MỤC LỤC DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 I Những vấn đề chung về thuế GTGT và hoàn thuế GTGT 1 1 Những vấn đề chung về thuế giá trị gia tăng 1 2 Những vấn đề chung về hoàn thuế GTGT 2 III Nguyên nhân của hiện tượng gian lận trong hoàn thuế GTGT và các biện pháp xử lý 6 1 Nguyên nhân của hiện tượng gian lận trong hoàn thuế GTGT 6 2 Các biện pháp xử lý 7 IV Kết quả xử lý gian lận trong hoàn thuế GTGT 3 năm trở lại đây 9 1 Trong hoạt động rà soát, kiểm tra hồ sơ thuế, thanh tra, kiểm tra s.
Trang 1MỤC LỤC
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I Những vấn đề chung về thuế GTGT và hoàn thuế GTGT 1
1 Những vấn đề chung về thuế giá trị gia tăng 1
2 Những vấn đề chung về hoàn thuế GTGT 2
III Nguyên nhân của hiện tượng gian lận trong hoàn thuế GTGT và các biện pháp xử lý 6
1 Nguyên nhân của hiện tượng gian lận trong hoàn thuế GTGT 6
2 Các biện pháp xử lý 7
IV Kết quả xử lý gian lận trong hoàn thuế GTGT 3 năm trở lại đây 9
1 Trong hoạt động rà soát, kiểm tra hồ sơ thuế, thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế 9
2 Kết quả xử lý hành vi vi phạm thuế, gian lận hoàn thuế GTGT 10
KẾT LUẬN 10
PHỤ LỤC 11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 2DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
1 GTGT: Giá trị gia tăng
2 NSNN: Ngân sách nhà nước
Trang 3MỞ ĐẦU
Thuế là nguồn thu quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước Nằm trong hệ thống thuế, thuế GTGT cũng góp phần không nhỏ vào nguồn thu NSNN Đồng nghĩa với đó là các chủ thể nộp thuế sẽ phải trích ra một phần lợi nhuận không nhỏ để nộp thuế GTGT cho nhà nước Do mâu thuẫn về lợi ích vốn có giữa nhà nước và các chủ thể nộp thuế nên hiện tượng gian lận để giảm số thuế phải nộp vào NSNN diễn ra rất nhiều trên thực tế đặc biệt là trong lĩnh vực hoàn thuế GTGT Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, sinh viên xin được chọn
Đề 8: “Trên cơ sở các quy định về các trường hợp hoàn thuế GTGT theo pháp luật thuế GTGT hiện hành ở Việt Nam, lý giải tại sao có hiện tượng gian lận trong hoàn thuế GTGT và các biện pháp xử lý, kết quả xử lý gian lận trong hoàn thuế GTGT 3 năm trở lại đây.” làm đề tài
nghiên cứu của mình Do còn nhiều hạn chế trong quá trình nhận thức nên bài làm không tránh khỏi thiếu sót, sinh viên rất mong nhận được nhận xét, đánh giá từ Thầy, Cô để từng bước hoàn thiện kiến thức Sinh viên xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I Những vấn đề chung về thuế GTGT và hoàn thuế GTGT
1 Những vấn đề chung về thuế giá trị gia tăng
1.1 Khái niệm thuế GTGT
Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế GTGT 2008 (sửa đổi, bổ sung 2016) (sau đây gọi chung
là luật thuế GTGT ), thuế GTGT được hiểu là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Như vậy, về bản chất
thuế GTGT là một loại thuế gián thu Dựa trên định nghĩa về thuế GTGT như trên có thể rút ra một số đặc điểm sau của thuế GTGT:
Thứ nhất, thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất rộng Mọi chủ thể tồn tại trong xã hội, dù
là tổ chức hay cá nhân, người ngheo hay người có thu nhập cao đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho nền kinh tế xã hội Chính đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng tới sự tác động của pháp luật thuế GTGT đối với đời sống kinh tế,
xã hội
Thứ hai, thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ Điều này
giúp cho số thuế GTGT áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng
Thứ ba, nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số thuế GTGT phải nộp
không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa ở trong nước, khâu nhập khẩu và lưu thông hàng hóa nhập khẩu nhưng cơ sở xác định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với khâu trước nên nếu coi giá thanh toán tính đến khi người tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa dịch vụ đã xác định trước và không thay đổi, các phần giá trị hàng hóa dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế thì tổng số thuế GTGT phải nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu
1.2 Đối tượng chịu thuế
Điều 3 Luật thuế GTGT quy định đối tượng chịu thuế là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối
Trang 4tượng quy định tại Điều 5 của Luật này Các đối tượng quy định tại Điều 5 là những đối tượng không chịu thuế bao gồm 26 loại hàng hóa, dịch vụ [Phụ lục 1]
1.3 Chủ thể nộp thuế
Điều 4 Luật thuế GTGT quy định người nộp thuế là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT (cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (người nhập khẩu)
2 Những vấn đề chung về hoàn thuế GTGT
2.1 Định nghĩa hoàn thuế GTGT
Hoàn thuế GTGT là việc nhà nước trả lại số thuế GTGT mà đối tượng nộp thuế đã nộp cho
Ngân sách nhà nước trong một số trường hợp nhất định Cụ thể hơn là việc Ngân sách nhà nước trả lại cho cơ sở kinh doanh hoặc tổ chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ số tiền thuế đầu vào
đã trả khi mua hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh còn chưa được khấu trừ trong kỳ tính thuế hoặc hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp tiêu dùng của tổ chức, cá nhân đó không thuộc diện chịu thuế
2.2 Ý nghĩa của hoàn thuế GTGT
Xuất phát từ bản chất của Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu, người tiêu dùng cuối cùng là người phải chịu thuế, do vậy việc hoàn thuế giá trị gia tăng có ý nghĩa như sau :
Thứ nhất, việc hoàn thuế GTGT phát huy tính tự giác cao của các doanh nghiệp Doanh
nghiệp muốn được hoàn thuế GTGT thì phải thực hiện đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng từ; thể hiện rõ số thuế đầu vào, đầu ra để cơ quan thuế làm căn cứ xét hoàn thuế Góp phần thực hiện các chính sách xã hội , thực hiện các thông lệ quốc tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế và tranh thủ
sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế để giúp đỡ những đối tượng khó khăn
Thứ hai, hoàn thuế GTGT là việc nhà nước trả lại cho người thuế mà người nộp thuế đã ứng
ra trả trong giá mua hàng hóa, dịch vụ nhưng chưa thu lại được hoặc không thu lại được ở khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ từ đó tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn về vốn giúp doanh nghiệp chủ động trong phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường
Thứ ba, góp phần khuyến khích xuất khẩu và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hóa dịch
vụ do khi hàng hoá xuất khẩu được hưởng thuế suất thuế GTGT là 0% nên sẽ được Nhà nước hoàn toàn bộ số thuế GTGT đầu vào hoặc giảm số thuế phải nộp (nếu có) Điều này giúp doanh nghiệp Việt Nam có điều kiện cạnh tranh về giá cả với các hàng hoá trên thị trường quốc tế
Từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, tạo công ăn việc làm, tăng thu ngoại
tệ và cân bằng cán cân thanh toán , giảm nhập siêu
Thứ tư, việc hoàn thuế GTGT thúc đẩy việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam,
giải quyết khó khăn về vốn, kinh nghiệm, công nghệ… góp phần giúp nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng
Thứ năm, thể hiện sự công khai, minh bạch giữa quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế với
Nhà nước
2.3 Các trường hợp hoàn thuế theo quy định của pháp luật thuế GTGT hiện hành
Các trường hợp hoàn thuế GTGT được quy định cụ thể tại Điều 13 Luật thuế GTGT, thông
tư 219/2013/TT- BTC, thông tư 130/2016/TT-BTC, thông tư 25/2018/TT-BTC, bao gồm những trường hợp sau:
Trường hợp 1: Cơ sở kinh doanh có số thuế GTGT chưa được khấu trừ hết phát sinh trước
kỳ tính thuế tháng 7/2016 (đối với trường hợp kê khai theo tháng) hoặc trước kỳ tính thuế quý 3/2016 (đối với trường hợp kê khai theo quý) đủ điều kiện hoàn thuế GTGT theo hướng dẫn
Trang 5tại Khoản 1 Điều 18 Thông tư số 219/2013/TT-BTC thì cơ quan thuế giải quyết hoàn thuế theo quy định của pháp luật
Cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư đã đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ, hoặc dự án tìm kiếm thăm dò và phát triển mỏ dầu khí đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động, nếu thời gian đầu tư từ 01 năm trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho đầu tư theo từng năm, trừ trường hợp hướng dẫn tại Điểm c Khoản 3 Điều 3 Thông tư 130/2016/TT-BTC [Phụ lục 2] Trường hợp, nếu số thuế giá trị gia tăng lũy kế của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu
tư từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng
Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư (trừ trường hợp hướng dẫn tại Điểm c Khoản 3 Điều 3 Thông tư 130/2016/TT-BTC và trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê mà không hình thành tài sản cố định) cùng tỉnh, thành phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai riêng đối với dự án đầu tư và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của
dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện Số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh Sau khi bù trừ nếu số thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư
Trường hợp 2: Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có
số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý Trường hợp cơ sở kinh doanh trong tháng/quý vừa có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu, vừa có hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ nội địa thì nếu số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu (bao gồm số thuế GTGT đầu vào hạch toán riêng được và số thuế GTGT đầu vào được phân bổ theo tỷ lệ nêu trên) sau khi bù trừ với số thuế GTGT phải nộp của hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ nội địa còn lại từ 300 triệu đồng trở lên thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu
Lưu ý: Trường hợp cơ sở kinh doanh có hàng hóa nhập khẩu để xuất khẩu, hàng hóa xuất khẩu không thực hiện việc xuất khẩu tại địa bàn hoạt động hải quan theo quy định của Luật Hải quan thì không được hoàn thuế
Trường hợp 3: Cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế được
hoàn thuế GTGT khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động có số thuế GTGT nộp thừa hoặc số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết
Trường hợp 4: Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu
hoặc giấy tờ nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp được hoàn thuế đối với hàng hóa mua tại Việt Nam mang theo người khi xuất cảnh
Trường hợp 5: Tổ chức ở Việt Nam sử dụng tiền viện trợ không hoàn lại, tiền viện trợ nhân
đạo của tổ chức, cá nhân nước ngoài để mua hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho chương trình, dự
án viện trợ không hoàn lại, viện trợ nhân đạo tại Việt Nam thì được hoàn số thuế GTGT đã trả cho hàng hóa, dịch vụ đó
Trường hợp 6: Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao theo quy định của
pháp luật về ưu đãi miễn trừ ngoại giao mua hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam để sử dụng được hoàn số thuế GTGT đã trả ghi trên hóa đơn GTGT hoặc trên chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán đã có thuế GTGT
Trường hợp 7: Cơ sở kinh doanh có quyết định hoàn thuế GTGT của cơ quan có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật và trường hợp hoàn thuế GTGT theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
Trang 62.4 Một số vấn đề về gian lận trong hoàn thuế GTGT
2.4.1 Định nghĩa gian lận trong hoàn thuế GTGT
Gian lận trong hoàn thuế GTGT là việc chủ thể nộp thuế thu lợi bất chính có được từ khâu hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyền Theo đó, chủ thể nộp thuế cố ý làm sai lệch các thông tin cần thiết để có thể trở thành đối tượng được hoàn thuế GTGT hoặc bằng những thủ đoạn khác để chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT
2.4.2 Các hành vi gian lận trong hoàn thuế GTGT
a Lợi dụng những sơ hở trong hồ sơ xin hoàn thuế GTGT
Điều kiện để những đối tượng thuộc quy định tại Khoản 1, 2 và 3 Điều 13 Luật Thuế GTGT được hoàn thuế là số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hoặc khấu trừ chưa hết Vì thế, một trong những cách thức gian lận trong hoàn thuế GTGT được thực hiện từ khâu kê khai khấu trừ thuế Phương pháp khấu trừ thuế được quy định như sau:
Số thuế GTGT phải nộp= Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Như vậy, bằng cách tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và giảm thuế GTGT đầu ra, khiến
số thuế GTGT phải nộp là số âm thì người nộp thuế có thể gian lận trong việc xin hoàn thuế GTGT Để thực hiện được điều này, một số cách thức chủ yếu mà các doanh nghiệp sử dụng
đó là:
(1) Sử dụng hóa đơn GTGT không đúng
Hóa đơn GTGT là bằng chứng cho việc mua bán hàng hóa, dịch vụ, là cơ sở để cơ quan thuế xác định số thuế GTGT mà tổ chức cá nhân phải nộp hoặc được hoàn lại (nếu có) Tuy nhiên thực tiễn áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong những năm qua cho thấy, nạn hóa đơn bất hợp pháp, hóa đơn giả ngày càng phổ biến, đặc biệt là các vi phạm pháp luật về hóa đơn xin hoàn thuế ngày càng gia tăng và dưới nhiều hình thức khác nhau cả ở khâu lập và sử dụng hóa đơn GTGT đầu vào và đầu ra
Đối với hóa đơn đầu vào: các doanh nghiệp thường lập hồ sơ mua hàng hóa của nhiều gia
đình, doanh nghiệp ở địa phương, mua bán lòng vòng qua nhiều khâu trung gian, móc nối với nhiều tổ chức để hợp pháp hóa hóa việc kê khai hóa đơn đầu vào, khiến cho việc điều tra, xác minh của cơ quan chức năng gặp khó khăn Mua hoặc xin hóa đơn hợp pháp của đơn vị hoặc dùng hóa đơn thật của mình nhưng thông báo mất hoặc đã hết hạn để hợp thức hóa các khoản chi phí và thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ không có thuế Tẩy xóa hóa đơn đã sử dụng để nâng giá hàng hóa, dịch vụ từ đó nâng thuế GTGT đầu vào
Đối với hóa đơn đầu ra: Giảm thuế GTGT đầu ra Các sai phạm về thuế GTGT đầu ra chủ
yếu tập trung vào việc giảm doanh thu và thuế GTGT đầu ra Thủ đoạn thường dùng là bán hàng nhưng không xuất hóa đơn Ghi giá trị hàng hóa trên hóa đơn thấp hơn giá trị thực tế đã thanh toán nhằm giảm thuế GTGT đầu ra Sử dụng hóa đơn không đúng quy định: không do
Bộ Tài chính phát hành, hóa đơn tự in nhưng chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền
(2) Cố ý làm sai lệch trong việc hạch toán sổ sách kê khai nộp thuế GTGT
Tại điểm b khoản 1, Điều 12 có quy định về nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào, theo đó: Nếu hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng đồng thời cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế và không chịu thuế thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa,
dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT Trên cơ sở đó,
cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu
trừ…
Trang 7Nhưng trên thực tế nhiều cơ sở kinh doanh vẫn cố tình hạch toán sai nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT Những hành vi gian lận dạng này có thể kể đến như: khấu trừ thuế đầu vào của hàng hóa dịch vụ không dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT; khấu trừ thuế GTGT của những hàng hóa, dịch vụ không phục vụ trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh hoặc kê khai; khấu trừ các hóa đơn dùng cho cá nhân, gia đình không mang tên, mã số thuế của công ty; kê khai trùng thuế đầu vào; kê khai hàng hóa xuất khẩu những thực tế lại bán trong nước để được hưởng mức thuế suất 0%
b Lợi dụng các đối tượng và trường hợp được hoàn thuế GTGT để gian lận
- Trường hợp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ
Khoản 1 Điều 8 Luật Thuế GTGT quy định: “Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu […]” Theo đó, cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hóa được hoàn lại số thuế GTGT đầu vào Nhà nước đặt ra quy định này nhằm khuyến khích hoạt động xuất khẩu nhưng lại vô tình “tạo điều kiện” để các cơ sở kinh doanh thực hiện những hành vi gian lận trong hoàn thuế Các cơ sở kinh doanh tìm cách lập hồ sơ hàng bán ra là “xuất khẩu” để có số thuế GTGT đầu vào Một số cách thức gian lận đó là: kê khai hàng hóa là hàng hóa xuất khẩu nhưng thực
tế không xuất khẩu mà quay trở lại để tiêu thụ nội địa, chuyển thủ tục tiêu thụ hàng hóa nội địa thành thủ thủ tục tiêu thụ hàng xuất khẩu để được hưởng thuế suất 0% nhằm chiếm đoạt toàn
bộ số thuế GTGT đầu vào đã nộp cho ngân sách nhà nước
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tuyến biên giới cửa khẩu đường bộ (trọng điểm là các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, An Giang, Kiên Giang) là những nơi hay
có dấu hiệu nhiều đối tượng xuất khống, quay vòng hàng hóa,… làm thủ tục hoàn thuế GTGT Các mặt hàng xuất khẩu để hoàn thuế GTGT chủ yếu là nông lâm thủy hải sản, vật liệu xây dựng Kim ngạch xuất nhập khẩu tại nhiều địa bàn biên giới Trung Nam Bộ cũng có dấu hiệu tăng đột biến, số doanh nghiệp đề nghị hoàn thuế GTGT tăng nhanh bất thường Trước tình hình đó, cơ quan thuế và cơ quan hải quan đã tiến hành kiểm tra thì phát hiện tại tỉnh An Giang
có đến 11 doanh nghiệp xuất khống, xuất thiếu hàng hóa so với khai báo trên tờ khai, tổng trị giá khoảng 1,4 tỉ đồng
- Trường hợp thành lập “doanh nghiệp ma”
Quy định về cơ chế hoàn thuế trong Luật thuế GTGT một mặt nhằm khuyến khích hoạt động xuất khẩu, mặt khác còn khuyến khích các thành phần kinh tế thành lập doanh nghiệp để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Chính vì vậy khoản 1 Điều 13 Luật Thuế GTGT hiện hành đã quy định về một trường hợp được hoàn thuế đó là các cơ sở kinh doanh đang trong giai đoạn đầu tư
Tuy nhiên, với sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp, việc loại bỏ những thủ tục rườm rà
đã giúp cho việc thành lập doanh nghiệp hiện nay trở nên đơn giản, gọn nhẹ hơn rất nhiều Nhưng chính sự đơn giản hóa trong thủ tục thành lập doanh nghiệp đã tạo cơ hội nhiều cá nhân thành lập ra những “doanh nghiệp ma” Những doanh nghiệp kiểu này được lập ra không nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh mà chỉ là “bình phong” để các cá nhân có thể hợp thức hóa việc mua hóa đơn, sau đó bán ra kiếm lời rồi giải thể hoặc chủ doanh nghiệp bỏ trốn Bên cạnh đó, các công ty còn xin thành lập các công ty con để rồi các hợp đồng kinh tế sẽ diễn ra lòng vòng giữa các công ty con với nhau, giữa công ty mẹ với công ty con hoặc lập những bộ hồ sơ, ký kết hợp đồng với những đối tác không có thực để hoàn chỉnh bộ hồ sơ, chiếm dụng tiền hoàn thuế của Nhà nước Những thủ đoạn gian lận nêu trên gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý, cũng như tổn thất tiền hoàn thuế của Nhà nước
- Lợi dụng chính sách hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa người nước ngoài mua tại Việt Nam
Trang 8Đây vốn là chính sách được đánh giá cao về nhiều mặt như thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ, phát triển du lịch Tuy nhiên, cũng chính vì mối lợi lớn từ chính sách này mà nhiều đối tượng đã tiến hành những thủ đoạn gian lận thuế gây tổn thất cho ngân sách nhà nước
Một trong số rất nhiều vụ việc liên quan đến việc lợi dụng chính sách này gian lận tiền hoàn thuế đó là vụ việc xảy ra vào tháng 8/2015 tại sân bay Tân Sơn Nhất Cụ thể, bà Lê Cát Nhi Nguyễn (Việt kiều Mỹ) sau khi làm thủ tục xuất cảnh để đến Hàn Quốc có mang theo một đồng
hồ Rolex trị giá hơn 830 triệu đồng và được hưởng tiền hoàn thuế là 64 triệu đồng Nhưng sau
đó, ngay tại sân bay, bà đã tuồn chiếc đồng hồ cho một đối tượng khác để mang trở lại nội địa hòng gian lận tiền hoàn thuế Hay vụ việc hành khách Nguyễn Đức Việt (quốc tịch Mỹ) làm thủ tục xuất cảnh đi Malaysia có xuất trình hóa đơn mua hàng tổng giá trị là 624 triệu đồng, và được nhận 48 triệu đồng tiền hoàn thuế Tuy nhiên, ngay trong ngày, người này lại nhập cảnh
về Việt Nam mang theo toàn bộ lô hàng đã được hoàn thuế
Xem xét các vụ việc, có thể thấy nhiều hành khách thường sử dụng hai thủ đoạn gian lận
tiền hoàn thuế GTGT: Một là, sau khi nhận được tiền hoàn thuế, khách không mang theo hàng hóa cùng xuất cảnh mà chuyển cho đối tượng khác đem ngược trở lại nội địa; Hai là, thực hiện
việc xuất cảnh nhiều lần trong tháng, trong năm và hầu hết mỗi lần xuất cảnh đều làm thủ tục hoàn thuế GTGT với số tiền được hoàn rất lớn
c Lợi dụng thủ tục hoàn thuế GTGT
Thủ tục hoàn thuế là bước không thể thiếu trong toàn bộ quy trình hoàn thuế Pháp luật hiện hành quy định và thực hiện chế độ quản lý hoàn thuế GTGT ngay từ giai đoạn đầu tiên phát sinh nghĩa vụ kê khai thuế đến khâu cuối cùng khi nộp thuế, bao gồm cả hoạt động hậu kiểm, quyết toán thuế GTGT của cơ sở kinh doanh Trong thời gian qua, cơ quan thu thuế và cơ quan
tư pháp đã có nhiều biện pháp để quản lý hoàn thuế GTGT, nhưng tình trạng quản lý còn lỏng lẻo Biểu hiện đó là: ngành thuế và hải quan không kiểm soát nổi hoạt động xuất khẩu, đặc biệt
là xuất khẩu qua đường biên giới đất liền; công tác hậu kiểm của ngành thuế còn yếu kém, chưa
có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc cung cấp thông tin liên quan đến hoàn thuế và một số cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm vô ý hay cố ý để lọt các hành vi gian lận thuế
III Nguyên nhân của hiện tượng gian lận trong hoàn thuế GTGT và các biện pháp xử lý
1 Nguyên nhân của hiện tượng gian lận trong hoàn thuế GTGT
Ở nước ta, hiện tượng gian lận trong hoàn thuế giá trị gia tăng ngày càng lâm vào tình cảnh rất đáng lo ngại Điển hình vào giữa năm 2020, Cục thuế tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định về việc thu hồi tiền hoàn thuế GTGT hơn 11,5 tỷ đồng đối với Công ty TNHH quốc tế Hoàng Nam Anh Đây chỉ là một trong rất nhiều vụ việc về gian lận hoàn thuế GTGT đã được cơ quan chức năng điều tra làm rõ Hiện tượng này xảy ra được cho là xuất phát từ một số nguyên nhân sau:
1.1 Xuất phát từ mối quan hệ giữa Nhà nước và chủ thể nộp thuế
Gian lận trong hoàn thuế GTGT xuất phát từ sự đối trọng, mâu thuẫn lợi ích giữa Nhà nước
và chủ thể nộp thuế Nhà nước thu thuế là để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình, của các chủ thể quản lí xã hội Với quyền lực của mình nhà nước đặt ra các loại thuế buộc mọi cá nhân
và tổ chức trong xã hội phải tuân theo Nhu cầu chi tiêu của nhà nước càng nhiều thì mức động viên của thuế càng cao Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường mục tiêu của các nhà kinh doanh
là tối đa hóa lợi nhuận, do vậy họ luôn tìm cách để làm tăng doanh thu, giảm chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, mà thuế cũng là một khoản chi mà họ phải nộp cho nhà nước nên sẽ làm giảm lợi nhuận mà họ thu được Do đó vì lợi ích của mình họ luôn tìm cách
Trang 9làm giảm số thuế đáng lẽ phải nộp Như vậy trong thuế luôn tồn tại mâu thuẫn giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người kinh doanh, vì lẽ đó tình trạng gian lận trong hoàn thuế GTGT diễn ra ngày một nhiều và nghiêm trọng hơn
1.2 Xuất phát từ phía cơ quan quản lý và thu thế
Trình độ quản lý còn yếu, bộ máy tổ chức kém hiệu quả, trình độ chuyên môn của một số cán bộ quản lý chưa cao, đến nay vẫn còn không ít cán bộ thuế dù có thâm niên lâu năm nhưng không nắm vững chính sách pháp luật thuế, cơ chế tài chính, kỹ năng thanh, kiểm tra…Bên cạnh đó, một số ngành nghề kinh doanh mới phát sinh như: Kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh đa cấp gây khó khăn cho cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra, do chưa am hiểu về lĩnh vực này Bên cạnh đó, hiện tượng quá tải trong các cơ quan quản lý và thu thuế cũng khiến cho hoạt động quản lý về hoàn thuế GTGT chưa được thực hiện tốt Ngoài ra, việc các cơ quan thuế chưa có sự phối hợp, liên kết chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức khác có liên quan trong công tác quản lý thuế cũng là một lỗ hổng tạo điều kiện cho các đối tượng gian lận trong hoàn thuế GTGT Công tác phối hợp giữa bộ phận kê khai và bộ phận thanh tra, kiểm tra chưa tốt, công tác rà soát đánh giá rủi ro để phát hiện các doanh nghiệp có rủi ro cao, doanh nghiệp “ma”, doanh nghiệp “đen” có thủ đoạn chiếm đoạt tiền thuế ở địa phương chưa đạt được hiệu quả
1.3 Xuất phát từ phía cơ quan lập pháp
Hệ thống cơ sở pháp lý như Luật, các Nghị định, Thông tư ban hành hướng dẫn còn bất cập, thiếu rõ ràng và chồng chéo Chẳng hạn, việc người nộp thuế thực hiện các giao dịch với cơ quan thuế thông qua môi trường điện tử ngày càng phổ biến (nộp hồ sơ khai thuế qua mạng) nhưng Luật quản lý thuế chưa quy định tính pháp lý đối với các giao dịch thông qua môi trường
này Bên cạnh đó Luật Thuế GTGT có quy định về giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ
nhưng giá trị tăng thêm là gì thì chưa có một quy định nào giải thích về điều này cả Vì thế khái niệm giá trị tăng thêm ở đây phải chăng chỉ mang tính hình thức Một số trả lời của Bộ Tài chính và ngành thuế về công tác hoàn thuế cũng chưa thống nhất Nhiều cơ chế chính sách hoàn thuế GTGT vẫn còn bất cập Năm 2019, qua công tác kiểm toán, Kiểm toán nhà nước đã kiến nghị xử lý tài chính 1.396 tỷ đồng, hủy bỏ 2 văn bản trái quy định, điều chỉnh bổ sung 5 văn bản, đồng thời, kiến nghị kiểm điểm rõ trách nhiệm của các đơn vị đối với từng sai phạm1
Do chính sách thuế thay đổi liên tục, diễn giải không rõ ràng, còn có những thiếu sót, sơ hở dẫn đến việc hiểu sai luật thuế, khiến cho công tác quản lý của cơ quan thuế gặp nhiều khó khăn từ đó tạo cơ hội cho chủ thể nộp thuế thực hiện hành vi gian lận Bên cạnh đó, chế tài dành cho những trường hợp gian lận về thuế nói chung và gian lận về hoàn thuế GTGT nói riêng còn chưa đủ sức răn đe, khiến cho nhiều doanh nghiệp vì lợi nhuận mà bất chấp làm sai
Cụ thể theo quy định tại Nghị định 129/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính về thuế
và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế thì mức phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến tăng số tiền thuế được hoàn chỉ là 20% số tiền thuế được hoàn Đối với biện pháp xử lý hình sự, hình phạt nặng nhất là phạt từ với khung hình phạt từ 2-7 năm, chưa đủ
2 Các biện pháp xử lý
2.1 Tăng cường quản lý công tác hoàn thuế
Thực hiện nghiêm túc Luật Thuế GTGT, tăng cường quản lý công tác hoàn thuế GTGT như
rà soát, phân loại các doanh nghiệp rủi ro cao về thuế, doanh nghiệp xuất khẩu nông lâm sản, hải sản, sử dụng hóa đơn ngoại tỉnh để tập trung kiểm tra, đẩy mạnh việc đối chiếu chéo hóa
https://baodauthau.vn/nhieu-lo-hong-trong-quan-ly-thue-va-hai-quan-post64854.html
Trang 10đơn của các doanh nghiệp nhằm ngăn chặn, phát hiện, xử lý kịp thời việ sử dụng hóa đơn bất hợp pháp Bên cạnh đó, cần phối hợp chặt chẽ với cấp ủy chính quyền các địa phương, các cơ quan trung ương, đặc biệt là cơ quan công an, cảnh sát điều tra, an ninh điều tra để điều tra, khởi tố đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi gian lận hoàn thuế
2.2 Nâng cao chất lượng kiểm tra, thanh tra thuế
Đẩy mạnh hơn nữa việc sử dụng ứng dụng tin học trong kiểm tra, thanh tra thuế Các ứng dụng phân tích rủi ro phục vụ lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế; ứng dụng hỗ trợ thanh tra, kiểm tra thuế; ứng dụng nhật kí thanh tra, kiểm tra điện tử; ứng dụng kiểm tra hồ sơ khai thuế GTGT bằng công nghệ thông tin đều được đánh giá rất hữu ích cho việc gia tăng chất lượng thanh tra, kiểm tra về thuế, trong đó đặc biệt là thuế GTGT Tuy nhiên hiện nay việc triển khai các ứng dụng này mới chỉ diễn ra với quy mô nhỏ, tại một số địa phương trọng điểm như Hà Nội Vì vậy, cần nhanh chóng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế để vừa đảm bảo tính chuẩn xác, vừa hỗ trợ cho các cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế
2.3 Tăng cường kiểm soát hoạt động hoàn thuế GTGT trong lĩnh vực xuất khẩu
Gian lận trong hoàn thuế GTGT một phần lớn được thực hiện trong hoạt động xuất khẩu Muốn kiểm soát tốt vấn đề này một mình cơ quan thuế không thể đảm đương mà cần phải có
sự hỗ trợ đắc lực từ cơ quan hải quan Vì hình thức gian lận này rất phức tạp, ngày càng tinh
vi và thường diễn ra với quy mô lớn nên cần sự góp sức từ các cơ quan chức năng Vì vậy:
Thứ nhất, cần tăng cường cho lực lượng hải quan, thuế nội địa kiểm soát chặt chẽ những
đối tượng nghi vấn, giám sát và làm thủ tục giám sát cả phương tiện, thanh toán tiền hàng xuất khẩu kết nối với cơ quan thuế nội địa để quản lý chặt chẽ thủ tục xuất khẩu được hoàn thuế
Thứ hai, thực hiện nghiêm chỉnh Luật Thương mại, Luật Hải quan và các Nghị định của
Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ về xuất nhập khẩu hàng hóa qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới đất liền Thực hiện hoàn thuế, kiểm tra thuế GTGT đối vơi các trường hợp xuất khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới đất liền theo đúng quy định, trên cơ sở đảm bảo đủ các điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT và hồ sơ hoàn thuế GTGT theo quy định
Thứ ba, các cơ quan hải quan và thuế cùng phối hợp trao đổi thông tin liên quan các doanh
nghiệp xuất khẩu có dấu hiệu rủi ro cao về thuế và hải quan và cập nhật trên hệ thống của cơ
sở thông tin, dữ liệu đối với hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới đất liền của toàn ngành Cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra, đối chiếu thông tin trên tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu với hợp đồng xuất khẩu; thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh đối với phương tiện (bao gồm cả phương tiện thô sơ) vận tải, vận chuyển hàng hóa xuất khẩu phù hợp với hợp đồng vận chuyển hàng hóa; xác nhận hàng hóa thực xuất đúng các quy định, quy trình thủ tục hải quan, quy định pháp luật, bảo đảm tính đầy đủ, tính thống nhất của các chỉ tiêu trên
tờ khai hải quan và hồ sơ hải quan theo quy định của pháp luật
Trong trường hợp hàng hóa thuộc nhóm hàng kinh doanh cần có những điều kiện theo quy định của pháp luật có liên quan thì phải căn cứ vào tính đặc thù và quy định của pháp luật có liên quan để yêu cầu người khai xuất trình tài liệu có liên quan để kiểm tra Phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát chặt chẽ hàng hóa xuất khẩu, đảm bảo hàng hóa xuất khẩu phù hợp với hồ sơ hải quan hàng hóa xuất nhập khẩu
Thứ tư, thiết lập cơ chế giám sát và cập nhật hệ thống cơ sở thông tin, dữ liệu đối với hàng
hóa xuất khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới đất liền như: Danh mục mặt hàng, chủng loại, số lượng, trọng lượng, trị giá