốn ngàn năm lịch sử, nhà thơ không nói đến các triềuđại, các anh hùng mà nhấn mạnh đến những con người vô danh, bình dị:
Có biết bao người con gái con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ làm ra đất nước
Chọn nhân dân không tên tuổi kế tục nhau làm nên Đất Nước là nét mới mẻ độc đáo củaNKĐiềm
Trang 28- Trên phương diện văn hoá, cũng chính nhân dân là người lưu giữ và bảo tồn bản sắc văn hoádân tộc:
“Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái.”
+ Đại từ “Họ” đặt đầu câu + nhiều động từ “giữ, truyền, gánh”
Vai trò của nhân dân trong việc giữ gìn và lưu truyền văn hoá qua các thế hệ
+ Chính những con người “giản dị và bình tâm” “không ai nhớ mặt đặt tên” đã gìn giữ và truyềnlại cho thế hệ mai sau mọi giá trị tinh thần và vật chất của Đất nước từ “hạt lúa, ngọn lửa, tiếngnói đến cả tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
- Họ có công trong việc chống ngoại xâm, dẹp nội thù:
“Có ngoại xâm thì dẹp ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại”
Họ giữ yên bờ cõi và xây dựng cuộc sống hoà bình
- Điểm hội tụ và cũng là cao điểm của cảm xúc trữ tình trong đoạn thơ là ở câu:
“Để cho Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”.
+ Khi nói đến “Đất Nước của nhân dân”, tác giả mượn văn học dân gian để nhấn mạnh thêm vẻ đẹp của đất nước: “Đất Nước của ca dao thần thoại”.
+ Từ nền văn học dân gian, nhà thơ đã khám phá ra những vẻ đẹp tâm hồn và tính cách của dântộc
./ Họ là những con người yêu say đắm và thuỷ chung: “Dạy anh yêu em từ thuở trong nôi”.
./ Quý trọng nghĩa tình (Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội)
/ Quyết liệt trong chiến đấu với kẻ thù (Biết trồng tre đợi ngày thành gậy - Đi trả thù mà không
sợ dài lâu)
- Kết thúc đoạn thơ là hình ảnh dòng sông với những điệu hò:
“Ơi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”
như muốn kéo dài thêm giai điệu ngân nga với nhìêu cung bậc của bản trường ca về Đất Nước
III Tổng kết
IV Luyện tập
Các chất liệu văn hóa dân gian sử dụng trong bài thơ:
- Sử dụng chất liệu văn học dân gian: ca dao, thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, thành ngữ, tụcngữ
- Ví dụ: Thánh Gióng,…
BÀI 6: SÓNG (XUÂN QUỲNH)
Đề 1: Phân tích bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.
- Một trong những bài thơ tình hay nhất của Xuân Quỳnh là bài thơ Sóng
Trang 29II Thân bài:
*Khái quát chung:
- XQ viết bài thơ Sóng vào cuối năm 1967 khi nữ sĩ đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền chính
những con sóng bạc đầu vỗ trong lòng biển đã khơi nguồn cảm hứng cho nữ sĩ viết bài thơ này
- Bài thơ ra đời ở một thời điểm có nhiều biến động:
+ Cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc ta diễn ra ác liệt tuổi trẻ mang trong mình khátvọng lên đường giải phóng quê hương, ở những sân ga bến xe diễn ra các cuộc chia tay đầy lưuluyến
+ Đặc biệt XQ viết bài thơ này khi mới 25 tuổi cuộc sống riêng tư còn nhiều chuyện buồndang dở
- Như vậy Sóng ra đời trong bối cảnh chiến tranh chống mĩ ác liệt khi đó tình yêu lứa đôi chưa
phải là một đề tài phổ biến trong thơ ca, nhất lại là tiếng nói của cái tôi cá nhân đích thực khaokhát kiếm tìm tình yêu, Vì vậy bài mang giá trị nhân văn sâu sắc
- Sóng được in trong tập Hoa dọc chiến hào (năm 1968) Lúc mới ra đời bài thơ còn xa lạ với
độc giả nhưng càng về sau thì càng chiếm được cảm tình của độc giả
- Sóng là một hình tượng động, bất biến cũng như tình yêu muôn thuở / Có bao giờ đứng yên Vì
vậy, sóng được các nhà thơ chọn làm thi liệu để biểu tượng cho tình yêu Xuân Diệu mượn sónglàm hình ảnh biểu tượng cho tình yêu:
Anh xin làm sóng biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ thật êm Hôn êm đềm mãi mãi
Đã hôn rồi hôn lại Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt.
Còn Xuân Quỳnh lại mượn sóng là biểu tượng cho những cung bậc tình cảm của ngườiphụ nữ trong tình yêu nhiều khao khát và biến động Hai hình tượng sóng và em luôn đi đôi sánhcặp với nhau Sóng là em mà em cũng là sóng Sóng và em hòa quyện vào nhau, có lúc khiến takhông nhận ra đâu là em đâu là sóng nhưng có lúc lại tách ra, soi chiếu vào nhau, tôn lên những
vẻ đẹp vừa đa dạng lại vừa phong phú Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ âm hưởng dàodạt, nhịp nhàng của bài thơ Thể thơ năm chữ có tác dụng tạo ra những nhịp điệu của sóng Cả bàithơ là một đại dương, mỗi khổ thơ là một con sóng lớn, mỗi câu thơ là một con sóng nhỏ Tất cả
đã tạo nên một âm hưởng mênh mang, dào dạt của những con sóng lòng nhiều cung bậc
*Phân tích:
1 Hai khổ thơ đầu: Mượn sóng để diễn tả tâm hồn và khát vọng tình yêu
a Khổ thơ đầu: nhà thơ mượn tính chất của sóng để nói về tâm hồn người phụ nữ đang yêu:
- Mở đầu bài thơ Sóng, Xuân Quỳnh đã sử dụng nghệ thuật đối song hành để nói về tính chất của
sóng, đem đến cho người đọc những khám phá thi vị:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ + Sóng luôn tồn tại những trạng thái tưởng chừng như đối lập: Dữ dội – dịu êm; Ồn ào – lặng lẽ Khi diễn tả tính chất của sóng, nhà thơ đã dùng từ và chứ không dùng từ mà Và chỉ sự tồn tại bổ
sung cho nhau Nghệ thuật đối đã làm hiện lên vẻ đẹp của những con sóng biển ngàn đời đối cực.Những lúc biển động, bão tố phong ba thì biển dữ dội ồn ào còn những giây phút sóng gió đi quabiển lại hiền hòa trở về dịu êm, lặng lẽ
+ Xuân Quỳnh đã mượn nhịp sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng
bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu, không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát Vì
Trang 30tình yêu muôn thuở/ Có bao giờ đứng yên Đúng như vậy, tình yêu của người con gái nào bao giờ yên định bởi có lúc họ yêu mãnh liệt hết mình với những nhớ nhung cả trong mơ còn thức, đôi
khi ghen tuông giận hờn vô cớ:
Nếu phải cách xa nhau Biển chỉ còn sóng gió Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố (Thuyền và Biển)
Nhưng cũng có lúc người con gái lại thu mình trở về với chất nữ tính đáng yêu, họ lặng lẽ, dịu êmngắm soi mình và lặng im chiêm nghiệm:
Có những tình yêu không thể nói bằng lời Chỉ hiểu nhau qua từng ánh mắt
Nhưng đó là tình yêu bền vững nhất Bởi thứ ồn ào là thứ dễ lãng quên
(Đinh Thu Hiền)
- Sóng của Xuân Quỳnh là tiếng nói của một tâm hồn thiếu nữ trẻ trung, tiếng nói của một trái timchân thành và đam mê, luôn rực cháy chất trẻ trung mãnh liệt, khao khát được sống hết mình vàyêu hết mình Vì thế, ở hai câu thơ sau nhà thơ nói về khát vọng tự nhận thức của sóng:
Sông không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể
+ Ba hình ảnh sông, sóng, bể như là những chi tiết bổ sung cho nhau: sông và bể làm nên đời sóng, sóng chỉ thực sự có đời sống riêng khi ra với biển khơi mênh mang thăm thẳm Mạch sóng
mạnh mẽ như bứt phá không gian chật hẹp để khát khao một không gian lớn lao Hành trình tìm
ra tận bể chất chứa sức sống tiềm tàng, bền bỉ để vươn tới giá trị tuyệt đích của chính mình Sóngkhông cam chịu một cuộc sống, đời sống chật hẹp, tù túng nên nó làm cuộc hành trình ra biểnkhơi bao la để thỏa sức vẫy vùng Tình yêu của Xuân Quỳnh cũng vậy, tình yêu của người phụ nữcũng không thể đứng yên trong một tình yêu nhỏ hẹp mà phải vươn lên trên tất cả mọi sự nhỏ hẹptầm thường để được sống với những tình yêu cao cả, rộng lớn, bao dung Đây là một quan niệmtình yêu tiến bộ và mạnh mẽ của người phụ nữ thời đại Ngày xưa, vì quan niệm tình yêu cổ hủ
cha mẹ đặt đâu con ngồi đó mà bao cô gái đã phải cất lên lời than thân ai oán:
Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân.
Hoặc:
Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?
+ Từ đó ta mới thấy hết được cái mới mẻ trong quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnh: Người phụ
nữ khao khát yêu đương nhưng không còn nhẫn nhục, cam chịu nữa Người phụ nữ ấy chủ độngtìm đến với tình yêu cao đẹp để hiểu mình, được sống là chính mình
c Khổ thơ thứ hai: Từ sự tồn tại vĩnh hằng của sóng, người phụ nữ đang yêu nhận thức về khát vọng tình yêu của con người, nhất là khát vọng tình yêu của tuổi trẻ:
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ
- Hai câu đầu: từ sự quan sát, suy ngẫm về sóng, nhân vật trữ tình bỗng nhận ra quy luật tồn tạicủa sóng:
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
- Từ Ôi cảm thán như tiếng lòng thốt lên từ nỗi thổn thức của trái tim yêu Nghệ thuật đối lập ngày xưa – ngày sau càng làm tôn thêm nét đáng yêu của sóng Sóng là thế muôn đời vẫn thế vẫn
Trang 31dữ dội ồn ào vẫn dịu êm lặng lẽ Nghĩa là sóng tồn tại bất diệt với đại dương, biển vẫn ngàn nămcồn cào xáo động không ngừng nghỉ.
- Chính điều này khiến nhà thơ liên tưởng đến khát vọng tình yêu của con người:
Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ
- Mạch thơ chuyển đổi một cách bất ngờ từ thiên nhiên sang con người Nếu sóng tồn tại bất diệtvới đại dương thì tình yêu tồn tại bất diệt với con người, đặc biệt là người trẻ tuổi Có nghĩa làtình yêu tồn tại vĩnh hằng
Bởi tình yêu tuổi trẻ luôn khát vọng luôn khát khao và mơ ước Nó làm ta bồi hồi khát khao và
nhung nhớ bởi Làm sao sống được mà không yêu/ Không nhớ không thương một kẻ nào Tình yêu
làm điên đảo tuổi trẻ với những nhớ nhung giận hờn, những cồn cào da diết như lời thơ Xuân
Quỳnh đã từng viết Những ngày không gặp nhau/Lòng thuyền đau rạn vỡ/ Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu mong nhớ Tình yêu là điểm sáng vĩnh cửu cho con người hướng tới Vì thế, cảm xúc bồi hồi trong ngực trẻ mãi là cảm xúc vĩnh hằng
=> Hai khổ thơ đầu:
- Từ quy luật tự nhiên Xuân Quỳnh đã khám phá và biểu đạt một cách rất nghệ thuật quy luật tâmhồn của con người: khi yêu, tâm hồn con người đầy biến động, luôn khao khát tình yêu nhưngkhông bao giờ tự bằng lòng, luôn tìm cách lí giải tình yêu để tự hoàn thiện mình
- Giọng thơ hồn nhiên pha lẫn suy tư Ngôn từ chọn lọc: sử dụng nhiều từ láy: Dữ dội, ồn ào, lặng lẽ, bồi hồi; sử dụng thán từ ôi để bộc lộ cảm xúc Sử dụng các biện pháp nghệ thuật: tương
phản đối lập, nhân hóa, ẩn dụ
2 Hai khổ thơ 3 – 4: Qua sóng, tìm lời giải đáp cho câu hỏi khởi nguồn của tình yêu:
- Đứng trước đại dương mênh mông, nhìn những con sóng biển xô bờ, Xuân Quỳnh liên tưởngđến tình yêu, bộc bạch tâm hồn của người phụ nữ đang yêu Có lẽ, như vậy cũng không đủ để nhà
thơ giãi bày khát vọng cho nên nữ thi sĩ đã bộc lộ trực tiếp qua nhân vật trữ tình em Em được đặt
trong sự đối diện với muôn trùng sóng bể, với cái vô biên của đất trời, của tình yêu
- Khi đứng trước cõi vô biên, người ta thường hướng đến cái lớn lao Đứng trước biển lớn, ngườiphụ nữ đang yêu suy nghĩ về tình yêu lớn của mình và suy nghĩ về biển:
+ Cấu trúc em nghĩ về được điệp lại hai lần, thể hiện sự suy tư của nhân vật trữ tình Người con
gái ấy muốn cắt nghĩa nguồn gốc tình yêu của mình Tình yêu là sóng, là gió Và qua sóng, gió
ấy, nhà thơ đã nói lên thật dễ thương cái nhu cầu tự nhận thức, tự phân tích, lí giải, nhưng lạikhông thể cắt nghĩa nổi của tình yêu Tình yêu cũng như sóng biển, gió trời vậy thôi, nó tự nhiên,hồn nhiên như thiên nhiên và cũng khó hiểu, nhiều bất ngờ như thiên nhiên
+ Người phụ nữ băn khoăn về khởi nguồn của tình yêu và bộc bạch một cách hồn nhiên, chân
thành sự bất lực không lý giải được câu hỏi muôn đời ấy trong tình yêu: Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau Đây là một cách cắt nghĩa về tình yêu rất Xuân Quỳnh, một cách cắt nghĩa rất nữ tính, rất trực cảm Lí giải được ngọn nguồn của sóng thì dễ bởi Sóng bắt đầu từ gió nhưng
để hiểu Gió bắt đầu từ đâu thì thi nhân lại ấp úng Em cũng không biết nữa Cũng như tình yêu của anh và em, nó đến rất bất ngờ và tự nhiên Câu thơ Em cũng không biết nữa như một cái lắc
đầu nhè nhẹ, bâng khuâng và phân vân Nhân vật trữ tình chợt nhận ra rằng: lí trí con ngườikhông bao giờ cắt nghĩa được sự huyền diệu và bí ẩn của tình yêu Tình yêu là vậy, khó lí giải,khó định nghĩa Xuân Diệu – ông hoàng của thi ca tình yêu cũng đã từng băn khoăn khi định
nghĩa về tình yêu Đố ai định nghĩa được tình yêu/ Có khó gì đâu một buổi chiều/ Nó chiếm hồn
ta bằng nắng nhạt/ Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu Chính vì không thể lí giải rõ ngọn ngành nên
tình yêu vì thế mà trở nên đẹp và là cái đích để cho muôn người đi tìm và khám phá Tình yêu làbài toán chưa có lời giải đáp, tình yêu như bài thơ chưa có hồi kết Vì thế tình yêu luôn đẹp, luôn
mới và hấp dẫn Có lẽ vì thế mà thi sĩ đã lắc đầu: Em cũng không biết nữa- Khi nào ta yêu nhau
=> Hai khổ thơ:
Trang 32- Xuân Quỳnh đã phát hiện ra quy luật tình yêu bằng trực cảm và sự trải nghiệm trong lòng mình.
Quy luật ấy là: tình yêu cũng bí ẩn như sóng biển, như gió trời, không thể cắt nghĩa được tìnhyêu
- Giọng thơ tâm tình tha thiết Sử dụng câu nghi vấn thể hiện những băn khoăn của nhân vật trữtình Điệp cấu trúc ở câu thơ thứ hai và câu thơ thứ ba của khổ thơ thứ ba
3 Khổ thơ thứ 5: nỗi nhớ trong tình yêu
- Trạng thái tình cảm thường trực trong tình yêu là nỗi nhớ Xưa nay có tình yêu nào lại không
được đo bằng nỗi nhớ? Người xưa từng chiêm nghiệm: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề (Một
ngày không gặp dài như ba năm) Đã có biết bao vần thơ viết về nỗi nhớ, nỗi tương tư:
+ Nỗi nhớ người yêu được diễn tả thật cảm động trong ca dao:
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than.
(Ca dao)+ Hơn một ngàn năm về trước, người vợ trong thơ Vương Xương Linh nhớ chồng đến hao gầy cảvành trăng:
Nhớ chàng như mảnh trăng đầy Đêm đêm vành sáng hao gầy đêm đêm.
+ Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu cũng từng thao thức bao đêm vì nhớ nhung:
Trời còn có bữa sao quên mọc Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em
Hòa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng lòng, ta tìm về cõi sâu kín của tâm hồn thi sĩ Bài thơ
Sóng ra đời khi những con sóng lòng dâng lên dữ dội, những con sóng nhớ thương, thao thức của
một tâm hồn đang yêu Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau vỗ vào tâm hồn người đọc Sóng
và nhân vật em đan quyện vào nhau để thì thầm những nỗi niềm, những tâm tư Đây là một khổthơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu Sáu câu thơ trải dài như nỗi thaothức, băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm Bằng tình yêu mãnh liệt, chân thành, người con gáiđang yêu muốn bộc bạch nỗi nhớ của mình:
+ Mượn hình ảnh sóng nhớ bờ để diễn tả nỗi nhớ trong tình yêu của mình:
Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Hai câu thơ với hình thức lặp cấu trúc quyện hòa cùng nghệ thuật đối dưới lòng sâu – trên mặt nước tạo nên sự điệp trùng của những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau Có con sóng gầm
gào trên mặt đại dương nhưng cũng có con sóng cuộn trào trong lòng biển cả Con sóng ngầmcòn mãnh liệt hơn cả con sóng trên mặt nước Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của
sóng biển Sóng là em, em là sóng Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp
khó hiểu Lúc lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn mãi là em, vẫnmãi ôm trong lòng một nỗi nhớ thương không dứt Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dộithì:
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được
Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của ngườiphụ nữ khi yêu Sóng muôn đời vẫn thế, có bao giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, cókhi nào thôi ngừng hành trình đến với bờ dù muôn vời cách trở Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh
yên, lặng lẽ Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo không ngủ được Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại dương thì ngàn đời
vẫn khát khao tìm về bến bờ tĩnh tại Chưa đến được bờ thì nhớ thương, thương nhớ, thì thao thứcmột nỗi niềm Vì nhớ bờ nên con sóng đã hành trình vượt qua không gian bao la và thời gian xa
thẳm Nó bất chấp cả thời gian Ngày đêm không ngủ được để quyết tâm hướng vào bờ cho thỏa
Trang 33nỗi niềm mong nhớ Nỗi nhớ của người con gái đang yêu cũng mãnh liệt như sóng nhớ bờ, nỗinhớ sâu sắc đến mức choán đầy tầng sâu, lấp phủ bề rộng, lĩnh trọn cả thời gian
+ Tuy nhiên, với Xuân Quỳnh, như thế vẫn chưa đủ để diễn tả nỗi nhớ, nhà thơ đã trực tiếp thổ lộ:
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
Xuân Quỳnh dùng chữ lòng rất tinh tế Lòng là nơi sâu kín nhất của tâm hồn con người Nơi bí
mật thẳm sâu của tình yêu và nỗi nhớ Khi Xuân Quỳnh nói lòng em nhớ nghĩa là nữ sĩ đã phơi
bày tất cả gan ruột của mình để dốc hết yêu thương mà gửi về người mình yêu Nỗi nhớ khôngchỉ có mặt trong thời gian được ý thức mà còn gắn với tiềm thức – thời gian trong mơ Vị ngọt
ngào mê đắm của tình yêu lan tỏa trong cách nói nghịch lí Cả trong mơ còn thức.
Câu thơ Cả trong mơ còn thức lóe lên điểm sáng của nghệ thuật Nó làm đảo lộn nhịp sống bởi
tình yêu luôn làm cho con người khó thức ngủ theo giấc giờ điều độ Nỗi nhớ không chỉ làm lòng
em bổi hổi bồi hồi, như đứng đống lửa như ngồi đống than nó còn làm cho em nhớ nhung, thao
thức ngay cả trong giấc ngủ Ta cảm nhận được nỗi nhớ người yêu đến da diết, cháy bỏng, nhớđến kiệt cùng tâm linh: không chỉ ngự trị trong ý thức mà còn đi vào cả trạng thái vô thức Có thểnói, với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bậc nhất của thi ca hiện đạiViệt Nam
=> Khổ thơ đã khẳng định:
- Xuân Quỳnh là nhà thơ luôn sống trong tình yêu, sống bằng tình yêu Qua nỗi nhớ người đọc
cảm nhận được tình yêu chân thành, tha thiết và sâu sắc của một người phụ nữ suốt đời dồn hếttâm lực để gìn giữ hạnh phúc đời thường
- Giọng thơ vừa tha thiết vừa khắc khoải Sáng tạo hình ảnh bờ để gián tiếp thể hiện nỗi nhớ Sử
dụng các biện pháp điệp từ, điệp cấu trúc cú pháp, đối lập, nhân hóa
4 Khổ thơ thứ 6: khẳng định sự thủy chung trong tình yêu
- Nói về sự thủy chung thì đó là tứ thơ quen thuộc Trong thơ truyền thống thường dùng nhữnghình ảnh quen thuộc như thuyền, bến, còn ở đây Xuân Quỳnh lại mượn phương hướng đất trời đểkhẳng định lòng chung thủy thì có thể xem như là một sáng tạo mới mẻ của nhà thơ Ở khổ thơ
này, việc dùng hàng loạt những hình ảnh đối lập: xuôi - ngược, bắc - nam kết hợp với cách nói
ngược đã tạo nên hiệu quả biểu đạt nội dung rõ nét Bình thường, người ta nói ngược bắc, xuôi
nam Xuân Quỳnh nói ngược lại: xuôi về phương bắc, ngược về phương nam Phải chăng sự cách
xa trong tình yêu dù vì bất cứ lí do gì cũng là nghịch lí Vì thế mà ngược thành xuôi, xuôi thành ngược Hay vì trong trái tim người con gái, đất trời rộng lớn chỉ có duy nhất một phương – phương anh, nên dẫu bắc hay nam, xuôi hay ngược cũng đều không còn có ý nghĩa gì nữa Xuân Quỳnh buộc chặt bao sợi nhớ, sợi thương về phương anh:
Chỉ riêng điều được sống cùng anh Niềm mơ ước trong em là lớn nhất Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực Giây phút nào tim đập chẳng vì anh
Thế mới biết tình yêu của Xuân Quỳnh nồng nàn, mãnh liệt thế nào Hướng về anh thì có thể thay
đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch một phương thì nơi em hướng về là bất di bất dịch Từ đó
nhà thơ đã nói đến nỗi nhớ bất chấp vạn vật, khoảng cách, tình yêu là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồnkhông có giới hạn Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểu thêm tình cảm của nữ sĩ:
Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi
Một nhà văn người Cô - lôm- bi - a từng đạt giải Nô- ben văn học đã nói: Con bướm phải mất
180 triệu năm mới có thể cất cánh lên được và loài người cũng mất ngần ấy năm mới biết khóc, biết cười cho tình yêu Hóa ra, trong tình yêu có một thứ được gọi là văn hóa và biểu hiện của văn
hóa trong tình yêu đó là phẩm chất thủy chung mà Xuân Quỳnh nói tới ở khổ thơ thứ sáu này Sự
Trang 34thủy chung mà nữ thi sĩ khẳng định khiến người đọc nhận ra quan niệm tình yêu của Xuân Quỳnhmới mẻ, mạnh dạn nhưng rất truyền thống Việc sử dụng các hình ảnh đối lập, cách nói ngược làsáng tạo dộc đáo của Xuân Quỳnh, làm cho câu thơ hàm súc, ý vị hơn, diễn tả thật sâu sắc nỗinhớ và sự thủy chung trong tình yêu.
5 Khổ thơ thứ bảy: Niềm tin trong tình yêu
- So sánh hành trình của những con sóng từ đại dương tới bờ, Xuân Quỳnh thấy vững tin hơn vàotình yêu của chính mình Con sóng tình yêu của Xuân Quỳnh cũng như bao nhiêu con sóng khác,
chắc chắn sẽ vượt qua muôn vời cách trở để đến được với bờ Lúc ấy, sóng mới thôi thao thức.
- Ở khổ thơ này, nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ một cách tinh tế Nếu viết theo trật tựthường đó là:
Dù muôn vời cách trở Con nào chẳng tới bờ
Nhưng Xuân Quỳnh lại chọn kết cấu đảo:
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
Cách diễn đạt ấy khiến niềm tin sâu sắc mà vẫn mong manh lo sợ, niềm tin mãnh liệt chân thành vào đích đến cuối cùng của tình yêu như có thêm dư vị đắng cay của sự nếm trải Niềm tin, nghị lực, quyết tâm ấy của Xuân Quỳnh ta nghe như tiếng nói, sự đồng vọng của người xưa:
Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo Ngũ lục sông cũng lội
Thất bát đèo cũng qua
=> Khổ thơ thứ bảy:
- Thể hiện niềm tin mãnh liệt của Xuân Quỳnh vào tình yêu và hạnh phúc Khi viết bài thơ này,Xuân Quỳnh đã hai mươi lăm tuổi, đã nếm trải những đổ vỡ trong tình yêu, nhưng điều đáng trântrọng là người phụ nữ ấy vẫn không bao giờ hết tin tưởng vào tình yêu, bởi lẽ đó là một trái timluôn yêu thương đến tận cùng cảm xúc
- Giọng thơ tha thiết, tin tưởng Biện pháp đảo ngữ 6 Hai khổ thơ cuối: Cảm nhận về sự hữu hạn của đời người và khát vọng muốn hòa nhập tình yêu cá nhân vào tình yêu lớn của nhân loại để tình yêu trường tồn mãi với thời gian:
- Khổ thơ thứ tám:
Xuân Quỳnh qua khổ thơ trên đã phần nào cho người đọc nhận thức rõ về những dự cảm và nỗi
băn khoăn của nữ sĩ Những từ tuy dài thế – vẫn đi qua – dẫu rộng như chứa đựng ở trong nó ít
nhiều nỗi âu lo Tuy thế nhà thơ vẫn tin tưởng, tin tưởng ở tấm lòng nhân hậu và tình yêu chânthành của mình sẽ vượt qua tất cả như áng mây kia như năm tháng kia Có thể nói Xuân Quỳnhyêu thương tha thiết, mãnh liệt nhưng cũng tỉnh táo nhận thức dự cảm những trắc trở, thử tháchtrong tình yêu; đồng thời cũng tin tưởng vào sức mạnh tình yêu sẽ giúp người phụ nữ vượt quathử thách đến vói bến bờ hạnh phúc Cho nên, sóng sẽ đến bờ, năm tháng sẽ đi qua thời gian dàiđằng đẵng và đám mây nhỏ bé sẽ vượt qua biển rộng để bay về xa Một loạt hình ảnh thơ ẩn dụđược bố trí thành một hệ thống tương phản, đối lập để nói lên dự cảm tỉnh táo, đúng đắn và niềmtin mãnh liệt của nhà thơ vào sức mạnh của tình yêu
+ Cuộc đời là biển lớn tình yêu, kết tinh vị mặn ân tình, được tạo nên và hòa lẫn cùng trăm consóng nhỏ Trong quan niệm của nhà thơ, số phận cá nhân không thể tách khỏi cộng đồng Sóng
Trang 35không phải là biểu tượng của một cái tôi ngạo nghễ và cô đơn như thơ lãng mạn Khát vọng lớnnhưng trong cách nói Xuân Quỳnh lại rất khiêm nhường: trăm con sóng nhỏ như là sự tổng hòanhững vẻ đẹp khác nhau để tạo thành biển lớn Nhà thơ đã thể hiện một khát vọng mãnh liệtmuốn làm trăm con sóng để hòa mình vào đại dương bao la, hòa mình vào biển lớn tình yêu để
một đời vỗ muôn điệu yêu thương Người yêu người, sống để yêu nhau (Tố Hữu) Phải chăng đó
là khát vọng muốn bất tử hóa tình yêu của nữ sĩ Xuân Quỳnh? Đó không chỉ là tinh thần của conngười thời đại chống Mĩ mà còn là âm vang của một tấm lòng luôn tha thiết với sự sống, với tìnhyêu
=> Trước Xuân Quỳnh, đã có không ít nhà thơ nữ viết về tình yêu nhưng hiếm có ai dám bày tỏtrực tiếp và mãnh liệt như Xuân Quỳnh Điều đó chứng tỏ nhà thơ không chỉ có niềm tin vào cuộcđời mà còn vững tin ở chính mình Con sóng Xuân Quỳnh dẫu có tan ra thành trăm con sóng nhỏgiữa biển lớn tình yêu, giữa biển lớn cuộc đời thì vẫn cứ là con sóng Xuân Quỳnh vỗ mãi đếnngàn năm Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân
dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ Cho nên,
có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trongtình yêu
Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ:
- Thể thơ năm chữ với những câu thơ ngắn không ngắt nhịp rất phù hợp với việc miêu tả hìnhtượng sóng Nhịp thơ êm đềm du dương mang âm hưởng của nhịp sóng thiên nhiên và nhịp điệutâm hồn người phụ nữ đang yêu
- Về hình tượng:
+ Mượn hình tượng sóng để cất lên tiếng lòng của nhân vật trữ tình em, tạo mối liên hệ giữa sóng
và em soi chiếu vào nhau để bộc lộ tình cảm, khát vọng của nhân vật trữ tình.
+ Qua hình tượng sóng, ta lắng nghe được những rung động, bồi hồi trong tâm hồn thi sĩ Cấu
trúc bài thơ được xác lập theo cách đan cài giữa hai cặp hình tượng: sóng – bờ, em – anh.
- Về giọng điệu:
+ Giọng điệu tâm tình, trẻ trung, hồn nhiên, chân thật
+ Giọng điệu thơ có lúc suy tư, có tính trải nghiệm, triết lí
- Về ngôn ngữ: ngôn ngữ thơ bình dị với những so sánh liên tưởng gần gũi quen thuộc nhưng lạichứa đựng tình cảm mãnh liệt, nồng nàn, da diết
- Về biện pháp tu từ: sử dụng kết hợp nhiều biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, đối lập,điệp từ, điệp cấu trúc câu
III Kết bài:
Qua bài thơ Sóng, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp và sức sống tâm hồn của người phụ nữ trongtình yêu Người phụ nữ ấy mạnh bạo chủ động bày tỏ những khát khao và rung động trong tâmhồn Những người đang yêu ngày trước, bây giờ và có thể cả mai sau sẽ tìm gặp được mình trong
bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh Sóng ra đời cách đây đã lâu nhưng dư ba và độ say nồng của nó
vẫn còn mãi mãi Nói như cách nói của một nhà phê bình thơ: Sóng mãi mãi còn nổi sóng và
Xuân Quỳnh xứng đáng là nhà thơ nữ xuất sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại.
BÀI 7 : NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
2.1.2 Tác phẩm “Người lái đò Sông Đà”
a Hoàn cảnh sáng tác
- Tùy bút Người lái đò Sông Đà được in trong tập tuỳ bút Sông Đà (xuất bản lần thứ nhất năm
1960) - gồm mười lăm bài tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo
- Tác phẩm Sông Đà được viết trong thời kì xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Đó là kết
quả của chuyến đi thực tế đầy hào hứng và gian khổ khi lên mảnh đất Tây Bắc rộng lớn và xa xôi,
không chỉ để thỏa mãn cơn đói của thú xê dịch mà chủ yếu là tìm “chất vàng” của thiên nhiên và
Trang 36“chất vàng mười” đã qua thử lửa của con người lao động và chiến đấu của miền đất Tây Bắc củanhà văn Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồngbào các dân tộc Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồncảm hứng sáng tạo.
Người lái đò Sông Đà là một trong những áng văn tiêu biểu nhất của tập Sông Đà.
b Chủ đề
- Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vĩ và tuyệt vời thơ mộng, Nguyễn Tuân còn pháthiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thửlửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc”
- Qua Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc họa những nét thơ
mộng, hùng vĩ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo
và trữ tình Đồng thời, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của conngười lao động mới: chất vàng mười của đất nước trong xây dựng Chủ nghĩa xã hội qua hình ảnhngười lái đò sông Đà Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơmộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa
c Lí do Nguyễn Tuân chọn sông Đà làm đối tượng miêu tả
- Sông Đà là con sông có nét riêng độc đáo mà các sông khác không có:
Chúng thuỷ giai đông tẩu
và trữ tình” của sông Đà Con sông độc lạ thích hợp với ngòi bút độc lạ
Đề 1 Vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của hình tượng con sông Đà
I Mở bài
- Giới thiệu tác giả: - Nguyễn Tuân là một trong những cây bút tiêu biểu của văn xuôi hiện đại.
Nói đến ông là người ta nghĩ ngay đến một nhà văn tài hoa, uyên bác và có một cách diễn đạt rất
độc đáo.Ông được xem là người sinh ra để viết tùy bút, nhà “ ảo thuật” về ngôn từ, cú pháp tiếng
việt
- Người lái đò sông Đà là thiên tùy bút đặc sắc in trong tập Sông Đà, xuất bản năm 1960 của
Nguyễn Tuân Trong thiên tùy bút này, Nguyễn Tuân không chỉ ca ngợi con người lao động Tâybắc “ thứ vàng mười đã qua thử lửa” mà còn phát hiện và ca ngợi vẻ đẹp độc đáo của con sôngĐà: vừa dữ dội hung bạo, vừa thơ mộng trữ tình
II Thân bài:
1 Khái quát chung:
- Hoàn cảnh sáng tác: Người lái đò sông Đà là một áng văn trong tập tùy bút Sông Đà (1960) –
thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của Nguyễn Tuân trong chuyến đi gian khổ và hào hùng tới miềnTây Bắc rộng lớn của Tổ quốc Sông Đà gồm 15 thiên tùy bút và một bài thơ ở dạng phác thảo.Mục đích chính của chuyến đi tới Tây Bắc của nhà văn đồng thời cũng là cảm hứng chủ đạo của
cả tập bút ký là tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và nhất là chất vàng mười – “thứvàng đã được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng
vĩ và thơ mộng
Trang 37- Nội dung chính Qua hình tượng sông Đà và người lái đò, Nguyễn Tuân muốn thể hiện niềm
yêu mến thiết tha với thiên nhiên đất nước và ngợi ca những con người lao động - chất vàng mườicủa cuộc sống
2 Phân tích hình tượng con sông Đà
- Sông Đà là một con sông độc đáo Sự độc đáo của dòng sông thể hiện qua hai câu thơ củaNguyễn Quang Bích được Nguyễn Tuân trích dẫn ở phần đề từ của tác phẩm: “Chúng thủy giaiđông tẩu- Đà giang độc bắc lưu” (có nghĩa mọi dòng sông đều chảy về hướng đông, chỉ có sông
Đà chảy về hướng bắc) Dưới ngòi bút tài hoa, uyên bác của Nguyễn tuân, Sông Đà hiện lên nhưmột nhân vật sống động với hai tính cách nổi bật: hung bạo và trữ tình
2.1 Con sông Đà hung bạo
- Do lịch sử đau thương: sông Đà cũng là nạn nhân của chiến tranh - thực dân Pháp chà đạp, giày
xéo nước ta Chúng ngang nhiên đè ngửa dòng sông ra và đổ vào đó một thứ mực đen đúa, bẩn
thỉu khi viết tên dòng sông Đà trên bản đồ là sông Đen Ngoài ra, bọn lang đạo thổ ti ở miền núi
vì tham lam đã chia cắt dòng sông thành nhiều mảnh khiến cho dòng sông tức giận và càng trởnên hung bạo hơn
- Bằng kiến thức địa lý, xã hội, Nguyễn Tuân đã giải thích một cách cặn kẽ, hợp lí cho tính cáchhung bạo của dòng sông Đi đến tận ngọn nguồn của vấn đề, Nguyễn Tuân cho người đọc thấy,ông không chỉ là một nghệ sĩ tài hoa mà còn là một người lao động nghệ thuật một cách nghiêmtúc
b Biểu hiện của sự hung bạo:
● Hung bạo ở diện mạo:
- Cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”:
+ Hình ảnh “vách thành” đã phần nào thể hiện sự vững chãi thâm nghiêm và những sức mạnh bí
ẩn đầy đe dọa của vách núi như thành cao, vực thẳm, như hào sâu
+ Tác giả đã dùng những chi tiết tưởng như bâng quơ, ngẫu nhiên nhưng lại có giá trị gợi tả gián
tiếp độ hẹp của dòng sông, độ cao của vách đá, như mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời Đến việc đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách.
+ Cách so sánh vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu – động từ “chẹt” và hình
ảnh so sánh với cái “yết hầu” đã đem đến ấn tượng mãnh liệt cho người đọc về độ hẹp của lòngsông khi bị vách đá chèn ép tới nghẹt thở
+ Miêu tả thế giới sự vật thông qua cảm giác rất quen thuộc của Nguyễn Tuân đã được thể hiện
độc đáo khi nhà văn tạo ra ấn tượng tương phản của xúc giác với chi tiết ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, tạo ra ấn tượng của thị giác khi lấy hè phố để
miêu tả mặt sông, lấy nhà cao gợi tả vách đá, truyền cho người đọc những hình dung về cái tămtối lạnh lẽo đột ngột khi con thuyền đi từ ngoài vào khúc sông có đá hun hút dựng vách thành qua
hình ảnh so sánh về một khung cửa sổ nào trên cái tầng thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.
- Cảnh mặt ghềnh Hát Loóng:
Trang 38+ Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm… Câu văn miêu tả có nhịp ngắn, nhanh, dồn dập kết hợp
với các thanh sắc, những từ ngữ điệp nối tiếp thế chỗ nhau trong các cụm từ ngữ đã tái hiện sinhđộng quần thể những sức mạnh thiên nhiên dữ dội nhất của nước, sóng, gió, và đá sông Đà, trong
đó cuồn cuộn những con sóng dữ vút lên, chồm lên nhau, trùng điệp ghê rợn trên mặt ghềnh
+ Từ láy gùn ghè và hình ảnh so sánh mang đậm sắc thái nhân hóa về việc sóng gió trên mặt ghềnh Hát Loóng lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò sông Đà nào tóm được qua đấy đã
thể hiện sinh động sự hung hãn lì lợm và cuồng bạo của dòng sông
- Những cái hút nước trên sông Đà:
+ Một loạt những so sánh sống động, đặc sắc khiến hút nước thiện ra trong hình ảnh như một cái giếng bê tông xoáy tít, trong âm thanh của một cửa cống cái bị sặc, trong cả hình ảnh và âm thanh như mặt nước bị rót dầu sôi.
+ Từ láy tượng hình lừ lừ, từ láy tượng thanh tăng nghĩa ặc ặc cùng những chi tiết so sánh mang sắc thái nhân hóa khi miêu tả nước (thở và kêu như cửa cống cái bị sặc), tất cả góp phần làm hiện
ra cả hình ảnh và âm thanh của hút nước như một quái vật đang giận dữ tới ghê người
+ Hình ảnh liên tưởng đến quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực đã giúp người đọc dễ dàng
hình dung ra cảm giác hãi hùng nếu phải đi thuyền men gần hút nước đáng sợ Nhà văn còn phát
huy trí tưởng tượng phong phú khi hình dung ra những bè gỗ to lớn nghênh ngang bị lôi tuột xuống đáy hút nước, hay chiếc thuyền bị hút trồng cây chuối ngược rồi vụt biến đi tan xác ở khuỷnh sông dưới.
+ Không dừng lại trong những hình dung tưởng tượng về cái bè gỗ hay một con thuyền bất hạnhnào đó phải làm mồi cho hút nước, Nguyễn Tuân còn tạo ra một giả tưởng li kì dẫn dụ người đọcvào trò chơi cảm giác, kéo họ xuống tận đáy hút nước xoáy tít, sâu hoắm cùng một anh bạn quayphim táo tợn Hút nước vì thế đã được miêu tả bằng thủ pháp điện ảnh, hất ngược từ dưới lên một
cách sống động, truyền cảm từ hình khối của một thành giếng xây toàn bằng nước cho đến màu sắc của dòng sông nước xanh ve, và thậm chí cho đến cả cảm giác sợ hãi rất chân thực của con người khi phải đứng trong lòng một khối pha lê xanh như sắp vỡ tan, ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem.
Nghệ thuật: Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu chất tạo hình, Nguyễn Tuân đã tạo dựng nên
một hình ảnh chân thực, sống động về cái mạnh mẽ, mãnh liệt, hung bạo của dòng sông Đà màngười đọc có thể cảm nhận chân thực bằng ấn tượng thị giác như đang được đứng trước dòngsông
● Hung bạo ở tâm địa:
- Tâm địa của thác nước:
+ Khi còn xa mới tới thác, Nguyễn Tuân đã miêu tả âm thanh của tiếng nước thác bằng những từ
ngữ chỉ cảm xúc, thái độ, tâm trạng của con người khi oán trách, khi van xin, khi khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo, khi rống lên Nghệ thuật nhân hóa đã khiến thác nước sông Đà thực sự
trở thành một sinh thể sống đang giận dữ, gầm gào, đe dọa con người ngay cả khi nó chưa xuấthiện
+ Sự tài hoa tinh tế của Nguyễn Tuân còn thể hiện qua cách nhà văn dùng hệ thống những từ ngữmiêu tả âm thanh theo những cung bậc tăng dần cả về sắc thái cảm xúc và âm lượng để vừa miêu
tả sống động sự đe dọa hung bạo của dòng sông, vừa miêu tả khoảng cách ngắn dần của người
Trang 39quan sát của thác đá sông Đà – và có lẽ đây cũng là cách làm tăng dần cảm giác hãi hùng, hồihộp, kì thú.
+ Những phép so sánh kì thú trong một câu văn dài đầy ắp những hình ảnh dữ dội với một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng nhà văn đã thể hiện sự tài hoa độc đáo khi lấy
hình ảnh gợi tả âm thanh, lấy lửa tả nước, lấy rừng tả sông, đặt những hình ảnh tương phản trongmột trường liên tưởng bất ngờ, thú vị Cách miêu tả ấy khiến âm thanh của thác đá không chỉđược cảm nhận bằng thính giác, không chỉ được hình dung qua trí tưởng tượng mà còn hiện ratrong những ấn tuợng đặc biệt sống động của thính giác, thị giác
- Tâm địa của thạch trận:
+ Khi thác đá hiện ra, sau câu văn ngắn như một tiếng reo ngỡ ngàng, thích thú: Tới cái thác rồi, nhà văn đã đồng thời tả cả đá và nước thác với sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá Tính từ trắng xóa gây ấn tượng về sóng, về gió, về bọt nước trào sôi dữ dội, lại gợi tả làn hơi nước như
mờ đi trên một diện rộng mênh mông của mặt sông; cùng với hình ảnh chân trời đá, câu văn
miêu tả của Nguyễn Tuân đã làm hiện ra sự hùng vĩ tới choáng ngợp của thác đá sông Đà
+ Đá sông Đà cùng với nước với sóng với gió sông Đà được miêu tả qua một hình ảnh nhân hóa
đặc sắc: Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền Sử dụng thuật ngữ của
quân sự, Nguyễn Tuân đã gợi dậy cái sự bí ẩn và hiểm ác của đá sông Đà trong sự vĩnh hằng của
thiên nhiên khi ngàn năm mai phục, khi dữ dằn, đột ngột hiện ra sau cái dập dềnh của sóng để nhổm cả dậy vồ lấy thuyền.
+ Một loạt những thuật ngữ của quân sự, võ thuật, thể thao như thạch trận, cuộc giáp lá cà, dàn trận địa, hàng tiền vệ, boong-ke, pháo đài ; một hệ thống dày đặc những động từ mang sắc thái nhân hóa, đặt trong những câu văn ngắn, dồn dập: mặt sông rung tít lên…nước thác reo hò hất hàm…hò la ùa vào bẻ gãy đá trái…thúc gối đội thuyền túm thắt lưng… đánh đến miếng đòn độc hiểm nhất đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm… khiến thác đá sông Đà thực sự trở thành một chiến trường với những trận hỗn chiến ác liệt giữa con người với thiên nhiên Sự ác liệt còn được tô đậm thêm bởi những âm thanh mãnh liệt của một trận nước vang trời thanh la não bạt Có lúc thác đá được động vật hóa để làm tăng thêm sự hung hãn hoang dại trong hình ảnh dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá Thậm chí, sự
hiểm ác và sức mạnh ghê gớm phi phàm của thác đá sông Đà còn được nhà văn đẩy lên đến mức
độ thần linh trong hình ảnh ẩn dụ về binh pháp của thần sông, thần đá
+ Tùy theo hình dạng, kích thước của đá và cách nhìn của nhà văn mà đá sông Đà được miêu tả
trong những cảm nhận khác nhau, khi thì ngỗ ngược, nhăn nhúm méo mó bởi sự gồ ghề, lúc to lớn qua dáng bệ vệ oai phong lẫm liệt, khi này là tảng đá với những cạnh sắc nhọn hất ngược lên đem đến cảm nhận về sự xấc xược trong cái hất hàm thách thức, lúc khác lại là tảng đá nhẵn xanh xuôi chảy từ trên xuống qua hình ảnh thằng đá tướng tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng + Thác đá sông Đà còn vô cùng xảo quyệt khi dụ chiếc thuyền của đối phương, khi dàn sẵn trận địa sẵn và nhất là khi bày thạch trận mai phục và tấn công con người: Vòng đầu vừa rồi, nó mở
ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông; vòng thứ hai tăng thêm nhiều cửa tử… cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn; còn một trùng vây
Trang 40thứ ba nữa…bên phải, bên trái đều là luồng chết… luồng sống lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác…
Như vậy, bằng sự độc ác và nham hiểm, sông Đà từng bước dồn những người lái đò vào conđường chết Thực tế, đã có không ít người lái đò phải bỏ mạng nơi đây
Nghệ thuật: Ngôn ngữ giàu chất tạo hình, những câu văn dài, những từ ngữ giàu sức biểu
cảm Với kiến thức phong phú, uyên thâm về các lĩnh vực địa lý, lịch sử, thể thao, quân sự, điệnảnh, …, Nguyễn Tuân đã khắc họa một cách chân thực hình ảnh một con sông Đà hung bạo, kẻthù số 1 của con người
2.2 Con sông Đà thơ mộng, trữ tình
Khái quát: Để làm rõ vẻ đẹp trữ tình của dòng sông Đà, Nguyễn Tuân đã miêu tả từ nhiều thời
điểm: mùa xuân, mùa thu; từ nhiều góc độ: khi thì ngồi trên tàu bay để bao quát toàn cảnh, khi thìxuôi thuyền dọc theo sông Đà, có khi còn dừng hẳn lại để chiêm ngưỡng và miêu tả một cách cặn
kẽ, kĩ càng Việc làm đó của Nguyễn Tuân vừa cho thấy con sông Đà mang trong mình một vẻđẹp đa chiều, phải soi ngắm từ nhiều phương diện, góc độ mới có thể thấy hết vẻ thơ mộng, trữtình của nó, vừa cho thấy tinh thần lao động nghiêm túc của Nguyễn Tuân
a Hình dáng sông Đà:
- Quan sát sông Đà từ trên cao, nhà văn nhận thấy dòng sông như một cái dây thừng ngoằn ngoèovắt ngang trên một đại dương đá Hình ảnh này giúp người đọc hình dung toàn cảnh về độ lớn, độhoành tráng của dòng sông khi nó tãi ra, uốn lượn trải quanh gần như toàn bộ địa hình của TâyBắc
- Nhưng cái đẹp đẽ nhất, mĩ lệ nhất là hình ảnh con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc
trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân Câu văn này của Nguyễn Tuân xứng đáng được xếp vào những câu văn đẹp được coi là tờ hoa trong văn học Việt Nam hiện đại Chính nhịp câu, lời
văn và nghĩa chữ đã góp phần gợi tả những nét thi vị thật đặc biệt của dòng sông Câu văn rất dài
chỉ có một dấu ngắt duy nhất vừa như mô phỏng sự tuôn dài của dòng sông, vừa đem đến cảm
giác về sự liền mạch bất tận, gợi hình ảnh dòng sông uốn lượn tuôn chảy từ những dãy núi hùng
vĩ của biên giới Tây Bắc, miên man chảy xuống đồng bằng, lặng lẽ hòa vào sông Hồng rồi thathiết đổ ra biển Những thanh bằng liên tiếp ở đầu câu văn cũng làm tăng thêm sự yên ả, êmđềm, bình lặng cho dòng sông Hơn nữa, tác giả đã đặt dòng sông trong một trường liên tưởng vôcùng diễm lệ: cả miền Tây Bắc tựa một nàng thiếu nữ trẻ trung, xinh đẹp yêu kiều, còn sông Đàchính là mái tóc kiều diễm của người thiếu nữ ấy Cách so sánh của nhà văn đã gợi ra nét thathướt, mềm mại, dịu dàng và kiêu sa của dòng sông
Ở đoạn này, những trang kí của Nguyễn Tuân được tô điểm thêm bằng những sắc màu và đườngnét của nghệ thuật hội họa Sắc xanh của dòng sông thật nổi bật giữa sắc trắng tinh khiết của hoaban và sắc đỏ đến nao lòng của hoa gạo Ngược lại, cái bung nở đầy mạnh mẽ của hoa ban, hoagạo lại góp phần diễn tả sức sống căng tràn của dòng sông và tất cả bức tranh nên thơ, đẹp đẽ đólại được ẩn hiện trong lớp sương khói lãng đãng, bởi vậy có thêm vẻ đẹp huyền ảo, mơ màng
Cách miêu tả của Nguyễn Tuân dẫn tới sự khẳng định: vẻ đẹp của sông Đà làm say mê trái timngười nghệ sĩ trước hết vì nó là vẻ đẹp của đất nước Tổ quốc bao la, sau nữa là vì nó gắn bó gần
gũi thân thiết với cuộc sống con người Nhà văn của những vẻ đẹp vang bóng một thời nay đã có