1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng nợ nước ngoài ở việt nam và biện pháp xử lý

20 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 237,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi một quốc gia đi vay nước ngoài th́ có thể hiểu đó là sự thỏa thuận giữa bên nước ngoài cho vay và bên trong nước đi vay về việc bên đi vay sẽ được sử dụng một lượng vốn của bên cho v

Trang 1

Thực trạng nợ nước ngoài ở VN và biện pháp quản lý Chương I Khái quát vay và trả nợ nước ngoàI

Chương này sẽ tŕnh bày những lư luận chung về nợ nước ngoài, tác động của nợ nước ngoài đến nền kinh tế và kinh nghiệm quản lư nợ nước ngoài của một

số quốc gia trên thế giới

Chương II Thực trạng vay và trả nợ nước ngoài của Việt Nam

Chương này tŕnh bày và đánh giá quá tŕnh đổi mới công tác quản lư nợ nước ngoàI của Việt Nam theo các mốc thời gian sau:

I Thực trạng vay và trả nợ nước ngoàI của Việt Nam trước khi Nghị định 58/CP của Chính Phủ được ban hành

II Thực trạng vay và trả nợ nước ngoài của Việt Nam từ sau khi ban hành Nghị định 58/CP đến trước khi ban hành Nghị định 90/CP

III Quản lư vay và trả nợ nước ngoài theo Nghị định 90/1998/CP

IV Đánh giá tổng quát công tác quản lư vay và trả nợ nước ngoàI của Việt Nam trong thời gian qua

V Những thách thức và triển vọng

Chương III Giảp pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lư vay và trả

nợ nước ngoài của Việt Nam.

Do điều kiện hạn chế về mặt thời gian và kiến thức trước một đề tài lớn nên không tránh khỏi nhiều thiếu xót, v́ vậy em rất mong nhận được nhiều ư kiến đóng góp của các thầy cô và bạn đọc Em xin chân thành cám ơn

CHƯƠNG I

KHÁI QUÁT VAY, TRẢ NỢ NƯỚC NGOÀI

I NỢ NƯỚC NGOÀI

1 Khái niệm về nợ nước ngoài

Khái niệm "Nợ nước ngoài" được nhúm cỏc tổ chức quốc tế nghiên cứu thống kê nợ nước ngoài, viết tắt là IWGEDS (International Working Group on

External Debt Statistics) đưa ra như sau : "Nợ nước ngoài của một quốc gia tại một thời điểm nhất định là tổng số nợ theo hợp đồng chưa được thanh toán mà

Trang 2

cư trú, bao gồm việc hoàn trả nợ gốc cùng (hoặc không cùng) với lăi, hoặc trả

nợ lói cựng (hoặc không cùng) nợ gốc”.

Căn cứ theo khái niệm trên ta thấy "nợ nước ngoài" ở đây đă bao hàm cả tính chất pháp lư của tổng số tiền nợ mà một quốc gia có trách nhiệm phải trả, phải thanh toán cho mét hay nhiều quốc gia khác hoặc các tổ chức tài chính quốc tế Có thể hiểu nợ nước ngoài là khoản cam kết đă được đưa vào trong nước (đă giải ngân) và sẽ phải đưa ra ngoài nước để hoàn trả gốc và/hoặc lói Nú

có thể bao gồm những khoản vay (ưu đăi hay thương mại), ngắn hạn (bao gồm

cả L/C trả chậm) hay trung dài hạn, những trái phiếu của chính phủ hay công ty

kể cả các khoản thuê mua tài chính và lợi nhuận mang về nước của các công ty hay nhà đầu tư nước ngoài Khi một quốc gia đi vay nước ngoài th́ có thể hiểu

đó là sự thỏa thuận giữa bên nước ngoài cho vay và bên trong nước đi vay về việc bên đi vay sẽ được sử dụng một lượng vốn của bên cho vay với thời hạn, lăi suất và các vấn đề liên quan khác như các điều khoản đă thỏa thuận

Vốn vay nước ngoài với vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài cần được phân biệt rơ như sau: vốn vay nước ngoài là số vốn mà chính phủ, các công ty tư nhân của một quốc gia vay các tổ chức đầu tư quốc tế, các chính phủ, các công

ty tư nhân của quốc gia khác để thoả măn nhu cầu đầu tư, tiêu dùng của ḿnh và

có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ bao gồm cả nợ gốc và nợ lăi

Trong trường hợp này người bỏ vốn và người tiếp nhận, quản lư sử dụng vốn là hai chủ thể khác nhau Trái lại, vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài là nguồn vốn

do các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào và trực tiếp quản lư, sử dụng chịu trách nhiệm về rủi ro và trả nợ nếu đó là vốn vay của người khác Như vậy ở đây người bỏ vốn và người quản lư, sử dụng vốn là một chủ thể duy nhất

Nợ nước ngoài khác với vay trong nước ở điểm cơ bản là vay nước ngoài

sẽ không chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp lư duy nhất Chúng ta biết rằng những người đi vay trong nước sẽ phải đối mặt với những người cho vay trong nước mà những người này có thể theo đuổi các quyền hợp pháp được quy định rơ ràng trong trường hợp người đi vay không trả nợ Trong trường hợp xấu nhất, người cho vay có thể thông qua toà án để phát mại người đi vay Trong khi

đó người cho vay nước ngoài có thể áp dụng trừng phạt đối với người vay nước ngoài không trả nợ, nhưng những trừng phạt này thường không đem lại lợi Ưch trực tiếp cho người cho vay (như việc rút lại tín dụng thương mại và sự gián đoạn quan hệ thương mại với những nước không trả được nợ)

2 Phân loại nợ nước ngoài

2.1 Phân loại theo đối tượng nợ

Trang 3

Đây là h́nh thức phân loại cơ bản và quan trọng nhằm phân biệt nợ nước ngoài của Chính phủ và nợ nước ngoài của tư nhân (của doanh nghiệp) Trên cơ

sở đó, mỗi nước có thể đưa ra những h́nh thức tổ chức quản lư phù hợp và có hiệu quả đối với từng loại h́nh vay nợ

2.1.1 Nợ nước ngoài của Chính phủ

Vay nước ngoài của Chính phủ là các khoản vay do Chính phủ vay và cam kết thực hiện nghĩa vụ với nước ngoài hoặc các khoản vay do Chính phủ uỷ quyền cho các doanh nghiệp vay, được Bộ Tài Chính (hoặc ngân hàng) bảo lănh

Vay nước ngoài của Chính phủ bao gồm các khoản vay ưu đăi hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay thương mại hoặc tín dụng xuất khẩu và vay từ thị trường vốn quốc tế thông qua việc phát hành trái phiếu dưới danh nghĩa Nhà nước hoặc Chính phủ (kể cả trái phiếu chuyển đổi nợ) ra nước ngoài Như vậy Chính phủ có thể vay nợ nước ngoài từ các tổ chức tài chính Quốc tế, từ các Chính phủ, các Ngân hàng Quốc tế và của các tổ chức cá nhân nước ngoài

Một quốc gia có khoản nợ của chính phủ quá lớn, tồn đọng lâu dài th́ sẽ không có cơ hội vươn ra thương trường quốc tế để thu hót vốn đầu tư hay rất khó có những hiệp định hoăn giảm nợ Chính v́ vậy việc hoạch định chính sách quản lư vay và trả nợ nước ngoài là một trong những chiến lược quan trọng đang được chính phủ đặc biệt quan tâm, để nợ nước ngoài không là gánh nặng trầm trọng cho quốc gia

2.1.2 Nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Vay nước ngoài của các doanh nghiệp là các khoản vay do doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật hiện hành của nước sở tại trực tiếp

kư vay với bên cho vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự chịu trách nhiệm trả nợ, hoặc vay thông qua phát hành trái phiếu ra nước ngoài

Khoản vay nước ngoài của các doanh nghiệp có thể bao gồm việc vay dưới các h́nh thức như vay tài chính (bằng tiền), nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ trả chậm theo các phương thức trả chậm được phép, thuê tài chính nước ngoài, phát hành trái phiếu ra nước ngoài và các loại h́nh vay nước ngoài khỏc Đơy có thể

là những khoản vay có bảo lănh của Chính phủ, hoặc có bảo lănh của các Ngân hàng, hoặc vay không có bảo lănh hay đảm bảo

Việc quản lư, kiểm soát các khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp là phức tạp và khó khăn, đ ̣i hỏi phải có những thông tin chi tiết và tổng hợp, chính xác và kịp thời Điều này phụ thuộc nhiều vào hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lư c ̣ng như tính trung thực, đáng tin cậy của từng doanh nghiệp vay vốn nước ngoài

2.2.   Phân loại theo nguồn vốn vay

Trang 4

Nợ nước ngoài có thể được vay từ nhiều chủ nợ khác nhau như các Tổ chức tài chính quốc tế, các Chính phủ và Ngân hàng nước ngoài, các tổ chức và

cá nhân nước ngoài

2.2.1 Vay của các tổ chức tài chính quốc tế

Các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB), Chương tŕnh phát triển liên hợp quốc (UNDP), Quỹ xuất khẩu dầu lửa (OPEC) cho các nước vay vốn với những quy định riêng về h́nh thức vay, trả nợ nhằm thực hiện các mục đích khác nhau

       a/ Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)

IMF là một tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế đóng một vai tṛ quan trọng trong thị trường tài chính quốc tế Mục đích trực tiếp của IMF không phải là phát triển mà là khuyến khích hợp tác tiền tệ quốc tế, tạo điều kiện phát triển cân đối mậu dịch quốc tế, tăng cường sự ổn định tỷ giá, hạn chế sự cạnh tranh tỷ giá giữa các đồng tiền có tác dụng xấu đến việc giải quyết cán cân thanh toán và đến sự thịnh vượng của các quốc gia, cho vay để bù đắp thiếu hụt cán cân thanh toán với những điều kiện an toàn và hợp lư

Trên thực tế, IMF c ̣n đóng vai tṛ ổn định hệ thống tài chính quốc tế thông qua việc ngăn chặn và khắc phục các cuộc khủng hoảng Bên cạnh công tác giám sát, trợ giúp kỹ thuật và cung cấp thông tin, việc IMF cho vay để hỗ trợ chương tŕnh điều chỉnh của các quốc gia cũng góp phần khắc phục hậu quả của các cuộc khủng hoảng

         b/ Ngân hàng Thế giới (WB)

WB bao gồm các Ngân hàng tái thiết và phát triển Quốc tế (IBRD), Hiệp hội phát triển Quốc tế (IDA), Tổ chức bảo lónh đầu tư đa phương (IMGA), công ty tài chính Quốc tế (IFC) và Trung tâm quốc tế giải quyết các vấn đề tranh chấp đầu

tư (ICSID) Các dự án cho vay của Ngân hàng Thế giới chủ yếu là nhằm mục đích phát triển, xây dựng cơ cấu, hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường khả năng cạnh tranh cho các nước

Trong năm 1998-1999, các khoản cho vay của WB là 29 tỷ USD (tăng 1,5

tỷ USD so với tài khoá trước) Dự kiến tài khoá 1999-2000 các khoản cho vay của

WB sẽ tăng lên 30,9 tỷ USD, trong đó Đông á và Đông Nam á là khu vực được vay nhiều nhất (khoảng 10,13 tỷ USD)

         c/ Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)

ADB được thành lập năm 1966, hoạt động nhằm mục đích trợ giúp cho nước phát triển của các nước trong khu vực Châu á, các nước Viễn Đông và các nước Nam Thái B́nh Dương Cỏc hỡnh thức cho vay của ADB chủ yếu là cung cấp tài chính, kỹ thuật tập trung vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng (năng lượng,

Trang 5

giao thông ) và ưu tiên cho vay hỗ trợ cho khu vực phát triển dịch vụ như Ngân hàng tài chính, giáo dục, cấp thoát nước, phát triển đô thị, Theo kế hoạch năm

2000, ADB sẽ thực hiện nhiều dự án hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam với tổng trị giá

là 9.569 triệu USD

Như vậy, cả mục đích của WB và ADB đều cho các nước đang phát triển vay để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động của họ, giỳp cỏc nước này thoát khỏi t́nh trạng nghèo nàn Đây là những khoản vay có thời hạn tương đối dài và lăi suất ưu đăi

2.2.2 Vay của Chính phủ các nước

Các Chính phủ nước ngoài cũng chính là những đối tượng cung cấp chủ yếu của các nguồn vốn vay với những điều kiện ưu đăi về thời hạn và lăi suất

c ̣ng như quy mô vốn vay Các nước này chủ yếu là các nước trong Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế OECO Đến nay các khoản vay của chính phủ đă đóng góp khoảng 50% trong tổng số hơn 1000 tỷ USD nợ của các nước đang phát triển Chiếm phần lớn trong số các khoản vay của Chính phủ nước ngoài là các khoản vay trong khuôn khổ ODA nhằm hỗ trợ các nước nghèo thực hiện những chương tŕnh phát triển và tăng phóc lợi của ḿnh Tuy nhiên đi kèm với tính ưu đăi thường là các ràng buộc tương đối khắt khe về chính trị, xă hội thậm chí cả về quân sự Do đó, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này luôn cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể để việc tiếp nhận viện trợ nếu không trở thành gánh nặng nợ nần lâu dài cho nền kinh tế

2.2.3 Vay của các tổ chức, cá nhân nước ngoài

Nguồn vốn vay này thường chiếm một tỷ trọng lớn trong nguồn vốn nước ngoài mặc dù bao giê vay của các tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng có những quy định về lăi suất cao hơn và thời gian thanh toán khắt khe hơn Tuy nhiên nó lại hầu như không gắn với các ràng buộc chính trị, xă hội Chủ nợ của nguồn vốn này thường là các ngân hàng và các thương nhân nước ngoài, họ cho các doanh nghiệp vay vốn Cũng có khi họ cho Chính phủ vay thêm để đầu tư hoặc

để góp vào xí nghiệp liên doanh Tuy nhiên các nguồn vốn chuyển giao từ tư nhân thông thường mang tính chất đầu cơ, không ổn định và nhằm tăng tối đa lợi nhuận ngắn hạn hơn là hỗ trợ các mục tiêu phát triển dài hạn

2.3 Phân loại theo thời hạn vay

Theo cách phân loại này, vay nước ngoài bao gồm vay ngắn hạn, vay trung hạn và dài hạn Thông thường người ta quy định :

- Vay ngắn hạn là các khoản vay dưới 1 năm

- Vay trung hạn là từ 1-5 năm

- Vay dài hạn là trên 5 năm

Trang 6

Nợ vay nước ngoài phần lớn là dài hạn Tóm lại, tùy theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà nợ nước ngoài cú cỏc đặc điểm và tính chất khác nhau

3 Nguyên nhân phát sinh nợ nước ngoài

3.1 Nguyên nhân phát sinh nợ nước ngoài

Hầu hết các nước đạt được những bước phát triển nhanh chóng và vượt bậc đều phải dùa vào nguồn vốn bên ngoài trong những giai đoạn đầu của quá tŕnh phát triển Trong giai đoạn này thường tồn tại khoảng cách lớn giữa tiết kiệm và đầu tư Nguyên nhân cơ bản là thu nhập thấp dẫn đến khả năng tiờu dùng cũng như tích lũy đều yếu kém Trong khi đó, để dịch chuyển lên những nấc thang phát triển phía trên thỡ cỏc nước cần phải có một khoản vốn lớn để đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng, xây dựng các công tŕnh nền tảng cho sự phát triển kinh tế lâu dài

Thêm vào đó nền công nghiệp của đất nước chưa phát triển nên xuất khẩu yếu, trong khi nhu cầu phát triển đ ̣i hỏi phải nhập hàng cao cấp gồm máy móc, kỹ thuật, công nghệ đắt tiền Điều này làm cho cán cân thương mại và cán cân thanh toán hầu như luôn nằm trong t́nh trạng thâm hụt nặng nề Đơy chớnh là một trong những thách thức khó khăn trong chặng đường phát triển đầu tiên của một nước

mà để vượt qua điều đó, ngoài việc cần có các chính sách kinh tế vĩ mô trong nước hợp lư th́ một giải pháp chiến lược quan trọng chính là huy động vốn từ bên ngoài, trong đó có vay nợ nước ngoài Tất nhiên tương ứng với đi vay nước ngoài phải là cho vay nước ngoài Người cho vay ở các nước giàu có luôn sẵn sàng cho vay bởi v́ dự án đầu tư tại các nước đang phát triển thiếu vốn thường đem lại tỷ suất lợi tức cao hơn so với dự án tại các nước dồi dào vốn Việc đi vay và cho vay nước ngoài sẽ cho phép vốn được sử dụng tại nơi sản sinh ra nhiều lợi nhuận nhất

Ngày nay, trong nền kinh tế quốc tế hiện đại khó có thể t́m thấy một quốc gia nào chỉ cho vay mà không đi vay, tức là đóng vai tṛ là chủ nợ thuần túy như

Mỹ thời kỳ sau đại chiến Thế giới thứ II Vay nợ nước ngoài trở thành vấn đề tất yếu của các quốc gia Ngay như nước Nhật và Mỹ - hai cường quốc kinh tế Thế giới cũng đang có số nợ nước ngoài lớn Đó là do sự phát triển của xu hướng tự

do hóa và toàn cầu hóa, của các yêu cầu chuyển đổi và hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường, yêu cầu đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm

và của nền kinh tế vừa đ ̣i hỏi những nhu cầu to lớn về vốn đầu tư mà nếu chỉ riêng nguồn vốn trong nước thỡ khụng đáp ứng đủ, vừa đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sù di chuyển vốn dễ dàng cỏc dũng vốn đầu tư quốc tế trên toàn cầu Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của các thị trường vốn ở các nước và các khu vực, sự gia tăng tỷ lệ tích lũy và tiết kiệm ở các nước đang phát triển, sự

mở rộng quy mô các quỹ hưu trí và bảo hiểm ở các nước giàu có, cũng như sự phát triển nhanh và thuận lợi của hệ thống các dịch vụ tài chính toàn cầu đă cho phép thực hiện các thao tác dịch vụ huy động và cho vay khối lượng vốn lớn

Trang 7

trong thời gian ngắn nhất, với chi phí thấp nhất không bị giới hạn về không gian.

Chính điều này khiến cho lượng cung vốn cho vay nước ngoài có xu hướng gia tăng Và kết quả là " nền kinh tế nợ " trở thành đặc trưng cho mọi quốc gia trong quá tŕnh phát triển

Từ những vấn đề tŕnh bày khái quát trên đây, chúng ta có thể đi đến một kết luận chung rằng : Mét quốc gia đi vay nước ngoài là do khả năng tự tài trợ hoặc khả năng vay trong nước không đủ hoặc vượt quá số tiết kiệm có sẵn trong dân chúng Một cách cụ thể hơn, nợ nước ngoài phát sinh là do những nhu cầu chủ yếu sau :

3.1.1 Vay nước ngoài để đảm bảo tiêu dùng

Lư do cơ bản của việc một quốc gia đi vay nước ngoài là điều ḥa tiờu dùng qua thời gian Từ nguồn thu nhập của bản thân quốc gia, dân cư của nước đó phải lùa chọn giữa tiêu dùng trong nước và đầu tư trong nước (hoặc đầu tư nước ngoài) Nếu nước đó đang ở mức độ phát triển tương đối thấp th́ mức tiêu dùng có

xu hướng nhỏ để tập trung cho đầu tư phát triển V́ thế vay bên ngoài sẽ cho phép một quốc gia đầu tư trong thời điểm hiện tại nhiều hơn và giảm bớt sự hy sinh cho tiêu dùng hiện tại

3.1.2 Vay để tham gia vào thương mại quốc tế với chi phí hợp lư

Các nước có thể sử dụng tín dụng thương mại ngắn hạn để mua hàng khi không có điều kiện đổi hàng hoặc thanh toán bằng tiền Thực ra loại này chỉ nhằm giải quyết t́nh trạng thiếu ngoại tệ tạm thời chứ không nên coi là nguồn để thanh toán toàn bộ chi phí nhập khẩu hoặc để sản xuất và vận chuyển hàng hoá xuất khẩu Có nhiều nước hoặc công ty đôi lúc muốn sử dụng các khoản vay thương mại ngắn hạn để tài trợ cho những dự án dài hạn Điều này hết sức nguy hiểm

Bài học vừa qua cho thấy ng ̣i nổ của khủng hoảng tài chính Châu á bắt nguồn từ các nước có hướng đầu tư sai lầm như trên Do vậy, để tránh t́nh trạng này, các nhà quản lư phải theo dơi chặt chẽ các khoản nợ thương mại bao gồm cả nhập khẩu theo các L/C trả chậm và duy tŕ chúng ở mức độ phù hợp với kim ngạch ngoại thương, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu

3.1.3 Vay nước ngoài để đầu tư

Giải quyết nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển đất nước luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu đối với mỗi quốc gia - đặc biệt đối với những nước đang phát triển Trong một thế giới biến đổi nhanh như hiện nay, nếu chỉ trông chờ vào tích lũy nội bộ, bằng phương thức " thắt lưng buộc bụng " thỡ sẽ khó tránh khỏi bị tụt hậu phát triển V́ thế huy động và sử dụng nguồn lực từ bên ngoài - từ các nước phát triển cao hơn để nâng cao năng lực đầu tư cho nền kinh tế là một giải pháp chiến lược quan trọng của các nước nói chung và các nước đang phát triển nói riêng

Trang 8

Xuất phát từ những nguyên nhân phát sinh trên đây, có thể thấy nợ nước ngoài có một vai tṛ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nếu được sử dụng có hiệu quả

3.2. Vai tṛ của nợ nước ngoài đối với nền kinh tế

3.2.1.   Nợ nước ngoài và sự tăng trưởng kinh tế

Trong quá tŕnh phát triển của hầu hết các quốc gia, không ai có thể phủ định được

sự cần thiết tất yếu của nguồn vốn nước ngoài Đây là nguồn tài chính quan trọng

để chi trả các khoản đầu tư phát triển Thêm vào đó, đầu tư bằng nguồn nước ngoài nếu có sự lùa chọn đúng đắn th́ sẽ kéo theo sự chuyển giao công nghệ và góp phần vào mức tăng trưởng GDP, hướng tới sự phát triển bền vững Thông thường trong giai đoạn khởi động nền kinh tế, các nước đang phát triển có tỷ lệ tích luỹ nội bộ chỉ trên dưới 10 % GDP trong khi muốn tăng trưởng nhanh th́ tỷ lệ đầu tư Ưt nhất cũng phải là 20% so với GDP như vậy khoản thiếu hụt này phải đưúc bổ sung bằng các nguồn vốn nước ngoài (nếu không dùng biện pháp phát hành để bù đắp thiếu hụt như một biện pháp ngắn hạn với không Ưt hậu quả)

Nh́n chung nếu tỷ lệ tích luỹ nội bộ cao, nguồn nước ngoài chỉ mạng tính chất bổ sung th́ nền kinh tế chẳng những phát triển nhanh mà c ̣n đảm bảo phát triển ở trong thế ổn định

Tuy nhiên, khi coi nguồn nước ngoài là một thứ bổ sung từ bên ngoài cho nền kinh tế trong nước thỡ chỳng phải được hệ thống này chuyển hoá thành sức mạnh bên trong của nền kinh tế Xử lư tốt các nguồn nước ngoài sẽ đi đến tăng trưởng nhanh nền kinh tế, ngược lại nếu không được sử dụng tốt thỡ cỏc khoản này sẽ trở thành gánh nặng cho đất nước và các thế hệ mai sau

3.2.2.   Nợ nước ngoài và sự phát triển kinh tế đối ngoại

Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một ṃi nhọn lớn mà mỗi quốc gia cần phải khai thác để mở rộng quan hệ hợp tác với các nước và các tổ chức quốc

tế nhằm thu hút cỏc nguồn vốn đầu tư và sự trợ giúp kỹ thuật từ bên ngoài Để

có thể thực hiện được theo phương châm đó, mỗi nước cần xây dựng một ḷng tin, một chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế Cần phải giải quyết vấn đề

nợ tồn đọng, đó là vấn đề phải được coi như một nhiệm vụ trọng yếu trong chính sách phát triển kinh tế và chính sách đối ngoại nói chung của đất nước

Nếu một nước nợ nước ngoài nhiều nhưng được xử lư tốt th́ vấn đề giải quyết nợ đến hạn trở nên đơn giản Các khoản nợ nần được thanh toán đầy đủ cho chủ nợ sẽ gây được niềm tin và uy tín trên thương trường quốc tế, tạo điều kiện cho việc thu hút thờm các nguồn vốn bên ngoài, tạo đà cho các bước phát triển tiếp theo Ngược lại, nếu việc vay, trả nợ không được xử lư tốt, gánh nặng

nợ nần chồng chất mà không có khả năng trả nợ đến hạn th́ nước đi vay sẽ phải chịu sự trừng phạt của các chủ nợ, thường là phải chịu sự gián đoạn trong quan

Trang 9

hệ thương mại với các nước Điều này sẽ là sự bất lợi lớn cho quá tŕnh phát triển kinh tế - xă hội của quốc gia khi mà hội nhập hợp tác và phát triển đang là xu thế chung của nền kinh tế toàn cầu Đơy chớnh là một xu hướng khách quan, một sự lùa chọn cho phép các nước nghèo thoát khỏi lạc hậu để gia nhập vào quỹ đạo phát triển hiện đại Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó

II. QUẢN LƯ VAY VÀ TRẢ NỢ NƯỚC NGOÀI

1 Tầm quan trọng của quản lư vay và trả nợ nước ngoài

Quản lư vay và trả nợ nước ngoài là việc xem xét, giám sát và thống kê để

có những biện pháp điều chỉnh kịp thời hoạt động vay và trả nợ nước ngoài dựa trờn cỏc yếu tố kinh tế, xă hội và tuân theo các quy định đă được ban hành, nhằm đạt các mục tiêu cơ bản là:

- Các khoản vay phải đảm bảo được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả

và đảm bảo khả năng trả nợ

- Hướng việc sử dụng vốn vay vào các chương tŕnh kinh tế trọng điểm, chú ư xây dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất hàng xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu

- Phù hợp với các mục tiêu quản lư ngoại hối trong từng giai đoạn về ổn định tỷ giá ngoại hối, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng trưởng xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế

- Đảm bảo việc đàm phán các khoản vay đạt được những điều khoản thuận lợi cho bên vay trong vấn đề trả nợ

Nếu không có sự quản lư đúng đắn, nợ nước ngoài sẽ gây nên những hậu quả khôn lường Đó là sự suy giảm thu nhập quốc dân để trả nợ như các nước ở Nam Sahara Châu Phi đang phải dùng 20% GNP để trả nợ (bằng 4 lần việc chi tiêu cho kinh tế) Đó là t́nh trạng nợ quay ṿng do các nước mắc nhiều nợ vay thờm cỏc khoản vay mới để trả nợ cũ Thông thường họ cũng sẽ không trả hết

nợ và nợ mới chồng lên nợ c ̣ Những vấn đề này có thể làm gia tăng thêm sự suy thoái về kinh tế, thậm chí dẫn đến khủng hoảng nợ Khủng hoảng nợ xảy ra vào đầu những năm 90 trong các nước Mỹ La Tinh đă làm cho nền kinh tế các nước này thụt lùi 10 năm Và cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam á cũng cùng nguyên nhân: nguồn vay nợ lớn nhưng hiệu quả sử dụng không cao làm tăng gánh nặng nợ nần

Mặt khác, nếu không giải quyết được nợ, các quốc gia lâm nợ phải gơ cửa IMF để vay với những điều kiện khắt khe theo chương tŕnh điều chỉnh cơ cấu (SAP) Bằng cách này IMF sẽ can thiệp vào Quản lư kinh tế và chủ quyền các nước mắc nợ bị xâm phạm

Trang 10

Mọi viện trợ hay giúp đỡ đều có mục đích hoặc v́ lợi Ưch thương mại, kinh tế hoặc v́ lợi Ưch chính trị Khái niệm viện trợ vô tư là cực kỳ hiếm thấy

Các nước viện trợ nói chung đều muốn làm lợi cho ḿnh Ví dụ như Bỉ, Đức, Đan Mạch yêu cầu 50% viện trợ phải mua hàng hoá của ḿnh

V́ vậy dù vay nước ngoài là điều kiện cần thiết cho không riờng gỡ cỏc nước nghèo mà cả các nước giàu đi vay, nhưng phải có sự quản lư đúng đắn để không vay tuỳ tiện, tràn lan Đó là nguyên tắc bắt buộc đối với người đi vay, dù nền kinh tế phát triển theo cơ chế nào thỡ đú cũng là bước đi tất yếu để tồn tại

Vay ở nước nào, vay bao nhiêu, cần phải tính toán cân đối và có sự quản lư nếu không sẽ tạo ra mặt trái của đồng tiền không lường trước được và để lại hậu quả cho đời sau

2 Kinh nghiệm quản lư nợ nước ngoài của các quốc gia

2.1 Khủng hoảng nợ nước ngoài do thất bại trong quản lư

Việc sử dụng nợ không có hiệu quả, cơ cấu phân bổ mất hợp lư, sử dụng không đúng mục đích kèm theo sự thất bại trong một số chính sách kinh tế vĩ

mô khác là những nguyên nhân chủ yếu làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài

Cuộc khủng hoảng Mờxicụ và Đông Nam á vừa qua là một ví dụ

* Khủng hoảng Mờxicụ

Các vấn đề về tài chính mà Mờxicụ năm 1994-1995 đă gặp phải gây nhiều ngạc nhiờn vỡ nền kinh tế này trước đó là h́nh mẫu cho nhiều nước học tập Sự chyển đổi cơ cấu kinh tế của Mờxicụ 12 năm trước đă làm tăng nhanh ḍng vốn đầu tư vào Mờxicụ Vào thời điểm đó đầu tư vào đây, nhà đầu tư t́m kiếm được những khoản lợi lớn hơn là đầu tư vào các nước công nghiệp phát triển Ḍng vốn bờn ngoàỡ đổ vào khu vực này với khối lượng khổng lồ bởi họ đánh giá thấp mức độ rủi ro và chính v́ vậy mà Mờxi cụ đó thu được nguồn lợi lớn Nhưng ḍng vốn làm tăng nhu cầu giả tạo, tăng giá tài sản cố định và trái phiếu, tăng tài sản Ngân hàng và các khoản nợ cũng như làm tăng thâm hụt tài khoản văng lai

Cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ chính sách quản lư kinh tế với lượng vốn huy động cao Các nhà đầu tư bất ngờ thay đổi hướng đầu tư của họ dẫn đến t́nh trạng hỗn loạn của cỏc dũng vốn ra, mặt khác ḍng vốn vào ngưng đột ngột gây

ra khủng hoảng tài chính trong nước Cuộc khủng hoảng đó đă được giải quyết nhưng không phải bằng việc thay đổi các chính sách kinh tế trong nước, mà vẫn nhờ vào vay nợ nước ngoài: IMF cho vay ngắn hạn 17,8 tỷ USD trong ṿng 18 tháng; ngày 1/2/95, Mỹ cho vay 20 tỷ USD

Cuộc khủng hoảng Mờxicụ đă cho một bài học thực tế: một nước chỉ dùa vào vay nợ nước ngoài để phát triển kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến một ṿng luẩn quẩn nguy hiểm

Ngày đăng: 19/10/2022, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN