Nguyênnhân giảm sút của đầu tư nước ngoài có thể là do môi trường kinh tế thế giới chưa thực sự thuận lợi,tuy nhiên, nhiều yếu tố liên quan đến nguồn lực như thiếu lao
Trang 1PHẦN I: PHÂN TÍCH VĨ MÔ
I NĂM 2010
A TỔNG QUAN KINH TẾ THẾ GIỚI
1.Tăng trưởng đã trở lại dù vẫn chậm chạp
- Tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2010 đạt 3,6%
+Trong đó các nước đang phát triển dẫn đầu với mức tăng 7,1%, các nước chậm phát triểntăng 5,5% và các nước phát triển tăng trưởng khiêm tốn với 2,3% (Mỹ 2,6%, EU 1,6% )
+Châu Âu là khu vực hồi phục chậm nhất do khủng hoảng nợ công tại nhiều quốc gia thànhviên
-Sau khi đi xuống mạnh năm 2009, kinh tế toàn cầu tăng trưởng trở lại trong năm 2010 chothấy kết quả ban đầu của những nỗ lực kích thích kinh tế của năm trước và các hỗ trợ vẫn được duytrì trong năm 2010
-Nhìn chung kinh tế thế giới đã tạm vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, sản xuất công nghiệp,thương mại đã tăng trưởng trở lại và thị trường tài chính tiền tệ đều sự hồi phục và ổn định hơn trongnăm 2010
-Tăng trưởng kinh tế năm 2010 theo vùng và một số nền kinh tế chủ chốt khác
-Tuy nhiên, sự hồi phục kinh tế thế giới hiện tại vẫn khiêm tốn ẩn chứa những rủi ro và bộc
Trang 2lộ dấu hiệu kìm hãm đà hồi phục
+Đó là tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao ở các nền kinh tế chủ chốt, nguy cơ vỡ nợ công ở châu Âu
đe dọa hồi phục kinh tế do các gói kích thích kinh tế phải cắt giảm, tăng trưởng kinh tế nhiều nướcđang phát triển chưa hồi phục trở lại mức trung bình trước khủng hoảng kinh tế, sự thiếu hợp tácgiữa các nền kinh tế tăng lên hình thành nguy cơ xung đột thương mại, nguy cơ lạm phát tăng (đặcbiệt tại các nước đang phát triển), sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ bộc
lộ làm suy giảm niềm tin vào chính sách vĩ mô
2.Khủng hoảng nợ công ở khu vực Châu Âu
Nguy cơ khủng hoảng nợ công ở khu vực EU đã bộc lộ và đỉnh điểm vào giữa năm vớikhủng hoảng nợ tại Hy Lạp và Ireland Sau nhiều nỗ lực của cộng đồng châu Âu và Mỹ, cuộc khủnghoảng đã lắng dịu và hai nước trên phải tuân thủ một chương trình cắt giảm chi tiêu công khắt khe
Tuy nhiên, nguy cơ vỡ nợ công ở khu vực EU chưa thể chấm dứt với một loạt các nước nằmtrong danh sách tiềm ẩn: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý Đối mặt với nguy cơ trên các chương trìnhcắt giảm chi tiêu được áp dụng tại một loạt các nước thuộc Eurozone, ngay cả các nước ít nguy cơnhư Thụy Điển cũng có chương trình cắt giảm
3.Chiến tranh thương mại
Rào cản thương mại cũng sớm quay trở lại khi kinh tế thế giới vừa thoát khỏi khủng hoảng.Điển hình nhất là cuộc chiến tiền tệ giữa Mỹ và Trung Quốc Chính phủ Trung Quốc đã phải tạmnâng giá đồng NDT nhưng nỗ lực này là chưa đáng kể Sức ép đồng tiền lên giá cũng xuất hiện phổbiến khi đồng tiền tại nhiều nước đều tăng giá so với đồng USD và điều này ẩn chứa khả năng dẫnđến cuộc chiến tranh tiền tệ trong tương lai để hạn chế thâm hụt thương mại Bên cạnh đó, một loạtrào cản mà điển hình nhất là thuế chống phá giá được các nước lớn áp dụng với các nước xuất khẩu
4.Thất nghiệp vẫn cao ở các nền kinh tế chủ chốt
-Điều đáng lo ngại nhất với kinh tế thế giới trong năm 2010 là tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao vàthậm chí tăng lên tại các nền kinh tế chủ chốt Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ là 9,4%, Châu Ẩu 9,6% Sốngười thất nghiệp vẫn cao đang đe dọa sự hồi phục kinh tế do sự tăng trưởng kinh tế đang thiếu đinền tảng căn bản mà vẫn chủ yếu dựa vào tác động của các gói kích cầu Để tạo thêm việc làm chínhphủ Mỹ đã phải chi thêm gói hỗ trợ 600 tỷ vào tháng 11/2010 tuy nhiên tác động của gói tài chínhmới này cần có thời gian để thấy rõ Nếu vấn đề thất nghiệp không được giải quyết tại các nước pháttriển sẽ kìm hãm tăng trưởng tại các quốc gia đang phát triển Dù hiện tại các nước đang phát triểnsớm tìm được sự hồi phục nhanh thì đà tăng trưởng sẽ yếu đi nếu nhu cầu từ các nước phát triển suygiảm
-Nguồn vốn nóng ( không ổn định và không mang tính dài hạn) chuyển từ các nước tăng
Trang 3trưởng thấp sang các nước đang phát triển làm tăng nguy cơ lạm phát cao ở các quốc gia này cũngnhư đe dọa sự ổn định của thị trường tài chính Chính sách lãi suất thấp cùng gói kích cầu tiếp tụcđược bơm thêm tại các nước phát triển đã tạo cơ hội cho dòng tiền giá rẻ tìm cơ hội đầu tư tại cácnước có tăng trưởng kinh tế tốt hơn – các nước đang phát triển Nguồn tiền nóng tăng mạnh trongquý 4/2010 đã là động lực đẩy một loạt các thị trường chứng khoán các nước mới nổi tăng mạnh mẽ.
Tuy nhiên trước nguy cơ tiềm ẩn mà dòng vốn nóng đưa lại chính phủ các nước nhận đầu tư
đã phải đề ra các biện pháp phòng ngừa
B KINH TẾ VIỆT NAM
1 Tình hình kinh tế chung
-Trong bối cảnh hậukhủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam đã từng bước phục hồi vàtăng trưởng với tốc độ khá nhanh Sau khi đạt mức tăng trưởng GDP thực 5,3% trong năm 2009, nềnkinh tế Việt Nam đã đạt khoảng 1,98 triệu tỷ đồng (tương đương với 104,6 tỷ USD), tương ứng vớităng trưởng 6,78% trong năm 2010 (so sánh theo kỳ gốc 1994), cao hơn mức 6,5% kế hoạch đã đề
ra Cụ thể, tăng trưởng GDP trong 4 quý năm 2010 đều có tốc độ tăng cao hơn so với quý trước, lầnlượt tăng ở mức 5,84% trong quý I, 6,44% trong quý II, 7,18% trong quý III và ước tăng 7,34%trong quý IV Đặc biệt, cả ba khu vực kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đều tăng trưởngvới tốc độ tăng dần, trong đó giá trị gia tăng ngành công nghiệp và xây dựng tăng 7,7%, ngành dịchvụ tăng 7,52% và ngành nông lâm thủy sản tăng 2,78% so với cùng kỳ năm trước Mặc dù có tốc độtăng trưởng khá cao nhưng khi xét trong khu vực châu Á – khu vực có tốc độ phục hồi kinh tế saukhủng hoảng khá nhanh thì tốc độ phục hồi của nền kinh tế Việt Nam chậm hơn so với các nước đã
có tăng trưởng âm trong năm 2009 như Malaysia, Thái Lan và Phillippines
Trang 4-Trong số các chỉ số vĩ mô đóng góp vào mức tăng 6,78% GDP trong năm 2010, hoạt độngsản xuất công nghiệp đã tiếp tục khẳng định được đà tăng trưởng với tốc độ tăng trưởng trong tháng
12 đạt 14,04% so với cùng kỳ năm trước và tính chung lại tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất côngnghiệp cả năm đạt 16,2% so với cùng kỳ năm trước Các doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục là đối tượng có đóng góp lớn nhất vào hoạt động sảnxuất công nghiệp với tốc độ tăng trưởng cả năm lần lượt là 17,25% và 19,77% Về sản lượng sảnxuất, các nhóm ngành có những bước tăng trưởng ấn tượng trong quý IV bao gồm nhóm ngành sơnhóa học, đồ điện như máy giặt, tủ lạnh tủ đá và giấy bìa Ngược lại, các nhóm ngành giảm sút về sảnlượng gồm có giầy dép, lốp ô tô và máy kéo, và điều hòa
Trang 5-Trên lĩnh vực dịch vụ, sức tiêu dùng trong nước trong quý IV/2010 có giảm hơn so với 3quý đầu do lạm phát tăng cao trên 1% trong những tháng cuối năm Tuy nhiên, so với năm 2009, sức
Trang 6tiêu dùng đã phục hồi đáng kể Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 12 thángtăng 24,5% so với năm trước Ngay cả khi đã loại trừ yếu tố tăng giá, tổng mức bán lẻ năm 2010 đãtăng 14% so với cùng kỳ năm 2009 Mức bán lẻ nước ta 2010 đã cao hơn mức bán lẻ của năm 2006
và 2007, những năm trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Sức cầu nội địa mạnh mẽ ngay cảtrong giai đoạn khó khăn vừa qua là một điểm sáng nữa của kinh tế Việt Nam và cũng là một yếu tốảnh hưởng tích cực đối với mức độ hấp dẫn chung của nền kinh tế Việt Nam
2 Tình hình cụ thể
2.1.Đầu tư trực tiếp nước ngoài
-Mặc dù kinh tế thế giới và Việt Nam đã có nhiều dấu hiệu phục hồi khả quan, nhưng dòngvốn ngoại tệ đổ vào Việt Nam vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực Thu hút trực tiếp của nướcngoài từ đầu năm đến cuối tháng 12 đạt 18,595 tỷ USD, giảm 17,8% so với cùng kỳ năm 2009, vàchỉ bằng 26% so với cùng kỳ năm 2008 Trong số này, vốn đăng ký của 969 dự án được cấp phépmới đạt 17,9 tỷ USD (giảm về vốn và giảm về số dự án) còn vốn đăng ký bổ sung của 269 dự ánđược cấp giấy phép từ các năm trước chỉ tăng thêm được 1,3 tỷ USD
Trang 7-Tuy nhiên, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện được trong năm đạt khoảng 11 tỷUSD, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2009 và cao hơn khoảng 0,7 tỷ USD so với năm 2008 Nguyênnhân giảm sút của đầu tư nước ngoài có thể là do môi trường kinh tế thế giới chưa thực sự thuận lợi,tuy nhiên, nhiều yếu tố liên quan đến nguồn lực (như thiếu lao động có kỹ năng, thiếu điện, hạ tầnggiao thông yếu kém) và chính sách vĩ mô chưa nhất quán, rõ ràng và thiếu khả năng dự báo cũngđang là những yếu tố tác động đến tâm lý các nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, so với một số nướctrong khu vực, Việt Nam vẫn đang được đánh giá là “địa điểm đáng chú ý của nhà đầu tư quốc tế”(World Bank,2010).
2.2.Xuất nhập khẩu
Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt nam cũng có một năm khởi sắc hơn nhiều so với năm
2009 Nếu như trong năm 2009, kim ngạch xuất khẩu giảm 8,9% thì tính chung cả năm 2010, tổngkim ngạch xuất khẩu đạt 71,6 tỷ USD, tăng 25,5% so với năm 2009 trong khi tổng kim ngạch nhậpkhẩu đạt 84 tỷ USD, tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước Theo đó, cán cân thương mại năm 2010mặc dù vẫn thâm hụt khá cao, khoảng 12,375 tỷ USD nhưng thấp hơn so với mức nhập siêu 12,85 tỷUSD của năm 2009 và mức 18,02 tỷ USD của năm 2008 và chỉ bằng 16,9% tổng kim ngạch xuấtkhẩu năm 2010
Trang 9- Về cơ cấu xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu dầu thô sụt giảm khá mạnh trong khi kim ngạchxuất khẩu của các mặt hàng phi dầu thô lại có mức tăng trưởng ấn tượng
+ Lý do của việc sụt giảm kim ngạch xuất khẩu dầu thô là do khả năng khai thác chưa cao vànhu cầu sử dụng dầu thô cho nhà máy lọc dầu Dung Quất tăng cao
+ Bên cạnh đó, giá dầu trên thế giới có xu hướng giảm cũng đã ảnh hưởng đến khối lượng vàgiá trị dầu thô xuất khẩu
+ So với cùng kỳ năm 2009, khối lượng dầu thô xuất khẩu giảm 40,3% làm cho giá trị xuấtkhẩu sụt giảm 20,2%
+ Như vậy, có thể thấy rằng, sự tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu năm 2010 chủ yếu dựavào việc tăng xuất khẩu của các mặt hàng phi dầu thô với giá trị lên tới 66,69 tỷ USD
+ Điểm đáng lưu ý là việc tăng kim ngạch xuất khẩu diễn ra ở tất cả các mặt hàng phi dầuthô, trong đó có nhiều mặt hàng như sắt thép, cao su, hóa chất và sản phẩm hóa chất có kim ngạchxuất khẩu năm 2010 tăng rất cao so với năm 2009, lần lượt với mức tăng 162,2%, 93,7% và 74,6%
+ Yếu tố tăng giá của một số hàng hóa trên thế giới trong thời gian vừa qua cũng đã hỗ trợcho việc tăng giá trị của một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam
+ Xét về kim ngạch nhập khẩu, một số nguyên liệu thô và đầu vào trung gian cho các ngànhsản xuất phục vụ xuất khẩu như bông, sợi dệt và nguyên phụ liệu dệt may giày dép có tốc độ tăngkhá cao, lần lượt là 69,2%, 43,5% và 36%
+ Tuy nhiên, nhiều tư liệu cho sản xuất công nghiệp và đầu vào cho sản xuất nông nghiệpnhư phân bón, máy móc thiết bị dụng cụ, phương tiện khác lại có tốc độ nhập khẩu giảm hoặc rấtthấp
+ Đặc biệt, nếu trong năm 2009,
ô tô là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng
kim ngạch cao thì đến năm 2010, tốc độ
tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu ô tô,
đặc biệt là ô tô nguyên chiếc, đã giảm
đáng kể, với mức tăng trưởng -6,3% và
-24,4% so với năm 2009
- Thị trường xuất khẩu năm 2010 không
có gì khác biệt nhiều so với năm 2009
Trang 10+ Thị trường Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm trên 20% tổngkim ngạch xuất khẩu, tiếp theo là thị trường các nước EU, ASEAN, và Nhật Bản
+ Tuy nhiên, tỷ trọng xuất khẩu
sang các nước thị trường mới nổi cũng đang
được tăng cường đáng kể, bao gồm Châu
Mỹ la tinh, châu Phi, Trung Đông và Trung
Quốc
+ Trong khi đó, kim ngạch nhập
khẩu của Việt Nam từ thị trường Trung
Quốc cũng tăng lên khá cao, chiếm khoảng
24% trong năm 2010, và Trung Quốc chính
thức trở thành đối tác thương mại lớn nhất
của Việt Nam trong năm 2010, thay vị trí
của các nước ASEAN
2.3.Tỷ giá:
- Năm 2010 chứng kiển sự mất giá của VND so với đô la Mỹ bất chấp việc đồng đô la Mỹmất giá mạnh so với các ngoại tệ mạnh khác như đồng Yên của Nhật Bản, đồng Nhân dân tệ củaTrung Quốc trên thị trường thế giới
+ Tính từ đầu năm đến nay, đã hai lần NHNN thực hiện điều chỉnh tỷ giá chính thức liênngân hàng lên mức 18.544 VND /USD và 18.932 VND/USD vào 11/2 và 18/8 và tính chung cả nămtỷ giá đã tăng hơn 5%
+ Sau khi điều chỉnh lần 2, tỷ giá trong hệ thống ngân hàng được duy trì ở mức trần biên độtrong suốt quý IV/2010, với mức giao dịch tại 19.495 – 19.500 USD/VND (tỷ giá mua – bán)
+ Tuy nhiên, tỷ giá trên thị trường tự do đã có chênh lệch khá lớn so với tỷ giá trong hệ thốngngân hàng, có lúc mức chênh lệch lên tới 10% và được giao dịch ở mức 21.500 USD/VND, nhất làkhi với giá vàng trên thế giới tăng cao vào những ngày đầu của tháng 11 đã khiến cho giá vàng trongnước tăng cao và nhu cầu nhập khẩu vàng để ổn định thị trường này
+ Sự mất cân đối trong cung cầu về ngoại tệ trên thị trường ngoại hối này đã giảm bớt trongtháng 12 và theo đó, tỷ giá trên thị trường tự do chỉ chênh khoảng 6% so với tỷ giá trong hệ thốngngân hàng vào những ngày cuối năm 2010
Trang 11- Cho đến cuối tháng 11, khoảng cách tương đối lớn giữa giá ngoại tệ trên thị trường tự do vàthị trường chính thống cùng với những kỳ vọng phá giá đồng Việt Nam chính là động lực găm giữUSD của các doanh nghiệp và người dân
+ Bên cạnh đó, lạm phát gia tăng cao cũng gây tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư, theo đó,theo đó nhu cầu nắm giữ USD thay cho VND ngày càng lớn Có thể thấy các bất ổn kinh tế vĩ môtrong thời gian qua như lạm phát cao trên 1%/tháng trong suốt quý IV; dự trữ ngoại hối thấp và thâmhụt vãng lai lớn là yếu tố góp phần tạo nên sự bất ổn trên thị trường ngoại hối
+ Cùng với, tâm lý lo ngại về khả năng khắc phục các bất ổn vĩ mô thông qua các chính sáchtiền tệ và tài khóa được thực hiện trong thời gian qua của ngân hàng nhà nước và chính phủ cũng lànhân tố tác động tới thị trường này
Trang 12- Đối mặt với sự mất cân đối trong cung cầu ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước đã có những
bước điều chỉnh trên thị trường ngoại hối trong quý IV
+ Trong đầu tháng 11, Ngân hàng Nhà nước thông báo sẽ bán lượng ngoại tệ dự trữ đang cónhằm ổn định tỷ giá
+ Vào cuối quý III/2010, lượng dự trữ ngoại tệ của Việt nam được dự tính là khoảng 13 tỷUSD, tương đương với 2 -3 tuần nhập khẩu.Tuy nhiên, số lượng ngoại tệ bơm ra thị trường nhằm ổnđịnh tỷ giá trong những tháng cuối năm rất khó có thể xác định
- Cùng với việc thông báo bán ngoại tệ dự trữ, Ngân hàng Nhà nước cũng cam kết hỗ trợ cácngân hàng trong việc đáp ứng đầy đủ cho những nhu cầu chính đáng của doanh nghiệp nhất là nhữngdoanh nghiệp nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu như xăng dầu
- Cùng với đó, thị trường ngoại hối cũng được ổn định hơn trong tháng 12 khi lượng kiều hốichuyển về Việt Nam đã tăng mạnh lên 770 triệu và tổng lượng kiều hối chuyển về trong năm đã lêntới 8 tỷ USD, cao hơn mức 7,2 tỷ USD vào thời điểm trước khủng hoảng năm 2008
- Đồng thời, đồng Việt Nam cũng được bổ sung thêm sức mạnh bởi quyết định điều chỉnhtăng lãi suất cơ bản lên 1% từ 8% lên 9%/năm từ ngày 5/11
+ Theo đó, tình hình tỷ giá trong những tuần cuối của tháng 12 đã bớt căng thẳng Giá ngoạitệ trên thị trường tự do chuyển biến theo xu hướng giảm, tuy nhiên hiện vẫn đứng ở mức tương đốicao từ 20.800 đến 21.150 USD/VND
+ Lúc này đây, khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trường tự do đã bị thuhẹp, giảm xuống còn khoảng 1.500 đồng thay cho mức trên 2.000 đồng như trước đây
+ Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND trong năm 2011 vẫn còn rất lớn những yếu tố cơ bảntác động lên tỷ giá như thâm hụt thương mại kéo dài, lạm phát ở mức cao vẫn chưa được giải quyếttriệt để
2.4.Chỉ số CPI
-Trong năm 2010, chỉ số giá tiêu dùng CPI trung bình 12 tháng tăng 9,19% so với giai đoạntương ứng của năm 2009 và 11,75% so với tháng 12/2009 Sau khi giảm mạnh trong quý II/2010 và
có lúc xuống còn 0,06% trong tháng 7, tốc độ tăng giá hàng tháng đã tăng mạnh trở lại trên 1% từcuối quý III và đạt tới mức tăng 1,98% trong tháng 12 Trong số 11 nhóm hàng hóa, chỉ có duy nhấtnhóm bưu chính viễn thông có tốc độ tăng giá âm khoảng 0,47% so với năm 2009 còn tất cả các mặthàng còn lại đều có tốc độ tăng khá cao, nhất là nhóm hàng nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xâydựng, và nhóm giao thông Có thể thấy rằng việc giá cả hàng hóa trên thế giới tăng (giá nguyên liệutrên thế giới tính đến tháng 11 đã tăng 14,9% so với tháng 6, trong đó giá nguyên liệu phi dầu mỏ đãtăng tới 20,6%) cũng như xu hướng tăng tỷ giá USD/VND trên 5% trong năm 2010 đã khiến giá của
Trang 13các mặt hàng nhập khẩu tính theo đồng nội tệ tăng cao, tác động xấu đến mặt bằng giá chung trong
nước
-Mặc dù có những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến tình hình lạm phát trong nước, việc điềuhành chính sách của chính phủ cũng đã tác động không nhỏ tới việc gia tăng của lạm phát Cụ thể,chính sách tiền tệ khá được nới lỏng trong thời gian vừa qua (tổng phương tiên thanh toán năm 2010tăng 25,3% so với năm 2009 và cao hơn mức kế hoạch 23%; lượng cung tiền ròng trên thị trường
mở năm 2010 chỉ bằng 23% so với năm 2009 nhưng cũng lên tới 18,467 nghìn tỷ đồng và số dư vào
Trang 14ngày cuối năm 2010 vẫn cao tới 98,557 nghìn tỷ đồng) cũng như chính sách tài khóa không đượcthắt chặt (bội chi ngân sách tương ứng với 5,8% GDP trong khi hiệu quả sử dụng vốn nhà nướckhông cao với hệ số ICOR bình quân 10 năm qua của khu vực kinh tế nhà nước lên tới gần 7,8 trongkhi khu vực kinh tế tư nhân chỉ khoảng 3,5) đã khiến cho mức lạm phát vượt ra ngoài mức kiểmsoát.
2.5.Chính sách tiền tệ và tài khóa
-Trong năm qua chính sách tiền tệ và tài khóa đã không có sự phối hợp nhịp nhàng và dấu ân
rõ nét nhất là chính sách tài khóa đã tạo ra hiện tượng chèn lấn đối với khu vực tư nhân Trong quý I,việc NHNN thắt chặt chính sách tiền tệ trong khi Bộ tài chính lại tăng cường phát hành trái phiếu đãkhiến dòng vốn ngân hàng đổ vào trái phiếu chính phủ làm cho các doanh nghiệp khó tiếp cận đượcvới nguồn vốn với mức lãi suất hợp lý Trước áp lực giải quyết khó của khăn doanh nghiệp trongviệc tiếp cận nguồn vốn, chính sách tiền tệ của NHNN cũng buộc phải điều chỉnh theo hướng nớilỏng hơn vào giữa năm khi áp lực lạm phát có dấu hiệu giảm bớt vào các tháng giữa năm (mặc dùđây là thời điểm thấp điểm của lạm phát theo chu kỳ các năm) Tuy nhiên, với mức lạm phát hàngtháng trong quý IV/2010 tăng cao trên 1% và khả năng mức lạm phát mục tiêu khó có thể đạt được
và áp lực tỷ giá tăng cao, nên ngày 5/11/2010, NHNN đã chính thức nâng mức lãi suất cơ bản tăngthêm 1%, mặc dù trước đó vào 27/10/10, Ngân hàng Nhà nước vẫn quyết định giữ mức lãi suất này
là 8%/năm trong tháng 11
-Theo đó, mức lãi suất cơ bản bằng VND sẽ là 9% thay vì 8% như trước đây, và lãi suất táichiết khấu và tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước cũng được điều chỉnh tăng 1% lên mức 7%/năm
và 9%/năm Mặc dù vậy, chính sách tiền tệ trong năm 2010 khó có thể nói là đã thắt chặt khi NHNN
đã tăng tổng phương tiện thanh toán 25,3%, và tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng là29,81% so với năm 2010
-Việc điều hành thiếu nhất quán và ổn định trong chính sách đã khiến các doanh nghiệp găpnhiều khó khăn hơn trong việc hoạch định kế hoạch và phương án kinh doanh cũng như giảm hiệuquả của chính sách Hệ quả là một trong những rủi ro được nhận diện trong năm 2010 là rủi ro về
chính sách đồngthời cũng khiếnViệt Nam khôngđạt được mụctiêu về ổn địnhvĩ mô và giá trịđồng tiền
Trang 15C THỊTRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Thị trường trái phiếu
1.1 Thị trường sơ cấp
* Trái phiếu Chính phủ
-Trong năm 2010, tổng lượng trái phiếu kho bạc và ngân hàng phát triển phát hành trên thịtrường sơ cấp đã đạt gân 110 nghìn tỷ đồng Tuy nhiên, nếu nhìn về thời gian phát hành thì có thểthấy hầu hết lượng trái phiếu phát hành này đều chủ yếu diễn ra trong 3 quý đầu của năm, còn riêngquý IV, tổng lượng trái phiếu phát hành khá thấp chỉ đạt trên 11,4 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 10%tổng lượng phát hành trái phiếu cả năm Riêng trong cả tháng 11 và tháng 12 không có một cuộc đấuthầu hoặc bảo lãnh trái phiếu nào được tiến hành thành công Có thể nhận thấy sự trầm lắng của thịtrường sơ cấp trong những tháng cuối năm 2010 bao gồm những yếu tố chính sau
+Thứ nhất, tổng thu ngân sách nhà nước năm 2010 đã tăng lên đáng kể, đạt khoảng 109% so
Trang 16với dự toán năm trong khi tổng chi ngân sách lại giảm chỉ chiếm khoảng 98% dự toán năm, và thâmhụt ngân sách theo đó đạt 5,8%GDP thấp hơn so với mức 6,2% dự toán năm Khi tổng thu ngân sáchtăng và tổng chi ngân sách giảm, nhu cầu về việc phát hành trái phiếu vào thời điểm cuối năm khôngcòn trở nên cấp thiết.
+Thứ hai, mức lãi suất trần mà các tổ chức phát hành trong quý IV lại có phần giảm đi so
với các quý trước và chỉ dao động trong khoảng từ 9,5% đến 10,8%/năm, thấp hơn lợi suất trái phiếutrên thị trường thứ cấp khoảng 10 – 35 điểm phần trăm do đó, trái phiếu trên thị trường sơ cấp cũngtrở nên kém hấp dẫn hơn
+Thứ ba, với mức lạm phát tăng cao trong những tháng cuối năm 2010 cũng như việc
NHNN nâng lãi suất cơ bản từ mức 8% lên mức 9% vào đầu tháng 11 và cuộc chạy đua lãi suất huyđộng trong hệ thống ngân hàng thương mại đã làm cho kỳ vọng lợi suất trái phiếu của các nhà đầu tưcao hơn, trong khi mức lãi suất trần của trái phiếu không tăng và tình trạng căng thẳng thanh khoảncủa các ngân hàng thương mại gia tăng trong dịp cuối năm
+Thứ tư, trong năm 2010, sự tham gia vào thị trường trái phiếu của các nhà đầu tư nước
ngoài gần như vắng bóng do những lo ngại về rủi ro tỷ giá, và khiến cho nhu cầu đầu tư trái phiếugiảm sút Do đó, chúng tôi tiếp tục nhận định rằng tình hình trầm lắng trên thị trường trái phiếu sơcấp sẽ còn tiếp diễn, việc giữ lãi suất trần trái phiếu Chính phủ ở mặt bằng như hiện này sẽ gặp khókhăn trong ngắn hạn, và tỷ lệ thành công của các đợt đấu thầu trái phiếu được dự đoán sẽ vẫn ở mứcrất thấp trong những tháng đầu năm 2011 Thị trường trái phiếu sơ cấp chỉ thực sự sôi động trở lạikhi những căng thẳng về thanh toán của hệ thống ngân hàng và áp lực về lạm phát được tháo gỡ vàkhi vấn đề thâm hụt ngân sách và nợ công của Việt Nam có chiều hướng khả quan hơn
* Trái phiếu doanh nghiệp
-Trong năm 2010, phần lớn các đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp đều thành công và tínhchung lại, đã có khoảng 47 nghìn tỷ đồng trái phiếu được phát hành trong năm Trong khi lãi suấtcho vay của các ngân hàng trên thị trường vẫn còn cao thì việc huy động vốn thông qua phát hànhtrái phiếu của doanh nghiệp có một số ưu điểm vượt trội hơn, và do đó ngày càng được nhiều doanhnghiệp thực hiện Nếu vay tín dụng, doanh nghiệp cần phải có tài sản thế chấp, có dự án khả thi, phảitrả lãi và vốn gốc định kỳ hàng tháng, trong khi đó, với trái phiếu, doanh nghiệp chỉ phải trả vốn gốcmột lần vào kỳ đáo hạn và trả lãi theo kỳ hạn 6 tháng hoặc 1 năm một lần, và do đó có thể tận dụngđược vốn để kinh doanh với chu kỳ dài hơn Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã nâng hệ số rủi rođối với các khoản cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản và chứng khoán của các ngân hàng lênmức 250% Các động thái này khiến cho việc vay vốn ngân hàng của các doanh nghiệp thuộc cácngành nghề kể trên rất khó khăn Do đó, trong thời gian tới phát hành trái phiếu sẽ trở thành kênh
Trang 17phiếu doanh nghiệp phát hành có kỳ hạn ngắn, thường có lãi suất trong năm đầu tiên nằm trongkhoảng từ 10% đến 16%/năm và áp dụng lãi suất thả nổi cho các năm tiếp theo (phổ biến là mức lãisuất huy động trung bình của 4 ngân hàng lớn cộng thêm từ 2 đến 4%) Theo nhận định của chúngtôi, kênh phát hành trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ tiếp tục có những chuyển biến tích cựchơn trong thời gian tới Đặc biệt, việc ban hành Nghị định số 84/2010/NĐ-CP của Chính phủ yêucầu các doanh nghiệp muốn phát hành thêm cổ phiếu hay trái phiếu trong thời gian trái phiếu chuyểnđổi chưa đáo hạn sẽ phải giải trình rõ tất cả những rủi ro cho các nhà đầu tư tiềm năng và đưa ra mộtkế hoạch dự phòng rủi ro nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư hiện hữu sẽ giúp làm tăng tínhminh bạch trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp và do đó, sẽ hấp dẫn được các nhà đầu tư.
-Tuy nhiên, đối với việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp bằng ngoại tệ ra nước ngoài củacác doanh nghiệp Việt Nam trong thời điểm quý IV/2010 gặp rất nhiều khó khăn Trên thực tế, cảhai doanh nghiệp là Vinacomin và PetroVietnam đã phải hoãn việc phát hành trái phiếu với giá trị
500 triệu USD và 1 tỷ USD vì lý do “điều kiện không thuận lợi” Chính việc Vinashin nợ tới hơn 80nghìn tỷ đồng, trong đó có khoản nợ 1 tỷ USD từ vốn phát hành trái phiếu được chính phủ bảo lãnhcũng như nhiều khoản nợ các ngân hàng quốc tế như Ngân hàng Credit Suisse đã làm cho hàng loạtcác tổ chức xếp hạng quốc tế như Fitch, S&P và Moody lần lượt hạ xếp hạng tín dụng ngân hàngcũng như trái phiếu chính phủ và khiến cho các nhà đầu tư quốc tế trở nên rất thận trọng đối với tráiphiếu doanh nghiệp cũng như trái phiếu chính phủ của Việt Nam Theo đó, chúng tôi nhận định việcphát hành trái phiếu quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó có thể thực hiện được và các nhàđầu tư quốc tế sẽ trở lại quan tâm tới trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam khi nhận được tín hiệu khảquan hơn từ các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế
1.2 Thị trường thứ cấp
-Trong năm 2010, tổng khối lượng giao dịch trái phiếu đạt 842,11 triệu trái phiếu và giá trị
giao dịch đạt khoảng88,57 nghìn tỷ đồng,trong đó quý IV có khốilượng cũng như giá trịgiao dịch lớn nhất, lớnhơn 2 lần so với quý I.Trong cả năm, tháng 2
là tháng có khối lượng
và giá trị ít nhất (tươngứng 29 triệu trái phiếu
và 2,8 nghìn tỷ đồng),
Trang 18và tháng 11 là tháng có khối lượng và giá trị cao nhất (113,54 triệu trái phiếu và 12,377 nghìn tỷđồng) Với tình hình kinh tế đang có chuyển biến khả quan hơn, Bộ Tài chính đang có kế hoạch rútbớt số lượng trái phiếu đang lưu hành trên thị trường thông qua việc cơ cấu và mua lại số lượng tráiphiếu đã phát hành ra Khi lãi suất trong hệ thống ngân hàng còn đang ở mức cao và khó có khảnăng giảm nhanh trong thời gian ngắn, chúng tôi vẫn kỳ vọng hoạt động của thị trường trái phiếuvẫn diễn ra nhưng tính thanh khoản của thị trường trái phiếu khó có khả năng sẽ tốt hơn lên trongthời gian tới.
2 Thị trường cổ phiếu niêm yết
2.1.Các sự kiện quan trọng ảnh hưởng tới thị trường chứng khoán 2010:
(1) 11/1: tin đồn tăng LSCB
(2) 26/1: LSCB tăng lên 8%
(3) 11/2 : Tỷ giá chính thức (USD - VND) tăng 3,36%
(4) 15/3 ANZ thoái vốn tại STB
(5) 1/4: Chính phủ yêu cầu NHNN hạ thêm lãi suất cho vay.
(6) 7/5 CP ban hành 23/NQ-CP yêu cầu NHNN khẩn trương có biện pháp phù hợp để hạ lãi suất (7) 6/5 TTCKTG bắt đầu giai đoạn giảm mạnh do lo ngại khủng hoảng vỡ nợ công lan rộng ở châu
Âu sau khủng hoảng trầm trọng tại Hy Lạp
(8) 20/5 : thông tư 13 được ban hành
(9) Tháng7: Vinashin công bố khoản nợ 80.000 tỷ và lo ngại phá sản
(10) 1/8 Tin đồn các quỹ của Dragon Capital thoái vốn.
(11) 12/8 ĐHCĐ của VEIL và VGF quyết định không thoái vốn
(12) 17/8 Tỷ giá thị trường tự do biến động tăng, tỷ giá chính thức tăng 2,1%
Trang 19(13) 6/9 Chính phủ yêu cầu NHNN rà soát thông tư 13
(14) 28/9 TT19 sửa đổi TT13 nhưng không có thay đổi trọng yếu.
(15) 30/9 Tỷ giá ngoại tệ thị trường tự do bắt đầu tăng mạnh, giá vàng cũng trong xu hướng tăng
mạnh
(16) 23/10 : CPI tháng 10 tăng cao lên 1,05%
(17) 5/11 LSCB lên 9%, NHNN tăng cường thắt chặt tiền tệ, không phá giá thêm VND đến cuối
năm
(18) 11/11: giá vàng đạt đỉnh 38 triệu/lượng, USD tự do lên 21.500 VND
(19) 24/11 CPI tháng 11 tăng thêm 1,86%, CPI cả năm dự kiến vượt 11% và tin đồn NHNN hoãn
thời hạn tăng VĐL của NHTM lên 3000 tỷ sang năm sau
(20) 8/12 Techcombank nâng lãi suất huy động lên 17% nhen nhóm một cuộc đua lãi suất
(21) 14/12 Các NHTM được gia hạn tăng VĐL lên 3000 tỷ thêm 1 năm, NHTM đồng thuận lãi suất
huy động cao nhất 14%
(22) 15/12 Moody hạ tín nhiệm TPCP Việt Nam xuống B1
(23) 24/12 CPI tháng 12 tăng 1,98%
2.2.Diễn biến thị trường chứng khoán năm 2010
-Trái với những nhận định dự báo khá lạc quan cuối năm trước, thị trường chứng khoán năm
2010 đã gặp nhiều khó khăn và khiến giới đầu tư thất vọng khi sụt giảm so với năm 2009 Mặc dùthị trường có đợt hồi phục mạnh gây bất ngờ từ cuối tháng 11/2010, VNI vẫn đóng cửa giảm 2% sovới cuối năm trước khi chốt phiên 31/12/2010 tại 484.66 điểm, HNX – index gây thất vọng nhiềuhơn khi đóng cửa năm tại 114.24 giảm tới 32% so với cuối 2009 Kết quả chênh lệch giữa hai sàngiao dịch chính thức này phần nào cho thầy nhiều vấn đề ẩn chứa đằng sau các chỉ số
-Ấn tượng của một đợt thị trường lạc quan năm 2009 chỉ xuất hiện trong 6 tháng đầu năm
2010 và đây cũng là giai đoạn thị trường tăng trưởng mức cao nhất trong năm ( VNI tại 549 điểm vàHNX – index tại 187.22 điểm ) Nửa cuối năm 2010 là thời kỳ khó khăn nhất của thị trường khiniềm tin sụp đổ bởi tác động của bất ổn kinh tế bộc lộ, chính sách tiền tệ thiếu nhất quán đồng thờithị trường chịu tác động bởi nguồn cung lớn từ các cổ phiếu niêm yết mới và phát hành thêm trongthời điểm trước bắt đầu được giao dịch, làn sóng đầu cơ phát triển mạnh trong các quý trước tan rã
và khó khăn thanh khoản chung của toàn hệ thống ngân hàng khiến các khoản đầu tư vào chứngkhoán bị siết lại Các chỉ số đã nhiều lần kiểm tra các mốc đáy của năm vào tháng 8 và tháng 11.VNI hai lần giảm về mức đáy 420 trong khi HNX – index giảm thấp nhất trong vòng 18 tháng xuống97.44 điểm vào tháng 11/2010 Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2010 sẽ hoàn toàn là bức
Trang 20tranh tối mầu nếu như không có đợt hồi phục khá mạnh gây bất ngờ vào tháng 12 trong lúc các tinxấu ngày càng xuất hiện nhiều hơn Sự đi ngược của thị trường trong bối cảnh kinh tế vỹ mô nhiềubất lợi (lạm phát cao, tỷ giá cao, lãi suất tăng mạnh trái phiếu chính phủ bị hạn bậc định mức tínnhiệm ) triển vọng doanh nghiệp dự báo khó khăn vẫn chưa có những lý giải hợp lý để tạo dựngniềm tin Những động lực của đợt tăng giá này có lẽ xuất phát một phần nhờ giá cổ phiếu đã xuốngthấp về gần sát thời điểm khủng hoảng hấp dẫn hoạt động đầu cơ trở lại, tin xấu đã được phản ánhhết vào giá cổ phiếu và quan trọng hơn cả là các markers có vẻ muốn thị trường không phải kết thúcmột năm với kết quả quá xấu.
-Kết thúc năm 2010, thị trường chứng khoán Việt Nam là một trong số ít thị trường khôngtăng trưởng ở châu Á và chịu sự suy giảm đi ngược lại với xu hướng chung của thế giới
-Năm 2010 đã qua đi, với phần đông nhà đầu tư năm nay có lẽ là một năm buồn nhiều hơnvui Sau những lạc quan hứng khởi trong năm trước, phần đông đã được trả về một thực tại khắcnghiệt hơn Những điểm nổi bật của thị trường trong năm 2010 và nguyên nhân tác động:
-Thị trường thiếu động lực do kinh tế vĩ mô bất ổn làm suy giảm niềm tin và chính sách quản
lý của NHNN làm hạn chế dòng tiền vào chứng khoán
-Môi trường kinh tế vĩ mô không thuận lợi có lẽ là nguyên nhân lớn nhất khiến thị trườngchứng khoán có năm giao dịch thất bại Mặc dù GDP tiếp tục tăng trưởng vượt mục tiêu đề ra và khácao so với nhiều nước trong khu vực và thế giới nhưng thành tựu này bị lu mờ trước vấn đề kinh tếnhư lạm phát cao, tỷ giá bất kiểm soát, lãi suất cao Những bất ổn kinh tế sớm quay trở lại ngaythời kinh tế toàn cầu vừa thoát khỏi khủng hoảng đã làm xói mòn niềm tin của nhà đầu tư Tâm lý longại lạm phát cao dẫn đến NHNN thực hiện thắt chặt tiền tệ, lo ngại VNĐ mất giá tăng lên và trởnên thường trực khiến nhà đầu tư không thể yên tâm đầu tư chứng khoán, hạn chế dòng tiền vàokênh vốn
-Một nguyên nhân nhân nữa thuộc nhóm chính sách cũng làm suy giảm dòng tiền vào chứngkhoán là việc ban hành TT13 tăng tính an toàn của hệ thống ngân hàng tài chính
2.3.Những động thái nổi bật trong năm 2010
a.Tương quan cung cầu bất cân đối
-Năm 2010 là năm nguồn cung cổ phiếu tăng đột biến đến từ số lượng tăng nhanh chóng củanhóm cổ phiếu niêm mới, nhóm cổ phiếu cổ phiếu phát hành thêm và nhóm chịu áp lực thoái vốntheo nghị định 09/2009/NĐ - CP và thông tư 13 của NHNN Theo số liệu có được, số doanh nghiệpniêm yết mới tăng 32% (151 doanh nghiệp) và khối lượng cổ phiếu phát hành thêm được niêm yếtlên đến 4.250 triệu cổ phiếu vượt xa so với năm trước, tổng khối lượng cổ phiếu tăng thêm năm
2010 là 8.698 triệu cổ phiếu tăng 52% so với năm trước Hoạt động phát hành thêm nở rộ trong nửa
Trang 21cuối năm 2009 và nửa đầu năm 2010 làm gia tăng mạnh lượng cổ phiếu niêm yết vào cuối năm 2010cũng là nguyên nhân khiến diễn biến thị trường ảm đạm trong giai đoạn này Bên cạnh hoạt độngtăng vốn của doanh nghiệp hoạt động thoái vốn để đáp ứng theo các quy định quản lý của Chính phủ
và NHNN cũng nhộn nhịp trong năm 2010 Điển hình như Petro Việt Nam thoái vốn ở một loạt cáccông ty con niêm yết trên sàn, Vietcombank bán bớt vốn đầu tư vào EIB không kể các khoản đầu tưOTC khác
-Trong khi cung cổ phiếu tăng cao thì sức mua lại không tăng tương xứng Giá trị giao dịchbình quân giảm nhẹ so với 2009 và khối lượng giao dịch bình quân năm 2010 chỉ đạt 74 triệu cổphiếu chỉ tăng 28% so với năm trước do giao dịch tập trung vào cổ phiếu nhỏ Nguồn vốn đầu tư khảdụng cho thị trường bị co hẹp năm 2010 do chính sách tín dụng cho đầu tư chứng khoán bất độngsản bị siết chặt hơn, bị hút vào các đợt phát hành thêm, các kế hoạch tăng vốn, tăng tỷ lệ an toàntheo quy định của hệ thống ngân hàng cũng như sang các kênh đầu tư lợi nhuận khác như vàng,ngoại tệ và bất động sản
b.Hoạt động đầu cơ thao túng giá và tâm lý số đông
-Tình trạng đầu cơ ngắn hạn luôn xảy ra với thị trường Việt Nam, nhưng tình trạng này trầmtrọng hơn trong năm 2010 khi biến tướng sang hành vi thao túng giá Sự nở rộ của hoạt động này đãtạo nên bóng bóng cổ phiếu nhỏ đầu năm 2010 và kéo theo đó hậu quả cho nhà đầu tư Tiếp tục xuhướng xuất hiện vào cuối năm 2009, trào lưu làm giá các cổ phiếu nhỏ được đẩy mạnh hơn vào đầunăm 2010 khi các nguồn tiền trở nên hạn hẹp hơn không đáp ứng được hoạt động đầu cơ với nhómbluechips So với năm trước số cổ phiếu có mức tăng trưởng giá ngoạn mục trong thời gian ngắnnhiều hơn dù doanh nghiệp không có gì phát triển nổi trội Một vài mã điển hình như MKV (600%),VE9 (600%), PVA (500%), SRA (400%), LTC (350%)
-Chính sóng các cổ phiếu nhỏ đã dẫn dắt thị trường và giúp thị trường đạt đỉnh vào tháng 5.Sau khi thị trường đạt đỉnh vào tháng 5 cũng là lúc hiện tượng đầu cơ cổ phiếu nhỏ thoái lui Nửacuối năm là thời điểm tuột giá mạnh nhất của các pennies do yếu tố bất lợi cho thị trường xuất hiện(bất ổn vĩ mô, nguồn cung cổ phiếu phát hành thêm được đưa vào giao dịch và sự siết chặt hơn củaUBCK với hoạt động “ làm giá” chứng khoán) Thời gian suy giảm kéo dài cùng với hiệu ứng tiêucực từ giải chấp đòn bẩy tài chính khiến giá nhiều cổ phiếu nhỏ chưa thể phục hồI dù không ít mã vềmức hợp lý và hấp dẫn vào cuốI năm vớI PE ở mức 7x
Trang 22-Đồ thị tăng trưởng index theo nhóm vốn hóa 2010 của chúng tôi cho thấy nhóm penny thay
vì tăngtrưởng lạikết thúc đilùi lại sovới cácnhóm vốnhóa khác.Điều nàycũng lýgiải vì saochỉ số sàn Hà Nội nơi tập trung các cổ phiếu nhỏ có tính đầu cơ cao lại giảm tới 32% trong năm quatrong khi VNI chỉ giảm 2%
-Dù thị trường đã trưởng thành hơn, nhưng vẫn tiếp tục bị chi phối bởi tâm lý đám đông -Rủi ro tâm lý đám đông có thể thấy qua những đoạn đứt gẫy giảm xuống mức đáy của thịtrường sau các quãng thời gian tích lũy đi ngang vào tháng 8 và tháng 11 và trong cả thời điểm hồiphục vào tháng 12 Trong các giai đoạn này thị trường luôn có xu hướng đi ngược lại các tin tứckinh tế vĩ mô hay xu hướng chung của thế giới, các yếu tố giá trị cơ bản và yếu tố có giá trị chi phốinhất là thanh khoản thị trường Rủi ro tâm lý số đông là điển hình của thị trường Việt Nam trongnhiều năm và vẫn tiếp tục là rủi ro hiện hữu cho tới khi thị trường trở nên chuyên nghiệp hơn, cácnhà đầu tư tổ chức thay thế cho vai trò của các nhà đầu tư nhỏ lẻ
c.Sự bùng nổ của đòn bẩy tài chính và ảnh hưởng
Sang năm 2010 dịch vụ đòn bẩy tài chính được cung cấp phổ biến tại các công ty chứng khoán vàđược nhà đầu tư tăng cường sử dụng Mặt trái của công cụ này vì thế được bộc lộ rõ hơn và tạo nênảnh hưởng không nhỏ tới diễn biến thị trường chứng khoán 2010 Các đợt suy giảm thường dễchuyển sang trạng thái suy sụp nhanh do áp lực giải chấp luôn thường trực Bên cạnh đó việc giatăng sử dụng đòn bẩy tài chính cũng là một trong các nguyên nhân khiến giao dịch ngắn hạn trở nênphổ biến hơn do nhà đầu tư thường có tâm lý chốt lãi nhanh tránh rủi ro thị trường đảo chiều Ngoài
ra, việc sử dụng dịch vụ tài chính như công cụ cạnh tranh giữa các công ty chứng khoán cũng làmgia tăng sự rủi ro và tạo nên bất công giữa các nhà đầu tư khi các công ty bỏ qua quản trị rủi ro vàcung cấp những dịch vụ ưu tiên thiên lệch cho các nhóm khách hàng khác nhau
d.Nhà đầu tư nước ngoài trở lại vai trò mua ròng
Điểm sáng nhất của thị trường năm 2010 chính là hoạt động mua ròng của khối đầu tư nước
Trang 23ngoài Nhà đầu tư nước ngoài đã mua ròng tới 16.074 tỷ tăng 3,5 lần so với năm trước so với nămtrước Nhà đầu tư nước ngoài mua ròng khá liên tục và ổn định trong năm và thường có tăng mạnhmua ròng khi thị trường giảm mạnh đã hỗ trợ đáng kể cho thị trường chứng khoán năm 2010 Cuốinăm 2010 là thời điểm ghi nhận dòng vốn “nóng” đổ mạnh vào nhiều thị trường mới nổi trong khuvực và trên thế giới (do lãi suất thấp và các gói cứu trợ mới của chính phủ Mỹ) tuy nhiên dường nhưchưa có dấu hiệu rõ rệt của dòng vốn này chảy vào thị trường Việt Nam Hoạt động đầu tư của khốinước ngoài năm 2010 vẫn đóng vai trò hỗ trợ thứ yếu bên cạnh nhà đầu tư nội chứ chưa có tính chấtchi phối Nhà đầu tư trong nước vẫn đang mong chờ luồn vốn bên ngoài vào đẩy thị trường tăngtrưởng trong thời gian tới do thị trường Việt Nam đang bị chậm lại so với các thị trường khác Cầnphải có nhiều thay đổi để biến kỳ vọng này thành hiện thực tuy nhiên xét về giao dịch thì dấu hiệutích cực hơn đang xuất hiện trong tuần đầu năm 2011 với việc nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục muavào, loại bỏ bớt nghi ngờ về động cơ chốt NAV.
II NĂM 2011
A TỔNG QUAN KINH TẾ THẾ GIỚI
-Có thể nói, nợ công và thâm hụt ngân sách Chính phủ là chủ đề nóng trong suốt năm 2011,đặc biệt ở khu vực sử dụng đồng Euro (Eurozone) Năm 2011 đã khởi đầu với một loạt các diễn biếntiêu cực xung quanh vấn đề giải cứu đồng Euro
-Hành động của Moody’s trong việc hạ mức tín nhiệm của Hi Lạp và Tây Ban Nha đã làmdấy lên những lo ngại trong giới đầu tư, khiến chi phí vay nợ của những thành viên yếu nhất trongkhu vực Eurozone này liên tục tăng cao
-Bạo loạn xảy ra tại Hi Lạp càng tạo thêm áp lực lên Chính phủ nước này, khiến lãi suất tráiphiếu tăng cao kỉ lục
- Bên kia bờ Đại Tây Dương, Standard & Poor’s đã chuyển đánh giá về vấn đề nợ của Mỹ từ
Trang 24ổn định sang tiêu cực, khi quá trình thỏa hiệp chính trị giữa các Đảng phái trong Chính phủ liên bangMỹ về cắt giảm chi tiêu diễn ra rất chậm chạp
-Cùng với đó, thảm họa động đất và sóng thần ở Nhật Bản xảy ra vào tháng 3 đã kéo lùi cácthị trường tài chính trên thế giới
-Giá dầu bất ngờ tăng cao trong tháng 4 do lo ngại về sự giảm sút nguồn cung bởi bất ổnchính trị ở Trung Đông và Bắc Phi Những diễn biến phức tạp này đã khiến giá vàng liên tục thiếtlập những mức kỉ lục mới trong giai đoạn từ tháng 7 tới tháng 9, khi giới đầu tư quốc tế vội vã tìmkiểm một nơi trú ẩn tài chính an toàn, đặc biệt khi Standard & Poor’s hạ bậc tín nhiệm của Mỹ từAAA xuống AA+ vào tháng 8
-Đáng chú ý, trong năm 2011 này, Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tếlớn thứ 2 thế giới Trong bối cảnh hậu kích cầu, Chính phủ nưc này đã phải liên tiếp tiến hành nângcác mức lãi suất điều hành để ngăn ngừa lạm phát do lo ngại tăng trưởng đã trở nên quá nóng Chínhphủ Trung Quốc cũng bắt đầu tái cân bằng nền kinh tế bằng việc khuyến khích tiêu dùng của dân cư
và giảm tăng trưởng dựa vào xuất khẩu, qua Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 được công bố vào tháng 3
-Theo thống kê của OECD, thương mại thế giới trong 3 quý đầu năm 2011 đã tăng trưởng6,8% so với cùng kì năm 2010, và con số của cả năm khó có thể khả quan hơn khi quý 4 bị ảnhhưởng bởi lực cầu suy yếu do sự tăng trưởng chậm chạp của khu vực EU
+Cụ thể, thương mại của các nước OECD đã tăng 6%, trong khi của các nước ngoài OECDtăng 8,2%
+Những chính sách tài khóa thắt chặt sẽ làm chậm quá trình phục hồi kinh tế ở các nước phát
Trang 25của năm 2011 và 5,2% của năm 2010
+Những con số trên được cập nhật vào tháng 12 đã được điều chỉnh giảm so với những consố dự báo được công bố vào tháng 1 đầu năm 2011 Sự giảm tốc này là hậu quả của những bất ổn tàichính và nỗi lo sợ rủi ro nợ công lan tỏa ra bên ngoài phạm vi những nền kinh tế châu Âu
-Các biện pháp thắt lưng buộc bụng sẽ thay thế các chương trình kích thích của giai đoạn2010-2011, và phần lớn các nước phát triển có sẽ có mức GDP dưới sản lượng tiềm năng trong năm
2012 Mặc dù vậy, so với các nước phát triển, triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tế đang pháttriển sáng sủa hơn, bởi sự suy yếu của cầu ngoại sinh được dự báo sẽ được bù đắp bởi cầu nội địanhờ những chính sách kinh tế linh hoạt của các Chính phủ
B KINH TẾ VIỆT NAM
1 Tình hình kinh tế chung
-Cùng với những thăng trầm của nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam đã đi qua năm 2011trong bối cảnh áp lực lạm phát tăng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặcbiệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều bất lợi từ mặt bằng lãi suất ở mức cao trong khi Chínhphủ thực hiện khá nhất quán chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa theo tinh thần của Nghị quyết số11/NQ-CP
-Tốc độ tăng trưởng GDP cả năm đạt 5,89% trong đó tốc độ GDP quý I đạt 5,57%, quý II5,68%, quý III tăng lên 6,07% và quý IV là 6,2% Mức tăng này thấp hơn so với mức tăng 6,78%của năm 2010 và thấp hơn nhiệm vụ kế hoạch (6%) nhưng trong bối cảnh diễn biến phức tạp của nềnkinh tế thế giới và trong nước, tốc độ tăng trưởng này vẫn cao hơn một số nước trong khu vực nhưThái Lan, Malaysia Trong 5,89% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sảnđóng góp 0,66% với mức tăng chung là 4%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 2,32% vớimức tăng 5,53%, và khu vực dịch vụ đóng góp 2,91% với mức tăng 6,99%
Trang 26-Điểm đáng lưu ý là khu vực công nghiệp và xây dựng đã có bước tăng trưởng chậm lại sovới năm 2010 Hoạt động sản xuất công nghiệp năm 2011 không còn giữ được vai trò là đầu tàu củatăng trưởng kinh tế khi chỉ tăng 6,8% so với năm trước
-Trong các ngành công nghiệp trong khi ngành sản xuất, phân phối điện, ga, nước tăng vàcông nghiệp chế biến tăng khoảng 10% thì ngành công nghiệp khai thác mỏ lại giảm 0,1% Cácngành công nghiệp khai thác các nguyên vật liệu dùng trong xây dựng có mức tăng trưởng giảm gần4% so với năm 2010 trong khi chỉ số tồn kho của ngành sản xuất xi măng, vôi, vữa cao tới trên 60%.Đồng thời với đình trệ trong ngành công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, tốc độ tăngtrưởng của ngành xây dựng đã liên tục sụt giảm kể từ đầu năm với mức giảm gần 1% trong năm
2011 Như vậy, chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khóa được thực hiện khá nhất quán trong thời gianqua đã tác động khá tiêu cực đến ngành xây dựng và công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xâydựng
-Trên lĩnh vực dịch vụ, sức tiêu dùng trong nước trong quý IV/2011 tăng hơn so với 3 quýđầu do mức lạm phát giảm dần so với những tháng trưc đó Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thudịch vụ tiêu dùng 12 tháng năm 2011 tăng 24,2% so với năm trước Tuy nhiên khi loại trừ yếu tốtăng giá, tổng mức bán lẻ chỉ tăng 4,7%, bằng 1/3 tốc độ tăng của năm 2010 Trong khi đó, tỷ trọngcủa các lĩnh vực kinh doanh trong tổng mức bán lẻ khá ổn định so với năm trước Cụ thể, kinh doanhthương nghiệp vẫn chiếm tới 78,8% tổng mức bán lẻ, khách sạn nhà hàng chiếm 11,3% và du lịchchiếm 0,9%
Trang 27tỷ giá, giá cả hàng hóa năng lượng và cung tiền.Từ tháng 5 trở đi, nhờ những nỗ lực ổn định hóaquyết liệt của Chính phủ, CPI đã liên tục giảm tốc và xuống dưới 1% kể từ tháng 8/2011
-Trong số 11 nhóm hàng hóa, chỉ có duy nhất nhóm bưu chính viễn thông có tốc độ tăng giá
âm khoảng 4% so với năm 2010 còn tất cả các mặt hàng còn lại đều có tốc độ tăng khá cao, nhất lànhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (trong đó chủ yếu là lương thực và thực phẩm) và giáo dục
Tuy nhiên,lớn hơn cảyếu tố giáhàng hóa,chính sáchtiền tệ nớilỏng trong suốt vài năm trở lại đây lại được coi là yếu tố chính tác động đến mức lạm phát năm 2011khi mà lạm phát cơ bản trừ lương thực, thực phẩm tăng 15,1%, và nếu trừ cả năng lượng tăng 14%
-2.2.Đầu tư trực tiếp nước ngoài
-Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam năm 2011 tiếp tục sụt giảm
-Cụ thể, nguồn vốn FDI năm 2011 đạt 14,7 tỷ USD, giảm 26% so với cùng kỳ năm 2010,trong đó vốn đăng ký mới giảm tới 35% khi chỉ đạt 11,6 tỷ USD
-Tuy nhiên tỷ trọng đầu tư của nguồn vốn FDI đã có sự dịch chuyển, năm 2010 có tới 34,3%tổng vốn đăng ký vào lĩnh vực bất động sản trong khi năm 2011 này thì chỉ có 5,8% tổng vốn đăng
ký vào lĩnh vực này còn tỷ lệ đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng lần lượt là 54,1% và76,4%
-Trong khi đó, vốn giải ngân đạt 11 tỷ USD, tương ứng với mức giải ngân năm 2010 Tínhchung lại, chỉ tiêu về vốn FDI trong năm nay đều không đạt mức mục tiêu đã đặt ra (20 tỷ USD vốnđăng ký và 11,5 tỷ USD vốn giải ngân)
Nguyên nhân giảm sút của đầu tư nước ngoài có thể là do nền kinh tế thế giới còn chịu nhiều
áp lực từ khủng hoảng nợ công tại châu Âu, thiên tai và bất ổn chính trị ở nhiều nước Tuy nhiên, sựyếu kém nội tại của nền kinh tế Việt Nam với lạm phát cao, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đìnhđốn cũng như các yếu tố nguồn lực hạn chế (như thiếu lao động có kỹ năng, thiếu điện, hạ tầng giaothông yếu kém) cũng là những yếu tố tác động đến tâm lý các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 282.3.Xuất nhập khẩu
-Hoạt động xuất nhập khẩu có sự tăng trưởng mạnh mẽ so với năm 2010
-Tính chung cả năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 96,3 tỷ USD, tăng 33% so với nămcùng kỳ 2010 trong khi tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 105,8 tỷ USD, tăng 24,7%
+Đơn giá của nhiều mặt hàng xuất - nhập khẩu tăng là yếu tố góp phần khá lớn vào tăngtrưởng xuất khẩu cũng như nhập khẩu
+Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì kim ngạch xuất khẩu tăng 11,4% so với năm 2010 còn kimngạch nhập khẩu tăng 3,8%
+Trong cơ cấu hàng xuấtkhẩu, nhóm hàng công nghiệpnặng và khoáng sản chiếm35,2% tỷ trọng Nhóm hàngcông nghiệp nhẹ chiếm 40,6%còn nhóm hàng nông, lâm, thủysản chiếm 21,9%, và vàng táixuất chiếm 2,3%
+Trong cơ cấu hàng nhập
khẩu, nhóm tư liệu sản xuất chiếm tới
90,6%, nhóm hàng vật phẩm tiêu
dùng chiếm 7,6%, và nhóm vàng tăng
1,8%
-Theo đó, thâm hụt cán cân
thương mại năm 2011 là 9,5 tỷ USD,
Trang 29hóa xuất khẩu Mức nhập siêu này thấp hơn mức mục tiêu 16% mà chính phủ đã đề ra, đồng thời làmức thấp nhất trong vòng 5 năm và là năm có tỷ lệ nhập siêu thấp nhất so với kim ngạch xuất khẩukể từ năm 2002.
2.4.Tỷ giá
-Tỷ giá USD/VND năm 2011 đã có nhiều biến động trong những tháng đầu năm và sau đóđược duy trì khá ổn định trong suốt năm với mức điều chỉnh tăng giảm trong biên độ cho phép +/-1%
+Từ những tháng cuối năm 2010 tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do tăng mạnh và vượt
xa khỏi tỷ giá chính thức khoảng 10% và dao động xung quanh mức 21.000 – 21.500 VND/USD
+Trước sức ép giảm giá của VND, ngay sau Tết âm lịch, vào ngày 11.2.2011, NHNN đã rathông báo tăng tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng lên mức 20.693 VND/USD và thu hẹpbiên độ giao dịch từ +- 3% xuống +- 1% Đây là lần tăng tỷ giá mạnh nhất kể từ năm 2008 với mứcphá giá lên tới 9,3%
-Sau khi điều chỉnh cho đến gần hết quý II, tỷ giá liên ngân hàng luôn được duy trì ở mứccao và có lúc lên tới 20.733 VND.USD, còn trong quý III và giữa quý IV, tỷ giá được niêm yết chủyếu ở dưới mức 20.300 VND/USD Tuy nhiên từ giữa tháng 10 đến kết thúc năm 2011, tỷ giá đã dầntăng lên trên mức 20.700 VND/USD và chốt năm ở mức 20.828 VND/USD
-Tính chung lại, đồng nội tệ vào cuối năm đã giảm giá 0,65% kể từ lần điều chỉnh tỷ giátháng 2/2011 và giảm 10% so với đồng USD vào thời điểm đầu năm Hơn nữa, khoảng cách giữa tỷgiá trong hệ thống ngân hàng và trên thị trường tự do không còn chênh lệch nhiều, đặc biệt là vớiđộng thái quản lý mạnh tay của NHNN đối với thị trường ngoại hối tự do lẫn chính thức để điềuhướng dòng ngoại tệ trong nước
-Có thể thấy, diễn biến tỷ giá trong năm đã chịu nhiều áp lực từ tình hình tăng trưởng tíndụng ngoại tệ đột biến trong các tháng đầu năm, từ diễn biến giá vàng và từ chủ trưng hạ mức lãisuất đồng nội tệ của Chính phủ trong bối cảnh lạm phát vẫn ở mức cao Tuy nhiên, việc duy trì đượctỷ giá tăng ở mức thấp dưới 1% trong nhiều tháng qua được nhìn nhận mang nhiều ý nghĩa tích cực,trấn an dân chúng về khả năng ổn định tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước, trong bối cảnh những sức épcủa việc giảm lãi suất tiền đồng và diễn biến của giá vàng và giá USD trên thị trường tự do vẫn còncao Việc duy trì mức tỷ giá trong năm 2011 đã được hỗ trợ bởi tình hình cán cân thanh toán tổng thểcủa đất nước luôn trong trạng thái thặng dư
-Cụ thể, cán cân thanh toán tổng thể năm 2011 đạt khoảng 2,5 – 4,5 tỷ USD do lượng kiềuhối đổ về Việt Nam đạt khoảng 9 tỷ USD (cao hơn khoảng 1 tỷ USD so với năm 2010), dự trữ ngoạihối cả năm c đạt 15 tỷ USD (cao hơn mức 12 tỷ USD của năm 2011) trong khi lượng vốn FDI giải
Trang 30ngân vẫn không đổi so với năm 2010 và nhập siêu giảm tới 2,875 tỷ USD so với năm 2010
-Theo đó, nguồn ngoại tệ của hệ thống ngân hàng được giữ ổn định, không có dấu hiệu căngthẳng thanh khoản Tuy nhiên, áp lực giảm giá đồng nội tệ vẫn còn hiện hữu trong năm 2012 khi màthâm hụt cán
tư trên thếgiới lựa chọn
là kênh trú ẩn
an toàn
Trong năm
-2011 khi cácnước như Hy Lạp và Ireland kêu gọi được hỗ trợ lần 2 và với xu hướng lan rộng tới một loạt nướcnhư Tây Ban Nha, Italia, Pháp, Bỉ , giao dịch vàng trên thế giới tăng mạnh và đã đẩy giá vàng thếgiới lên cao và lập kỷ lục ở mức $1,920/oz vào đầu tháng 9 sau đó giảm dần trong quý IV
-Về mặt kĩ thuật, sau một thời gian tăng nhanh và điều chỉnh mạnh trong suốt quý III, giávàng thế giới dao động trong vùng 1.582-1.700USD/oz trong quý IV Diễn biến cùng chiều với giávàng thế giới, giá vàng trong nước cũng đã dần tăng từ mức khoảng 37 triệu đồng/lượng lên tới mứccao nhất là 49 triệu đồng/lượng và sau đó đã giảm dần và đứng quanh mốc 44 triệu đồng/lượng vào
Trang 31thời điểm cuối năm 2011 Tính chung cho cả năm, giá vàng trong nước tăng khoảng 14% trong khigiá vàng thế giới tăng khoảng 11%
-Hơn thế nữa, giá vàng trong nước luôn có xu hướng cao hơn khá nhiều (từ 1 – 3 triệuđồng/lượng) so với giá vàng thế giới đã khiến cho việc đầu cơ vàng cũng như thị trường vàng diễn rakhá phức tạp
-Theo đó, NHNN đã có những biện pháp nhằm loại bỏ tình trạng đầu cơ trong nước, lànhmạnh hóa thị trường kim loại quý
+Ví dụ như vào đầu tháng 10, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số NHNN quy định một số ngân hàng thương mại đủ điều kiện (ACB, Eximbank, Techcombank,Sacombank và Đông Á) được cho phép chuyển đổi một phần số vàng huy động và tồn quỹ thành tiềnđể bổ sung nguồn cung vàng trên thị trường trong nước nhằm thu hẹp chênh lệch giữa giá vàngtrong nước và giá vàng quốc tế
32/2011/TT-+Các ngân hàng này cũng được mở tài khoản vàng ở nước ngoài để cân bằng trạng thái nhằmbảo hiểm rủi ro biến động giá vàng
+Đồng thời, NHNN cũng đã chọn vàng SJC của Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn, hiện đangchiếm 90% thị phần thị trường vàng miếng trong nước, là thương hiệu vàng quốc gia
-Mặc dù các giải pháp này đưa ra phần nào đã có tác động tới thị trường vàng trong nhữngtháng cuối năm 2011 tuy nhiên tác dụng của các giải pháp này cũng cần được kiểm chứng thêmtrong năm 2012
2.6.Chính sách tiền tệ
-Trước áp lực lạm phát tăng cao, ngay từ đầu năm, Chính phủ đã ra Nghị quyết 11/NQ-CP vềnhững giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội
-Trong đó, giải pháp về chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng là giải pháp cơ bản
-Theo đó, chính sách tiền tệ thắt chặt đã được thực hiện khá nhất quán trong suốt cả năm2011
2.7.Lãi suất
-Về lãi suất điều hành, lãi suất cơ bản tuy vẫn được giữ nguyên ở mức 9% trong cả nămnhưng lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đều đã được điều chỉnh tăng nhằm làm tăng chi phívốn của các ngân hàng khi đi vay từ NHNN, từ đó hạn chế việc các ngân hàng thương mại ỷ lại vàoNHNN và khiến các ngân hàng này cẩn trọng hơn trong việc cho vay tín dụng
+Cụ thể, lãi suất tái chiết khấu đã được điều chỉnh tăng từ 7% lên mức 12% trong quý I vàlên mức 13% cho quý III và IV còn lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh tăng từ mức 9% trong tháng
Trang 321 lên tới 15% từ quý IV.
Lãi suất cho vay VND bình quân thực tế, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước trong suốt năm
2011 khá ổn định
+Cụ thể, lãi suất cho vay nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu khoảng 17-19%/năm, lãi suấtcho vay lĩnh vực sản xuất-kinh doanh khác khoảng 17-21%/năm, lãi suất cho vay lĩnh vực phi sảnxuất khoảng 22-25%/năm
+Trong khi đó, lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụngcũng không có nhiều thay đổi
+Mức lại suất trần đối với tiền gửi có kì hạn từ 1 tháng trở lên được áp dụng trong cả năm
2011 là 14%/năm, còn mức lãi suất trần đối với tiền gửi không kì hạn và có kì hạn dưới 1 thángđược NHNN khống chế ở mức 6%/năm
+Đối với đồng USD, lãi suất huy động USD đối với cá nhân và đối với doanh nghiệp vẫn chủyếu là 2%/năm và 0,5%/năm theo quy định của NHNN trong khi lãi suất cho vay USD phổ biến vẫn
ở mức 6-7,5%/năm đối với ngắn hạn và 7,5-8%/năm đối với trung và dài hạn
Trên thị trường mở, lãi suất cho vay ở các kỳ hạn cũng có sự biến động nhẹ trong nhữngtháng đầu năm với xu hướng tăng từ mức 10%/năm lên mức 15%/năm vào cuối quý II
-Tuy nhiên, từ quý III trở đi, cùng với lãi suất huy động, lãi suất cho vay trên thị trường mởđược duy trì ở mức 14%/năm
-Trong khi đó, trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất cho vay có nhiều biến động trongnhững tháng cuối năm 2011
+Cụ thể, lãi suất qua đêm trung bình đã tăng từ mức 11,99%/năm trong tháng 1 lên12,31%/năm trong tháng 7, giảm xuống mức 10,28%/năm trong tháng 8, sau đó tăng trở lại và lênđến mức 14.1%/năm vào cuối tháng 12
+Lãi suất kỳ hạn 12 tháng cũng thay đổi lên xuống khá sâu trong quý IV, có lúc lên tới trến22%/năm nhưng có lúc cũng chỉ xuống quanh mức 14%/năm
Trang 33-Tăng trưởng tín dụng năm 2011 đạt 12%, trong khi tổng phương tiện thanh toán cũng chỉtăng 10%, vẫn thấp hơn nhiều so với mức cho phép theo Nghị quyết số 83/NQ-CP, tương ứng là20% và 15-16% cho cả năm
-Trong mức tăng tín dụng chung 12%, trong khi tăng trưởng tín dụng đồng nội tệ là khá thấp
với mức tăng10,2% thìtăng trưởngtín dụngngoại tệ vẫncòn khá caovới mức tăng18,7% -Cũng trong nỗ lực nhằm hạn chế tăng trưởng tín dụng ngoại tệ, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối vớitiền gửi bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng trong năm 2011 liên tục được điều chỉnh tăng, từmức 4% hồi đầu năm lên mức 7% từ tháng 6 và 8% từ tháng 8 đối với tiền gửi có kì hạn dưới 12tháng Đối với tiền gửi có kì hạn trên 12 tháng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng lần lượt được điều chỉnhtăng lên mức 4% từ tháng 5 và 6% từ tháng 9 cho đến cuối năm 2011
-Có thể thấy việc điều hành khá nhất quán của Chính phủ theo hướng thắt chặt chính sáchtiền tệ và tài khóa trong năm 2011 đã khiến hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp găp nhiều khókhăn
-Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư, đến cuối tháng 9/2011 đã có gần 50 nghìn doanhnghiệp, tương ứng với khoảng 9% tổng số doanh nghiệp, đã đóng cửa và con số thực tế có thể lên tới
30 %- 35%
-Hơn nữa, tác động trễ của các chính sách này cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp
Trang 34trong năm 2012.
C THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Thị trường trái phiếu
1.1 Thị trường sơ cấp
* Trái phiếu Chính phủ
-Trong năm 2011, tổng lượng trái phiếu Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam
và Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành trên thị trường sơ cấp đã đạt gần 104.581 tỷ đồng, thấphơn khoảng 5,5 nghìn tỷ đồng so với năm 2010
-Trong đó, tổng giá trị trái phiếu của Kho bạc Nhà nước phát hành là 60.309 tỷ đồng (chưakể lượng phát hành cho Bảo hiểm xã hội và phát hành trực tiếp của NHNN gần 10.000 tỷ đồng), củaNgân hàng phát triển Việt nam và Ngân hàng chính sách xã hội lần lượt là 34.975 tỷ và 9.297 tỷđồng
-Như vậy, Kho bạc nhà nước đã phát hành được khoảng 87,5% kế hoạch phát hành đề ra(được điều chỉnh từ mức 90.000 tỷ đồng xuống 80.000 tỷ đồng) còn Ngân hàng phát triển Việt Nam
đã phát hành được 100% kế hoạch đề ra (được điều chỉnh từ 45.000 tỷ đồng xuống 35.000 tỷ đồng)
-Trong năm, tổng lượng trái phiếu phát hành lớn nhất là ở quý I với giá trị lên tới 41 nghìn tỷđồng, còn quý IV có tổng giá trị trái phiếu phát hành thấp nhất, bằng khoảng 32% tổng giá trị pháthành trong quý I
-Về lãi suất trái phiếu Kho bạc, trái ngược với năm 2010 khi lãi suất ở các kỳ hạn có xuhướng giảm dần thì lãi suất trái phiếu trong suốt năm 2011 có xu hướng ổn định và luôn cao hơn lãisuất so với cùng kỳ năm 2010 Trong khi đó, lãi suất của những trái phiếu được Chính phủ bảo lãnhduy trì một mức chênh lệch cao hơn từ 1-3% so với lãi suất trái phiếu Kho bạc cùng kì hạn
-Với chính sách tiện tệ và tài khóa được thắt chặt, đầu tư công được cắt giảm, việc huy động
và giải ngânvốn, theochủ trươngcủa Chínhphủ, đượctiến hành ràsoát và giảmtốc, chỉ ưutiên cho cácdự án thiết yếu, có thể nhận thấy lãi suất trúng thầu trái phiếu được sử dụng như một công cụ điều
Trang 35chỉnh kì vọng của nhà đầu tư về một mặt bằng lãi suất thị trường giảm dần.
-Kế hoạch huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu chính phủ cho năm 2012 chưađược công bố Tuy nhiên, trong quý I/2012, Kho bạc Nhà nước đang dự kiến phát hành 25.000 tỷđồng Tuy nhiên, theo Nghị quyết 01/NQ-CP ban hành ngày 3/1/2012 với mục tiêu tiếp tục tập trungkiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm tái cơ cấu nềnkinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao hiệu quả thì kế hoạch phát hành tráiphiếu Chính phủ được kỳ vọng tương ứng với mức mục tiêu của năm 2011 Theo đó, Chính phủ sẽvẫn tiếp tục rà soát các dự án đầu tư, các dự án, công trình nhằm tăng cường hiệu quả đầu tư củanguồn vốn trái phiếu chính phủ
* Trái phiếu doanh nghiệp
Năm 2011, tổng khối lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp đạt trên 6.000 tỷ đồng, bằng10% tổng giá trị phát hành của năm 2010
-Phần lớn tổ chức phát hành là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng trái phiếu như sảnphẩm thay thế cho khoản vay và người mua là tổ chức tín dụng, không chào bán ra thị trường
-Về lãi suất, các trái phiếu của những doanh nghiệp lớn như EVN, Vinacomin, Viettinbank,Tổng thép Việt Nam, Hoang Anh Gia Lai Group được giao dịch trên thị trường với mức lợi suất từ16% - 18% cho trái phiếu lãi suất cố định kỳ hạn 2 hoặc 3 năm; còn các trái phiếu có lãi suất thả nổi,mức lợi suất giao dịch bình quân vào khoảng 19% - 21%
-Hoạt động trầm lắng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong năm 2011 là do chính sáchthắt chặt tiền tệ và tài khóa được chính phủ áp dụng trong năm vừa qua đã tác động không nhỏ đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và từ đó hạn chế khả năng phát hành trái phiếu
-Hơn thế nữa, trong năm vừa qua hàng loạt quy định mới nhằm kiểm soát chặt chẽ hơn hoạtđông phát hành trái phiêu doanh nghiệp được đưa ra cũng là yếu tố làm suy giảm lượng trái phiếudoanh nghiệp phát hành
+Ví dụ, Luật Tổ chức tín dụng có hiệu lực từ 1/1/2011 quy định mức dư nợ cấp tín dụng củacác ngân hàng thương mại bao gồm cả tổng mức đầu tư vào trái phiếu do khách hàng phát hành,Nghị định 90/2011/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/12/2011 quy định cụ thể về điều kiện phát hành tráiphiếu của các doanh nghiệp, Thông tư số 28/2011-TT-NHNN có hiệu lực từ 20/10/2011 quy địnhđiều kiện của các tổ chức tín dụng khi mua trái phiếu doanh nghiệp
-Theo đó, tình hình phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp trong năm 2012 sẽ tiếp tục gặpnhiều khó khăn hạn chế cho đến khi kinh tế vĩ mô trở nên ổn định hơn và hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp khởi sắc trở lại
1.2 Thị trường thứ cấp