Trong thời kỳ đầu, ngân hàng quốc gia Việt Nam hoạt động độc lập trong hệ thống tài chính với chức năng như phát hành tiền tệ, thu hồi tiền tài chính, quản lý Kho bạc Nhà nước nhằm tăng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP QUẢNG NINH
BỘ MÔN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG - KHOA KINH TẾ
BÀI GIẢNG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
Quảng Ninh, 2020
Trang 2Chương 1 Tổng quan về quản trị ngân hàng 1.1 Tổng quan về ngân hàng
1.1.1 Hệ thống ngân hàng của Việt Nam
Hệ thống ngân hàng của Việt Nam bao gồm Ngân hàng nhà nước trực thuộc Chính phủ Khác với các nước phát triển khác thì ngân hàng trung ương là độc lập so với chính phủ như Cục dữ trữ liên bang Mỹ FED, Ngân hàng trung ương Châu âu ECB Vì ngân hàng nhà nước Việt Nam thuộc chính phủ Việt Nam nên những quyết sách của nó cũng bị phụ thuộc rất nhiều vào ý đồ của chính phủ
Dưới ngân hàng nhà nước là các ngân hàng bao gồm:
- Ngân hàng quốc doanh (ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn – Agribannk
- Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP)
- Ngân hàng thương mại (Eximbank, Sacombannk ),
- Ngân hàng liên doanh (Indovina - IVN, ngân hàng Việt Thái - VSB, Ngân hàng Việt Nga – VRB)
- Ngân hàng nước ngoài(100% vốn nước ngoài: SHBC, BIDC…)
Các chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước sẽ phải thông qua hệ thống các ngân hàng phía dưới này vì ngân hàng nhà nước không thể làm việc trực tiếp với người gửi tiền hay người vay tiền
* Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng của Việt Nam
Xét căn cứ đặc thù lịch sử, quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể chia ra thành bốn giai đoạn gồm thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ miền Bắc Việt Nam 1954-1975, thời kỳ miền Nam Việt Nam 1954-1975 và thời kỳ từ sau thống nhất đất nước 1975 đến nay
- Hệ thống ngân hàng Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc
Trước khi người Pháp đặt chân đến Việt Nam năm 1858, Việt Nam chưa có tổ chức ngân hàng và tín dụng Vào cuối thế kỷ thứ 19, khi nền đô hộ đã được thiết lập trên toàn cõi Đông Dương, Việt Nam trở thành một thị trường độc chiếm của Pháp
Nhiều hoạt động kinh tế của người Pháp ở Đông Dương bành trướng mạnh nên chính phủ buộc phải thành lập các ngân hàng để hỗ trợ các hoạt động đó Lúc đầu có 2 ngân hàng có trụ sở tại Pháp và các chi nhánh trên toàn Đông Dương là Ngân hàng Đông Dương (Banque de l’Indochine) thành lập từ 1873 và Pháp-Hoa Ngân hàng (Banque Franco-Chinoise) được thành lập với mục đích hỗ trợ các giao dịch thương mại giữa Pháp, Đông Dương và Trung Hoa cũng như với một vài nước khác ở Á Đông như Nhật, Thái Lan Hai ngân hàng này ngoài độc quyền phát hành tiền tệ như một Ngân hàng Trung ương, nó còn là một ngân hàng kinh doanh thương mại, cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế của người Pháp ở Đông Dương Phải tới năm 1927, một số tư bản người Việt Nam mới thành lập ngân hàng đầu tiên của Việt Nam lấy tên là An Nam ngân hàng (sau đổi tên là Việt Nam ngân hàng) nhằm hỗ trợ vốn cho các hoạt động nông nghiệp Cho đến năm 1954, người Việt có ngân hàng thứ hai là Việt Nam công thương ngân hàng
- Hệ thống ngân hàng Việt Nam ở miền Bắc giai đoạn 1954 đến 1975
Trang 3Ngày 06/05/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam với nhiệm vụ chính như phát hành tiền tệ, quản lý tiền tệ, và thực hiện chính sách tín dụng nhằm phát triển hoạt động sản xuất Ngày 21/01/1960, Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Quá trình phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam ở Miền Bắc có thể được chia làm hai thời kỳ từ 1951 đến 1954 và thời kỳ từ 1955 đến 1975 Trong thời kỳ đầu, ngân hàng quốc gia Việt Nam hoạt động độc lập trong hệ thống tài chính với chức năng như phát hành tiền tệ, thu hồi tiền tài chính, quản lý Kho bạc Nhà nước nhằm tăng thu, tiết kiệm chi, thống nhất quản
lý thu chi ngân sách và phát triển tín dụng ngân hàng nhằm phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hoá Đến thời kỳ tiếp theo 1955 đến 1975, Ngân hàng Quốc gia với nhiệm vụ củng cố thị trường tiền tệ, ổn định tiền tệ nhằm góp phần bình ổn vật giá, tạo thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế
- Hệ thống ngân hàng Việt Nam ở miền Nam giai đoạn 1954 đến 1975
Sau Hiệp định Geneve, chính phủ Pháp ký một loạt hiệp định với Nam Việt Nam, Campuchia và Lào, chính thức phá bỏ tình trạng hợp nhất tiền tệ và quan thuế giữa ba nước Đông Dương, khẳng định nguyên tắc mỗi quốc gia được quyền tự do phát hành và kiểm soát tiền tệ
Từ đó, cùng với chủ quyền về chính trị, người Việt Nam bắt đầu được làm chủ về hoạt động ngân hàng và phát triển trên qui mô nhà nước Sự phát triển của ngành ngân hàng miền Nam Việt Nam giai đoạn này có thể được chia thành 2 thời kỳ từ 1954 đến 1964 và từ 1965 đến 1975 Thời kỳ 1954 đến 1964, người dân vẫn tiếp tục sử dụng các ngân hàng của người Pháp, Anh, Hong Kong, Đài Loan có chi nhánh tại Việt Nam Thời kỳ từ 1965 đến 1975 là giai đoạn chuyển biến của hoạt động ngân hàng Việt Nam, tạo tiền đề và điều kiện cho một thời kỳ phát triển rầm rộ từ năm 1965 đến năm 1972 Trong 7 năm đầu của thời kỳ này, 18 ngân hàng mới được thành lập, nâng tổng số lên đến 31 ngân hàng với 178 chi nhánh ở các tỉnh vào năm
1972 Đến thời kỳ trước 04/1975, hệ thống ngân hàng ở Miền Nam gồm 1 ngân hàng trung ương, 32 ngân hàng thương mại với 180 chi nhánh, 2 ngân hàng phát triển và 60 ngân hàng nông thôn
- Hệ thống ngân hàng Việt Nam từ năm 1975 đến nay
Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ năm 1975 đến nay có thể chia thành có thể chia thành 3 thời kỳ từ 1975 đến 1985, 1986 đến 1990, và 1991 đến nay Thời kỳ 1975-1985, sau 1975, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở miền Nam được quốc hữu hoá và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng thực hiện nhiệm vụ thống nhất tiền tệ trong cả nước Thời kỳ 1986 -1990 là giai đoạn manh nha của các cải cách bước đầu, làm tiền
đề cho việc hình thành và phát triển một hệ thống Ngân hàng Việt Nam một cách căn bản và toàn diện hơn
Với những yêu cầu về đổi mới hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam, tháng 5/1990, hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính thức chuyển cơ chế Hệ thống tài chính Việt Nam hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp sang 2 cấp Trong đó, cấp 1 là Ngân hàng Nhà nước thực thi nhiệm vụ Quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng Và cấp 2 là các ngân hàng kinh doanh thuộc lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng
Trang 4trong toàn nền kinh tế quốc dân do các Định chế tài chính Ngân hàng và phi ngân hàng thực hiện như ngân hàng cổ phần, liên doanh, chi nhánh hoặc văn phòng đại diện của ngân hàng nước ngoài, Hợp tác xã tín dụng, Quỹ tín dụng nhân dân và công ty tài chính
Thời kỳ 1991 đến nay là giai đoạn hệ thống ngân hàng Việt Nam có rất nhiều chuyển biến dần theo hướng một hệ thống ngân hàng hai cấp hiện đại Luật NHNN 2010 đã có một số thay đổi quan trọng so với Luật NHNN 1997, làm rõ hơn địa vị pháp lý của NHNN, đồng thời xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của NHNN với tư cách là ngân hàng trung ương, thực hiện các chức năng về quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa hai chức năng quan trọng của một ngân hàng trung ương là thực thi chính sách tiền tệ và giám sát an toàn hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng
1.1.2 Sự ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại
Vào thế kỷ III, các thợ kim hoàn bắt đầu nhận các khoản tiền gửi, tài sản quý của khách hàng và thu một khoản phí nhất định
Sang thế kỷ X, các thợ kim hoàn nhận thấy không chỉ có thể hưởng các khoản phí mà họ
có thể hưởng lợi ích từ việc sử dụng tiền của người này cho người khác vay Lúc này hoạt động của một ngân hàng thực thu ra đời bao gồm trao đổi ngoại tệ, chiết khấu thương phiếu, nhận tiền gửi, cho vay thương mại…
Sang thế kỷ XVIII hình thành nghiệp vụ phát hành tiền, phát hành CDS Để kiểm soát hoạt động này, chính phủ đưa ra các điều luật về phân định các ngân hàng phát hành với các ngân hàng kinh doanh tiền tệ
Thế kỷ XIX, có một loạt các dịch vụ khác được phát triển thêm Lúc này đã có thêm nghiệp vụ cho vay tiêu dùng, bán bảo hiểm, tư vấn tài chính, cung cấp dịch vụ môi giới, dịch
vụ quản lý tiền mặt…
Cuối thế kỷ XIX, các quốc gia không thể để các ngân hàng thực hiện việc phát hành tiền
mà tập trung vào một ngân hàng thống nhất gọi là ngân hàng trung ương
Ngân hàng có thể chia làm 2 loại là ngân hàng đầu tư và ngân hàng kinh doanh thông thường
Những năm 20-30 của thế kỷ XX, các quốc gia đưa ra các đạo luật phân định hoạt động của ngân hàng đầu tư với ngân hàng thương mại Theo đó, các ngân hàng kinh doanh tiền tệ chỉ thực hiện các nghiệp vụ cơ bản, chỉ có các ngân hàng đầu tư mới được thực hiện các hoạt động đầu tư, môi giới chứng khoán
Những năm 70, các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại mới xuất hiện như thẻ tín dụng, thẻ rút tiền, mạng lưới thanh toán tại điểm bán hàng, internet Banking, Hom Banking
Những năm 90, một loạt các nghiệp vụ mới ra đời dựa trên sự phát tiển của khoa học kỹ thuật như ngân hàng ảo, công ty sở hữu ngân hàng (các ngân hàng phát triển dưới hình thức công ty sở hữu ngân hàng ngân hàng đơn thuần)
Trang 5Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, bắt đầu cho giai đoạn thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam Với mục đích đô hộ lâu dài và nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động giao thương phục vụ cho chính quyền thuộc địa, tổng thống Pháp giai lúc bấy giờ đã ban hành Sắc lệnh ngày 21/01/1857 thành lập ngân hàng Đông Dương Ngân hàng này có chức năng chủ yếu là phát hành tiền, tiến hành cho vay, chiết khấu Về bản chất, ngân hàng Đông Dương là ngân hàng thương mại cổ phần với chức năng đổi tiền, cho vay tín dụng Tuy nhiên, đây cũng là ngân hàng được phép phát hành tiền trên toàn cõi Đông Dương Giai đoạn này, nó được xem như một công cụ cung cấp phương tiện để thực dân Pháp có thể tiến hành đầu tư, kinh doanh, cũng như cung cấp các dịch vụ tiền tiền tệ cho chính quyền đô hộ
Sau khi Cách mạng Tháng 8 thành công, ngày 23/11/1946 tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá I đã quyết định giao cho Bộ Tài chính phát hành giấy bạc Việt Nam trong phạm vi cả nước Bộ Tài chính là cơ quan phát hành và quản lý tiền tệ Ngày 3/2/1947, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 14/SL về việc thành lập Nha Tín dụng trực thuộc Bộ Tài chính
2.Giai đoạn từ 1951 đến 1986:
2.1 Giai đoạn từ 1951-1975:
Ngày 6/5/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc
gia Việt Nam là một bộ trực thuộc Chính phủ, tham gia vào việc lập kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia, thực hiện những hoạt động liên quan đến ngân hàng, tiền tệ theo quy định; Sắc lệnh 17/SL bãi bỏ Nha Ngân khố quốc gia và Nha tín dụng sản xuất thuộc Bộ Tài chính Ngày 21/5/1951, Chính phủ ra Sắc lệnh 19/SL cho phép Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam được phát hành giấy bạc 20 và 50 đồng; Sắc lệnh 20/SL ấn định tỷ lệ giá trị đồng bạc do Ngân hàng phát hành so với giá trị đồng bạc do Bộ Tài chính phát hành Ngày 27/5/1951 Thủ tướng CP ra nghị định 94/Ttg quy định về tổ chức Ngân hàng quốc gia Theo đó, tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam bao gồm: ở trung ương, chi nhánh liên khu, chi nhánh ở tỉnh và chi nhánh ở nước ngoài Các chi nhánh không có tư cách pháp nhân, hoạt động với tư cách là cơ quan cấp dưới đại diện của Ngân hàng quốc gia Việt Nam Chức năng của ngân hàng bao gồm: phát hành giấy bạc, điều hoà sự lưu hành tiền tệ, quản lý ngân sách quốc gia; huy động vốn trong nhân dân, điều hòa, mở rộng tín dụng; quản lý ngoại tệ và thanh toán các khoản giao dịch với nước ngoài…Như vậy, ở giai đoạn này, Việt Nam xây dựng ngân hàng quốc gia theo mô hình một cấp đựoc thiết lập từ trung ương đến địa phương Hệ thống ngân hàng một cấp tồn tại cho đến những năm 80
Đến những năm 60, hệ thống ngân hàng Việt Nam ghi nhận thêm hình thức hợp tác xã tín dụng và Quỹ tiết kiệm Hệ thống hợp tác xã tín dụng cho nhiệm vụ làm đại lý cho ngân hàng quốc gia Việt nam, thực hiện việc huy động vốn nhàn rỗi trong xã viên hợp tác xã và cho vay
Ngày 26/10/1961 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định 171/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam (tên mới của Ngân hàng Quốc gia) Trong hệ thống ngân hàng cũng đã xuất hiện nhu cầu tách bạch giữa chức năng quản lý tiền tệ với các hoạt động kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng Do vậy, trên cơ sở của Nghị định này, ngân hàng nhà nước Việt đã phân biệt thành hệ thống Chi nhánh ngân hàng nhà nước trung tâm tại các đơn vị tỉnh thành và hệ thống chi nhánh ngân hàng nghiệp vụ tại các thị xã và Chi điếm ngân hàng nghiệp vụ tại các huyện làm nhiệm vụ kinh doanh, giao dịch trực tiếp với khách hàng
Trang 6Ngày 30/10/1962 Hội đồng Chính phủ ra Nghị định 115/CP thành lập ngân hàng ngoại thương Việt Nam làm nhiệm vụ tín dụng, thanh toán đối ngoại trong hệ thống ngân hàng nhà nước Việt Nam Ngân hàng nhà nước Việt Nam chỉ thực hiện chức năng quản lý ngoại hối mà không còn trực tiếp thực hiện hoạt động giao dịch ngoại tệ, chuyển giao hoạt động này cho ngân hàng ngoại thương
Ngày 16/6/1977, nghị định 163-CP của Chính phủ ban hành quy định lại cơ cấu bộ máy nhà nước Trong đó, các ngân hàng như ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng công nghiệp, ngân hàng thương nghiệp, ngoại thương, quỹ tiết kiệm XHCN đều nằm trong một hệ thống của ngân hàng nhà nước Việt Nam Các ngân hàng này không có tư cách pháp nhân, chỉ đóng vai trò như cục, vụ cơ quan chức năng của ngân hàng nhà nước
Ngày 24/6/1981 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định 259/CP chuyển ngân hàng kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính sang trực thuộc ngân hàng nhà nước Việt Nam và thành lập ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam Giai đoạn này đã đánh dấu bước hoàn thiện tiếp tục của hệ thống ngân Việt Nam, cụ thể bao gồm: Ngân hàng nhà nước và 3 ngân hàng chuyên nghiệp là Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng đầu tư và quỹ tiết kiệm XHCN
1981-1985, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định 65/HĐBT về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của ngân hàng nhà nước Trên cơ sở đó, hệ thống ngân hàng bao gồm: Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng chuyên nghiệp trực thuộc Ngân hàng nhà nước Những ngân hàng chuyên nghiệp này có tư cách pháp nhân hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế Đây được xem như tiền đề để tiến tới chuyển đổi mô hình ngân hàng một cấp ở Việt Nam sang mô hình ngân hàng hai cấp hiện đại
2.3 Giai đoạn từ 1987-2004:
Năm 1986 bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI, Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc cải cách kinh tế Một trong những nội dung quan trọng cần phải đổi mới chính là hệ thống ngân hàng-yếu tố giữ vai trò như huyết mạch của nền kinh tế
Ngày 26/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT về tổ chức bộ máy Ngân hàng nhà nước Theo đó, Ngân hàng nhà nước Việt Nam là cơ quan của Hội đồng Bộ trưởng, được tổ chức thành hệ thống thống nhất trên phạm vi toàn quốc Mô hình Ngân hàng nhà nước Việt Nam bao gồm 2 cấp: Ngân hàng nhà nước Việt Nam và các ngân hàng chuyên doanh trực thuộc Quy định này đã bước đầu thiết lập nên căn cứ pháp lý cho hình thức hệ thống ngân hàng 2 cấp, trong đó, Ngân hàng nhà nước Việt Nam vẫn giữ vai trò là cơ quan chủ quản của các ngân hàng chuyên doanh quốc doanh Chức năng chủ yếu của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã dần chủ yếu tập trung vào việc phát hành tiền, điều hòa lưu thông tiền tệ và đảm bảo nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, thanh toán Các chức năng kinh doanh trực tiếp và thực hiện các dịch vụ ngân hàng đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế chủ yếu do các ngân hàng chuyên doanh nhà nước đảm nhận Điều này đánh dấu bước chuyển biến quan trọng
Trang 7trong hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng ở Việt Nam Tuy nhiên, ở giai đoạn mới bắt đầu tiến hành công cuộc cải cách, sự tách biệt giữa Ngân hàng nhà nước Việt Nam với hệ thống các ngân hàng chuyên doanh vẫn còn chưa thật sự cụ thể Các ngân hàng chuyên doanh vẫn được xem như các cục, vụ trực thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam Do đó, yếu tố chủ động,
tự chịu trách nhiệm và sự độc lập giữa hệ thống ngân hàng chuyên doanh với ngân hàng nhà nước Việt Nam cần được tiếp tục cải thiện
Xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện mô hình ngân hàng 2 cấp, ngày 23/5/1990 Hội đồng nhà nước ban hành “Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính” có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1990 Đây chính là căn cứ pháp lý để chính thức xác lập mô hình ngân hàng ở Việt Nam trở thành mô hình 2 cấp, đánh dấu bước ngoặt trong quá trình đổi mới hệ thống ngân hàng và hoạt động tiền tệ-tín dụng ngân hàng Theo đó, ngân hàng nhà nước Việt Nam chỉ đảm nhận vai trò là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng Các nghiệp vụ ngân hàng sẽ do hệ thống các tổ chức tín dụng trung gian tiến hành Các ngân hàng thương mại và những tổ chức tín dụng trung gian được pháp lệnh trao quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình
Trong quá trình thực thi hai pháp lệnh đã bộc lộ một số điểm hạn chế trước những yêu cầu mới của quá trình phát triển kinh tế xã hội và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế chẳng hạn như hạn chế trong quy định về nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối trên thị trường quốc tế, chưa quy định bao quát các loại hình tổ chức tín dụng, chưa xác định rõ các hình thức huy động vốn, cấp tín dụng… Do vậy, ngày 12/1997 Quốc hội ban hành Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam
và Luật Các Tổ chức tín dụng Đó là một bước tiến đáng kể trong quá trình hoàn thiện pháp luật về ngân hàng Hai đạo luật cũng đã có những tác động tích cực trong đời sống kinh tế xã hội như tạo ra cơ sở pháp lý cao hơn cho hoạt động của ngân hàng nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng; đồng thời, điều chỉnh các hoạt động ngân hàng theo hướng phù hợp với các quy luật của kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Tiếp tục xu hướng đổi mới toàn diện hệ thống và hoạt động ngân hàng, Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/8/2003 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Các Tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 1/10/2004 Những nội dung sửa đổi chủ yếu tập trung vào việc xác lập một số định nghĩa, các quy định về hình thức của các tổ chức tín dụng, hoạt động kiểm tra, kiểm toán trong nội bộ các tổ chức tín dụng…
Tuy nhiên, việc sửa đổi bổ sung Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật Các Tổ chức tín dụng được tiến hành theo quan điểm chưa sửa đổi một cách cơ bản, toàn diện các quy định trong lĩnh vực ngân hàng và họat động ngân hàng nên trước xu hướng hội nhập ngày càng mạnh mẽ, vấn đề xây dựng đạo luật về Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng tiếp được đặt ra trong giai đoạn hiện nay
Việt Nam, vào thời kỳ Bắc thuộc và từ thế kỷ XIX trở về trước, là một nước nông nghiệp lạc hậu nên chưa hề có khái niệm về ngân hàng Sự đô hộ hàng ngàn năm của phong kiến phương Bắc đã làm cho nước ta hầu như không có sự tiếp xúc với bên ngoài, thương mại
ít phát triển cả trong và ngoài nước Do đó, nghề kinh doanh tiền tệ cũng kém phát triển, mang nặng tính phân tán, chủ yếu là hoạt động đổi tiền và cho vay nặng lãi
Khoảng giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Việt Nam trở thành thuộc địa và từ đó, các thương giá người Pháp bắt đầu chiếm lĩnh thị trường Việt Nam (các nhà
Trang 8máy đường, nhà máy sợi, nhà máy dệt,…) Trong bối cảnh ngày càng phát triển thị trường, trên lãnh thổ Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện hệ thống ngân hàng hiện đại, gồm có ngân hàng Đông Dương với tư cách là ngân hàng phát hành và một số ngân hàng thương mại của người nước ngoài và của người Việt Nam như ngân hàng Pháp – Hoa, ngân hàng Hồng Kông – Thượng Hải, Địa ốc ngân hàng,… để hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh thương mại
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra đời, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng bắt đầu được xây dựng từng bước Quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ đây có thể chia làm hai thời kỳ
Từ năm 1951 đến năm 1987, chúng ta có hệ thống ngân hàng một cấp Lúc này, hệ thống ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà tiền thân là ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập vào năm 1951 – giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống Pháp và trong điều kiện nền kinh tế tiểu nông lạc hậu Chức năng chủ yếu của ngân hàng quốc gia Việt Nam là: phát hành giấy bạc và quản lý kho bạc, thực hiện chính sách tín dụng và quản lý tiền tệ Chức năng này được thực hiện thông qua một mô hình tổ chức gọn, nhẹ, phù hợp với điều kiện thời chiến gồm
3 cấp quản lý: trung ương, liên khu, tỉnh và thành phố
Sau thời gian này, do sự thay đổi của nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế, hệ thống ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã được mở rộng và hoàn thiện về cơ chế tổ chức và hoạt động nghiệp vụ Tuy nhiên cho đến năm 1987, hoạt động của ngân hàng Việt Nam vẫn mang tính chất lưỡng tính Nó vừa thực hiện chức năng quản lý và điều tiết lưu thông tiền tệ, vừa thực hiện chức năng của các ngân hàng trung gian và được tổ chức thống nhất từ trung ương xuống
cơ cở Mặc dù đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước song ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã bộc lộ những hạn chế của nó, đặc biệt trong thập kỷ 80, vừa không thể kinh doanh theo đúng nghĩa đồng thời lại không làm tròn chức năng quản lý Nhà nước các hoạt động tiền tệ ngân hàng, nó đã làm cho nền kinh tế Việt Nam trong những năm 80 rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, vừa thiếu tiền mặt, vừa lạm phát
Vì thế, cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, từ cơ chế quản lý hành chính và trực tiếp sang việc sử dụng các biện pháp kinh tế theo cơ chế thị trường, từ năm 1988 đến nay,
hệ thống ngân hàng đã được cải cách từng bước Hệ thống ngân hàng hai cấp ra đời
Bước sơ khai của hệ thống ngân hàng 2 cấp được thể hiện trong Nghị định 53 ngày 3-1988 Theo đó hệ thống ngân hàng Việt Nam bao gồm: ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh Ngân hàng Nhà nước hoạt động với tư cách là ngân hàng độc quyền phát hành, là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và là cơ quan quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước Pháp lệnh ngân hàng Nhà nước tháng 5-1990 thực sự đánh dấu bước đổi mới căn bản trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam và khẳng định lại sự đúng đắn của việc cải cách ngân hàng trong Nghị định 53 Các ngân hàng thương mại, ngân hàng chuyên doanh, công ty tài chính,… thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ – tín dụng Đặc biệt các ngân hàng thương mại phát triển mạnh và đa dạng Chúng có vai trò là người môi giới trung gian nhằm tập trung tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay các doanh nghiệp và dân chúng
26-Với một hệ thống gồm các ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hoàn toàn có thể khẳng định rằng, cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế từ tập trung bao cấp sang kinh doanh thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công cuộc đổi mới ngân hàng nói chung và sự tồn tại, phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng đã thành công ở Việt Nam Nền kinh tế
Trang 9hàng hoá nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã thực sự làm đổi mới hệ thống ngân hàng thương mại phù hợp với tình hình ngày càng phát triển
đó là huy động vốn và cho vay vốn Vì vậy có thể nói ngân hàng là một tổ chức hoạt động kinh
doanh các dịch vụ ngân hàng để kiếm lợi nhuận
Dịch vụ ngân hàng có thể bao gồm nhận tiền gửi, cho vay, đầu tư tài chính, các hoạt động thanh toán,phát hành các loại kỳ phiếu, hối phiếu…
Khái niệm ngân hàng và hoạt động ngân hàng xuất hiện trong một giai đoạn lịch sử nhất định, khi tiền tệ đã ra đời và nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ Khái niệm ngân hàng và hoạt động ngân hàng chịu sự tác động bởi những biến đổi về kinh tế xã hội, tập quán và pháp luật của quốc gia trong từng giai đoạn nhất định Cho nên, quan niệm về ngân hàng, hoạt động ngân hàng cũng rất đa dạng
Trong tài liệu nghiên cứu và văn bản pháp luật của nhiều nước, khái niệm ngân hàng thường được dùng để chỉ hoạt động kinh doanh ngân hàng Do vậy, các đạo luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh ngân hàng của nhiều quốc gia hầu như đều có điều luật ghi nhận những hoạt động được xem là hoạt động kinh doanh ngân hàng Ở một số nước, pháp luật không đưa
ra định nghĩa tổng quát về hoạt động ngân hàng mà liệt kê các hoạt động được pháp luật thừa nhận là hoạt động ngân hàng
Ngân hàng là loại hình tổ chức đã ra đời từ lâu và có vai trò quan trọng đối với nền kinh
tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng Tuy vậy, vẫn có sự nhầm lẫn trong việc định nghĩa ngân hàng là gì? Để định nghĩa ngân hàng , người ta có thể căn cứ vào tính chất, mục đích hoạt động của các tổ chức trên thị trường, hay dựa vào sự kết hợp giữa tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động Vấn đề là không chỉ chức năng của ngân hàng thay đổi
mà chức năng của các đối thủ cạnh tranh chính của ngân hàng cũng thay đổi Một số định nghĩa
về ngân hàng như sau:
- Định nghĩa của Pháp (1941): Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở kinh doanh nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác có số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay tài chính
- Định nghĩa Ấn Độ (1959): Ngân hàng là những cơ sở nhận tiền ký thác để cho vay hay đầu tư và tài trợ
Trang 10- Định nghĩa của Fed: Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại, cho vay cá nhân, hộ gia đình sẽ được xem là một ngân hàng Các định nghĩa này chủ yếu dựa vào tính chất hoạt động của các tổ chức
đó
- Định nghĩa của Đan Mạch: Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng, hối phiếu và thực hiện nghiệp vụ chuyển ngân Định nghĩa này dựa vào đối tượng hoạt động
- Quốc Hội Mỹ đưa ra định nghĩa ngân hàng : Ngân hàng được định nghĩa như một công ty là thành viên của công ty bảo hiểm tiền gửi Liên bang Định nghĩa này không dựa trên
cơ sở những hoạt động của nó mà trên cơ sở cơ quan chính phủ nào sẽ bảo hiểm tiền gửi của
Luật TCTD của Việt Nam: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
- Ngân hàng là một loại hình tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh các dịch vụ ngân
hàng để kiếm lợi nhuận Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
- Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận
- Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng
Tóm lại: Mỗi một quốc gia có định nghĩa khác nhau về ngân hàng (dựa vào mục đích, đối tượng hoạt động ) nhưng các định nghĩa trên đều có một thống nhất về ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ với ba đặc điểm là nhận tiền ký thác, sử dụng tiền này để cho vay và làm dịch vụ thanh toán
Trang 11Cần phân biệt ngân hàng và các TCTD phi ngân hàng: Các TCTD phi ngân hàng (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) là loại hình TCTD tham gia kinh doanh tiền tệ nhưng chỉ thực hiện một số (không phải là tất cả) các hoạt động ngân hàng như nội dung kinh doanh thường xuyên: được huy động vốn chủ yếu dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá đồng thời được thu hút tiền gởi trung dài hạn nhưng không được nhận tiền gởi không kỳ hạn, không được làm dịch
vụ thanh toán Bao gồm:
- Công ty tài chính là công ty quốc doanh hay cổ phần, bằng nguồn vốn và huy động vốn trung và dài hạn qua các dự án
- Công ty cho thuê tài chính là TCTD chuyên cấp TD trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản không hủy ngang giữa bên cho thuê là TCTD và khách hàng thuê Khi khách hàng kết thúc thời hạn thuê, khách hàng được ưu tiên mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng
Ở Việt Nam, khái niệm hoạt động ngân hàng được dùng để chỉ các hoạt động kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng
số tiền gửi này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán Theo đó, ngân hàng được ghi nhận là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện các hoạt động ngân hàng và những hoạt động kinh doanh khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng Như vậy, theo cách hiểu của các nhà làm luật, ngân hàng là một định chế tài chính, một tổ chức trung gian tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng
* Ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia /nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở hữu của nhà nước nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định với chính phủ
* Ngân hàng thương mại
NHTM đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm, gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại, kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến gai đoạn cao nhất là kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu
Ngân hàng thương mại là một ngân hàng trung gian Thông qua hoạt động tín dụng thì ngân hàng thương mại tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM:
Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và
sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính"
Trang 12Ở Ấn độ: Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ
và đầu tư
Ở Việt Nam, Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của Hội đồng nhà nước Việt Nam định nghĩa Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả
và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Theo Luật số 47/2010/QH12 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam Điều 4: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Các đặc điểm chủ yếu trong hoạt động KDNH
NGÂN HÀNG LÀ MỘT DOANH NGHIỆP ĐẶC BIỆT THỂ HIỆN Ở CHỖ
- Nguồn vốn kinh doanh: VTC của doanh nghiệp chiếm một tỷ trọng cao, trong khi ngân
hàng nguồn vốn chủ yếu được hình thành từ huy động và vay nợ Điều này dẫn đến tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng kém hơn và mức độ rủi ro cao hơn
- Loại hình hoạt động: Hoạt động kinh doanh sử dụng vốn của ngân hàng
+ Cho vay: Các DN sử dụng tiền của mình để kinh doanh nhưng ngân hàng sử dụng tiền đối tượng khác cho vay để kinh doanh => rủi ro cả chủ quan và khách quan
+ Tài sản tài chính: Có tính sinh lời cao nhưng chịu ảnh hưởng của các yếu tố lãi suất, lạm phát….=> các ngân hàng phải đối mặt với nhiều rủi ro
+ Cung cấp các dịch vụ khác cho nền kinh tế: Quy mô kinh doanh của ngân hàng rất lớn dẫn đến tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa ngân hàng với khách hàng Rủi ro cho ngân hàng là mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng
- Hàng hóa: Hàng hóa mà ngân hàng kinh doanh là tiền So với các hàng hóa thông thường, tiền biến động giá nhanh hơn khi chịu các tác động của lạm phát, tỷ giá, lãi suất Tiền được coi là một loại hàng hóa đặc biệt
- Sự giám sát của các cơ quan vĩ mô: Sự giám sát của các cơ quan quản lý vĩ mô đối với ngân hàng là rất chặt chẽ xuất phát tư khả năng xảy ra rủi ro trong hoạt động ngân hàng và tầm quan trọng của hệ thống ngân hàng (Nếu ngân hàng bị đình trệ thì phạm vi và mức độ ảnh hưởng là rất lớn)
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
b Chức năng của ngân hàng thương mại
* Chức năng trung gian tín dụng
Trang 13Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại
* Chức năng trung gian thanh toán
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng
và các khoản thu khác theo lệnh của họ
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán
Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán
an toàn Chức năng này vô hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
* Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn
1.2 Tổng quan về quản trị ngân hàng
1.2.1 Khái niệm về quản trị ngân hàng
Quản trị ngân hàng là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản trị lên các đối tượng chịu quản trị nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội để đạt các mục tiêu đã đề ra theo đúng luật định và thông lệ quốc tế
Chủ thể quản trị là chủ ngân hàng gồm: HĐQT, ban điều hành, ban giám đốc (nhà quản trị cấp cao), các trưởng phòng, trưởng ban (quản trị viên cấp trung) và các quản trị viên cấp cơ
sở
Trang 14Đối tượng bị quản trị là nhân viên ngân hàng, TS, DV, công nghệ của ngân hàng
Quản trị kinh doanh ngân hàng là việc thiết lập các chương trình hoạt động kinh doanh
để đạt các mục đích, mục tiêu kinh doanh dài hạn và ngắn hạn của ngân hàng, xác định và điều hòa các nguồn tài nguyên để thực hiện chương trình, các mục tiêu kinh doanh Đó là việc tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra nhân viên của ngân hàng thực hiện chương trình, mục tiêu đã đề ra
Quản trị kinh doanh ngân hàng là hệ thống các hoạt động thống nhất, phối hợp và liên kết quá trình lao động của các nhân viên trong mỗi ngân hàng nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh ở mỗi thời kỳ với phương châm tối thiểu hóa các chi phí và hao tổn về nguồn lực được
sử dụng trong toàn bộ quá trình đó
lực
* Đặc điểm của kinh doanh ngân hàng
- Sản phẩm ngân hàng mang tính vô hình
- Quan hệ khách hàng thường dựa trên cơ sở quen biết
- Chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước
- Tổ chức cung cấp sản phẩm mang tính trực tiếp là chủ yếu
- Chịu sự tác động lớn và nhạy cảm với kinh tế vĩ mô
- Hoạt động kinh doanh chứa nhiều rủi ro
* Đặc điểm của quản trị ngân hàng
Quản trị theo quan điểm truyền thống luôn bao gồm 4 yếu tố cơ bản:
- Mục đích (hướng tới các mục đích xác định)
Chủ thể quản
trị
Đối tượng quản trị
Mục tiêu ngân hàng
Trang 15- Con người (Việc thực hiện mục đích luôn thông qua con người)
+ Quá trình cung cấp dịch vụ của ngân hàng là việc tiến hành nhiều hoạt động khác nhau
mà qua đó lợi ích của các bên liên quan đến ngân hàng được đáp ứng Những dịch vụ này không tồn tại hữu hình, không tồn trữ được, dễ thay đổi, gắn bó và không tách rời với người hoặc thiết bị làm ra dịch vụ
+ Trong thời đại ngày nay, trình độ kỹ thuật, công nghệ trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ ngân hàng phát triển ở mức độ cao, nhà quản trị ngân hàng cần nhìn nhận công việc mà họ phải thực hiện như quá trình tổ chức, lãnh đạo công việc sản xuất và cung cáp thông tin
+ Cũng như nhiều lĩnh vực quản trị khác, quản trị ngân hàng về mặt lý thuyết cũng là một lĩnh vực khoa học mới mẻ Thể hiện: Có nhiều khái niệm và nguyên tắc quản trị được đưa
ra nhưng vẫn chưa có sự thống nhất, chưa chỉ rõ phương pháp riêng biệt và đặc thù của quản trị, tình hình thiếu hụt kỹ năng và kiến thức quản trị có thể áp dụng có hiệu quả và phổ biến trong thực tiến kinh doanh của các ngân hàng
1.2.2 Vai trò của quản trị ngân hàng
Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, yếu tố thị trường bị xem nhẹ nên chỉ có khái niệm quản lý ngân hàng Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, buộc các ngân hàng phải quan tâm nhiều đến đối thủ cạnh tranh, cơ hội và thách thức Trong thời kỳ kế hoạch hóa, tình trạng lãi giả, lỗ thật, tỷ lệ nợ xấu cao ở hầu hết các ngân hàng Nhờ áp dụng các biện pháp quản trị trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, hoạt động kinh doanh ngân hàng về cơ bản có những thay đổi
- Giúp ngân hàng thích ứng được với môi trường kinh doanh vì hoạt động kinh doanh bây giờ là hoạt động mở, đã tính đến yếu tố thị trường trong đó cơ hội và thách thức cải cách ngân hàng, phát triển môi trường kinh doanh để đón những cơ hội và đối phó với những thách thức
- Giúp ngân hàng có thể khai thác, sử dụng nguồn lực (nhân lực, tổ chức, cơ sở cật chất,
kỹ thuật…) của ngân hàng một cách hợp lý và hiệu quả So với trước đậy, chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện rất nhiều Hiện nay việc tuyển chọn, sàng lọc nhân viên vào từng vị trí thích hợp chứ không chỉ định một cách chủ quan Nguồn lực tài chính được thể hiện ở quy mô
Trang 16vốn chủ sở hữu, vốn kinh doanh và tỷ lệ nợ quá hạn Nhìn chung các con số được được cải thiện ở các ngân hàng Việt Nam
Các ngân hàng đều hướng tới hiện đại hóa, công nghệ ngân hàng được cải thiện một cách rõ rệt Các ngân hàng thường xuyên quan tâm đến việc nâng cấp cơ sở hạ tầng để nâng cao chất lượng dịch vụ
* Vai trò của quản trị doanh nghiệp đối với ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) có đặc thù là kinh doanh tiền tệ, hoạt động kinh doanh của NHTM tiềm ẩn nhiều rủi ro và có tác động mạnh đến nền kinh tế quốc dân Vì vậy, đối với NHTM vấn đề quản trị doanh nghiệp (QTDN) có vai trò hết sức quan trọng
Những năm gần đây, với sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng, khủng hoảng, suy thoái trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng diễn ra trên diện rộng, vấn đề QTDN tại các NHTM càng trở nên “nóng” hơn trên các diễn đàn trong nước và quốc tế
Thực tế cho thấy, chỉ những ngân hàng nào thực sự hiểu rõ và để cao vai trò QTDN mới
có thể phát triển vững mạnh trong khủng hoảng, bởi những lợi ích của nó mang lại
Thứ nhất, nâng cao uy tín của ngân hàng Thông qua cơ chế công khai, minh bạch thông tin, NHTM có QTDN hiệu quả sẽ được các chủ thể tham gia thị trường tin tưởng, tín nhiệm
Vì vậy, cơ chế công khai thông tin, một mặt sẽ giúp các NHTM có hệ thống quản trị tốt nhanh chóng nhận được sự tín nhiệm, đánh giá cao của thị trường, mặt khác chính công khai thông tin sẽ buộc các NHTM phải nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị để có thể chiếm lĩnh được lòng tin, sự tín nhiệm của thị trường
Nếu các NHTM không hoạt động hiệu quả, việc công khai thông tin sẽ làm cho họ bị thị trường đào thải Vì vậy, cơ chế công khai thông tin - một trong những cơ chế quan trọng hàng đầu trong QTDN là một động lực quan trọng để các NHTM nâng cao uy tín
Thứ hai, tạo động lực để hoạt động quản lý NHTM hiệu quả Với một cơ chế phân định trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng, đảm bảo tính độc lập về chức năng nhiệm vụ, chế độ đãi ngộ phù hợp vừa tạo động lực để hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban điều hành làm việc tận tâm, vừa tăng cường tính tuân thủ, giảm thiểu sai phạm, gian lận trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ Từ đó, các hoạt động quản lý được tăng cường và nâng cao hiệu quả, đảm bảo mục tiêu được xác định
Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn cho ngân hàng Đối với NHTM, huy động vốn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
do phần lớn vốn kinh doanh của ngân hàng dựa vào vốn huy động
Thực tế cho thấy, QTDN tốt với việc minh bạch và công khai thông tin đầy đủ về hoạt động của ngân hàng tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia thị trường, những người có lợi ích liên quan đến ngân hàng có thể tiếp cận thông tin một cách dễ dàng Trong hoạt động của NHTM, việc giữ chữ “tín” là yếu tố quyết định đến việc huy động vốn thành công
Thứ tư, giảm chi phí vốn, tăng giá trị tài sản của ngân hàng Với đặc thù hoạt động chủ yếu của NHTM là “đi vay và cho vay”, trong đó lãi suất là thước đo cơ bản “giá” các khoản nợ
và tài sản của ngân hàng Các NHTM có QTDN tốt, có tín nhiệm với thị trường có thể huy động vốn với lãi suất thấp do người gửi tiền đánh giá tính an toàn của khoản tiền gửi cao
Trang 17Thứ năm, nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHTM QTDN với một hệ thống giải trình đầy đủ, kịp thời là cơ sở để các vấn đề về hoạt động của ngân hàng được truyền đạt thông suốt đến các cấp quản trị, điều hành trong toàn hệ thống, từ đó cải thiện quá trình ra quyết định và
có biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả với các biến cố
Bên cạnh đó, với hoạt động hiệu quả của kiểm soát nội bộ, kiểm soát của thị trường và kiểm soát rủi ro sẽ hỗ trợ cho ngân hàng kiểm soát rủi ro, tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi rủi ro có thể chấp nhận
Như vậy, hệ thống các cơ chế vận hành trong cơ cấu QTDN được thiết lập và vận hành hiệu quả sẽ hỗ trợ cho việc kiểm soát rủi ro, kiểm soát hiệu quả hoạt động các bộ phận liên quan, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động trong toàn hệ thống Hệ thống kiểm soát hoạt động và kiểm soát rủi ro hiệu quả còn hỗ trợ cho ngân hàng tăng khả năng chống đỡ với khủng hoảng
1.3.2 Các nguyên tắc quản trị
- Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế: Nguyên tắc này xuất phát từ đặc trưng chế độ chính trị của VIệt Nam Nguyên tắc này đòi hỏi phải đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ, tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong quản lý Tập trung được hiểu là ngân hàng pải có chủ trương, đường lối, kế hoạch thống nhất trong toàn hệ thống, thực hiện chế độ một thủ trưởng ở tất cả các cấp Dân chủ thể hiện xác định trách nhiệm và quyền hạn của mỗi cá nhân và từng bộ phận trong ngân hàng
- Tuân thủ pháp luật và thông lệ kinh doanh: Điều này là hiển nhiên vì khi hoạt động trong một môi trường có thể chế, quy định rõ ràng phải tuân theo
- Xuất phát từ khách hàng: Nguyên tắc này được đề xuất theo nguyên tắc quản lý kinh tế (sản xuất cho ai?) Khách hàng là nhân tố khách thể kinh doanh nhưng chi phối rất mạnh đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Tiết kiệm và hiệu quả:
- Kết hợp hài hòa các lợi ích: Các nhà quản trị ngân hàng phải xử lý một cách thỏa đáng mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích của mọi đối tượng tham gia vào hoạt động ngân hàng
để đảm bảo sự tồn tại và phát triển cho ngân hàng Lợi ích của các đối tượng không đồng nhất với nhau, việc gia tăng lợi ích cho nhóm đối tượng này có thể làm giảm lợi ích của các đối tượng khác
1.4 Các phương pháp quản trị ngân hàng
1.4.1 Khái niệm
Phương pháp quản trị ngân hàng là cách thức tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng
bị quản trị và khách thể kinh doanh trong quản trị một ngân hàng
Trang 181.4.2 Các phương pháp quản trị ngân hàng
- Phương pháp hành chính: Là phương pháp tác động vào đối tượng quản trị dựa vào các mối quan hệ tổ chức của hệ thống quản trị và kỷ luật của ngân hàng Đó là mối quan hệ giữa uy quyền và phục tùng Phương pháp này được tác động bằng cách các nhà quản trị ngân hàng đưa
ra mệnh lệnh, quyết định, chỉ thị để cấp dưới thi hành
Ưu điểm: Các quyết định được tiển khai một cách nhanh chóng ngay khi được ban hành,
có tính thống nhất trong toàn ngân hàng, giữ được trật tự, kỷ cương và lề lối làm việc trong ngân hàng
Nhược điểm: Gây tâm lý ức chế cho đối tượng bị quản trị và có thể tạo ra sự phản kháng
- Phương pháp kinh tế: Các nhà quản trị tạo điều kiện cho người lao động kết hợp một cách đúng đắn giữa lợi ích của mình và lợi ích của tập thể trong quá trình thực hiện công việc Chẳng hạn, để hoạt động kinh doanh của ngân hàng có lãi, cần phải tăng dư nợ, tăng huy động vốn Ở một số ngân hàng giao chỉ tiêu xuống từng chi nhánh, từng bộ phận, từng cá nhân, nếu thực hiện tốt được khen thưởng,…
Ưu điểm: Khuyến khích được sự nhiệt tình, sự tự giác, giúp người lao động thoải mái về mặt tâm lý
Nhược điểm: Làm sói mòn yếu tố văn hóa của tổ chức nên các nhà quản trị ngân hàng chỉ sử dụng phương pháp này ở những thời điểm và hoạt động thích hợp
- Phương pháp giáo dục: Tác động vào nhận thức, tình cảm của người lao động để khuyến khích họ làm việc tốt hơn Xét về mặt tư tưởng đạo đức thì phương pháp tuyên truyền
để họ thấy được trách nhiệm của mình Xét về chuyên môn thì phải huấn luyện, đào tạo Mặt khác phải tổ chức thi tay nghề, biểu dương những lao động tốt
Ưu điểm: Nâng cao được nhận thức, trình độ, ổn định tư tưởng cho người lao động, tạo được bầu không khí thân thiện, nâng cao sự thỏa mãn, hài lòng của người lao động
Chiến lược quảng cáo: Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, đăng báo, thiết kế
tờ rơi, băng rôn,…
Khuyến mãi: Ở Việt Nam chiến lược này không được quan tâm nhiều, khi kết thúc đợt khuyến mãi, khách hàng lại trở về với các dịch vụ truyền thống
- Phương pháp cạnh tranh: Các ngân hàng cố gắng tạo lợi thế cạnh tranh với các ngân hàng đối thủ thông qua các chính sách giá (dịch vụ, lãi xuất,…), sản phẩm (chất lượng, số lượng,…)
Trang 19- Phương pháp hợp tác và thương lượng: Các ngân hàng cùng chia sẻ với nhau trên thị trường làm cho các ngân hàng cùng lớn mạnh
1.5 Các chức quản trị ngân hàng
Quản trị điều hành ngân hàng thương mại có các chức năng chính sau:
- Chức năng hoạch định: Xác định mục tiêu và lựa chọn chiến lược để thực hiện mục tiêu trong từng giai đoạn nhất định Các mục tiêu phải được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu quy
mô, chất lượng, chỉ tiêu tài chính
- Chức năng tổ chức, lãnh đạo: Tổ chức là sắp xếp các bộ phận (phòng, ban) các yếu tố (tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên) Xác định cơ cấu và mối quan hệ (trực tuyến, trung gian) giữa các bộ phận để phối hợp hoạt động Lãnh đạo là điều khiển, đưa ra các quyết định và các mặt hoạt động theo từng cấp độ khác nhau Đối với cấp độ chi nhánh, đây là lãnh đạo tác nghiệp, chỉ đạo các mặt hoạt động nghiệp vụ được thực hiện thông suốt ở tất cả các mặt hoạt động liên quan Lãnh đạo ở cấp chi nhánh vừa đòi hỏi chặt chẽ để bảo đảm an toàn, vừa phải phát huy hiệu quả ở mức độ cao nhất
- Chức năng phối hợp: Sự liên kết hợp lý các khả năng riêng biệt của từng người, từng bộ phận, từng yếu tố đảm bảo các mặt hoạt động nghiệp vụ được thông suốt và hỗ trợ nhau tích cực
- Chức năng kiểm tra: Tho dõi đối tượng quản trị đang hoạt động và thu thập thông tin về kết quả thực tế ngân hàng đạt được, đối chiếu kết quả với mục tiêu đề ra ban đầu, tiến hành điều chỉnh, đảm bảo ngân hàng đi đúng quỹ đạo
Trang 20Chương 2 Quản trị chiến lược kinh doanh ngân hàng 2.1 Khái niệm và vai trò của quản trị chiến lược kinh doanh ngân hàng
2.1.1 Khái niệm
- Chiến lược kinh doanh ngân hàng là một kế hoạch dài hạn mang tính tổng thể hay là một chương trình hành động mang tính tổng quát nhằm triển khai các nguồn lực để đạt được mục tiêu đề ra của ngân hàng đảm bảo sự phù hợp với sự thay đổi của môi trường
- Quản trị chiến lược là quá trình phân tích môi trường hiện tại, dự báo môi trường tương lai, xác định sứ mệnh, mục tiêu và chương trình chiến lược, tổ chức triển khai, kiểm tra đánh giá việc thực hiện mục tiêu, chương trình chiến lược trên thực tế
- Quản trị chiến lược kinh doanh ngân hàng là kế hoạch và nghệ thuật của việc xây dựng, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chiến lược kinh doanh, giúp ngân hàng có thể đạt được mục tiêu của mình
Phải có sự kết hợp cả hai yếu tố khoa học và nghệ thuật Hai yếu tố này hỗ trợ, bổ sung cho nhau để tạo nên thành công của một nhà quản trị Muốn quản trị chiến lược kinh doanh các nhà quản trị phải dựa vào lý luận về chiến lược kinh doanh và sau đó bằng nghệ thuật của mình
để đạt được mục tiêu
2.1.2 Vai trò của quản trị chiến lược kinh doanh ngân hàng
* Vai trò của chiến lược kinh doanh ngân hàng
- Giúp xây dựng phương hướng hoạt động dài hạn cho toàn ngân hàng và từng bộ phận trong ngân hàng
- Cung cấp cho các nhà quản trị ngân hàng một chương trình hành động cụ thể nhằm hướng dẫn tư duy và hành động của họ trong cả dài hạn và ngắn hạn (tiền đề cho việc thực hiện các chức năng cơ bản của mỗi cấp quản trị)
- Tạo ra căn cứ vững chắc cho việc đề ra các chính sách, các quyết định kinh doanh
- Nâng cao hiệu quả hoạt động tác nghiệp trong quản trị ngân hàng
* Vai trò của quản trị chiến lược kinh doanh ngân hàng
- Giúp cho các nhà quản trị và các thành viên trong ngân hàng hiểu được mục đích và định hướng hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong một thời gian dài
- Làm tăng tính chủ động, tính thích nghi của hoạt động kinh doanh ngân hàng trước những biến động của môi trường kinh doanh thông qua kỹ thuật phân tích, dự báo môi trường kinh doanh để giúp các nhà quản trị ngân hàng chủ động điều chỉnh mục tiêu và các hoạt động quản trị tác nghiệp khi cần thiết
- Làm thay đổi cách thức và phương thức quản trị trong mỗi ngân hàng bằng cách thay
vì tập trung vào xử lý các sự vụ thì ngân hàng sẽ tập trung vào các chương trình hành động tổng thể, các kế hoạch dài hạn để phù hợp với môi trường kinh doanh
- Giúp các nhà quản trị xác định một cách tương đối vị thế, tiềm năng, triển vong của của ngân hàng trong tương lai
- Nắm bắt được các cơ hội và đối phó được với những thách thức có thể xảy ra, nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra mọi hoạt động của ngân hàng