• Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu nghiệp vụ tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp • Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu nghiệp vụ xác định giá trị doanh nghiệp tại công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bắt đầu từ năm 1991, các công ty tài chính bắt đầu đi vào hoạt động tại nước ta
Là một trong số các công ty tài chính ra đời sớm nhất ở nước ta, công ty cổ phầnchứng khoán Bảo Việt (BVSC) là một trong những công ty tài chính lớn nhất ởnước ta hiện nay Trong 10 năm liên tục công ty luôn làm ăn có lãi và tạo được sự
uy tín nhất định trên thị trường Trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển mạnh
mẽ của thị trường chứng khoán, công ty đã tham gia đầu tư trên thị trường này và
đã thu được những lợi nhuận đáng kể Khai thác nguồn vốn kinh doanh để tiếnhành kinh doanh trên thị trường thị trường chứng khoán có thể là hướng đi hiệuquả cho công ty tài chính trong thời gian sắp tới Một hoạt động tương đối pháttriển và làm việc có hiệu quả tại BVSC là bộ phận phân tích đầu tư chứng khoán,tuy nhiên nó vẫn còn gặp phải nhiều khó khắn và hạn chế nhất định.Với suy nghĩ
đó, sau một thời gian thực tập tại công ty, em quyết định nghiên cứu đề tài: “Hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán tại Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Bảo Việt ”
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động phân tích đầu tư chứng
khoán
- Phân tích, đánh giá khái quát thực trạng hoạt động của công ty cổ phầnchứng khoán Bảo Việt, xem xét phân tích thực trạng đầu tư chứng khoán của côngty
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp để phát triển hoạt động phân tích đầu
tư chứng khoán của công ty
Trang 23.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu nghiệp vụ tư vấn xác định giá trịdoanh nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu nghiệp vụ xác định giá trị doanhnghiệp tại công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt
4.Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tíchtổng hợp; phương pháp thống kê kinh tế; phương pháp điều tra chọn mẫu; phươngpháp so sánh và một số phương pháp khác: Đọc tài liệu lưu trữ, phỏng vấn chuyêngia, nhà quản lý
5.Kết cấu của đề tài:
Chuyên đề tốt nghiệp của em ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo, phụ lục đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán của các công ty chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán tại Công Ty
Cổ Phần Chứng Khoán Bảo Việt trong thời gian qua.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng và thúc đẩy hoạt động hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt trong thời gian tới.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của thầy giáo và các côchú anh chị trong phòng giao dịch, tư vấn tài chính doanh nghiệp cũng như trongtoàn công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt đã tạo điều kiện cho em hoàn thànhchuyên đề tốt nghiệp của mình Trong quá trình nghiên cứu em không thể tránhkhỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô vàcác anh chị để em tiếp tục học hỏi thêm
Trang 3CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1Hoạt động của công ty chứng khoán.
1.1.1 Khái niệm chung về công ty chứng khoán.
Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán có hiệu quả, một yếu tốkhông thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường chứngkhoán Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán là thu hút vốn đầu tưdài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứngkhoán Do vậy để thúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt động có trật tự, công bằng
và hiệu quả cần phải có sự ra đời và hoạt động của các công ty chứng khoán Lịch
sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán cho thấy thời tiền sử củathị trường chứng khoán, các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau Saunày, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, chức năng và quy mô hoạtđộng giao dịch của các nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của công ty chứngkhoán là tập hợp có tổ chức của các nhà môi giới riêng lẻ
Chúng ta có thể khái niệm công ty chứng khoán như sau: Công ty chứng khoán
là một định chế tài chính trung gian thực hiện nghiệp vụ trên thị trường chứngkhoán
ở Việt Nam, theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13 tháng 10 năm 1998của UBCKNN, công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữuhạn thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấpgiấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán
Do đặc điểm một công ty chứng khoán có thể kinh doanh trên một lĩnh vực,loại hình kinh doanh chứng khoán nhất định do đó hiện nay, có quan điểm phânchia công ty chứng khoán thành các loại như sau: công ty môi giới chứng khoán,công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty trái phiếu, công ty chứng khoánkhông tập trung
Trang 4Hiện nay, có ba loại hình tổ chức cơ bản của công ty chứng khoán, đó là: công
ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán: Công ty chứng khoán hoạtđộng theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức vànhóm nguyên tắc mang tính tài chính
Nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức:
- Công ty chứng khoán phải đảm bảo giao dịch trung thực và công bằng
vì lợi ích của khách hàng
- Kinh doanh có kỹ năng, tận tuỵ, có tinh thần trách nhiệm
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh củacông ty
- Có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, không được tiết lộ các thông tin
về tài khoản của khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừkhi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước
- Công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấpthông tin đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng
có thể gặp phải, đồng thời họ không được khẳng định về lợi nhuận các khoản đầu
- Nghiêm cấm thực hiện các giao dịch nội gián, các công ty chứngkhoán không được phép sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng khoáncho chính mình gây thiệt hại đến lợi ích của khách hàng
- Các công ty chứng khoán không được tiến hành các hoạt động có thểlàm cho khách hàng và công chúng hiểu lầm về giá cả, giá trị và bản chất củachứng khoán hoặc các hoạt động khác gây thiệt hại cho khách hàng
Trang 5Nhóm nguyên tắc tài chính:
- Đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và các nguyên tắc hạch toán,báo cáo theo quy định của UBCK Nhà nước Đảm bảo nguồn tài chính trong camkết kinh doanh chứng khoán với khách hàng
- Công ty chứng khoán không được dùng tiền của khách hàng làmnguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ chogiao dịch của khách hàng
- Công ty chứng khoán phải tách bạch tiền và chứng khoán của kháchhàng với tài sản của mình Công ty chứng khoán không được dùng chứng khoáncủa khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng
ý bằng văn bản
1.1.2 Vai trò của công ty chứng khoán.
Trên thị trường chứng khoán công ty chứng khoán có vai trò đặc biệt quantrọng: vừa là nhà đầu tư tham gia trực tiếp vào hoạt động của thị trường, vừa làcầu nối giữa nhà phát hành và các nhà đầu tư khác, cung cấp các dịch vụ cần thiếtphục vụ cho hoạt động của thị trường.Các công ty chứng khoán còn góp phần duytrì và thúc đẩy sự phát triển của thị trường Dù thị trường chứng khoán mang hìnhthức sở giao dịch hay thị trường OTC thì sự góp mặt của các công ty chứng khoán
là không thể thiếu
1.1.2.1 Đối với các tổ chức phát hành
Mục tiêu khi tham gia thị trường của các tổ chức phát hành là huy động vốnthông qua phát hành các chứng khoán Vì vậy thông qua hoạt động đại lý bảo lãnhphát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụcho nhà phát hành
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán lànguyên tắc trung gian Theo nguyên tắc này nhà đầu tư và khách hàng không được
Trang 6phép trực tiếp trao đổi chứng khoán với nhau mà phải tiến hành thông qua trunggian môi giới
1.1.2.2 Đối với nhà đầu tư
Thông qua các hoạt động bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, môi giới vàquản lý danh mục đầu tư công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí về thờigian và chi phí giao dịch cho nhà đầu tư, do đó hiệu quả đầu tư sẽ được nâng cao
Đối với những hàng hoá thông thường, việc mua bán thực hiện qua khâutrung gian sẽ làm cho chi phí của người mua và người bán tăng lên Nhưng đối vớithị trường chứng khoán thì ngược lại, do các chứng khoán trên thị trường thườngxuyên biến động mức độ rủi ro của các chứng khoán cao sẽ làm cho nhà đầu tư tốnkém chi phí thời gian và công sức để tìm hiểu thông tin trước khi ra quyết địnhđầu tư, do đó mà sẽ tốn kém hơn rất nhiều nếu không thực hiện qua trung gian.Thông qua các công ty chứng khoán với trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và uytín nghề nghiệp sẽ giúp cho nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách cóhiệu quả
1.1.2.3 Đối với thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán có hai vai trò chính:
Thứ nhất: Góp phần xác lập giá cả điều tiết thị trường Giá cả chứng khoán
là do thị trường quyết định Tuy nhiên để thông qua giá cuối cùng người mua vàngười bán phải thông qua công ty chứng khoán vì họ không được phép tham giavào quá trình mua bán Công ty chứng khoán là các thành viên của thị trường, dovậy nó cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường
sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầutiên Vì lẽ đó, giá cả mỗi loại chứng khoán đem giao dịch đều có sự tham gia địnhgiá của các công ty chứng khoán
Hơn nữa công ty chứng khoán còn thể hiện rõ nét hơn khi tham gia điều tiếtthị trường Để bảo vệ các khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính
Trang 7mình, nhiều công ty chứng khoán đã nắm giữ những tỷ lệ nhất định để thực hiệnvai trò bình ổn thị trường
Thứ hai: Góp phần làm tăng tính thanh khoản của tài sản tài chính Thị
trường chứng khoán có vai trò là một môi trường làm tăng tính thanh khoản củacác tài sản tài chính Nhưng các công ty chứng khoán mới thực sự là những ngườithực hiện vai trò này vì nó góp phần tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường Trênthị trường sơ cấp do thực hiện các hoạt động bảo lãnh phát hành, các công tychứng khoán không những thực hiện chức năng huy động nguồn vốn lớn đưa vàosản xuất kinh doanh mà còn thực hiện chức năng tạo tính thanh khoản cho các tàisản tài chính, vì các chứng khoán sau khi được phát hành sẽ được mua bán trên thịtrường thứ cấp Điều này làm giảm rủi ro và tạo ra tâm lý yên tâm cho các nhà đầu
tư Trên thị trường thứ cấp, do thực hiện các giao dịch mua và bán, các công tychứng khoán giúp cho nhà đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt vàngược lại Những hoạt động này nhằm làm tăng tính thanh khoản của các chứngkhoán
1.1.2.4 Đối với các cơ quan quản lý thị trường
Các công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin cho các cơ quanquản lý thị trường Các công ty chứng khoán coa thể thực hiện được điều này dovừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian muabán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường Việc cung cấp cácthông tin vừa là quy định của hệ thống pháp luật vừa là nguyên tắc nghề nghiệpcủa công ty chứng khoán vì các công ty chứng khoán cần phải hoạt động minhbạch và công khai Các thông tin mà công ty chứng khoán cung cấp có thể là cácgiao dịch mua, bán chứng khoán trên thị truờng, thông tin về các cổ phiếu, tráiphiếu, thông tin về các tổ chức phát hành và thông tin về các nhà đầu tư…vv.Nhờnhững thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát thị truờng vàchống lại các hiện tượng lũng đoạn, thao túng, bóp méo thị trường
Trang 8Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trườngchứng khoán, có vai trò hết sức quan trọng đối với đối với các chủ thể phát hành,các nhà đầu tư, đối với cơ quan quản lý thị trường và đối với thị trưòng chứngkhoán nói chung Những vai trò này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ củacác công ty chứng khoán.
1.1.3 Các hoạt động của công ty chứng khoán.
1.1.3.1 Các hoạt động chính của Công ty chứng khoán
Hoạt động Môi giới chứng khoán
Hoạt động Môi giới trực tiếp tạo hình ảnh cho công ty, chính vì vậy, cácCông ty chứng khoán rất quan tâm đến hoạt động này Đây là hoạt động kinhdoanh chứng khoán trong đó một Công ty chứng khoán đại diện cho khách hàngtiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại các trung tâm giao dịch chứngkhoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm với kết quảgiao dịch của mình Một cách hiểu khác: đó là hoạt động trung gian, đại diện muabán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng Hoạt động này sẽ nối liềnnhững người bán và những người mua, đem đến cho khách hàng tất cả các loại sảnphẩm và dịch vụ tài chính Như vậy, trong hoạt động này Công ty chứng khoán chỉlàm trung gian thực hiện lệnh cho khách hàng để hưởng hoa hồng
Nhân viên Môi giới sẽ có nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng trước khi kháchhàng ra quyết định mua bán chứng khoán, không quyết định hộ khách hàng Mọilời tư vấn của người môi giới chỉ có tính chất tham khảo, quyền quyết định vẫnthuộc về nhà đầu tư Nhân viên Môi giới cần phải đáp ứng được 3 kỹ năng: kỹnăng truyền đạt thông tin đến khách hàng (mọi thông tin đến với các nhà đầu tư lànhư nhau); kỹ năng khai thác thông tin (giúp nhà môi giới hiểu rõ tâm lý, khả năngtài chính của khách hàng từ đó có được lời tư vấn hợp lý nhất); kỹ năng tìm kiếmkhách hàng (tạo thu nhập cho công ty)
Trang 9 Hoạt động tự doanh chứng khoán
Đây là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu của công ty chứngkhoán Tự doanh là việc Công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua bánchứng khoán cho chính mình Đối với hoạt động tự doanh, Công ty chứng khoánkinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty, nhằm thu lợi nhuận cho chínhmình Trong trường hợp hoạt động tự doanh được thực hiện thông qua hoạt độngtạo lập thị trường, khi đó công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thịtrường, sẽ nắm giữ một số lượng nhất định của một số loại chứng khoán, và thựchiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để hưởng chênh lệch giá Là nguồnthu chủ yếu của các Công ty chứng khoán, vì vậy nhà quản lý rất chú trọng đếnhoạt động này Hoạt động tự doanh đòi hỏi Công ty chứng khoán phải có đủ một
số vốn nhất định theo quy định của pháp luật (tối thiểu là 12 tỷ đồng), nhằm đảmbảo rằng các Công ty chứng khoán dùng vốn của họ để kinh doanh và đội ngũnhân viên phải có trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng phân tích thịtrường, nhạy bén với thông tin, nhạy cảm trong công việc, có khả năng tự quyếtcao để có thể đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý
Công ty chứng khoán vừa kinh doanh chứng khoán cho chính mình, vừalàm trung gian thực hiện lệnh cho khách hàng, vì vậy có thể dẫn đến sự mâu thuẫn
về lợi ích giữa công ty và khách hàg Do đó, khi thực hiện hoạt động tự doanh,Công ty chứng khoán cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Tách biệt về quản lý: giữa hai hoạt động tự doanh và môi giới, để đảm bảo
sự phù hợp về lợi ích của các bên Đặc biệt, không được lấy tài sản của kháchhàng để kinh doanh cho công ty và ngược lại
- Ưu tiên khách hàng: Công ty chứng khoán với lợi thế về nghiệp vụ có thể
dự đoán trước diễn biến của thị trường, để đảm bảo sự công bằng cho các kháchhàng trong quá trình giao dịch chứng khoán, Công ty chứng khoán phải ưu tiênthực hiện lệnh giao dịch của khách hàng trước lệnh tự doanh của công ty
- Góp phần bình ổn thị trường: khi thị trường có sự biến động bất thường,các Công ty chứng khoán sẽ điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng
Trang 10khoán thông qua hoạt động tự doanh, bằng cách mua vào khi giá chứng khoángiảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng nhằm giữ giá chứng khoán ổn định.
Hoạt động bảo lãnh phát hành
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng, đòihỏi tổ chức phát hành phải cần đến các CTCK tư vấn cho đợt phát hành và thựchiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng Đây là nghiệp vụ bảo lãnhphát hành của các CTCK và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổngdoanh thu của các CTCK
Hoạt động bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán có chức năngbảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứngkhoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán tronggiai đoạn đầu sau khi phát hành Để có thể trở thành một tổ chức bão lãnh pháthành, Công ty chứng khoán với có mức vốn tối thiểu cho hoạt động này là 22 tỷđồng Việt Nam, được cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trườngchứng khoán đồng ý và cho phép Mặt khác, Công ty chứng khoán và tổ chức pháthành không được chi phối nhau, không nắm giữ quá 5% vốn của nhau; khôngcùng chi phối một tổ chức khác và không cùng bị một tổ chức khác chi phối Đểđợt phát hành chứng khoán ra công chúng của doanh nghiệp được thành công, việclựa chọn tổ chức bảo lãnh phát hành rất quan trọng Công ty chứng khoán với tưcách là tổ chức bảo lãnh phát hành được doanh nghiệp lựa chọn sẽ tư vấn cho tổchức phát hành về loại, số lượng chứng khoán cần phát hành, định giá chứngkhoán và phương thức phân phối chứng khoán đến các nhà đầu tư Khi phương ánphát hành được Uỷ ban chứng khoán thông qua, chứng khoán sẽ được phép pháthành, sau đó Công ty chứng khoán thực hiện phân phối chứng khoán Công tychứng khoán sẽ có được một khoản thu từ phí bảo lãnh Hoạt động bảo lãnh pháthành chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu của Công ty chứngkhoán vì vậy các công ty cũng rất chú trọng phát triển hoạt động này
Trang 11Sơ đồ 1 - 1: Quy trình của hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
NhËn giÊy phÐp ph¸t hµnh
C«ng ty chøng kho¸n
NhËn yªu cÇu b¶o l·nh
Trang 12 Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Đây là hoạt động quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứngkhoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tănglợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng Quản lý danh mục đầu tư là một dạngnghiệp vụ mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư, khách hàng uỷ thác tiềncho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lượcmang những nguyên tắc đã được khách hàng chấp nhận hoặc yêu cầu
Quy trình nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể được khái quát thôngqua các bước sau:
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
- Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: Công ty chứng khoán và khách hàngtiếp xúc tìm hiểu về khả năng của nhau Công ty chứng khoán phải tìm hiểu rõ vềkhách hàng: là tổ chức hay cá nhân, số tiền và nguồn gốc tiền định đầu tư, mụcđích đầu tư, thời gian đầu tư Đồng thời, công ty phải chứng minh cho khách hàngthấy được khả năng của mình, đặc biệt là khả năng chuyên môn và khả năng kiểmsoát nội bộ, đây là hai tiêu chuẩn quan trọng nhất của công ty Khả năng chuyênmôn chính là khả năng đầu tư vốn đem lại lợi nhuận cho khách hàng còn khả năng
Nhận yêu cầu quản lý
Ký hợp đồng quản lý
Thực hiện hợp đồng quản lý
Thanh
lý hợp đồng
Trang 13kiểm soát nội bộ là khả năng công ty có thể đảm bảo an toàn tài sản cho kháchhàng, chống lại sự thất thoát do sự vô ý hay cố ý của nhân viên công ty.
- Ký hợp đồng quản lý: Công ty chứng khoán ký hợp đồng quản lý giữacông ty và khách hàng theo các yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian uỷ thác, mụctiêu đầu tư, quyền và trách nhiệm của các bên, phí quản lý danh mục đầu tư màcông ty được hưởng
- Thực hiện hợp đồng quản lý: Công ty chứng khoán thực hiện đầu tư vốn
uỷ thác của khách hàng theo các nội dung đã được cam kết và phải đảm bảo tuânthủ các quy định về quản lý vốn, tài sản tách biệt giữa khách hàng và chính côngty
- Kết thúc hợp đồng quản lý: Khi đến hạn hợp đồng hay trong một sốtrường hợp công ty giải thể, phá sản, ngừng hoạt động công ty phải cùng vớikhách hàng bàn bạc và quyết định xem có tiếp tục gia hạn hay thanh lý hợp đồngkhông Trong trường hợp công ty chứng khoán phá sản, tài sản uỷ thác của kháchhàng phải được tách riêng và không được dùng để trả các nghĩa vụ nợ của công tychứng khoán
Công ty chứng khoán có nghĩa vụ phải thường xuyên báo cáo cho kháchhàng biết về giao dịch, về trạng thái danh mục đầu tư theo yêu cầu của khách hànghay định kỳ hàng tháng Tài sản uỷ thác được quản lý chuyên nghiệp, sử dụng tối
đa trình độ chuyên môn và phương tiện của các Công ty chứng khoán Khách hàng
có thể tiết kiệm được thời gian, hơn nữa chỉ phải trả phí khi thực sự có lợi Công
ty chứng khoán đầu tàu thúc đẩy hoạt động này phát triển là Công ty chứng khoánSài Gòn thu hút 42% tổng số hợp đồng uỷ thác, Công ty chứng khoán Côngthương chiếm 32%
Hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp và đầu tư chứng khoán
Đây là một trong 5 hoạt động kinh doanh chính của Công ty chứng khoán.Hoạt động tư vấn của Công ty chứng khoán có thể được hiểu: đó là việc Công tychứng khoán thông qua hoạt động phân tích, dự báo các dữ liệu về lĩnh vực chứng
Trang 14khoán để đưa ra lời khuyên cho khách hàng Ngoài ra công ty có thể thực hiện một
số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính chokhách hàng
Trước đây khi nghị định 48/NĐ-CP vẫn còn hiệu lực thì hoạt động tư vấnchỉ được giới hạn trong hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán Hiện nay, Nghị định144/NĐ-CP đã mở rộng hoạt động tư vấn của Công ty chứng khoán, bao gồm tưvấn tài chính và đầu tư chứng khoán Đó là dịch vụ mà công ty chứng khoán cungcấp cho khách hàng trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, tái cơ cấu tài chính; muabán, chia tách, hợp nhất doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc phát hành
và niêm yết, đăng ký giao dịch Ngoài ra, Công ty chứng khoán còn thực hiện tưvấn cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn bán đấu giá cổ phần vàcung cấp các dịch vụ tài chính khác cho doanh nghiệp phù hợp với quy định củapháp luật
Tư vấn đầu tư là hoạt động tư vấn cho người đầu tư về thời gian mua bán,
nắm giữ, giá trị của các loại chứng khoán và các diễn biến của thị trường Người
tư vấn sử dụng kiến thức của mình để “kinh doanh” nhằm đem lại lợi nhuận chokhách hàng Lời tư vấn dựa trên sự phân tích những diễn biến của thị trường trongquá khứ, có thể đúng có thể sai, vì vậy khách hàng vẫn là người quyết định cuốicùng, thông tin người tư vấn đưa ra chỉ nên mang tính chất tham khảo Trong hoạtđộng này, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên tư vấn luôn được đề cao, tránh việcxảy ra xung đột về lợi ích giữa khách hàng và công ty
Tư vấn tài chính doanh nghiệp là mảng hoạt động hiện nay được các Công
ty chứng khoán đặc biệt quan tâm Ngoài việc mang lại thu nhập cho công ty, hoạtđộng này có thể tạo ra một mạng lưới khách hàng tiềm năng Hoạt động tư vấn tàichính sẽ xây dựng thương hiệu và tạo hình ảnh cho công ty; xây dựng nền tảng vớikhách hàng và tạo cơ sở tiền đề phát triển các hoạt động khác Hoạt động này baogồm: tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, tư vấn xây dựng phương án cổ phầnhoá, tư vấn bán đấu giá cổ phần, tư vấn phát hành chứng khoán, tư vấn tái cấu trúc
Trang 15tài chính doanh nghiệp, tư vấn niêm yết đăng ký giao dịch, tư vấn chuyển đổi, muabán sát nhập doanh nghiệp.
1.1.4.2 Các hoạt động phụ trợ
Để phục vụ tốt nhất cho khách hàng khi đến với Công ty chứng khoán,ngoài các hoạt động chính chiếm tỉ trọng lớn trong doanh thu, Công ty chứngkhoán còn thực hiện các hoạt động phụ trợ để thoả mãn nhu cầu của khách hàng,thúc đẩy các hoạt động chính phát triển; như hoạt động lưu ký chứng khoán, quản
lý thu nhập của khách hàng, quản lý quỹ,
1.2 Hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán.
1.2.1 Các khái niệm
Phân tích chứng khoán là việc dùng các chỉ số, sơ đồ, bảng biểu, các hệ sốtài chính để đánh giá hoạt động của TTCK cả về bề rộng cũng như chiều sâu Việcphân tích chứng khoán cung cấp các thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư cũngnhư các nhà quản lý thị trường, các nhà quản trị doanh nghiệp trong hoạt động của
họ trên TTCK Phân tích chứng khoán bao gồm Phân tích cơ bản và Phân tích kỹthuật:
Phân tích cơ bản là phân tích tình hình tài chính của các công ty cổ phần
niêm yết trên TTCK, dựa vào các báo cáo tài chính của công ty như: bảng cân đối
kế toán, bảng báo cáo thu nhập, bảng lưu chuyển tiền tệ, bảng thuyết minh báo cáotài chính Từ đó, thiết lập các hệ số tài chính để thấy được những mặt mạnh và yếutrong hoạt động tài chính của công ty, qua đó cũng thấy được xu hướng và tiềmnăng phát triển của công ty
Phân tích kỹ thuật là việc sử dụng biểu đồ giá và khối lượng giao dịch làm
cơ sở cho các quyết định đầu tư Cơ sở căn bản cho hướng tiếp cận này là ở chỗcác thông tin về giá và khối lượng trên biểu đồ phản ánh tất cả những gì diễn ra vềviệc mua hay bán một loại cổ phiếu Vì biểu đồ cổ phiếu tóm tắt và phản ánh kếtquả thực của các giao dịch đã thực hiện nên Phân tích kỹ thuật là cơ sở duy nhất
Trang 16cho việc ra các quyết định đầu tư, nó đó giúp cho các nhà quản lý có thể lựa chọnthời điểm và chiến lược mua bán chứng khoán tuỳ theo diễn biến của thị trường.
1.2.2 Điều kiện để phát triển hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán
1.2.4.1 Điều kiện khách quan
Khung pháp lý và chính sách của Nhà nước
Đây là yếu tố tác động trực tiếp các đến hoạt động của Công ty chứngkhoán nói chung và hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán nói chung Mọi hoạtđộng, mọi tổ chức kinh tế hoạt động trên lãnh thổ nước Việt Nam phải tuân theohiến pháp và pháp luật Việt Nam Trước kia, khi nền kinh tế còn bao cấp, kinh tếNhà nước giữ vai trò chủ đạo chi phối các thành phần kinh tế khác thì khái niệmchứng khoán và thị trường chứng khoán không tồn tại Nền kinh tế ngày càng mởcửa đang trên đường hội nhập, khung pháp lý và chính sách Nhà nước khuyếnkhích sự hình thành của các công ty chứng khoán, tạo điều kiện cho một phươngthức huy động vốn mới ra đời Chính vì vậy có thể nói khung pháp lý và các chínhsách của Nhà nước tác động trực tiếp đến sự phát triển của hoạt động phân tíchđầu tư chứng khoán
Đây là tiền đề quan trọng tạo điều kiện cho hoạt động tư vấn có thể pháttriển Phải có những quy định pháp lý chặt chẽ, thực hiện đúng quy định thì mớiđảm bảo được lợi ích và sự phát triển hoạt động phân tích đầu tư của công tychứng khoán
Sự phát triển và thực trạng của nền kinh tế:
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính quốc giahay nó là một bộ phận của nền kinh tế Vì vậy sự phát triển của nền kinh tế có ảnhhưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán Sự ổnđịnh và tăng trưởng kinh tế là cơ sở cho sự phát triển của một quốc gia, là điềukiện tiền đề để phát triển các công ty chứng khoán nói chung và phát triển hoạtđộng phân tích đầu tư chứng khoán nói riêng Có thể nói thị trường chứng khoán
Trang 17là sản phẩm của nền kinh tế thị trường, một khi thị trường này phát triển sẽ tácđộng vào nền kinh tế làm nó biến đổi theo một hướng tích cực.
Sự ổn định và phát triển kinh tế bền vững làm giảm thiểu các rủi ro và tăng hiệuquả của hoạt động đầu tư, điều này làm tăng tính hấp dẫn cho thị trường trongnước và thu hút đầu tư nước ngoài Mặt khác nhu cầu đầu tư ra nước ngoài của cácnhà đầu tư, các doanh nghiệp trong nước cũng tăng theo Đây là tiền đề cho sựphát triển các hoạt động của công ty chứng khoán, trong đó có hoạt động phân tíchđầu tư
Công chúng đầu tư
Công ty chứng khoán có phát triển hay không, doanh thu có tăng trưởnghay không phần lớn do sự tác động từ phía công chúng đầu tư Khi nhà đầu tưvẫn dành sự quan tâm đến chứng khoán và thị trường chứng khoán, họ muốn gianhập thị trường, lúc đó Công ty chứng khoán nói chung và hoạt động phân tíchđầu tư của Công ty chứng khoán nói riêng vẫn phát triển Ngược lại, khi có dấuhiệu nhà đầu tư rời bỏ thị trường, các doanh nghiệp không “tha thiết” với phươngthức huy động vốn mới này thì các hoạt động của Công ty chứng khoán sẽ ngừngtăng trưởng là điều dễ hiểu
Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo cơ sở cho mọi hoạt động củaCông ty chứng khoán phát triển, hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán cũngkhông nằm ngoài quy luật đó Khi thị trường phát triển sẽ tạo ra nhu cầu phân tíchđầu tư chứng khoán nhiều hơn, bởi lúc này việc huy động vốn trung và dài hạncho nền kinh tế qua kênh này sẽ chiếm tỷ trọng lớn Điều đó đồng nghĩa với việccác doanh nghiệp, tổ chức sẽ rất cần đến các hoạt động phân tích đầu tư.Hơn nữakhi thị trường phát triển các Công ty chứng khoán sẽ được đầu tư tốt hơn về côngnghệ, kỹ thuật, trình độ vì vậy sẽ tạo điều kiện cho Công ty chứng khoán nâng caochất lượng phân tích đầu tư
Thị trường càng phát triển, số lượng các nhà đầu tư, các tổ chức phát hànhcàng lớn sẽ tạo điều kiện phát triển các nghiệp vụ của công ty chứng khoán Hơn
Trang 18nữa với sự phát triển của hệ thống kiểm toán kế toán, hệ thống công bố thông tin,
hệ thống đăng ký, hệ thống bảo quản định kỳ góp phần tạo nên sụ tin cậy của thịtrường chứng khoán; cung cấp các thông tin cần thiết và tin cậy, giải quyết vấn đềthông tin không cân xứng lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Một khối lượngthông tin nghiên cứu khổng lồ từ bộ phận nghiên cứu của công ty được các nhàmôi giới sử dụng để cung cấp cho khách hàng của mình trong những trường hợp
cụ thể Và nhà phân tích cũng có đủ kiến thức để trở thành nhà tư vấn đắc lực củakhách hàng
1.2.4.2 Điều kiện chủ quan
Nhân sự
Công ty chứng khoán muốn triển khai hoạt động phân tích đầu tư chứngkhoán này cần thiết phải sở hữu một đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao, cókinh nghiệm, có kiến thức, có lòng nhiệt tình Nhân sự là yếu tố quan trọng ảnhhưởng tới chất lượng của các công ty chứng khoán nói chung và hoạt động phântích chứng khoán nói riêng Những nhà môi giới thành công sẽ đem lại cho công
ty những khoản tiền khổng lồ và họ được gọi là những nhà sản xuất hàng, vì vậyvậy đội ngũ nhân viên thiếu chuyên môn sẽ là trở ngại, cản trở sự phát triển củahoạt động này
Không tập trung vào số lượng nhưng đòi hỏi trình độ cao, am hiểu thựctiễn Các nhân viên phân tích được đào tạo kỹ lưỡng và tuyển chọn trong nhữngngười tài năng Trên những thị trường chứng khoán mới nổi như Việt Nam, nhữngchuyên gia phân tích là những người cần nhất nhưng lại thiếu nhất Để phát triểnhoạt động phân tích đầu tư cần tập trung đào tạo lực lượng này cho các Công tychứng khoán
Cơ sở vật chất và trình độ công nghệ:
Cơ sở vật chất có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động của các công ty chứngkhoán Là trung gian mua bán chứng khoán cho khách hàng Các công ty chưngkhoán phải có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, để đảm bảo việ tiếp nhận và thực
Trang 19hiện các yêu cầu của khách hàng một cách nhanh tróng và chính xác Vì thị trườngchứng khoán luôn nhạy cảm với sự biến đổi của nền kinh tế xã hội trong nước vàquốc tế, do đó nếu công ty chứng khoán không có đủ trang thiết bị cần thiết để thuthập và xử lý thông tin thì không thể bảo vệ quyền lợi cho khách hàng.Các nhânviên phân tích cũng sẽ không có đủ các thông tin cần thiết để thực hiện nghiệp vụ.
Yếu tố tài chính
Hiện nay hầu hết các loại hình kinh doanh không cần phụ thuộc vào yếu tốvốn pháp định, nhưng để thành lập Công ty chứng khoán nói chung và hình thànhhoạt động phân tích đầu tư chứng khoán nói riêng thì vốn pháp định luôn là điềukiện đầu tiên được đưa ra xem xét Hoàn toàn dễ hiểu, bởi đây là doanh nghiệpcung cấp các dịch vụ tài chính, nhà cung cấp chỉ có thể tạo được lòng tin nơikhách hàng, phát triển hoạt động trên mọi phương diện khi họ có tiềm lực tàichính đủ mạnh, có thể đối mặt với nhiều khó khăn từ nền kinh tế bên ngoài và từchính khách hàng của mình
Hoạt động phân tích đầu tư đòi hỏi Công ty chứng khoán phải đáp ứng cácđiều kiện về vốn và nhân sự Do đây là hoạt động kinh doanh chất xám nên yêucầu về vốn không lớn như các hoạt động khác, nhưng cần thiết để đầu tư vào cáccông cụ phục vụ cho quá trình hoạt động, xử lý số liệu Công cụ càng hiện đại sẽgiúp cho việc phân tích nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển của hoạt động vàcủa toàn công ty
1.2.3 Các phương pháp phân tích đầu tư chứng khoán.
1.2.3.1 Phương pháp cơ bản
Phân tích cơ bản là việc phân tích bản cân đối tài khoản và bản báo cáo lợi tức của công ty để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển của công ty theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán Việc phân tích cơ bản sẽ đánh giá một chứng khoán dưới giá trị hay trên giá trị hiện hành
Trang 20Trong phân tích cơ bản, các yếu tố cơ bản có thể bao gồm tất cả các yếu tố liên quan đến tình hình tài chính của một công ty, ví dụ như doanh thu và lợi nhuận v.v… và các yếu tố khác từ thị phần của công ty đến chất lượng của ban quản trị Nhìn chung, có thể chia các yếu tố cơ bản thành 2 nhóm: nhóm các yếu tốđịnh luợng và nhóm các yếu tố định tính.
Phân tích các yếu tố định lượng
Nội dung lớn nhất của phân tích cơ bản là đi sâu phân tích các báo cáo tài chính Còn được hiểu là phân tích định luợng, việc phân tích này liên quan đến việc xem xét doanh thu, chi phí, tài sản, nợ và tất cả các khía cạnh tài chính khác của một công ty Các nhà phân tích cơ bản xem xét các thông tin này để đạt được
sự hiểu biết thấu đáo về tình hình hoạt động hiện tại và trong tương lai của công
ty Báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán và báo cáo lưu chuyển tiền tệ
là các thành phần chính của báo cáo tài chính
- Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính cơ bản được lập định kỳ Báo cáo này bao gồm hầu hết các vấn đề thường được thảo luận về kết quả hoạt động kinh doanh của một công ty như doanh thu, thu nhập, thu nhập trên một cổ phần Về cơ bản, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết số tiền mà công ty kiếm được, chi phí đã bỏ ra và sự khác nhau giữa số lợi nhuận thu được qua hai thời kỳ xác định
Nhà đầu tư có thể đạt được sự hiểu biết thấu đáo về công ty bằng việc xem xét; đánh giá báo cáo kết quả kinh doanh Cụ thể hơn, tăng trưởng về doanh thu là dấu hiệu đầu tiên cho thấy các yếu tố cơ bản vững mạnh, lợi nhuận thuần tăng cho thấy hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lợi tăng Bên cạnh đó, nhà đầu tư cần xem xét xem công ty có đang hoạt động theo xu hướng chung của nghành và các đối thủ cạnh tranh hay không
- Phân tích bảng cân đối kế toán
Trang 21Bảng cân đối kế toán, còn được hiểu là báo cáo về tình hình tài chính, cho nhà đầu tư biết công ty đang sở hữu bao nhiêu tài sản, công ty đang nợ bao nhiêu
và nguồn vốn của công ty (chênh lệch giữa tài sản và nợ)
Bảng cân đối kế toán cung cấp cho các nhà đầu tư rất nhiều thông tin cơ bản về công ty: công ty nợ bao nhiêu, phải thu khách hàng bao nhiêu (bao lâu thì thu xong), tiền và các khoản tương đương tiền công ty đang sở hữu và các quỹ đã được lập trong quá trình hoạt động
- Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho biết số tiền thực mà công ty kiếm được, nó cũng cho thấy khả năng chi trả của công ty cho hoạt động kinh doanh hiện tại và tăng trưởng trong tương lai
Quả thực, một trong những chức năng quan trọng nhà đầu tư nên xem xét khi đầu tư vào một công ty là khả năng tạo ra tiền của công ty đó Điều đó đơn giản là vì một công ty cho thấy lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh không
có nghĩa là công ty đó sẽ không có những khó khăn sau đó do sự thiếu hụt về dòngtiền Xem xét một cách kỹ lưỡng báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể cung cấp cho nhà đầu tư một sự đánh giá tốt hơn về hoạt động kinh doanh của công ty
Vấn đề quan trọng là cần phải xem xét xu hướng của các tỷ số này để thấy được tính thanh khoản của công ty đang được cải thiện hay đang giảm sút
Phân tích các yếu tố định tính
- Phân tích các yếu tố định tính của công ty
Ngoài việc phân tích báo cáo tài chính như được đề cập ở trên, có một số những nhân tố định tính đặc trưng về công ty mà chúng ta cần phải quan tâm
Mô hình kinh doanh: Trước khi đi vào xem xét các báo cáo tài chính của một công ty, một trong những câu hỏi quan trọng nhà đầu tư nên được đặt ra là: công ty đó đang kinh doanh gì? Câu hỏi đó đề cập tới mô hình kinh doanh của mộtcông ty - công ty tạo ra tiền như thế nào Nhà đầu tư nên tìm hiểu mô kinh doanh của một công ty trước khi có quyết định đầu tư và không nên đầu tư vào những nghành nghề mà nhà đầu tư không am hiểu
Trang 22Lợi thế cạnh tranh: Một vấn đề khác mà các nhà đầu tư quan tâm là lợi thế cạnh tranh của công ty Một công ty muốn thành công lâu dài thì đều phải có khả năng duy trì ưu thế cạnh tranh của mình Sức mạnh của ưu thế cạnh tranh sẽ tạo ra một hàng rào bảo vệ doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp kiềm giữ các đối thủ của mình để có được sự phát triển và thu lợi nhuận
Ban quản lý: Mỗi công ty đều phải dựa vào ban quản trị để đạt được thành công Một số người cho rằng chất lượng của ban quản trị là một trong những khía cạnh quan trọng nhất cần xét khi đầu tư vào một công ty Điều này là hợp lý vì thậm chí khi mô hình kinh doanh tốt nhất cũng sẽ không cho kết quả như mong đợi nếu ban quản trị gặp thất bại trong khi thực hiện các kế hoạch kinh doanh
Quản trị công ty: Khái niệm quản trị công ty mô tả các chính sách được thực thi tại một tổ chức qua đó biểu hiện mối quan hệ và trách nhiệm giữa ban quản lý và các cổ đông Mục đích của các chính sách quản trị công ty là để đảm bảo rằng việc kiểm tra phù hợp được thực thi nhằm ngăn cản các cá nhân tiến hànhnhững hoạt động không chung thực và phi pháp
- Phân tích các yếu tố định tính của ngành
Mỗi ngành có các sự khác biệt về mặt khách hàng, về thị phần giữa các công ty, về sự phát triển của nghành, sự cạnh tranh, về các quy định và chu kỳ kinh doanh Nghiên cứu về các hoạt động của ngành sẽ cung cấp cho nhà đầu tư sựhiểu biết sâu hơn về tình hình tài chính của công ty
Khách hàng: Một số công ty chỉ phục vụ một nhóm khách hàng, trong khi các công ty khác thì lại phục vụ cho hàng triệu khách hàng Nhìn chung, nếu một công ty chỉ kinh doanh dựa trên một số lượng khách hàng nhỏ thì đây là một dấu hiệu đáng báo động vì nếu mất đi một lượng khách hàng nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến doanh số của công ty
Thị phần: Hiếu biết về thị phần hiện tại của công ty phần nào giúp nhà đầu biết được tình hình kinh doanh của công ty đó Thực tế là khi một công ty sở hữu 85% thị phần, thì ta có thể nói đó là công ty lớn nhất trong thị trường Hơn nữa, điều đó cũng nói lên rằng công ty đã sở hữu một hàng rào kinh tế, nói cách khác,
Trang 23một rào cản để bảo vệ thu nhập hiện tại và tương lai cùng với thị phần của công ty.Khi một công ty chiếm thị phần lớn hơn các công ty khác thì nó sẽ có vị thế tốt hơn trong việc phân bổ chi phí cố định của ngành công nghiệp cần đầu tư nhiều vốn
Tăng trưởng ngành: Để đánh giá tiềm năng tăng trưởng của một công ty thì trước tiên cần phải nghiên cứu xem có sự tăng trưởng về số lượng khách hàng trong thị trường chung hay không Điều này rất quan trọng, vì nếu một công ty không có khách hàng mới thì công ty đó phải biết cách giành lấy thị phần để phát triển
Sự cạnh tranh: Việc quan sát một số đối thủ cạnh tranh trong nghành của một công ty phần nào sẽ giúp nhà đầu tư biết được khả năng cạnh tranh của công
ty của công ty đó Các ngành có ít rào cản và nhiều đối thủ cạnh tranh sẽ tạo môi trường kinh doanh khó khăn cho các công ty
Quy định: Một số ngành bị quy định chặt chẽ vì tính quan trọng của sản phẩm hay dịch vụ của nghành Cũng như tầm quan trọng của một số quy định đối với công chúng, các quy định này có thể gây ảnh hưởng mạnh đến việc thu hút vốn đầu tư của công ty
Nhà đầu tư nên luôn xem xét kỹ các quy định có thể ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động kinh doanh của một công ty Nhà đầu tư cũng nên tính đến những chi phí tiềm tàng do việc thay đổi quy định gây ra khi ước tính chi phí và thành quả của việc đầu tư
1.2.3.2 Phương pháp kỹ thuật
Phân tích kỹ thuật nghiên cứu số cung và cầu chứng khoán dựa trên các nghiên cứu số lượng và giá cả Nhà phân tích dùng các biểu đồ để phân tích chiều hướng giá Hầu hết các phân tích được thực hiện để phân tích ngắn và trung hạn Không giống như phân tích cơ bản, nhà phân tích kỹ thuật không quan tâm đến vị thế tài chính của công ty
Trang 24Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình toán học (đồ thị, biến đổi miền, xácsuất thống kê, …) dựa trên dữ liệu thu thập về thị trường trong quá khứ và hiện tại
để chỉ ra trạng thái của thị trường tại thời điểm xác định, thông thường là nhậnđịnh xu hướng thị trường đang lên, xuống hay “dập dềnh” hoặc nhận định tươngquan lực lượng giữa sự tăng và sự giảm giá Phân tích kỹ thuật không để ý đến cácchỉ số tài chính, tình hình phát triển hay các thông tin về thị trường về doanhnghiệp mà chỉ chú trọng vào tập các dữ liệu về giá cả, khối lượng, … của cổ phiếuthu thập được tại các phiên giao dịch trong quá khứ
Chính vì chỉ dựa vào tập dữ liệu đã tồn tại trên thị trường – tức là các thôngtin trong quá khứ - phân tích kỹ thuật không phải là công cụ để dự đoán tương laigiá cả của cổ phiếu Những kết luận thu được từ các biện pháp phân tích kỹ thuậtchỉ thị trạng thái của thị trường đã xảy ra trong quá khứ; thời điểm rút ra kết luận
về trạng thái của thị trường luôn luôn đi sau so với sự kiện đã xảy ra Khoảng thờigian chênh lệch đó gọi là độ trễ
Một phép phân tích kỹ thuật thông thường có các thuộc tính và tínhchất sau
- Số phiên tính toán: số phiên lấy dữ liệu tính toán cho một giá trị của phântích Trong ví dụ về trung bình động của DNP ở phần đầu, số phiên lấy dữ liệu là 5phiên Nhà đầu tư càng ngắn hạn bao nhiêu thì càng chọn số phiên tính toán càngnhỏ bấy nhiêu
- Độ trễ: Khoảng thời gian từ lúc trạng thái thị trường đã xảy ra cho đến khiphép phân tích chỉ ra được trạng thái đó Trong cùng 1 phương pháp phân tích, sốphiên tính toán càng lớn thì độ trễ càng lớn Nhà đầu tư càng ngắn hạn bao nhiêuthì càng mong muốn độ trễ nhỏ bấy nhiêu
- Độ nhạy: Sự kịp thời trong phản ánh các biến động của thị trường của thịtrường Tính chất này ngược lại với độ trễ
- Độ chính xác: Tính ít sai xót trong phản ánh các biến động của thị trường.Tuy nhiên độ chính xác và độ nhạy lại đối nghịch với nhau
Trang 25 Phõn tớch kỹ thuật đúng vai trũ là cụng cụ trợ giỳp nhà đầu tư với bachức năng chớnh: bỏo động, xỏc thực và dự đoỏn
- Với vai trũ là cụng cụ bỏo động, phõn tớch kỹ thuật cảnh bỏo sự xuyờn phỏcỏc ngưỡng an toàn và thiết lập nờn cỏc ngưỡng an toàn mới hay núi cỏch khỏc làthiết lập mức giỏ mới thực sự thay vỡ dao động quanh một mức giỏ cũ Đối với nhàđầu tư việc nhận biết cỏc dấu hiệu về sự thay đổi mức giỏ càng sớm càng tốt giỳpcho họ sớm cú hành động mua vào hoặc bỏn ra kịp thời
- Với vai trũ là cụng cụ xỏc nhận, mỗi phương phỏp phõn tớch kỹ thuật được
sử dụng kết hợp với cỏc phương phỏp kỹ thuật khỏc hoặc cỏc phương phỏp phi kỹthuật để xỏc nhận về xu thế của giỏ Việc kết hợp và bổ trợ lẫn nhau giữa cỏcphương phỏp kỹ thuật khỏc nhau giỳp nhà đầu tư cú được kết luận chớnh xỏc và tối
ưu hơn
- Với vai trũ là cụng cụ dự đoỏn, nhà đầu tư sử dụng cỏc kết luận của phõntớch kỹ thuật để dự đoỏn giỏ cả của tương lai với kỳ vọng về khả năng đoỏn tốthơn Tuy nhiờn như trờn đó núi, bản chất của phõn tớch kỹ thuật khụng phải là dựbỏo tương lai mà là chỉ thị trạng thỏi thị trường trong quỏ khứ với một độ trễ; do
đú nếu sử dụng như một cụng cụ dự đoỏn nhà đầu tư cần phải tớnh đến một xỏcsuất an toàn và chấp nhận rủi ro khi dự đoỏn là khụng phự hợp Khụng ai cú thểnúi trước tương lai chỉ bằng thụng tin trong quỏ khứ Tuy nhiờn nhờ cú phõn tớch
kỹ thuật, khả năng đoỏn sai do đoỏn mũ hoặc a dua đỏm đụng được hạn chế rấtnhiều
1.2.4 Những khú khăn đối với một cụng ty chứng khoỏn khi thực hiện hoạt động phõn tớch đầu tư chứng khoỏn.
Cỏc cụng ty chứng khoỏn gặp rất nhiờu những khú khăn khi thực hiện họatđộng phõn tớch đầu tư chứng khoỏn:
- Hệ thống pháp lý về TTCK cho đến nay vẫn cha đợc hoàn chỉnh Một số vănbản pháp quy, các luật có liên quan, chi phối hoạt động hoặc có ảnh hởng đến thịtrờng chứng khoán đã ban hành nhng trong phần nội dung còn nhiều bất cập, chưa
Trang 26thống nhất, mâu thuẫn với hệ thống pháp lý về thị trờng chứng khoán Luật về thịtrờng chứng khoán vẫn cũn chưa hoàn thiện Chính vì vậy việc áp dụng những vănbản này đối với những công ty chứng khoán cũng gây những khó khăn
- Cơ sở vật chất cũn thiếu thốn: cơ sở vật chất lỹ thuật cú tỏc động rất lớn đếnhiệu quả hoạt động kinh doanh của cụng ty Nú khụng chỉ tạo dựng nờn hỡnh ảnhcủa cụng ty trong lũng cụng chỳng mà cũn hỗ trợ cho việc thực hiện cỏc nghiệp vụkinh doanh của cụng ty một cỏch nhanh trúng, chớnh xỏc và hiệu quả
- Thiếu nguồn nhõn lực cú kỹ năng: Cú thể núi, con người là yếu tố quantrọng nhất và cú vai trũ quyết định đến sự thành cụng của cụng ty Cỏc cụng tychứng khoỏn là những cụng ty hoạt động trong lĩnh vực tài chớnh tiền tệ với nhữngsản phẩm dịch vụ cao cấp của thị trường đũi hỏi phải cú một đội ngũ nhõn viờndầy dạn kinh nghiệm và tinh thụng nghiệp vụ
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI CễNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN BẢO VIỆT TRONG THỜI GIAN QUA.
Trang 271.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt.
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt.
Công ty cổ phần chứng khóan Bảo Việt là một trong những công ty chứngkhóan đầu tiên tại Việt Nam được thành lập từ năm 1999 Vốn điều lệ của công tytại thời điểm cuối năm 2007 là 150.000.000.000 đồng đến ngày 28/2/2008 công ty
đã tăng vốn lên 450.000.000.000 đồng Trụ sở chính của công ty nằm tại số 8 LêThái Tổ, quận Hòan Kiếm, Hà Nội Ngành nghề kinh doanh của công ty bao gồm :
- Môi giới chứng khóan
- Tự doanh chứng khoán
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán
- Quản lý danh mục đầu tư
- Tư vấn :
+ Tư vấn đầu tư chứng khoán
+ Tư vấn cổ phần hóa và chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp
+ Tư vấn tài chính và quản trị doanh nghiệp
+ Tư vấn phát hành chúng khoán
+ Tư vấn tái cơ cấu , mua bán và sát nhập doanh nghiệp
- Lưu ký chứng khoán
*Sự ra đời của công ty chứng khoán Bảo Việt
Công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC) chính thức hoạt động kể từ ngày26/11/1999 theo giấy phép hoạt động số 01/GPHĐKD do Ủy ban Chứng khoánNhà nước cấp và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 056655 đăng ký lần đầu20/07/1999, thay đồi lần thứ 5 ngày 15/11/2006 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thànhphố Hà Nội cấp Cổ đông sáng lập của công ty là Tổng công ty Bảo hiểm ViệtNam, trực thuộc Bộ Tài chính Công ty chính thức đi vào hoạt động từ ngày26/11/1999 với mức vốn điều lệ là 43 tỷ đồng
Trang 28*Quá trình phát triển của CTCK Bảo Việt
Sau tám năm hoạt động trên thị trường tài chính Việt Nam, công ty chứngkhóan Bảo Việt đã phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng hoạt động Trải qua hailần tăng vốn điều lệ, đến cuối năm 2007 vốn điều lệ của công ty đạt 150 tỷ đồng :
+ Vốn điều lệ khi thành lập (11/1999) 43 tỷ đồng+ Vốn điều lệ sau đợt tăng vốn lần 1 (04/2006) 49,45 tỷ đồng+ Vốn điều lệ sau đợt tăng vốn lần 2 (11/2006) 150 tỷ đồngCuối tháng 12 năm 2007, Đại hội đồng cổ đông của công ty đã thông quaquyết định tăng vốn điều lệ lần thứ 3 bằng việc chào bán 30 triệu cổ phiếu cho cổđông hiện hữu Ngòai ra, việc trở thành một thành viên của một tập đoàn tài chínhhàng đầu Việt Nam cũng góp phần nâng cao vị thế và sức mạnh tài chính của công
ty Ngày 28/11/2005, BVSC trở thành một thành viên của Tập đòan Tài chính –Bảo hiểm Bảo Việt Tập đoàn được thành lập theo đề án cổ phần hóa Tổng Công
ty Bảo hiểm Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số TTG Bên cạnh sự tăng trưởng về quy mô, chất lượng hoạt động của công ty cũngđược chú trọng và cải tiến Năm 2006 được đánh giá là năm thành công của công
310/2005/QĐ-ty chứng khoán Bảo Việt khi công 310/2005/QĐ-ty nhận được hai danh hiệu có uy tín dành chocác doanh nghiệp Việt Nam:
+ 13/10/2006: BVSC nhận giải Nhãn hiệu cạnh tranh cấp quốc giatrong cuộc bình chọn Nhãn hiệu Cạnh tranh – Nổi tiếng Quốc gia do Hội sở hữutrí tuệ Việt Nam tổ chức
+ Trong năm 2006, BVSC được bình chọn là Thương hiệu Việt Uytín Chất lượng do Mạng Thương hiệu Việt bình chọn, đón nhận bảng vàng và thưchúc mừng của Quốc hội và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Việc cổ phiếu của công ty được chính thức niêm yết trên sàn giao dịchchứng khóan tập trung vào ngày 18 tháng 12 năm 2006 đã khẳng định uy tín, chấtlượng, hiệu quả kinh doanh và quy mô hoạt động của BVSC
Trang 292.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động.
Ra đời từ năm 1999 khi Luật Chứng khóan chưa có tại Việt Nam, công tychứng khóan Bảo Việt được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp doQuốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X kỳ họp thứ Vthông qua ngày 12/6/1999 Hiện nay, hoạt động của công ty chịu sự chi phối củaLuật Doanh nghiệp được thông qua ngày 29/11/2005, Luật Chứng khoán, cácluật khác có liên quan và Điều lệ hoạt động của công ty
Mô hình tổ chức công ty chứng khoán Bảo Việt cũng tương tự như môhình tổ chức hiện đại của các tổ chức tài chính, bao gồm khối kinh doanh và khốivăn phòng
+ Khối kinh doanh (front office): gồm bộ phận Tư vấn tài chính; bộphận môi giới; bộ phận tự doanh và bộ phận phân tích Các bộ phận này thựchiện các hoạt động kinh doanh cơ bản của công ty
+ Khối văn phòng (back office): gồm bộ phận Quan hệ công chúngtiến hành hoạt động quảng bá sản phẩm và quan hệ công chúng; bộ phận Kếhoạch – Tổng hợp thực hiện các công việc liên quan đến hành chính tổng hợp,quản trị ; bộ phận kế toán thực hiện các nghiệp vụ tài chính kế toán; bộ phậnDịch vụ khách hàng hỗ trợ khách hàng; bộ phận IT đảm nhiệm quản trị hệthống
Cũng giống các công ty cổ phần khác, cơ cấu bộ máy quản lý của công tybao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc, Bankiểm sóat và các phòng ban
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu bộ máy quản lý của BVSC
Trang 30BANTỔNG GIÁM ĐỐC
PHÒNG
KẾ HOẠCH – TỔNG HỢP
PHÒNG QUAN HỆ QUỐC TẾPHÒNG TƯ VẤN
Trang 31+ Hội đồng quản trị: do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan quản lýcao nhất của công ty, có nghĩa vụ quản trị công ty giữa 2 kỳ đại hội Hội đồngquản trị của công ty gồm có 5 thành viên, nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị và củamỗi thành viên là 3 năm.
+ Ban Kiểm soát: do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tratính hợp pháp, hợp lệ trong quản trị và điều hành hoạt động kinh doanh, các báocáo tài chính của công ty Ban Kiểm soát công ty gồm có 3 thành viên, nhiệm kỳcủa Ban Kiểm soát và của mỗi thành viên là 3 năm
+ Ban Tổng Giám đốc: do Hội đồng Quản trị bổ nhiệm, có nhiệm vụ tổchức điều hành và quản lý mọi hoạt động kinh doanh của công ty theo chiếnlược và kế hoạch kinh doanh hàng năm đã được Đại hội đồng cổ đông và Hộiđồng quản trị thông qua Giám đốc là người đại diện trước pháp luật của công ty,thành viên ban Tổng giám đốc có nhiệm kỳ là 3 năm
1.2 Đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt trong thời gian qua
2.2.1 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian qua.
Năm 2006 là năm thành công rực rỡ của Công ty chứng khoán Bảo Việt.Mặc dù số lượng công ty chứng khoán tăng nhanh và mức độ cạnh tranh giữa cáccông ty chứng khoán ngày càng khốc liệt, BVSC vẫn ghi nhận mức tăng trưởngdoanh thu và lợi nhuận cao nhất kể từ khi thành lập Tổng doanh thu của BVSCđạt 90.67 tỷ đồng, đạt 178% so với kế hoạch và bằng 351% so với năm 2005, lợinhuận sau thuế đạt 51,18 tỷ đồng, bằng 511% so với năm 2005 Với mức lợinhuận này, EPS đã đạt tới 9.200 đồng/cổ phiếu
Tiếp nối thành công của năm 2006, năm 2007 BVSC vẫn tiếp tục tiếnnhanh trên con đường phát triển và đạt được thành công hơn mức mong đợi trongchỉ tiêu đã đề ra năm 2006 kết thúc năm 2007, doanh thu của công ty là 399.968
tỷ đồng - tăng 334% so với năm 2006, lợi nhuận sau thuế đạt 214,591 tỷ đồng –tăng 322% so với năm 2006
Trang 32Năm 2008 là một năm bắt đầu của sự suy thoái, Việt nam phải đối mặt vớinhững yếu điểm và hạn chế của một thời kỳ phát triển khá nóng của nền kinh tếnhư: giá dầu thế giới tăng mạnh cùng với lạm phát tăng cao, thâm hụt thương mạiđạt mức kỷ lục, rủi ro thanh khoản trong hệ thống ngân hàng và những biến độngbất thường trên thị trường ngoại tệ…Mặt khác, các yếu tố bên trong cũng nhưchính sách thắt chặt tiền tệ trong 06 tháng đầu năm đã đẩy thị trường rơi vào xuthế giảm liên tục, đi cùng đó là tính thanh khoản của các cổ phiếu giảm dần, giá trị
và khối lượng giao dịch cổ phiếu đều sụt giảm
Bảng 2.2: Các chỉ số của TTCKVN – khối lượng và giá trị giao dịch bình
quân năm 2008 ( Nguồn: Bản cáo bạch năm 2008 của BVSC )
Trong bối cảnh nền kinh tế như vậy, hoạt động kinh doanh của BVSC năm
2008 chịu rất nhiều ảnh hưởng tiêu cực Doanh thu chỉ đạt 241 tỷ đồng, sụt giảm
so với kế hoạch 100 tỷ đồng Trong khi đó hạch toán lỗ tự doanh lên đến 167,5 tỷđồng và trích dự phòng giảm giá cho danh mục đầu tư tự doanh cổ phiếu niêm yếtlên đến 404,7 tỷ đồng nên kết quả kinh doanh năm 2008, hoạt động kinh doanh lỗ451,7 tỷ đồng
Tình hình hoạt động kinh doanh của BVSC trong thời gian qua được thểhiện thông qua bảng sau:
Trang 33(đơn vị: tỷ đồng)
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của BVSC qua các năm
2.2.1.1 Hoạt động mô giới
Theo Luật Chứng khóan, môi giới chứng khoán là việc công ty chứng
khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng
Đây là hoạt động quan trọng nhất của công ty chứng khóan Bảo Việt vìhoạt động này mang lại doanh thu chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng doanh thucủa công ty Năm 2005, tỷ trọng doanh thu từ môi giới còn khá khiếm tốn 14,34%.Trong năm 2006, doanh thu từ hoạt động môi giới đã lên tới 34,8 tỷ đồng, chiếm42,17% tổng doanh thu, đạt 195% kế hoạch và tăng 1073% so với năm 2005 Năm
2007, doanh thu môi giới là 149,68 tỷ đồng, tăng 330% so vơi năm 2006 Do ảnhhưởng từ sự biến động của nền kinh tế vĩ mô và TTCK Việt nam, năm 2008 cũngđánh dấu sự thay đổi theo hướng tiêu cực của hoạt động mô giới trong BVSC.Doanh thu hoạt động môi giới đạt 58,28 tỷ đồng, giảm 91,14 tỷ đồng tương đươngvới 61% so với năm 2006 Tuy không đạt được như dự kiến ban đầu nhưng vẫnđem lại nguồn thu ròng cho công ty ( bằng doanh thu trừ đi phí môi giới phải nộpsàn giao dịch chứng khoán và trung tâm giao dịch chứng khoán) là sấp xỉ 41 tỷđồng
Doanh thu hoạt động môi giới chứng khoán tại BVSC được thể hiện cụ thểthông qua bảng sau:
Trang 34(đơn vị: tỷ đồng)
Bảng 2.4 Doanh thu hoạt động môi giới – (Nguồn: Bản cáo bạch 2008)
Theo số liệu thống kê, BVSC có thị phần môi giới cao nhất trên thị trường ,năm 2005 là 22% còn năm 2006 là 17% Đến cuối năm 2008, tổng số tài khoản
mở tại BVSC là 33.403, thị phần giao dịch của BVSC tại HaSTC là 2,5% và thịphần giao dịch của BVSC tại HOSE là 6,7% Ngoài ra, khách hàng của BVSC rất
đa dạng, không chỉ là các cá nhân tổ chức trong nước, mà còn bao gồm cá nhân vàcác tổ chức tài chính lớn nước ngòai Một số tổ chức nước ngòai có danh tiếng nhưMerrill Lynch, UBS, JP Morgan Chase, Citi group, Deustch Bank
Kết quả trên đạt được một phần do sự phát triển vượt bậc của thị trường vàmột phần do BVSC đã chú trọng đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng nhằm nâng caochất lượng dịch vụ BVSC là một trong những công ty chứng khóan có số lượngmáy nhập lệnh nhiều nhất, gồm 9 máy tại HOSE và 5 máy tại HASTC Hơn nữa,công ty còn triển khai dịch vụ đặt lệnh trực tuyến với công nghệ sử dụng doBloomberg cung cấp
Để hỗ trợ, tư vấn cho nhà đầu tư, BVSC còn cung cấp thông tin đến kháchhàng thông qua các kênh như Bản tin tuần, Bản tin tháng, trang tin điện tử, báocáo phân tích thị trường Đồng thời, BVSC liên kết với các tổ chức tài chính khác
để cung cấp dịch vụ hỗ trợ tài chính cho khách hàng như cho vay cầm cố chứngkhoán, cho vay ứng trước tiền bán chứng khóan, cho vay hỗ trợ kinh doanh chứngkhoán
Trang 352.2.1.2 Hoạt động tự doanh.
Theo Luật Chứng khoán, tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng
khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình Đây là hoạt động bắt buộc phải
có nếu công ty muốn triển khai hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khóan , theoĐiều 60 Luật Chứng khóan 2007
Hoạt động tự doanh chưa phải là môt thế mạnh của công ty Tỷ trọng doanhthu từ hoạt động tự doanh còn khá khiêm tốn Năm 2005 hoạt động này chỉ mang
về hơn 1,7 tỷ đồng doanh thu chiếm 7,7% tổng doanh thu Năm 2006 doanh thu từ
tự doanh tăng lên 18,7 tỷ (22,71%) và năm 2007 hoạt động này có sự tăng trưởngmạnh, doanh thu lên tới 143,1 tỷ đồng (39,11%) – tỷ trọng lớn nhất trong tổngdoanh thu Năm 2008, các chỉ số trên TTCKVN giảm điểm liên tục, hoạt động tựdoanh của công ty đã gặp rất nhiều khó khăn nên tình trạng thua lỗ trong hoạtđộng này là không thể tránh khỏi Doanh thu từ hoạt động tự doanh trong năm
2008 của toàn công ty là 31,993 tỷ đồng Chỉ bằng 40% so với kế hoạch Riêngthu nhập cổ tức, trái tức và lợi tức chứng chỉ quỹ đầu ta trong năm 2008 mang lạikết quả tốt đạt 50,882 tỷ đồng, tương đương 137,9% kế hoạch năm
Trang 36Bảng 2.5 Doanh thu hoạt động tự doanh ( Nguồn bản cáo bạch năm
2008 của BVSC )
Nếu so sánh với một số các công ty chứng khóan khác cũng đã hoạt độnghơn 5 năm trên thị trường chứng khóan thì tỷ trọng này còn khiêm nhường Ví dụnhư SSI, công ty chứng khóan Sài Gòn được thành lập từ năm 2000, hoạt động tựdoanh luôn chiếm hơn 50% tổng doanh thu của công ty Tuy nhiên, do SSI có mứcvốn điều lệ tăng trưởng khá cao và cao hơn nhiều so với BVSC nên công ty cóđiều kiện kinh doanh với quy mô lớn
(đơn vị: tỷ đồng)
Bảng 2.6 Mức vốn điều lệ của SSI và BVSC – (Nguồn: Bản cáo bạch
của SSI và BVSC)
2.2.1.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán.
Theo Luật Chứng khóan, bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ
chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trướckhi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổchức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối
Trang 37hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phốichứng khoán ra công chúng.
Do hoạt động bảo lãnh được đặc biệt chú trọng trong chiến lược phát triểndài hạn của công ty nên tỷ trọng doanh thu từ hoạt động này của BVSC là tươngđối cao so với các công ty chứng khóan khác Đồng thời, BVSC cũng là công tychiếm thị phần bảo lãnh lớn nhất ở Việt Nam Năm 2005, doanh thu từ bảo lãnhchiếm tỷ trọng lớn nhất hơn 45%, tương đương với 10,1 tỷ Năm 2006, BVSCvinh dự là đơn vị dẫn đầu về bảo lãnh phát hành cổ phiếu với thị phần khoảng70% nhờ vào kết quả kinh doanh rất tốt của hoạt động này Năm 2006 BVSC đãtiến hành bảo lãnh cho 10 đợt phát hành với giá trị bảo lãnh lên tới 928 tỷ đồngvới các hợp đồng bảo lãnh lớn như: Bảo lãnh phát hành cho cong ty cổ phần giấyhải Phòng với tổng giá trj bảo lãnh trên 80 tỷ đồng bảo lãnh phát hành cho công ty
cổ phần nhựa Bình Minh với tổng giá trị là 100 tỷ đồng….Doanh thu bảo lãnhphát hành và đại lý phát hành đạt trên 32 tỷ đồng, tăng trên 300% so với năm
2005 cũng trong năm 2006, mặc dù doanh thu từ bảo lãnh nhưng tỷ trọng doanhthu từ dịch vụ này giảm hẳn chỉ còn chiếm 15%-16,8% Tuy nhiên nếu so sánh vớicông ty chứng khóan Sài Gòn thì tỷ lệ này chỉ chiếm dưới 10% Trên đồ thị về thịphần hoạt động bảo lãnh của các công ty chứng khoán ở Việt Nam, BVSC luônchiếm thị phần tương đối lớn trong hai năm 2005 và 2006 Nếu như năm 2005BVSC chiếm 25% và chỉ đứng sau công ty chứng khóan của Ngân hàng ngoạithương, thì đến năm 2006, BVSC đã dẫn đầu với thị phần chiếm 26%
Trong năm 2007, thị trường chứng khoán có nhiều biến động nên các doanhnghiệp đã chọn hình thức bảo lãnh phát hành trong quá trình phát hành thêm cổphiếu nhằm đảm bảo khả năng thành công cao nhất của đợt phát hành Nắm bắtthời cơ, BVSC đã đẩy mạnh hoạt động tư vấn kết hợp với bảo lãnh phát hành chorất nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau với tổng doanh thu thừhoạt động bảo lãnh, đại lý phát hành lên đén 52 tỷ đồng và giá trị bảo lãnh pháthành lên tới 4.456 tỷ đồng
Trang 38Năm 2008, cùng với xu hướng chung của thị trường, hoạt đọng bảo lãnhphát hành diễn ra rất hạn chế Hoạt động tiếp nhận đăng ký bán đấu giá của doanhnghiệp cũng không thu được kết quả như mong muốn Tính chung doanh thu củacác hoạt động bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành thực hiện năm 2008 là11,609 tỷ đồng
(đơn vị: tỷ đồng)
Bảng 2.7 Doanh thu hoạt động bảo lãnh phát hành và đại lý đấu giá –
(Nguồn: Bản cáo bạch của SSI và BVSC)
Là một thành viên của Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt, BVSC có
ưu thế về uy tín và duy trì được nhiều mối quan hệ đối tác Điều này giúp công ty
ký được nhiều hợp đồng bảo lãnh với các khách hàng lớn, ví dụ như công ty cổphần sữa Việt Nam và công ty cổ phần Nhựa Bình Minh Ngoài ra, BVSC còntiến hành nghiệp vụ bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanhnghiệp, ví dụ như đợt phát hành 600 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp của Tổngcông ty Điện lực Việt Nam
2.2.1.4 Hoạt động tư vấn.
Trang 39Theo Luật Chứng khóan, tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty
chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, công bố báo cáo phântích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán
Với các hình thức tư vấn phong phú và đa dạng, BVSC đã duy trì một thịphần khá ổn định cho mình trên thị trường tư vấn ở Việt Nam mặc dù thị phần củaBVSC không phải là cao so với các công ty chứng khoán khác Điều này thể hiện
ở việc thị phần của BVSC không có biến động lớn trong các năm 2005 và 2006.Năm 2005, thị phần của BVSC là 19% chiếm tỷ trọng cao nhất, đến năm 2006,BVSC rút xuống vị trí thứ 3 (17%) sau công ty chứng khóan Sài Gòn và công tychứng khóan của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BSC) Về mặt giá trị,doanh thu từ hoạt động tư vấn không có biến động nhiều qua các năm, từ năm
2005 đến hết năm 2007, hoạt động này mang lại khoảng 4-6 tỷ đồng doanh thu, vìvậy tỷ trọng doanh thu từ tư vấn giảm mạnh theo các năm Năm 2005 doanh thuhoạt động này chiếm 18% thì năm 2006 chỉ còn 8% và năm 2007 là 1,7%
Năm 2006, BVSC đã thự hiện 31 hợp đồng tư vấn cổ phần hóa và chuyểnđổi hình thức sở hữu doanh nghiệp, 35 hợp đồng tư vấn tài chính, phát hành chứngkhoán và tư vẫn niêm yết Các hợp đồng tư vấn này đã mang lại cho BVSC doanhthu 6,5 tỷ đồng
Với những kinh nghiệp tích lũy trong nhiều năm qua với việc triển khai tưvấn cho hàng trăm đơn vị, cùng với khả năng triển khai đồng bộ các nghiệp vụ tưvấn Năm 2007 BVSC vẫn tiếp tục phát huy những lợi thế đó để đẩy mạnh hoạtđộng tư vấn cho các doanh nghiệp từ tư vấn cổ phần hóa, tư vấn phát hành vàniêm yết chứng khoán, tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên trongthời kỳ trầm lắng của thị trường, nhiều doanh nghiệp đã chủ động giãn việc pháthành và niêm yết cổ phiếu nên hoạt động tư vấn cũng ít nhiều bị ảnh hưởng Mặc
dù vậy năm 2007 doanh thu từ hoạt động tư vấn của BVSC đạt 7,2 tỷ đồng, tăng10% so với năm 2006
Năm 2008, với uy tín đã xây dựng trên thị trường chứng trong các năm quacùng đội ngũ cán bộ tư vấn có năng lực, có trình độ, kinh nghiệm, nhiệt huyết và
Trang 40tinh thần trách nhiệm, nhiều hoạt động tư vấn đã được chủ động triển khai.năm
2008, doanh thu tư vấn đạt 15,5 tỷ đồng, tăng 116% sơ với năm 2007.Đặc biệtcũng trong năm 2008, BVSC là công ty chứng khoán duy nhất ở VN đã vinh dựnhận được giải thưởng “Best Equity House 2008” ( Công ty tư vấn tốt nhất năm2008) do tạp chí tài chính uy tín Finance Asia trao tặng Đây chính là phần thưởngghi nhận những nỗ lực không ngừng của BVSC về nghiệp vụ tư vấn với nhữngthành tựu được công nhận trong nước và quốc tế
(đơn vị: tỷ đồng)
Bảng 2.8 Doanh thu từ hoạt động tư vấn - (Nguồn: Bản cáo bạch BVSC)
*Các hình thức tư vấn của BVSC
+ Tư vấn chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp
Hoạt động tư vấn chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp bao gồm hỗtrợ tái cấu trúc vốn trước và sau khi chuyển đổi, định giá doanh nghiệp và định giáchứng khóan Trong năm 2005, tổng số hợp đồng ký kết và thực hiện đạt hơn 185hợp đồng mang về hơn 4 tỷ đồng doanh thu, tăng 140% so với năm 2004 Một sốkhách hàng lớn sử dụng dịch vụ tư vấn của BVSC như : Công ty Bóng đèn ĐiệnQuang; Công ty Kinh doanh phát triển Nhà Hà Nội; Công ty Cổ phần Nhựa Bao