Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Văn Cừ
2 TS Nguyễn Phương Lan
HÀ NỘI - NĂM 2021
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận án đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của Luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác./
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đức Thị Hòa
Trang 4Tự đáy lòng mình, em xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Văn Cừ và TS Nguyễn Phương Lan - những người đã tận tình, tâm huyết hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu, thông tin khoa học cần thiết cho em hoàn thành Luận án này
Em xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, Ban Giám hiệu cùng toàn thể các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các Thầy, Cô giáo của khoa Sau đại học và Khoa Pháp luật Dân sự đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình
Xin gửi lời cảm ơn nồng nhiệt tới gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, ủng hộ, động viên, chia sẻ thời gian, công việc để tôi duy trì nghị lực trong suốt quá trình thực hiện Luận án
Tuy nhiên, do giới hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu sót và hạn chế, kính mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp của các Thầy, Cô và bạn đọc để Luận án của tôi được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Đức Thị Hòa
Trang 5LỜI CẢM ƠN MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án 5
6 Những đóng góp mới của Luận án 5
7 Kết cấu của Luận án 6
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài của Luận án 7
1.1.1 Tài liệu trong nước 7
1.1.2 Tài liệu nước ngoài 15
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án 19
1.2.1 Về những vấn đề lý luận 19
1.2.2 Các quy định của pháp luật Việt Nam về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý qua các thời kỳ lịch sử 21
1.2.3 Về thực trạng kết hôn trái pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong xử lý việc kết hôn trái pháp luật 23
1.2.4 Về phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật trong xử lý việc kết hôn trái pháp luật 24
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của NCS đối với Luận án 24
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận 25
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu liên quan đến pháp luật Việt Nam hiện hành về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý 26
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu liên quan đến thực trạng kết hôn trái pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý 27
1.3.4 Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu liên quan đến giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
Trang 6XỬ LÝ 30
2.1 Lý luận về kết hôn trái pháp luật 30
2.1.1 Khái niệm kết hôn 30
2.1.2 Khái niệm điều kiện kết hôn 37
2.1.3 Khái niệm kết hôn trái pháp luật 39
2.1.4 Phân biệt kết hôn trái pháp luật với các trường hợp vi phạm pháp luật về kết hôn khác 41
2.1.5 Những ảnh hưởng tiêu cực của việc kết hôn trái pháp luật 43
2.2 Lý luận về biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật 46
2.2.1 Khái niệm biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật 46
2.2.2 Các biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật 49
2.2.3 Ý nghĩa của việc áp dụng những biện pháp xử lý đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật 52
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý 54
2.3.1 Những yếu tố về tâm lý, truyền thống, phong tục, tập quán và đạo đức xã hội 54
2.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội, sự phát triển của khoa học kỹ thuật 58
2.4 Khái quát pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật 60
2.4.1 Pháp luật Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 và pháp luật ở Miền Nam Việt Nam trước năm 1975 về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý 60
2.4.2 Pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi có Luật HN&GĐ năm 2014 về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý 71
2.5 Pháp luật một số quốc gia về kết hôn trái pháp luật và xử lý việc kết hôn trái pháp luật 75
2.5.1 Pháp luật Cộng hòa Pháp về kết hôn trái pháp luật và xử lý việc kết hôn trái pháp luật 75
2.5.2 Pháp luật Nhật Bản về kết hôn trái pháp luật và xử lý việc kết hôn trái pháp luật 79
2.5.3 Pháp luật Thái Lan về kết hôn trái pháp luật và xử lý việc kết hôn trái pháp luật 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 84
Trang 7TRÁI PHÁP LUẬT VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ VIỆC KẾT
HÔN TRÁI PHÁP LUẬT 85
3.1 Xác định các trường hợp kết hôn trái pháp luật 85
3.1.1 Kết hôn dưới tuổi luật định 85
3.1.2 Thiếu sự tự nguyện khi kết hôn 87
3.1.3 Kết hôn khi bị mất năng lực hành vi dân sự vào thời điểm kết hôn 93
3.1.4 Kết hôn khi vi phạm các trường hợp cấm kết hôn 94
3.1.5 Kết hôn giữa hai người cùng giới tính 99
3.2 Biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật 101
3.2.1 Huỷ việc kết hôn trái pháp luật 101
3.2.2 Xử lý hành chính đối với việc kết hôn trái pháp luật 123
3.2.3 Xử lý hình sự đối với việc kết hôn trái pháp luật 128
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 133
Chương 4: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ 134
4.1 Thực trạng kết hôn trái pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật 134
4.1.1 Thực trạng kết hôn trái pháp luật 134
4.1.2 Những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật 137
4.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật 161
4.2.1 Hoàn thiện pháp luật về HN&GĐ 161
4.2.2 Hoàn thiện pháp luật về các lĩnh vực khác liên quan đến kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật 168
4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý 170
4.3.1 Giải pháp về nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân 170
4.3.2 Giải pháp nâng cao năng lực pháp lý cho cán bộ Tư pháp hộ tịch 171
4.3.3 Các giải pháp khác 173
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 176
KẾT LUẬN 177
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 179
Trang 8BLDS Bộ luật Dân sự
Nghị định số 82/2020/NĐ-CP
Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã
Nghị định số 123/2015/NĐ-CP
Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nên nhân cách con người, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình
những chính sách, biện pháp bảo hộ HN&GĐ, tạo điều kiện để các công dân nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; đồng thời vận động nhân dân xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về HN&GĐ, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc Cùng với đó, mỗi cá nhân trong xã hội cũng đều phải có ý thức xây dựng gia đình Để có được gia đình hạnh phúc trọn vẹn, việc đầu tiên là phải thận trọng khi quyết định kết hôn Bởi kết hôn là một điểm mốc quan trọng trong cuộc đời của mỗi con người, là sự kiện pháp lý đầu tiên làm phát sinh quan
hệ hôn nhân giữa nam và nữ, là viên gạch đặt nền móng để xây dựng nên một gia đình
Chính vì thế, từ Luật HN&GĐ năm 1959 đến Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 hay gần đây nhất là Luật HN&GĐ năm 2014 đều quy định rất cụ thể về các điều kiện kết hôn Tuy nhiên, không phải bất kỳ cuộc hôn nhân nào trong xã hội cũng đều tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Vì những lý do chủ quan hoặc khách quan nào đó mà trong xã hội vẫn xuất hiện những trường hợp kết hôn trái pháp luật Những cuộc hôn nhân này không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền
và lợi ích của hai bên nam, nữ mà còn có nguy cơ làm đảo lộn trật tự gia đình, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của nòi giống và sự phát triển chung của toàn xã hội Do đó, cần phải có những biện pháp xử lý phù hợp với từng trường hợp cụ thể nhằm giữ gìn thuần phong mỹ tục, duy trì trật tự xã hội và đảm bảo mục đích của hôn nhân Vì vậy, cùng với việc quy định về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn, pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ cũng đều đã có những quy định về vấn đề xử
lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, hệ thống pháp luật của nước ta đã quy định khá đầy đủ về biện pháp xử lý đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật Chẳng hạn: Biện pháp xử lý về hình sự được quy định trong BLHS; Biện pháp xử lý về hành chính được quy định trong Luật Cán bộ
1
Trích Lời nói đầu Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 10công chức, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP; Biện pháp xử lý về dân sự được quy định trong Luật HN&GĐ và BLTTDS
Song thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy các quy định về biện pháp xử lý đối với những trường hợp kết hôn trái pháp luật vẫn chưa thực sự phát huy hết tác dụng và còn gặp nhiều vướng mắc, bất cập nhất định về quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, về cách thức giải quyết, về hậu quả pháp lý… Số lượng vụ việc kết hôn trái pháp luật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý từ trước đến nay vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ so với số lượng các đôi nam nữ kết hôn trái pháp luật xảy ra trên thực tế, đặc biệt là ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa và các vùng dân tộc ít người Nếu để các cặp kết hôn trái pháp luật vẫn duy trì quan hệ vợ chồng trên thực tế thì sẽ gây ra hậu quả xấu cho bản thân họ và cho xã hội Vì thế, cần thiết phải xác định rõ nguyên nhân dẫn đến việc kết hôn trái pháp luật và hậu quả của việc kết hôn trái pháp luật để
từ đó có những định hướng xử lý cụ thể đối với từng dạng kết hôn trái pháp luật Trên
cơ sở đó, đưa ra những quy định cụ thể về chủ thể có quyền yêu cầu và cơ quan có thẩm quyền xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật nhằm từng bước đẩy lùi nạn kết hôn trái pháp luật trong xã hội của chúng ta hiện nay
Vấn đề kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật cũng đã được nhiều nhà khoa học bàn luận đến với những hình thức đa dạng như: các giáo trình, sách tham khảo, một số đề tài khoa học, các luận án, luận văn, bài viết đăng trên các tạp chí khoa học và các báo cáo, hội thảo khoa học Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu ở trình độ nghiên cứu sinh luật học về vấn đề này Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện về kết hôn trái pháp luật và biện pháp
xử lý việc kết hôn trái pháp luật là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa lớn trong việc góp phần hoạch định các chính sách xã hội và hoàn thiện pháp luật, hạn chế phần nào rủi
ro cho các cuộc hôn nhân nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên kết
hôn trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Kết hôn trái pháp luật và
biện pháp xử lý” làm đề tài nghiên cứu sinh của mình Đây là một đề tài có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn vô cùng sâu sắc
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật; nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng pháp
Trang 11luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý để phát hiện những vướng mắc, bất cập, từ đó đề xuất các giải pháp hữu ích đóng góp vào quá trình hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu là:
+ Thứ nhất, phân tích, đánh giá tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu
trong và ngoài nước liên quan đến kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật để từ đó tìm ra cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu cần được tiếp tục làm rõ trong Luận án;
+ Thứ hai, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chuyên sâu về kết hôn trái pháp luật
và biện pháp xử lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật như: khái niệm, đặc điểm,
các hình thức và hậu quả pháp lý của việc kết hôn trái pháp luật
+ Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về kết hôn trái
pháp luật và biện pháp xử lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật để tìm ra những bất cập, hạn chế trong luật thực định;
+ Thứ tư, nghiên cứu thực tiễn thực hiện, áp dụng các qui định pháp luật về kết hôn trái pháp luật, các biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật qua các vụ việc thực tế tại các cơ quan có thẩm quyền Qua đó phát hiện, đánh giá những điểm vướng mắc, bất cập trong pháp luật thực định cũng như việc thực thi pháp luật để có cơ sở đề xuất kiến nghị
+ Thứ năm, nghiên cứu và phân tích các quy phạm pháp luật của một số quốc
gia trên thế giới điều chỉnh về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật để tham khảo có cơ sở khoa học kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này;
+ Thứ sáu, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam, có so sánh với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này
Trang 12* Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật dưới góc độ khoa học pháp lý, do đó phạm vi nghiên cứu của Luận án là:
- Các quy định có liên quan đến vấn đề kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, đặc biệt là Luật HN&GĐ năm 2014 và một số văn bản pháp luật có liên quan đến xử lý việc kết hôn trái pháp luật như BLDS, BLTTDS, BLHS, Luật XLVPHC và các văn bản hướng dẫn thi hành; có sự so sánh với các quy định về vấn đề này trong các văn bản pháp luật trước đây ở Việt Nam qua các thời kỳ và pháp luật của một số quốc gia
- Về thực tiễn áp dụng pháp luật: Luận án nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật từ khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực đến nay
- Luận án chỉ nghiên cứu kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật giữa công dân Việt Nam với nhau ở trong nước mà không nghiên cứu việc kết hôn trái pháp luật có yếu tố nước ngoài
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về các vấn đề HN&GĐ nói chung, về vấn đề kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật nói riêng
Để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: Phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống và logic học, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp chứng minh, phương pháp nghiên cứu xã hội học (quan sát, trao đổi, tiếp cận thông tin ) và phương pháp xã hội học pháp luật
Các phương pháp phân tích, hệ thống và logic học, tổng hợp và so sánh được sử dụng xuyên suốt trong Luận án nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như pháp luật hiện hành về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý
Các phương pháp chứng minh, xã hội học và xã hội học pháp luật được sử dụng
để tổng hợp, đánh giá các số liệu và vụ việc trong thực tiễn thi hành pháp luật có liên quan đến kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý
Trang 13Bằng việc trao đổi, tham vấn trực tiếp với các cá nhân, tổ chức có liên quan, đặc biệt với các nhà nghiên cứu pháp lý về HN&GĐ, NCS sẽ có điều kiện để nhận thức rõ hơn về vấn đề nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
Luận án là công trình khoa học đầu tiên tại Việt Nam ở trình độ Tiến sĩ nghiên cứu
về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý ở cả phương diện lý luận chuyên sâu và thực tiễn Do đó, kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ mang lại nhiều ý nghĩa, cụ thể là:
- Về mặt khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận án cung cấp những luận cứ làm
sáng tỏ cơ sở lý luận về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật dựa trên quy luật phát triển của xã hội Đồng thời, Luận án cũng phân tích một cách toàn diện pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật Kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần bổ sung và hoàn thiện những vấn
đề lý luận của khoa học pháp lý về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật
- Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận án có thể làm nguồn tài liệu
phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu luật học của các đơn vị đào tạo Đồng thời, có thể làm nguồn tài liệu tham khảo hữu ích để áp dụng trong thực tiễn nhằm hạn chế tối đa các trường hợp kết hôn trái pháp luật cũng như xử lý có hiệu quả những trường hợp kết hôn trái pháp luật Hơn nữa, có thể làm cơ sở để hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
6 Những đóng góp mới của Luận án
Luận án là công trình nghiên cứu nghiêm túc, có tính hệ thống, chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ về những vấn đề liên quan đến kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật Luận án có những đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý như sau:
- Xây dựng và hoàn thiện khái niệm kết hôn trái pháp luật, biện pháp xử lý kết
hôn trái pháp luật; làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý trong tình hình kinh tế - xã hội hiện nay
- Phân tích rõ các trường hợp kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý theo
pháp luật Việt Nam hiện hành, có so sánh với hệ thống pháp luật các thời kỳ trước về vấn đề này để làm rõ tính kế thừa và phát triển Đồng thời, Luận án cũng tìm hiểu, phân tích các quy phạm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới điều chỉnh về vấn
Trang 14đề này để tham khảo và rút kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam
- Đánh giá thực trạng kết hôn trái pháp luật và việc áp dụng các biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật đối với vấn đề này
- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và
nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu, danh mục tham khảo và kết luận, Luận án được kết cấu thành 04 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu Chương 2 Lý luận pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý Chương 3 Pháp luật Việt Nam hiện hành về kết hôn trái pháp luật và biện
pháp xử lý
Chương 4 Thực tiễn áp dụng pháp luật, giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu
quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố có liên quan đến
đề tài của Luận án
1.1.1 Tài liệu trong nước
* Luận án, luận văn
- Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ, Luận
án Tiến sĩ Luật học Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng và thực tiễn áp dụng Sự kiện kết hôn là căn cứ làm phát sinh quan hệ vợ chồng và chế độ tài sản của vợ chồng Vì vậy, trong Luận án này, tác giả có đề cập đến một vài nội dung nhất định thuộc phạm vi của chế định kết hôn, trong đó có vấn đề tài sản đối với một cuộc hôn nhân trái pháp luật Đây là tài liệu quý báu để NCS có thêm cơ sở đề xuất phương án giải quyết vấn đề tài sản của các bên khi xử lý việc kết hôn trái pháp luật
- Khuất Thị Thu Hạnh (2008), Chế định kết hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam năm
2000, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn chỉ tập
trung phân tích các quy định của pháp luật điều chỉnh việc kết hôn và thực tiễn áp dụng, trong đó có kết hôn trái pháp luật Dù chỉ là một nội dung nhỏ trong Luận văn nhưng đây cũng là nguồn tài liệu quý báu giúp NCS có thêm cơ sở để hoàn thành Luận án của mình
- Nguyễn Huyền Trang (2012), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn trái
pháp luật trong tình hình xã hội hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội Nội dung luận văn chủ yếu đề cập đến các vấn đề lý luận xung quanh quan niệm kết hôn trái pháp luật; những quy định về kết hôn trái pháp luật trong Luật HN&GĐ năm 2000 cũng như thực tiễn kết hôn trái pháp luật trong xã hội tại thời điểm, từ
đó tìm ra những bất cập và đưa ra các phương hướng giải quyết Điểm nổi bật của Luận văn
là sự phân tích, đánh giá, nhìn nhận thực trạng và xu hướng phát triển các quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách pháp luật của Nhà nước về vấn đề kết hôn trái pháp luật và khắc phục hậu quả của kết hôn trái pháp luật Những kiến nghị của Luận văn dù trên cơ sở Luật HN&GĐ năm
2000, nhưng một số nội dung vẫn mang tính thời sự trong tình hình hiện nay
- Nguyễn Thị Lê Huyền (2013), Hủy việc kết hôn trái pháp luật qua thực tiễn tại
tỉnh Thừa Thiên Huế, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã khái quát một
Trang 16số vấn đề của pháp luật Việt Nam về hủy việc kết hôn trái pháp luật và vấn đề áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử Phân tích thực trạng kết hôn trái pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật trong việc giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật tại tỉnh Thừa Thiên Huế Kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử hủy việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam
- Nguyễn Kim Thoa (2014), Hoàn thiện chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ
năm 2000, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn
làm rõ những vấn đề lý luận về chế định kết hôn; nghiên cứu, phân tích nội dung, ý nghĩa chế định kết hôn và đánh giá việc áp dụng chế định kết hôn trong thực tiễn, đồng thời phát hiện những bất cập, hạn chế của chế định kết hôn, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện chế định này Trong Luận văn, tác giả đã đề xuất một số nội dung nhằm hoàn thiện chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000, có sự
so sánh với các quy định của chế định này theo Luật HN&GĐ năm 2014, trong đó có kết hôn trái pháp luật, do đó đảm bảo tính thời sự, khoa học của vấn đề nghiên cứu
- Vũ Thị Thu Hiền (2014), Cấm kết hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã tập trung nghiên cứu các trường hợp cấm kết hôn trong khuôn khổ Luật HN&GĐ năm 2000, trong đó chủ yếu phân tích các quy định cụ thể tại Điều 10, đồng thời xem xét thực tiễn áp dụng pháp luật, chỉ ra những bất cập của việc áp dụng pháp luật về các trường hợp cấm kết hôn vào thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Luận văn chưa đề cập đến biện pháp xử lý các trường hợp kết hôn vi phạm điều cấm kết hôn theo luật
- Phạm Thị Lan Anh (2014), Hủy việc kết hôn trái pháp luật theo Luật HN&GĐ
Việt Nam năm 2000 - Vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật -
Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã làm rõ được các vấn đề lý luận xung quanh khái niệm huỷ việc kết hôn trái pháp luật; những quy định về huỷ việc kết hôn trái pháp luật trong Luật HN&GĐ năm 2000 cũng như thực tiễn giải quyết huỷ việc kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, từ đó tìm ra những bất cập và đưa ra các phương hướng giải quyết Qua nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn, Luận văn
đã chỉ ra những vướng mắc, bất cập của vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật HN&GĐ năm 2000, đồng thời Luận văn còn chỉ rõ sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong Luật HN&GĐ năm 2000 Những ý kiến
Trang 17về phương hướng hoàn thiện pháp luật trong Luận văn vẫn mang tính thời sự, góp phần quan trọng để NCS đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện và áp dụng pháp luật về xử lý kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, hủy kết hôn trái pháp luật chỉ là một trong số những biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật, chưa bao quát đầy đủ các vấn đề cần nghiên cứu theo đề tài luận án tiến sĩ của NCS
- Nguyễn Thanh Vân Hằng (2015), Vi phạm điều kiện kết hôn của đồng bào dân tộc
thiểu số ở khu vực Tây Bắc Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kết hôn, điều kiện kết hôn, vi phạm điều kiện kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 và các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề này, tác giả đã phân tích, đánh giá được thực trạng vi phạm điều kiện kết hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Tây Bắc Việt Nam, từ đó đưa ra một số kiến nghị có giá trị về mặt khoa học và thực tiễn, là tài liệu tham khảo quan trọng của Luận án
- Bùi Thị Mừng (2015), Chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ - vấn đề lý luận và
thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Nội dung Luận án này
nghiên cứu những vấn đề lý luận về kết hôn; quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam về kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000, có sự so sánh với Luật HN&GĐ năm 2014; Luật của một số nước trên thế giới về kết hôn; thực tiễn thực hiện pháp luật về kết hôn của nước
ta trong những năm gần đây Là một công trình có phạm vi nghiên cứu khá rộng - chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam, vấn đề kết hôn trái pháp luật được đề cập đến như một nội dung nhỏ trong chế định này Trong đó, tác giả đã đưa ra được khái niệm kết hôn
trái pháp luật; các hình thức xử lý vi phạm về kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ năm
2000, thực tiễn áp dụng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định liên quan đến việc xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn Mặc dù nội dung nghiên cứu về xử lý kết hôn trái pháp luật của Luận án chỉ tập trung vào Luật HN&GĐ năm 2000 nhưng đây lại là tài liệu tham khảo quý báu, là cơ sở cho việc đánh giá bước phát triển của pháp luật về các biện
pháp xử lý kết hôn trái pháp luật của Luật HN&GĐ năm 2014 so với giai đoạn trước
- Phạm Thu Thảo (2015), Kết hôn trái pháp luật - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Đây là một trong những
công trình chuyên sâu đầu tiên nghiên cứu về kết hôn trái pháp luật sau khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thi hành Nội dung Luận văn chủ yếu trình bày những vấn đề lý luận chung về kết hôn trái pháp luật Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về kết hôn trái pháp luật, tác giả đã so sánh và chỉ ra những điểm
Trang 18khác biệt, tiến bộ của Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ đình năm 2000 về kết hôn trái pháp luật và các biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật Đồng thời, trên cơ
sở đánh giá thực tiễn giải quyết việc kết hôn trái pháp luật, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Những kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng giúp NCS có cái nhìn khái quát về kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam tại thời điểm Luật HN&GĐ năm 2014 vừa có hiệu lực thi hành
- Tráng A Say (2016), Hủy kết hôn trái pháp luật tại TAND huyện Điện Biên
Đông, tỉnh Điện Biên, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Đây là
một trong số ít các công trình chuyên sâu nghiên cứu về biện pháp xử lý hủy kết hôn trái pháp luật sau khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thi hành Nội dung Luận văn trình bày những vấn đề lý luận về kết hôn và hủy việc kết hôn trái pháp luật; phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hủy việc kết hôn trái pháp luật Trên cơ sở đánh giá thực tiễn hủy việc kết hôn trái pháp luật tại TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này Mặc dù mới chỉ đề cập đến biện pháp xử lý dân sự đối với việc kết hôn trái pháp luật nhưng đây là nguồn tài liệu quan trọng đối với NCS khi thực hiện nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật cũng như đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi các biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam hiện nay
- Nguyễn Tuấn Anh (2016), Hủy kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Đây là một trong số ít các công trình chuyên sâu nghiên cứu về kết hôn trái pháp luật sau khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thi hành Trong công trình này, tác giả trình bày những vấn đề lý luận về hủy kết hôn trái pháp luật Cùng với đó, trên cơ sở nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề hủy kết hôn trái pháp luật, hậu quả pháp lý của nó và thực tiễn thi hành ở nước ta hiện nay, tác giả đã đưa ra phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật
về vấn đề này Mặc dù chỉ mới đề cập đến biện pháp dân sự (hủy kết hôn) trong việc xử
lý việc kết hôn trái pháp luật nhưng những nội dung nghiên cứu của luận văn này chính
là nguồn tài liệu quan trọng cho việc nghiên cứu nội dung của Luận án
- Nguyễn Tài Dương (2017), Hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp
luật theo Luật HN&GĐ năm 2014, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc
gia Hà Nội Đây cũng là một trong số ít các công trình chuyên sâu nghiên cứu về hôn
Trang 19nhân trái pháp luật sau khi Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành Luận văn đã nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật theo Luật HN&GĐ năm 2014 Đồng thời chỉ ra những bất cập, hạn chế của pháp luật hiện hành về vấn đề hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật Tương tự như công trình trên, nội dung nghiên cứu của Luận văn chính là nguồn tài liệu quan trọng cho việc nghiên cứu nội dung của Luận án trên khía cạnh nghiên cứu biện pháp dân sự về xử lý việc kết hôn trái pháp luật
* Bài viết trên các tạp chí
- Ngô Thị Hường (1999), “Những vấn đề về sự tự nguyện khi kết hôn”, Luật
học, (1), tr.17-21 Trong bài viết này, tác giả đã phân tích điều kiện tự nguyện khi kết
hôn qua Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986 Trên cơ sở định nghĩa về
sự tự nguyện của nam, nữ khi kết hôn, tác giả đã chỉ ra các trường hợp kết hôn nhưng thiếu sự tự nguyện và hậu quả pháp lý của nó Đây là tài liệu quý giá để NCS đánh giá các quy định về xử lý hôn nhân thiếu tự nguyện trong hệ thống Luật HN&GĐ Việt Nam thời kỳ trước năm 2000
- Ngô Thị Hường (2001), “Mấy vấn đề về quy định cấm kết hôn giữa những
người cùng giới tính”, Tạp chí Luật học, (6), 2001 Nội dung bài viết đã khắc họa hai
trường hợp khá điển hình liên quan đến vấn đề “giới tính” của người kết hôn, đó là trường hợp có sự “nhầm lẫn” trong việc xác định giới tính và trường hợp phẫu thuật để
“thay đổi” giới tính, tác giả đã đưa ra những kết luận khoa học thú vị góp phần hoàn thiện pháp luật Theo quan điểm của tác giả, việc cho phép hay không cho phép người chuyển đổi giới tính kết hôn cần phải cân nhắc và xem xét thận trọng yếu tố sinh học của giới tính và vai trò của nó đối với đời sống HN&GĐ Từ đó, tác giả cũng nhấn mạnh, việc cải chính hộ tịch liên quan đến vấn đề giới tính cần phải được xem xét một cách thận trọng
- Thái Công Khanh (2007), “Bàn về hủy việc kết hôn trái pháp luật”, Tạp chí
Tòa án nhân dân, (4), tr.19-22 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đề cập đến
một vài nội dung của hủy việc kết hôn trái pháp luật Tác giả bài viết cho rằng còn nhiều điều liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật chưa được quy định cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ cho nên trong quá trình áp dụng pháp luật sẽ gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Chẳng hạn, liên quan đến việc áp dụng căn cứ xử hủy, tác giả cho rằng, đối với
Trang 20trường hợp kết hôn vi phạm độ tuổi nhưng tại thời điểm có yêu cầu hai bên đều đủ tuổi kết hôn thì không cần thêm một điều kiện nào khác cũng đủ cơ sở để loại bỏ căn cứ xử hủy việc kết hôn trái pháp luật Những nội dung trong bài viết này là nguồn tài liệu quan trọng cho NCS khi đánh giá những vướng mắc của Luật HN&GĐ năm 2000 và
có thể đối sánh với Luật HN&GĐ năm 2014
- Bùi Thị Mừng (2011), “Quyền kết hôn và ly hôn của phụ nữ Việt Nam và Thái
Lan nhìn dưới góc độ so sánh luật”, Tạp chí luật học, (2), 2011 Tiếp cận vấn đề dưới
góc độ giới, bài viết đã chỉ ra điểm khác biệt cơ bản trong việc ghi nhận quyền tự do kết hôn của phụ nữ Việt Nam và Thái Lan Theo pháp luật Thái Lan, ngoài pháp luật do nhà nước ban hành, Luật Hồi giáo cũng được áp dụng để điều chỉnh việc kết hôn đối với người theo đạo Hồi Trong khi đó, các giáo lý của đạo Hồi hầu như thể hiện sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ Luật Hồi giáo công nhận và bảo vệ những đặc quyền của người đàn ông, cho phép người đàn ông được lấy nhiều vợ, điều này ít nhiều đã ảnh hưởng đến quyền tự do kết hôn của người phụ nữ Pháp luật Thái Lan ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ mà chưa tính đến những sự khác biệt về giới tính giữa nam và nữ
- Bùi Thị Mừng (2013), “Một số vấn đề về cấm kết hôn giữa những người cùng
giới tính”, Tạp chí Luật học, (1), tr 52 - 57 Trong bài viết này, tác giả đã phân tích cơ
sở của việc quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính; thực tiễn về mối quan hệ này và vấn đề pháp lý đặt ra Từ đó đề xuất một số giải pháp để giải quyết vấn
đề về "hôn nhân" giữa những người cùng giới tính Nội dung bài viết cung cấp những
tư liệu quý báu nhằm đánh giá các quy định và thực tiễn về cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính của Luật HN&GĐ năm 2000
- Bành Quốc Tuấn (2015), “Những điểm tiến bộ của Luật HN&GĐ năm 2014
về luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài”, Tạp chí Nghề Luật, (2), tr 57 - 63 Trên cơ sở phân tích những điểm hạn chế trong quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, tác giả tiến hành đối chiếu với những điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014 về ba nội dung sau: Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài;
pháp luật áp dụng xác định điều kiện kết hôn; công nhận bản án, quyết định của Tòa
án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về HN&GĐ Những nội dung này là tài liệu rất quan trọng nhằm đánh giá vấn đề xử lý việc kết hôn trái pháp luật có yếu tố nước ngoài theo Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 21- Huỳnh Thị Trúc Giang (2016), “Kết hôn giả tạo và hướng xử lý trong giai đoạn
chuyển tiếp giữa Luật HN&GĐ năm 2000 với Luật HN&GĐ năm 2014”, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, (1), tr.36-41 Trong bài viết này, tác giả đã phân tích quy định về kết
hôn giả tạo trong Luật HN&GĐ năm 2014 Thông qua đó, tác giả chỉ ra các vấn đề pháp
lý phát sinh trong việc giải quyết kết hôn giả tạo trong giai đoạn chuyển tiếp giữa Luật HN&GĐ năm 2000 với Luật HN&GĐ năm 2014 và đề xuất các giải pháp khắc phục
- Nguyễn Thị Lan (2016), “Chế định kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014”, Tạp
chí Luật học, (5), tr 23 - 30 Trong bài viết này, tác giả đã đề cập một số vấn đề cơ bản
trong chế định kết hôn như: khái niệm, huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết trường hợp đăng kí kết hôn tại cơ quan không đúng thẩm quyền, hậu quả pháp lí của việc chung sống như vợ chồng Trên cơ sở phân tích những điểm vướng mắc, bất cập của vấn đề này, tác giả đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kết hôn Nội dung bài viết này là nguồn tài liệu quan trọng để NCS tham khảo, đánh giá các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000 về hủy kết hôn trái pháp luật như:
quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, xử lý việc kết hôn trái pháp luật
* Đề tài nghiên cứu khoa học, Kỷ yếu hội thảo khoa học
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Giải quyết vấn đề hôn nhân thực tế theo Luật
HN&GĐ Việt Nam”- Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Đề tài nghiên cứu khoa học
cấp trường Chủ nhiệm đề tài: Thạc sĩ Nguyễn Văn Cừ Đây là một công trình nghiên cứu khá đầy đủ và toàn diện về vấn đề “hôn nhân thực tế” Các nhà khoa học tham gia nghiên cứu đề tài đã giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến “hôn nhân thực tế” Từ việc khái quát về “hôn nhân thực tế” trong pháp luật đến việc giải quyết về mặt pháp luật đối với “hôn nhân thực tế” Dự báo những tác động tiêu cực của việc chung sống như
vợ chồng tới đời sống HN&GĐ cũng như việc so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật các nước về vấn đề này Các tác giả trong công trình khoa học nói trên đã đóng góp những phát hiện khá thú vị về vấn đề hôn nhân thực tế Đây là cơ sở quan trọng để phân biệt nội hàm vấn đề kết hôn, kết hôn trái pháp luật và hôn nhân thực tế
- Đề tài “Nghiên cứu phát hiện những bất cập của Luật HN&GĐ Việt Nam năm
2000”, Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường
Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Văn Cừ Các nhà khoa học tham gia đề tài đã nghiên cứu về một số vấn đề cần sửa đổi, bổ sung trong chế định kết hôn, trong đó có kết hôn
Trang 22trái pháp luật Từ đó, đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề này
- Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của những điểm mới trong Luật HN&GĐ
năm 2014” - Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Trường Chủ nhiệm Đề tài: TS Nguyễn Văn Cừ Với 13 chuyên đề, các nhà khoa học tham gia nghiên cứu đề tài đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn ban hành Luật HN&GĐ năm 2014 Trên cơ sở phân tích những nội dung mới trong các quy định cụ thể của Luật HN&GĐ năm 2014 trên các khía cạnh: quan hệ gia đình, kết hôn, ly hôn, hôn nhân đồng giới, tài sản, các tác giả chỉ ra những điểm còn hạn chế và kiến nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định của Luật này
- Một số bài viết trong Kỷ yếu hội thảo: Tổng kết 12 năm thi hành Luật
HN&GĐ năm 2000, Bộ Tư pháp, Hà Nội như: Nguyễn Viết Tiến (2013), “Quyền dân
sự, HN&GĐ của cá nhân dưới góc độ y tế - Bất cập và đề xuất sửa đổi bổ sung”; Ủy
ban Dân tộc của Quốc hội (2013), “Những vấn đề pháp lý và thực tiễn về áp dụng
phong tục, tập quán trong lĩnh vực HN&GĐ”; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
(2013), “Đánh giá thực trạng quy định về kết hôn, những bất cập, hạn chế và đề xuất
sửa đổi bổ sung”
- Một số bài viết nghiên cứu của các tác giả tham luận tại các Hội thảo khoa học về góp ý kiến cho Dự thảo Luật sửa đổi Các bài viết chuyên đề trong các đề tài nghiên cứu
khoa học có liên quan đến một vài khía cạnh của chế định kết hôn như: Chuyên đề “Khung
khổ pháp lý của việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” (2013),
Chuyên đề Hội thảo quốc tế - Trường Đại học Luật Hà Nội và Trung tâm pháp luật Đức
hay chuyên đề “Một số vấn đề về tuổi kết hôn” (2013), Chuyên đề Hội thảo cấp khoa: Góp
ý Dự thảo Luật HN&GĐ - Khoa Pháp luật dân sự -Trường Đại học Luật Hà Nội
- Các chuyên đề trong Hội thảo khoa học cấp Trường: “Một số vấn đề về thực
hiện Luật HN&GĐ năm 2014” ngày 15/6/2017 của Trường Đại học Luật Hà Nội
Trong 10 báo cáo về các bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện Luật HN&GĐ năm 2014, các chuyên đề số 5, 9, 10 đã đề cập đến việc thực hiện các quy định về xử
lý việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam sau khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thi hành Trên cơ sở chỉ ra các bất cập, hạn chế, các tác giả đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về kết hôn trái pháp luật và việc xử lý kết hôn trái pháp luật
Trang 23* Sách tham khảo
- Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường (2002), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
Luật HN&GĐ năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Đây là một công trình nghiên
cứu khá công phu những vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm 2000 Tại
chương IV “Những nội dung cơ bản của Luật HN&GĐ”, các tác giả đã giành một phần riêng cho nội dung về “kết hôn và các điều kiện kết hôn” Bên cạnh việc phân tích các quy
định về kết hôn trái pháp luật, các tác giả cũng đưa ra những ví dụ tình huống cụ thể minh họa thực tiễn áp dụng các quy định về điều kiện kết hôn Các ví dụ này chính là nguồn tài liệu tham thảo quan trọng để đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý việc kết hôn trái pháp luật ở Việt Nam tại thời điểm Luật HN&GĐ năm 2000 còn hiệu lực
- Nguyễn Ngọc Điện (2002), Bình luận khoa học Luật HN&GĐ, Nxb Trẻ thành
phố Hồ Chí Minh Tác giả công trình nghiên cứu đề cập đến nội dung “kết hôn” tại tiết thứ hai, với các nội dung chi tiết của chế định kết hôn Đặc biệt, tác giả có nhiều cách tiếp cận nội dung khá mới mẻ xung quanh vấn đề kết hôn như vấn đề “môi giới hôn nhân”, “khái niệm kết hôn” Đây là cơ sở để Luận án nghiên cứu về khái niệm kết hôn, làm cơ sở để xây dựng khái niệm kết hôn trái pháp luật
- Đinh Thị Mai Phương (chủ biên), Bình luận khoa học Luật HN&GĐ, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội Đây là một công trình nghiên cứu có sự tham gia của nhiều nhà khoa học Vấn đề “kết hôn” được đề cập tại “chương 2” do tác giả Nguyễn Thu Hằng thực hiện Trong nội dung này, tác giả đã giới thiệu chi tiết các quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 về kết hôn trên cơ sở so sánh với Luật HN&GĐ năm 1986
Đây chính là nguồn tài liệu quan trọng để nghiên cứu sinh tham khảo khi nghiên cứu nội dung Chương 3 của luận án
1.1.2 Tài liệu nước ngoài
Kết hôn trái pháp luật cũng như biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật cũng được các học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu Việc nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý chủ yếu được đề cập đến trong các công trình sách cũng như các bài viết đăng trên các tạp chí, trang thông tin điện tử Có thể kể đến một số công trình như sau:
- Mary Hayes, Catherine Williams (1989), Family law principles, policy and
practice (Luật gia đình - lý luận và thực tiễn áp dụng), Btterworths Nội dung của cuốn
sách đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó có các vấn đề về kết hôn, ly hôn, quyền trẻ em
và vấn đề cấp dưỡng
Trang 24- Cuốn sách “Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII” (1994) của tác giả InsunYu (tác giả người Hàn Quốc) Cuốn sách đã nghiên cứu một cách sâu sắc về cấu trúc gia đình truyền thống Việt Nam trong mối quan hệ giữa gia đình với làng xã, nhà nước và pháp luật Các tư liệu mà tác giả sử dụng để minh chứng cho những kết luận khoa học và những phát hiện thú vị về vấn đề HN&GĐ của người Việt Nam ở thời kỳ này là Quốc triều hình luật và một vài tư liệu khác Các vấn đền liên quan đến “kết hôn”
nằm trong phần II và phần III của cuốn sách Tác giả không đi sâu phân tích các quy định của pháp luật thời Lê về điều kiện kết hôn mà chỉ giới thiệu những nét khái quát nhất về vấn đề này, trên cơ sở đó, tác giả đã lý giải những cơ sở xã hội của việc quy định các điều kiện kết hôn trong sự so sánh với pháp luật của nhà nước phong kiến cùng thời
- Charles L.Jones, Lorne Tepperman và Susannah J.willson (2002), Tương lai
của gia đình, Bản dịch của Ts Vũ Quang Hà, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Đây là một cuốn sách được 3 nhà nghiên cứu xã hội học tại trường Đại học tổng hợp Toronto - Canada viết, là một công trình nghiên cứu dưới góc độ xã hội học Vì vậy, rất nhiều vấn đề về HN&GĐ được dự báo trong cuốn sách này Trong mối liên hệ với pháp luật, những dự báo về các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có vấn đề HN&GĐ có ý nghĩa rất quan trọng Bởi vì, những dự báo này sẽ giúp cho các nhà làm luật xem xét, cân nhắc để tiếp tục dự liệu điều chỉnh bằng pháp luật những vấn đề có thể nảy sinh trong đời sống HN&GĐ
- Badgett (2009), When Gay people get married: What happens when societies
legalize same-sex marrieage (Khi người đồng tính kết hôn: Điều gì sẽ xảy ra khi xã hội hợp pháp hoá hôn nhân đồng tính), New York University press, New York Đặt
trong bối cảnh năm 2008, mùa hè của tình yêu và sự cam kết giành cho những người đồng tính nam và đồng tính nữ ở Hoa Kỳ Hàng ngàn cặp vợ chồng cùng giới tính đứng xếp hàng cho giấy phép đám cưới trên khắp California trong vài ngày đầu tiên sau khi hôn nhân đồng tính đã được hợp pháp hoá Ở phía bên kia đất nước, tiểu bang Massachusetts, tiểu bang đầu tiên cho các cặp vợ chồng đồng tính kết hôn, đã thực hiện bước cuối cùng để bình đẳng hoàn toàn bằng cách cho phép các cặp vợ chồng đồng tính từ các quốc gia khác kết hôn ở đó Điều này cũng là bước mở đầu cho việc thay đổi quy định về điều kiện kết hôn về giới ở pháp luật các quốc gia trên thế giới
- Louise Banks (2009), “What's the Legal Difference Between Annulment and
viết này đã nêu rõ sự khác biệt giữa ly hôn và hủy bỏ một cuộc hôn nhân theo pháp luật
2 https://www.legalzoom.com/articles/whats-the-legal-difference-between-annulment-and-divorce, 9/2009
Trang 25Hoa Kỳ Trong đó, tác giả đã đưa ra các căn cứ chung để hủy bỏ và giải thích ngắn gọn về mỗi điểm: (i) Bigamy - một trong hai bên đã kết hôn với một người khác tại thời điểm kết hôn; (ii) Sự đồng ý cưỡng bức - một trong những người phối ngẫu bị ép buộc hoặc bị đe dọa vào hôn nhân và chỉ bị bắt vào tình trạng cưỡng bức; (iii) Gian lận - một trong những người phối ngẫu đồng ý với hôn nhân dựa trên những lời dối trá hoặc xuyên tạc của người khác; (iv) Hôn nhân bị cấm theo luật - hôn nhân giữa các bên dựa trên mối quan hệ gia đình của họ được coi là loạn luân; (v) Bệnh tâm thần - hoặc người phối ngẫu bị bệnh tâm thần hoặc rối loạn cảm xúc tại thời điểm kết hôn; (vi) Sự bất lực về tinh thần - hoặc vợ/chồng là dưới ảnh hưởng của rượu hoặc ma túy tại thời điểm kết hôn và không thể đưa
ra sự đồng ý; (vii) Không có khả năng kết hôn hoàn hảo - hoặc vợ/chồng không thể có quan hệ tình dục hoặc bất lực trong hôn nhân; (viii) Kết hôn chưa đủ tuổi - vợ hoặc chồng quá nhỏ để tham gia hôn nhân mà không có sự đồng ý của cha mẹ hoặc phê duyệt của Tòa
án Mặc dù chưa đề cập đến hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ một cuộc hôn nhân nhưng đây là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho NCS khi so sánh pháp luật Việt Nam với một số quốc gia trên thế giới về căn cứ hủy kết hôn trái pháp luật
- Legal Aid of North Carolina (2014), “Family: Annulment or Cancellation of
vô hiệu theo Luật North Carolina, đó là các trường hợp vi phạm về: độ tuổi kết hôn (nam, nữ dưới 16 tuổi); Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; lừa dối kết hôn; Người đang có
vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
mất năng lực hành vi dân sự Trong bất kỳ trường hợp nào trên đây, Tòa án phải hủy
bỏ hoặc vô hiệu cuộc hôn nhân này So sánh cho thấy, các trường hợp này khá tương đồng với pháp luật Việt Nam Đây sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng khi so sánh các trường hợp kết hôn trái pháp luật giữa pháp luật Việt Nam và các nước trên thế giới
- Citizens Information Centre (Ireland) (2016), “Nullity of marriage” (Hủy bỏ
chính là hủy bỏ cuộc hôn nhân bất hợp pháp bằng một tuyên bố của một Tòa án rằng cuộc hôn nhân được cho là vô hiệu và không có hôn nhân hợp lệ tồn tại giữa hai người Sự khác biệt giữa việc hủy bỏ cuộc hôn nhân và ly hôn, cùng với các vấn đề liên quan đến hậu quả của việc hủy bỏ cuộc hôn nhân dân sự theo lý luận và pháp luật
3 https://www.lawhelpnc.org/resource/annulment-or-cancellation-of-marraige, 05/8/2014.
4 http://www.citizensinformation.ie/en/birth_family_relationships/civil_annulment/nullity_of_marriage.html, 10/8/2016
Trang 26Ireland Do đó, bài viết này cũng là tài liệu tham khảo quan trọng trong mối tương
quan nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam so với các nước trên thế giới
- Bài viết “What are the consequences of a fake marriage in Australia?” (Hậu quả
nước ngoài vào Úc, theo các con đường du học, lao động và đặc biệt là hôn nhân Tình trạng hôn nhân giả tại Úc đang ở mức báo động Do đó, pháp luật Úc đã siết chặt vấn đề này Theo đó, người nhập cư bởi một cuộc hôn nhân giả tạo sẽ bị trục xuất và thu hồi Thị thực (visa), đồng thời, họ cũng bị đưa vào danh sách không được xin Thị thực trong tương lai Cùng với đó, các đương sự trong cuộc hôn nhân giả tạo này có thể bị phạt lên tới 300.000 USD và phải đối mặt với một vụ kiện hình sự Đây là tài liệu để so sánh các biện pháp xử lý cuộc hôn nhân trái pháp luật của Việt Nam với các nước trên thế giới
- Bài viết “Nullification of Marriage - An Annulled Marriage” (Nullification of
cuộc hôn nhân theo pháp luật Ấn Độ Theo đó, hủy bỏ là một thủ tục pháp lý hủy bỏ hôn nhân giữa một người đàn ông và một người phụ nữ Việc hủy bỏ một cuộc hôn nhân như thể nó đã bị xóa hoàn toàn - một cách hợp pháp, nó tuyên bố rằng cuộc hôn nhân không bao giờ tồn tại về mặt kỹ thuật và không bao giờ hợp lệ Bài viết cũng chỉ ra cơ sở để hủy bỏ một cuộc hôn nhân đó là: Vi phạm về độ tuổi kết hôn; Cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn; Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn; Kết hôn trong điều kiện không làm chủ hoặc mất NLHVDS; Kết hôn giả tạo; Kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ Những cuộc hôn nhân thuộc trường hợp trên sẽ bị Tòa án tuyên bố hủy bỏ Việc hủy bỏ cuộc hôn nhân trái pháp luật đưa đến những hậu quả pháp lý và đưa đến những ảnh hưởng nhất định, trong đó có vấn đề quyền của trẻ em trong các cuộc hôn nhân này
Luật HN&GĐ Hindu đã có những quy định quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của những đứa trẻ được sinh ra trong các cuộc hôn nhân này Đây là tư liệu tham khảo quý giá để nghiên cứu sinh tham khảo trong việc đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam về hậu quả pháp lý của việc xử lý kết hôn trái pháp luật
- Darryl W Stephens (2017), “Commentary: Legal challenges to „unlawful‟
marriages in Methodism” (Bình luận: Những thách thức pháp lý đối với hôn nhân “bất
5 http://www.visasolutions.com.au/news-blog/posts/what-are-the-consequences-of-a-fake-marriage-in-australia, 30/3/2017
6 http://www.legalserviceindia.com/article/l152-Nullification-of-Marriage-An-Annulled-Marriage.html, Legal Service India
7 http://www.umc.org/news-and-media/blogs-commentaries/post/commentary-legal-challenges-to-unlawful-marriages-in-methodism, 9 tháng 3 năm 2017.
Trang 27cãi về trường hợp hôn nhân bất hợp pháp do vi phạm về điều kiện giới tính - hôn nhân đồng giới Đây là tài liệu để nghiên cứu lý luận về điều kiện kết hôn
được trường hợp hôn nhân bất hợp pháp giữa người Nam Phi và công dân nước ngoài
- trường hợp hôn nhân giả tạo, những tuyên bố của Bộ Nội vụ trong việc xử lý các cuộc hôn nhân này Cùng với đó là các hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân bất hợp pháp Những nội dung trong bài viết này có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật tại Việt Nam hiện nay
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận án
Qua việc nghiên cứu các tài liệu, công trình khoa học có liên quan đến đề tài của Luận án, có thể nhận thấy kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các ngành khoa học xã hội nói chung và khoa học pháp lý nói riêng Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, truyền đạt những quy định của pháp luật hoặc đề cập đến một vài khía cạnh nhất định của chế định kết hôn trái pháp luật, trong đó, nhìn chung, các tác giả chỉ dừng lại ở việc phân tích và so sánh những điểm khác biệt cơ bản về chế định kết hôn, kết hôn trái pháp luật giữa các đạo luật hôn nhân, chưa có nhiều công trình cập nhật
và nghiên cứu toàn diện các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 về kết hôn trái pháp luật và xử lý việc kết hôn trái pháp luật Song những nội dung này chính là tài liệu quan trọng, làm cơ sở để so sánh, đánh giá sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật, thực tiễn áp dụng các quy định về biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật trong từng giai đoạn, dự báo và đưa ra
các kiến nghị đề xuất hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới
Việc tìm ra những vấn đề chưa được giải quyết triệt để trong các tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan, dù ở góc độ lý luận hay thực tiễn cũng vô cùng cần thiết để đạt được mục đích mà Luận án đã đề ra Chẳng hạn:
1.2.1 Về những vấn đề lý luận
1.2.1.1 Vấn đề lý luận về kết hôn trái pháp luật
Các công trình về cơ bản đã làm rõ các vấn đề lý luận về kết hôn và kết hôn trái
pháp luật Trong đó, cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm
8 https://www.iol.co.za/news/south-africa/home-affairs-illegally-cancelling-marriages-672955, 15/8/2010
Trang 282000”, tác giả Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường cho rằng: “Kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng theo các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Với ý nghĩa đó, kết hôn có thể được hiểu như một sự kiện pháp lý làm phát sinh
quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng Tác giả Nguyễn Ngọc Điện cho rằng: “Kết hôn là
một giao dịch có tính pháp lý chứ không phải một giao dịch có ý nghĩa vật chất hoặc
tương đồng với việc coi hôn nhân như một hành vi pháp lý phát sinh do sự thỏa hiệp của hai hay nhiều ý chí cá nhân Quan điểm này xuất phát từ cơ sở coi hôn nhân như một hợp đồng dân sự và tồn tại trong thời kỳ Pháp thuộc ở Việt Nam Pháp Luật HN&GĐ ở Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay đều được xây dựng theo quan điểm khác với pháp luật thời kỳ Pháp thuộc, hôn nhân không được nhìn nhận như một hợp đồng dân sự Vì thế, nhìn nhận về khái niệm kết hôn đã tồn tại những quan điểm trái chiều Cũng chính vì vậy, khái niệm kết hôn trái pháp luật cũng gặp nhiều tranh cãi, đặc biệt là các trường hợp bị xem là kết hôn trái pháp luật Hơn nữa, hầu như các công trình không đề cập, hoặc mới đề cập đến một cách cơ bản về hậu quả của kết hôn trái pháp luật, trong khi đó, kết hôn trái pháp luật đã trở thành hiện tượng khá phổ biến và gây bức xúc trong cộng đồng xã hội
1.2.1.2 Vấn đề lý luận về biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Kết hôn trái pháp luật có thể bị xử lý ở nhiều hình thức khác nhau bằng chế tài của Luật HN&GĐ (chế tài dân sự), chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn trái pháp luật là một biện pháp quan trọng, góp phần đảm bảo cho các điều kiện kết hôn được tuân thủ một cách chặt chẽ Các công trình nghiên cứu chủ yếu chỉ đưa ra những tác động, ảnh hưởng của kết hôn trái pháp luật đến đời sống HN&GĐ, xã hội; đồng thời đưa ra các quy định về biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật mà chưa làm rõ cơ sở lý luận của việc xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật, đặc biệt là vì sao pháp luật lại quy định cần phải xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Đây là vấn đề NCS cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển trong luận án này
Liên quan đến biện pháp xử lý những trường hợp kết hôn trái pháp luật, hầu hết các công trình đều nghiên cứu về biện pháp dân sự - hủy kết hôn trái pháp luật và hậu
quả pháp lý của hủy kết hôn trái pháp luật Trong bài viết “Bàn về hủy việc kết hôn trái
pháp luật”, tác giả Thái Công Khanh cho rằng còn nhiều điều liên quan đến việc hủy kết
hôn trái pháp luật chưa được quy định cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ cho nên trong quá trình
9
Nguyễn Ngọc Điện (2002), “Bình luận khoa học Luật HN&GĐ”, Nxb Trẻ TP HCM, tr.37
Trang 29áp dụng pháp luật sẽ gặp khó khăn, vướng mắc Tác giả cho rằng đối với trường hợp kết hôn vi phạm độ tuổi nhưng tại thời điểm có yêu cầu hai bên đều đủ tuổi kết hôn thì không cần thêm một điều kiện nào khác cũng đủ cơ sở để loại bỏ căn cứ xử hủy việc kết hôn trái pháp luật Tuy nhiên, tác giả lại không lý giải cụ thể vì sao chỉ cần một điều kiện là có thể áp dụng ngoại lệ không xử hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với trường hợp vi phạm độ tuổi Đây cũng là vấn đề mà NCS cần phải tiếp tục suy nghĩ, phát triển
để hoàn thiện pháp luật về kết hôn trái pháp luật một cách phù hợp với thực tế cuộc sống, đảm bảo việc xử lý thấu tình, đạt lý, phù hợp với bản chất quan hệ pháp luật
Các biện pháp hành chính và hình sự, nhìn chung mới được nghiên cứu rất ít trong những công trình nghiên cứu kể trên Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu làm sáng tỏ để góp phần hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong việc kết hôn, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn
1.2.2 Các quy định của pháp luật Việt Nam về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý qua các thời kỳ lịch sử
Có thể nói, hầu hết các công trình chuyên sâu đã nghiên cứu chế định kết hôn nói chung, kết hôn trái pháp luật nói riêng trong tương quan với lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, do các công trình này hầu như nghiên cứu ở thời điểm Luật HN&GĐ năm 2000 còn hiệu lực, do đó, các tác giả đã phân chia các giai đoạn như sau:
- Những quy định về kết hôn trái pháp luật trong cổ luật Việt Nam: Trong đó, các tác giả đã nghiên cứu về kết hôn trái pháp luật qua hai bộ luật: Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) được ban hành dưới triều Lê (1428-1788) và Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) được ban hành năm 1815 dưới thời Nguyễn Trong cả hai bộ luật đều có quy định về các trường hợp ly hôn và tiêu hôn (tiêu hôn là biện pháp xử lý trường hợp vi phạm các điều kiện về cấm kết hôn), đồng thời cũng có những quy định về hậu quả pháp
lý của ly hôn và tiêu hôn, trong đó, hậu quả pháp lý của ly hôn lại như tiêu hôn
- Những quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật thời kỳ Pháp thuộc: Dựa theo Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp (1804), thực dân Pháp đã ban hành ba Bộ luật dân sự Trong đó, tại Bắc Kỳ là Bộ Dân luật năm 1931; tại Trung Kỳ là Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936; tại Nam Kỳ là Bộ Dân luật Giản yếu năm 1883 Ba bộ luật đã có những quy định khá tương đồng nhau về điều kiện kết hôn, tập trung vào các vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích của người kết hôn, con cái, gia đình và xã hội Nếu vi phạm các điều kiện kết hôn thì việc kết hôn là vô hiệu và có thể bị tiêu hủy
Trang 30- Những quy định về kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975: Năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam được ban hành và trở thành cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật khác, trong đó có Luật HN&GĐ Từ năm 1954 đến năm 1975, do hoàn cảnh lịch sử
mà pháp luật nói chung, pháp luật về xử lý kết hôn trái pháp luật nói riêng có sự phân chia giữa hai miền Bắc - Nam Ở miền Bắc, Luật HN&GĐ năm 1959 được Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 29/12/1959 Luật quy định cụ thể những điều kiện kết hôn và trường hợp cấm kết hôn để bảo đảm hôn nhân thực sự an toàn, lành mạnh và tiến bộ Tuy nhiên, trong văn bản pháp luật này không có quy định về hủy việc kết hôn trái pháp luật Biện pháp xử lý đối với việc kết hôn trái pháp luật được ghi nhận tại Thông tư số 112-NCPL ngày 19/8/1972 hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 1959 Ở miền Nam, từ năm 1954 đến năm 1975, chế độ Ngụy quyền Sài Gòn ban hành một hệ thống pháp luật riêng Pháp luật về HN&GĐ tập trung trong ba văn bản pháp luật là Luật Gia đình ngày 02/01/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm (còn gọi là Luật Gia đình 1-59), Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng và Bộ Dân luật ngày 20/12/1972 của chế độ Nguyễn Văn Thiệu Trong thời kỳ này, việc kết hôn của hai bên nam nữ phải tuân theo các quy định về điều kiện kết hôn
và cấm kết hôn, nếu một trong hai bên vi phạm thì hôn thú sẽ vô hiệu và sẽ bị tiêu hủy
- Những quy định về kết hôn trái pháp luật trong giai đoạn từ năm 1975 đến nay: Hòa bình lập lại trên cả hai miền Bắc - Nam, hệ thống pháp luật quy về một mối,
có sự thống nhất Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời thay thế cho Luật HN&GĐ năm
1959, đã có những quy định chi tiết hơn rất nhiều so với các văn bản trước đây về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý Qua 10 năm thi hành Luật HN&GĐ năm 1986
đã bộc lộ những hạn chế, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự vận động của các quan hệ HN&GĐ trong cơ chế thị trường Vì vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 đã được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 thông qua vào ngày 09/6/2000, có hiệu lực ngày 01/01/2001 Luật quy định có sự chi tiết, cụ thể hơn về phạm vi chủ thể có quyển yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật; đường lối giải quyết và hậu quả pháp lý thể hiện sự chi tiết và dễ áp dụng trong thực tiễn
Các công trình nghiên cứu trước đây đã đưa ra được cái nhìn khái quát nhất về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý qua các thời kỳ lịch sử Tuy nhiên, trong các giai đoạn, hầu như các công trình đều nghiên cứu chủ yếu về các trường hợp bị coi là kết hôn trái pháp luật; thẩm quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý của
Trang 31việc hủy kết hôn trái pháp luật Rất ít công trình đặt trọng tâm vào sự phát triển của các biện pháp xử lý kết hôn trái pháp luật
Hơn nữa, Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời, đánh dấu mốc mới trong việc điều chỉnh chế định hôn nhân nói chung, kết hôn trái pháp luật và các biện pháp xử lý nói riêng Do đó, các giai đoạn phát triển của pháp luật điều chỉnh kết hôn trái pháp luật và các biện pháp xử lý cũng có sự thay đổi
Chính vì vậy, trên cơ sở tham khảo các công trình đi trước, NCS sẽ tiến hành hệ thống hóa và phân chia lại các giai đoạn phát triển của pháp luật điều chỉnh kết hôn trái pháp luật và các biện pháp xử lý như sau:
- Pháp luật Việt Nam trước năm 1945 và pháp luật ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975;
- Pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi có Luật HN&GĐ năm 2014
- Pháp luật Việt Nam hiện hành
1.2.3 Về thực trạng kết hôn trái pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Hầu hết các công trình đã có cái nhìn khái quát về thực trạng kết hôn trái pháp luật qua từng giai đoạn Những số liệu này, mặc dù chỉ có giá trị tại thời điểm nghiên cứu, nhưng cũng là cơ sở quan trọng để NCS đánh giá về tình hình kết hôn trái pháp luật qua từng giai đoạn và dự đoán sự phát triển về hiện tượng này trong giai đoạn tới
Cùng với đó, các công trình cũng phân tích, làm rõ được thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc xử lý kết hôn trái pháp luật Tuy nhiên, hầu hết các công trình đều nghiên cứu về thực trạng các trường hợp kết hôn trái pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc áp dụng biện pháp hủy kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý khi hủy kết hôn trái pháp luật Việc đánh giá thực tiễn áp dụng các biện pháp hành chính, biện pháp hình sự để xử lý việc kết hôn trái pháp luật hầu như còn bỏ ngỏ Vấn đề này mới chỉ được phân tích như một nội dung nhỏ trong công trình Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Mừng (2015) hay các luận văn thạc sĩ luật học Trong khi đó, hiện nay tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam đang có những thay đổi nhanh chóng, hệ thống pháp luật cũng
đã và đang có những bước tiến vượt bậc, điển hình là sự ra đời của Luật XLVPHC năm
2012, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP thay thế Nghị định 167/2015/NĐ-CP và Nghị định
số 110/2013/NĐ-CP; BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã tiếp cận theo tinh thần của Luật HN&GĐ năm 2014 với những quy định xử lý mới về kết hôn trái pháp luật Do đó, việc đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trong xử lý việc kết hôn trái pháp
Trang 32luật trong giai đoạn sau năm 2014 vô cùng quan trọng, là cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp hoàn thiện pháp luật Trong khi đó, việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết việc kết hôn trái pháp luật trong các công trình nghiên cứu trên còn ít, đặc biệt, thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết việc kết hôn trái pháp luật sau khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thi hành còn chưa được cập nhật đầy đủ Đây là vấn đề mà NCS phải tìm hiểu, phát triển, giải quyết trong Luận án này
1.2.4 Về phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật trong xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật HN&GĐ nói chung, xử lý kết hôn trái pháp luật nói riêng đã và đang được Việt Nam và các nước quan tâm nghiên cứu Tại Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu chuyên sâu và đưa ra nhiều giải pháp mang tính khả thi để nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về xử lý việc kết hôn trái pháp luật trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Các công trình này đã đưa ra những giải pháp trên cơ sở thể chế hóa được đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về HN&GĐ
Theo đó, có thể phân chia thành hai nhóm giải pháp sau: (i) Hoàn thiện các quy định điều chỉnh việc kết hôn và kết hôn trái pháp luật trong Luật HN&GĐ; (ii) Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn và kết hôn trái pháp luật Tuy nhiên, hầu hết các giải pháp mà các công trình đưa ra chủ yếu nhằm hoàn thiện các quy định về hủy kết hôn trái pháp luật, còn các quy định về biện pháp hành chính và biện pháp hình sự để xử lý việc kết hôn trái pháp luật thì vẫn chưa được đề cập nhiều Hơn nữa, các giải pháp này được đưa ra trong bối cảnh yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, do đó, những giải pháp này đã phần nào được vận dụng và hoàn thiện trong Luật HN&GĐ năm 2014, hiện nay đã không còn mang tính thời sự nên cần được nghiên cứu phát triển mới Mặt khác, các giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về kết hôn trái pháp luật phần nào vẫn có tính thời sự trong giai đoạn hiện nay Đây sẽ là nguồn tham khảo quan trọng để NCS tham khảo, vận dụng khi đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật trong xử lý việc kết hôn trái pháp luật
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của NCS đối với Luận án
Qua việc nghiên cứu, đánh giá các công trình khoa học có liên quan đến đề tài của Luận án, NCS thấy rằng các tác giả đã thể hiện nhiều quan điểm khác nhau về vấn
đề nghiên cứu Do vậy, để hoàn thành Luận án, NCS cần phải tiếp thu những luận điểm khoa học đúng đắn, có luận cứ khoa học, đồng thời tiếp tục hoàn thiện những
Trang 33luận điểm còn nhiều mâu thuẫn giữa các tác giả Luận án cũng sẽ làm rõ những vướng mắc, bất cập cũng như những phát sinh trong thực tiễn thực thi pháp luật để đưa ra những luận điểm khoa học mới, phù hợp với thực tiễn áp dụng, góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận
Câu hỏi nghiên cứu 1: Khái niệm kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc
kết hôn trái pháp luật? Ý nghĩa của việc áp dụng những biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật?
Giả thuyết nghiên cứu 1: Khái niệm kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý
việc kết hôn trái pháp luật đã được nêu ra trong một số công trình nghiên cứu có liên quan song vẫn chưa thực sự đầy đủ, toàn diện, vẫn còn có một số quan điểm nghiên cứu, tiếp cận khác nhau
Kết quả nghiên cứu 1: NCS sẽ luận giải rõ hơn về khái niệm kết hôn trái pháp
luật, biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật và đưa ra khái niệm về hai nội dung này theo quan điểm của cá nhân; Luận giải ý nghĩa của việc áp dụng những biện pháp
xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Câu hỏi nghiên cứu 2: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh
kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật, bao gồm: yếu tố tâm lý, truyền thống, phong tục, tập quán, đạo đức, kinh tế - xã hội và sự phát triển của khoa học kỹ thuật? Và sự ảnh hưởng đó như thế nào?
Giả thuyết nghiên cứu 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh kết
hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật được nêu ra trong một
số tài liệu, công trình nghiên cứu liên quan, bao gồm: yếu tố tâm lý, truyền thống, phong tục, tập quán, đạo đức, kinh tế - xã hội và sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa luận giải cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử, từng điều kiện cụ thể, những yếu tố này sẽ có sự tác động khác nhau đến pháp luật điều chỉnh kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Kết quả nghiên cứu 2: NCS sẽ phân tích để làm rõ từng yếu tố ảnh hưởng đến
pháp luật điều chỉnh kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật trong từng giai đoạn lịch sử, từng điều kiện cụ thể Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh
Trang 34hưởng này sẽ góp phần định hướng và hoàn thiện pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xư lý một cách phù hợp, có tính khả thi và hiệu quả
Câu hỏi nghiên cứu 3: Pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ về kết hôn trái pháp
luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật?
Giả thuyết nghiên cứu 3: Kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý kết hôn trái
pháp luật là vấn đề được quan tâm xuyên suốt chiều dài lịch sử pháp luật Việt Nam Do
đó, vấn đề này phải được nghiên cứu toàn diện, sâu sắc tại từng giai đoạn lịch sử, trong mối quan hệ với nhận thức xã hội và HN&GĐ gắn với hoàn cảnh chính trị xã hội từng
thời kỳ, cũng như dự báo tương lai của vấn đề này
Kết quả nghiên cứu 3: Luận án sẽ phân tích, đánh giá các quy định của pháp
luật Việt Nam qua các giai đoạn: Pháp luật Việt Nam giai đoạn trước năm 1945; Pháp luật ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975; Pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay
về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Câu hỏi nghiên cứu 4: Pháp luật của một số quốc gia về kết hôn trái pháp luật
và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật? Tham khảo cho việc qui định và hoàn
thiện pháp luật Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu 4: Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia
như: Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Thái Lan, Luận án sẽ chỉ ra những nội dung của pháp
luật từng quốc gia về kết hôn trái pháp luật, biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Kết quả nghiên cứu 4: NCS sẽ phân tích và đưa ra những ý kiến đánh giá, nhận
xét về những quy định của từng quốc gia về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật; gợi ý lựa chọn để áp dụng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu liên quan đến pháp luật Việt Nam hiện hành về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý
Câu hỏi nghiên cứu 5: Pháp luật Việt Nam hiện hành về kết hôn trái pháp luật
và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật, bao gồm các nội dung về xác định các trường hợp kết hôn trái pháp luật, hủy việc kết hôn trái pháp luật, XLVPHC và xử lý
hình sự đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật?
Giả thuyết nghiên cứu 5: Luận án sẽ phân tích, đánh giá toàn diện quy định của
Luật HN&GĐ năm 2014, BLDS năm 2015, BLTTDS năm 2015, Luật XLVPHC năm
2012, BLHS năm 2015 và các văn bản khác có liên quan đến vấn đề kết hôn trái pháp
luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Trang 35Kết quả nghiên cứu 5: NCS sẽ chỉ ra những điểm mới và những điểm còn hạn
chế, bất cập của pháp luật hiện hành về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu liên quan đến thực trạng kết hôn trái pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về kết hôn trái pháp luật
và biện pháp xử lý
Câu hỏi nghiên cứu 6: Thực trạng kết hôn trái pháp luật trong xã hội Việt Nam
hiện nay? Việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn để xác định kết hôn trái pháp luật và áp
dụng các biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật?
Giả thuyết nghiên cứu 6: Việc kết hôn trái pháp luật còn tồn tại không ít trên
thực tế, tuy nhiên việc phát hiện, xử lý còn ít, chưa hiệu quả, chưa có tính răn đe, ngăn chặn việc vi phạm Các biện pháp xử lý còn chậm được áp dụng, việc phát hiện và xử
lý kết hôn trái pháp luật còn nhiều vướng mắc, bất cập
Kết quả nghiên cứu 6: NCS sẽ chỉ ra những điểm vướng mắc, bất cập khi áp
dụng pháp luật vào thực tiễn để xác định các trường hợp kết hôn trái pháp luật và áp
dụng biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
1.3.4 Câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu liên quan đến giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý
Câu hỏi nghiên cứu 7: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kết hôn trái pháp luật
và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật?
Giả thuyết nghiên cứu 7: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về kết
hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật, đánh giá thực trạng kết hôn trái pháp luật, những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý, Luận án sẽ đưa ra những giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Kết quả nghiên cứu 7: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kết hôn trái pháp
luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Câu hỏi nghiên cứu 8: Giải pháp nào được đặt ra để nâng cao hiệu quả điều chỉnh
pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật?
Giả thuyết nghiên cứu 8: NCS sẽ nghiên cứu các giải pháp thực hiện trên thực
tiễn đã đem lại hiệu quả tích cực; đồng thời dự báo những giải pháp có thể thực hiện
Trang 36để nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Kết quả nghiên cứu 8: Các giải pháp nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về
kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu các nội dung về vấn đề kết hôn trái pháp luật
và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật cho thấy đây là chủ đề đã được nhiều nhà khoa học bàn luận đến với những hình thức đa dạng như: luận án, luận văn, sách tham khảo, một số đề tài khoa học, bài viết đăng trên các tạp chí khoa học và các báo cáo, hội thảo khoa học Mỗi công trình, mỗi bài viết nghiên cứu về vấn đề này ở một khía cạnh riêng, nhưng phần lớn đều đề cập đến thực trạng của pháp luật, phản ánh những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật và kiến nghị giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật cũng như các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ và toàn diện về vấn đề kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý Mặc dù vậy, nội dung các công trình này, ít nhiều cũng góp phần quan trọng giúp NCS giải quyết các nhiệm vụ cần thực hiện của Luận án
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá nội dung các công trình đi trước, NCS xác định được những nội dung cơ bản cần giải quyết trong Luận án, bao gồm: Lý luận về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý; Thực trạng pháp luật Việt Nam về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý qua các thời kỳ; Thực trạng kết hôn trái pháp luật và áp dụng biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật cũng như phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật Từ đó, xây dựng hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những nội dung này với mong muốn nghiên cứu chế định kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý việc kết hôn trái pháp luật một cách tổng thể và toàn diện Từ đó, phát hiện những bất cập, vướng mắc
để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý, hướng tới sự đồng bộ của
hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành
Trang 38Chương 2
LÝ LUẬN VỀ KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ
2.1 Lý luận về kết hôn trái pháp luật 2.1.1 Khái niệm kết hôn
Theo từ điển tiếng Việt, “kết hôn” được hiểu là “việc nam, nữ chính thức lấy
được hiểu là “sự liên kết giữa một người nam và một người nữ trên nguyên tắc bình
đẳng, tự nguyện theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt
được hiểu dưới góc độ pháp lý, do đó, khái niệm kết hôn đã bị thu hẹp
Khi xã hội loài người mới được hình thành, chưa có quan hệ HN&GĐ, chưa tồn tại khái niệm kết hôn Quan hệ giữa người đàn ông và người đàn bà gọi là quan hệ tính giao
Ban đầu, quan hệ ấy mang tính chất bầy đàn và bừa bãi, tức là chưa có sự lựa chọn ngôi thứ thích thuộc, mọi người đàn bà đều thuộc về mọi người đàn ông và ngược lại
Sau đó, các hình thái HN&GĐ dần dần xuất hiện, đầu tiên là gia đình huyết tộc
Trong gia đình này bắt đầu có sự ngăn cấm quan hệ tính giao giữa cha mẹ và con Hôn nhân được hình thành theo thế hệ Cha mẹ là một nhóm quan hệ hôn nhân và con cái là một nhóm quan hệ hôn nhân, quan hệ tính giao chỉ được thực hiện trong phạm vi nhóm đó Như vậy, vẫn tồn tại quan hệ tính giao giữa nhiều người, anh chị em có thể quan hệ tính giao với nhau Tiếp theo, là gia đình Punaluan, trong gia đình này có sự ngăn cấm quan hệ tính giao giữa anh chị em ruột với nhau Anh chị em ruột được tính theo đằng mẹ vì không thể xác định được cha của một đứa trẻ Gia đình Punaluan trải qua nhiều thế hệ, dần dần hình thành thị tộc mẫu quyền, trong đó bao gồm những người có cùng huyết thống về đằng mẹ và không có quyền lấy nhau Gia đình huyết tộc và gia đình Punaluan gọi chung là chế độ quần hôn Trong đó vẫn tồn tại việc chung chạ vợ chồng, trên cơ sở nền kinh tế công hữu nguyên thủy Bước phát triển tiếp theo là gia đình đối ngẫu hay còn gọi là gia đình cặp đôi, tồn tại tình trạng quan hệ tính
11
Nguyễn Thị Thơm, Hiệu lực của kết hôn theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật -
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Trang 39giao theo từng cặp “những kiểu kết hôn từng cặp đã trở thành tập quán như thế nhất
định là càng thêm vững chắc Chế độ quần hôn ngày càng không thể thực hiện được;
tình trạng một người đàn ông chung sống với một người đàn bà Ở hình thái gia đình này, trong thời gian chung sống, các bên vẫn phải tuân theo những thông lệ đặc biệt
“…Người phụ nữ phải triệt để chung tình trong thời gian chung sống với chồng, và tội
hình thành gia đình một vợ một chồng Có thể thấy rằng, với việc mở rộng phạm vi ngăn cấm quan hệ tính giao giữa những người cùng huyết thống là tiền đề quan trọng
để xác định tính hợp pháp của quan hệ kết hôn sau này Trong tiến trình phát triển của
xã hội đã xuất hiện sự tư hữu, chế độ thị tộc và nhà nước ra đời, gia đình một vợ một chồng cổ điển xuất hiện Gia đình một vợ một chồng là một đơn vị kinh tế độc lập, không còn phụ thuộc vào nền kinh tế thị tộc như gia đình đối ngẫu nữa, quan hệ vợ chồng chặt chẽ hơn, các bên không thể tuỳ ý phá vỡ quan hệ Nhưng chế độ một vợ một chồng thời kỳ này không hề cản trở việc có nhiều vợ công khai hay bí mật của người chồng Đối với người vợ chính thức, họ phải giữ trinh tiết và lòng trung thành với chồng một cách nghiêm cẩn nhất Như vậy, bản chất của nó là chỉ một vợ một chồng về phía người phụ nữ chứ không phải về phía người đàn ông Với bản chất ấy
đã làm cho chế độ một vợ một chồng trở nên mâu thuẫn và giả tạo Như vậy, khi nhà nước xuất hiện, gia đình một vợ một chồng được hình thành Đó là sự liên kết giữa hai người: nam và nữ để hình thành nên mối quan hệ HN&GĐ Đây được coi là cơ sở lịch
sử xã hội để hình thành nên khái niệm kết hôn
Trong cổ luật Việt Nam cũng như quan niệm xã hội về kết hôn, người ta thường dùng thuật ngữ “giá thú” hoặc “hôn thú” Đây là từ Hán Việt, “theo quan niệm cổ luật ở Việt Nam, giá thú là sự phối hợp được pháp luật công nhận, giữa một người đàn ông và
Về bản chất pháp lý của giá thú, cần xem xét là “một khế ước hay một định
chế? Trong việc giá thú, sự ưng thuận của hai vợ chồng là một điều kiện căn bản, vì vậy người ta có thể coi giá thú như một khế ước do sự thoả thuận của hai bên kết lập
mà thành Tuy nhiên, xét cho kỹ, bản chất của giá thú không giống bản chất của các
13 C.Mác - Ăng ghen (1984) tuyển tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.81
14 C.Mác - Ăng ghen (1984) tuyển tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.81
15 Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược giảng - quyển 1, trang 13,14, Nxb Chính trị Quốc gia, 1973
Trang 40khế ước khác Hai vợ chồng không thể tự mình ấn định các điều kiện và hiệu lực của giá thú theo ý riêng cũng như trong các khế ước Trái lại, điều kiện và hiệu lực đối với hai vợ chồng cũng như đối với các con đã do các điều khoản trong luật quy định sẵn;
các điều khoản đó thường liên quan đến trật tự chung trong xã hội, các đương sự không thể sửa chữa được, thay đổi ý riêng Vì lẽ ấy, một phần học lý đã coi giá thú là
luận này cho thấy giá thú có những điểm khác biệt so với một khế ước (một hợp đồng) Giá thú không chỉ nói lên sự thoả thuận tự nguyện của các bên nam nữ mà còn hướng tới một trật tự công, phù hợp với phong tục tập quán và đạo đức truyền thống
Đây cũng được coi là cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề kết hôn trái pháp luật và biện pháp xử lý đối với việc kết hôn trái pháp luật khi vi phạm trật tự công và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác có liên quan
Trong xã hội hiện đại, quan niệm về kết hôn cũng khác nhau và trên thực tế sẽ
có các trường hợp: Hai bên nam, nữ thỏa thuận về chung sống với nhau, bản thân họ tự coi nhau là vợ chồng; Hai bên nam, nữ tổ chức lễ cưới được họ hàng và bạn bè xung quanh thừa nhận; Hai bên nam, nữ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn, được cấp giấy chứng nhận kết hôn Như vậy, có nhiều hình thức được hai bên nam nữ lựa chọn để chung sống với nhau Mối quan hệ giữa họ có thể được họ hàng, bạn bè, những người xung quanh thừa nhận hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận Xét theo nghĩa rộng, tất cả các trường hợp trên đều được coi là kết hôn để xác lập quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng Bởi từ góc độ quyền con người, quyền kết hôn là một trong những quyền tự do của cá nhân, họ có thể thể hiện quyền
tự do kết hôn theo cách mà họ mong muốn để tham gia vào một quan hệ kết hôn Theo nguyên tắc đề cao quyền con người, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn… Hôn nhân theo nguyên tắc tự
nữ” mà không dùng cụm từ “mọi người” hoặc “công dân” như các điều luật khác để thể hiện thái độ và quan điểm lập pháp trong việc thừa nhận quyền tự do kết hôn của nam, nữ Tuy nhiên, do việc kết hôn không chỉ phát sinh hậu quả đối với hai người kết hôn mà còn liên quan đến người khác, đến đạo đức xã hội và luân thường đạo lý nên
16 Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược giảng - quyển 1, trang 14,15, Nxb Chính trị Quốc gia, 1973