1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoàn thiện pháp luật về các hình thức xử phạt và biện pháp xử lý vi phạm hành chính ( trên thực tiễn thừa thiên huế) luận văn ths luật 50 10 1

122 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 28,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn cao họcChương II Thiíc trang qui định pháp luât vê các hình thức 42 xử phat và b iên pháp xử lý vi pham hành chính và áp d u n g pháp luât vê xu lý vi pham hành chính ỏ Thừa T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUOt: (ỈIA HÀ NỘI

(TRÊN THỤC TIỄN THỪA THIÊN - HUẾ)

Chuyên ngành : Lý ĩiiẫn Nhá nước v.ì Pháp luât

Trang 2

Luận văn cao học

Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính, nguyên tắc và dặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính Các hình thức xứ phạt vi phạm hành chính và các 3.1 biện pháp khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị

pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt

đăc biêt

28

Trang 3

Luận văn cao học

Chương II Thiíc trang qui định pháp luât vê các hình thức 42

xử phat và b iên pháp xử lý vi pham hành chính

và áp d u n g pháp luât vê xu lý vi pham hành chính ỏ Thừa T hiên - Huê trong thời gian qua

pháp luật về hình thức xử phạt vi phạm hành chính

2.1.5 Qui định của Pháp luật hiện hành về hình thức 54

xứ phạt và biện pháp xử lý khác đôi với vi phạm hành chính

2.2.1 Thực trạng vi phạm hành chính và việc xử lý vi 64

phạm hành chính ỏ’ Thừa Thiên - Huế

Trang 4

Luận văn cao học

chính ở Thừa Thiên - Huê

Chương III Yấn đê hoàn thiên các qui định pháp luât vê các

hình thức xử phat và biên pháp xử lý vi pham hành chính

của pháp luật về các hình thức xử phạt và biện pháp xử lý vi phạm hanh chính

Trang 5

Luận văn cao học

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp th iế t của đ ê tà i :

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới toàn diện, v ề mặt kinh

tế, từ một nền kinh tế hiện vật với sự quản lý tập trung cao độ đang chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, đã tạo ra nguồn lưc tổng lìỢp to lớn đưa nền kinh tế phát hiển đi lên Nhưng mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đặt chúng ta trước nhiều thử thách như vấn đề thất nghiệp, tệ nạn xã hội, sư tha hóa biến chất trong một số người, các chuẩn mực đạo đức bị coi thường, vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính nói riêng gia tăng về số lượng vả cùng tình phức tạp của chúng.

Vi phạm hành chính cũng như mọi liành vi trái pháp luật khác đều là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các qui tắc quản lý nhà nước Trước tình hình vi phạm hành chính ngày một

2,1 a tăng, đa dạng và phức tạp cả về số lượng cũng như tính châ't nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thì hoạt động xử phạt vi phạm hành chính hơn bao giờ hết được coi là một trong những biện pháp có hiệu quả trong việc xử lý vi phạm hành chính nhằm bảo đảm trật tư pháp luật.

Quán triệt quan điểm "tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước pháp quyền XHCN" của Đại hội IX - Đảng Cộng sản Việt Nam ísố 49 h'an8 151-

Để tạo ra những bảo đảm pháp lý vững chắc cho công cuộc đổi moi kinh tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền, điều tất yếu là không ngừng hoàn thiện hệ thống pliáp luật, trong đó có cả pháp luật qui định về xử lý vi phạm hành chính nói chung và các hình thức xử phạt,

Trang 6

Luận văn cao học

biện plìáp xử lý vi phạm hành chính nói riêng Với ý nghĩa đó, nhà nước ta đã hết sức quan tâm và thực tế đã ban hành nhiều văn bản pháp luật qui định về xủ’ lý vi phạm hành chính Trong đó phải kể đến một sô" văn bản quan trọng như : Điều lệ xử phạt vi cảnh kèm theo nghị định '143/CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 (sau đây được viết tắt là

“Plìáp lệnh 1989”) ngày 30/11/1989 của Hội đồng nhà nước, đặc biệt

là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 (sau đây được viết tắt là “Pháp lệnh 1995”) được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 6/7/1995, có hiệu lưc thi hành từ 1/8/1995 Pháp lệnh này được ban hành trên cơ sở tổng kết thưc tiễn thi hành Pháp lệnh 1989, đồng thời có tính đến các yêu cầu mới về tăng cường đâu tranh phòng chống vi phạm hành chính trong diều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Đây là việc sửa đổi quan trọng nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính Pháp lệnh 1995 đã khắc phuc phần nào những tồn tại, hạn chê của Pháp lệnh 1989 và tạo ra những chuẩn mưc pháp lý chung để căn

cứ vào đó, Chính Phủ ban hành các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong tùng lĩnh vực quản lý nhà nước cu thể Với qui định

cụ thể những vân đề cơ bản có tính nguyên tắc về xử lý vi phạm hành chính, nên đã góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, đổng thời hạn chế các tiêu cực nảy sinh trong quá trinh xử lý.

Tuy nhiên qua gần 7 năm thực hiện, với sự biến đổi da dạng, phức tạp của thưc tiễn cuộc sông đất nước, Pháp lệnh 1995 cũng đã bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu khắc phục Có thể nêu lên một sô" tồn tại chủ yếu sau đây : Các qui định trong Pháp lệnh còn thiếu hoặc quá chung chung, không rõ ràng, chưa phù hợp hoặc chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu cụ thể lại không được hướng dẫn nên dễ bị lạm dung làm trái hoặc áp dung thiếu thông nhất ; Các hình

Trang 7

Luận văn cao học

ti ức xử phạt, biện pháp xử lý vi phạm hành chính còn chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được với tình hình vi phạm hành chính đa dạng, phức tạp hiện nay, như : Hình thức phạt cảnh cáo được áp dụng (áp dụng đúng và cả áp dung sai) nhưng tính răn đe, giáo dục thấp ; Hình thức phạt tiền với việc phân chia thành nhiều mức tương xứng vơí hành vi lai gắn với thẩm quyền xử phạt ; v ề cách tổng hợp mức phạt quá ư phức tạp, khó hiểu và khó áp dụng ; Thủ tục xử phạt (trong đó có thủ tạc áp dung hình thức xử phạt), thủ tục thu tiền phạt, thủ tuc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt cũng còn nhiều rườm rà, bất hợp lý Mặt klìác, cũng cần phải quy định thêm một số hình thức phạt trước đây đã từng được quy định trong hệ thông các văn bản pháp luật về

xử phạt vi phạm hành chính như : phạt lao động cồng ích, phạt giam hành chính dể đáp ứng thực tiễn phát triển đa dạng, phức tạp của xã hội Vì vậy, Pháp lệnh 1995 cần được sửa đổi để phù hợp với hoàn cảnh hiện nay, sao cho vừa bảo đảm yêu cầu ngăn ngừa và xử phạt nghiêm minh vi phạm hành chính, vừa hạn chếcác hiện tượng tiêu cực

quan, người có thẩm quyền xử phạt và cho cả cá nhân, tổ chức trong việc chấp hành quyết định xử phạt.

Đê khắc phục những hạn chế, tồn tại nêu trên, không ngừng hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung, về các hình thức xử phạt hành chính nói riêng, nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chông các vi phạm hành chính, tăng cường trật tự, kỷ c.rơng và đáp ứng các yêu cầu mới của xã hội, việc sửa đôi, bổ sung Pháp lệnh 1995 đã được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 2 đưa vảo Chương trình xây dưng luật, pháp lệnh năm 1999 - 2000 ủy ban thường vụ Quốc hội đã giao cho Bộ tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa

án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Công an và cac cơ quan hữu quan khác nghiên cứu, soạn thảo dự án Pháp lệnh

Trang 8

Luận văn cao học

Là một kiểm sát viên, qua thưc tiễn công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại địa phương và qua nghiên cứu, tìm hiểu các qui định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, tôi có một sô" suy nghĩ, trăn trở mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện các qui định pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính

Vì vậy, tôi chọn đề tài : "Hoàn th iên p h á p lu â t vê các h ìn h thứ c xử

p h ạ t vả b iên p h á p xử lý v i p h a m hành ch ín h (trên thư c tiễn Thừa Thiên - H uề)"làm đề tài Luận văn cao học nhằm góp phần giải quyết những bức xúc như đã nêu ở trên và để nâng cao nhận thức trong việc phục vụ công tác và nghiên cứu của mình.

2 Tình h ìn h n g h iên cứu :

Về hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, về các chê tài hành chính, trong đó có đề cập đến hệ thông các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và vấn đề hoàn thiện pháp luật về hệ thông này, trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu, như :

- Một sei vân đề về phạt hành chính, Phạm Dũng - Hoàng Sao, Nhả xuất bản Pháp lý, năm '1986.

- Vi phạm hành chính và tội phạm, những vấn đề lý luận và thực tiễn Luận văn thạc sĩ Luật học năm 1998 của Trần Thu Hạnh - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

- C hế tài hành chính - lý luận và thực tiễn TS Vũ Thư, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia - 2000.

- Giáo trình Luật hành chính Việt Nam - Đại học Quốc gia Hà Nội, HN, năm 2000, của TS Nguvễn cử u Việt.

- Bài của các tác giả đăng trên các tập san Nhà nước - Pháp luật của Bộ tư pháp, Tạp chí Tòa án, Tạp chí kiểm sát, nghiên cứu, trao đổi

về xử phạt vi phạm hành chính.

Trang 9

Luận văn cao học

Trong các công trình nghiên cứu trên dây, các tác giả trên cơ sở

lý luận và thưc tiễn đã giới thiệu, phân tích, đánh giá về hoạt động xử

lý vi phạm hành chính nói chung, xử phạt vi phạm hành chính nói riêng Đặc biệt, đã trình bày về hệ thống chế tài hành chính, quá trình hình thành và phát triển của nó để từ đó đánh giá một cách khách quan những ưu điểm, những tồn tại, những bất cập trong hệ thông chế tài xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời nêu ra các giải pháp khắc phuc Tuy nhiên, vì đề cập đến vấn đề xử lý vi phạm hành chính với một phạm vi rộng, nên các công trình nói trên bàn đến cả hình thức, biện pháp xử lý khác như biện pháp khắc phuc hậu quả do vi phạm hành chính gây ra, quá trình tổ chức và thực hiện các biện pháp pháp

lý đảm bảo việc áp dung đúng đắn chế tài hành clìínlì, chứ không chuyên sâu nghiên cứu vân đề hoàn thiện các qui định pháp luật về hình thức xử phạt và biện pháp xử lý vi phạm hành chính.

3 M u c đích n gh iên cứu :

Qua việc nghiên cứu lý luận và trình bày, phân tích, đánh giá thực tiễn vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính của nước ta trong những năm qua, mục đích quan trọng mà đề tài hướng tới là góp phần hoàn thiện các qui định pháp luật về các hình thức xử phạt

vi phạm hành chính Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc khắc phục những tồn tại, hạn chế, những qui định không thống nhất, chưa hợp lý, chưa đầy đủ của hệ thống các hình thức xử phạt và biện pháp xử lý vi phạm hành chính, dồng thời thông qua đề tài này cũng đưa ra những ý kiến góp vào chương trình sửa đổi Pháp lệnh '1995, tiến tới ban hành Pháp lệnh mới với các hình thức xử phạt đa dạng, đầy đủ hơn, qui định chặt chẽ hơn, thống nhất hơn để nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng và chông các vi phạm hành chính, tăng cường trật tự kỷ cương và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước "Trong thưc tiễn hiện nay, song song với việc cải cách bộ máy quản lý nhà nước là việc phải hoàn thiện hệ thông pháp luật trên cả 3 phương

Trang 10

Luận văn cao học

diện : xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật, đồng thời xây dựng ý thức pháp luật và nền văn hoá pháp lý"

ị số 17 trang 15].

4 N ộ i d u n g và p h a m v i n gh iên c ứ u :

Vân dề hoàn thiện các qui định pháp luật về xử lý vi phạm hành, chính có nội dung rất rộng, khuôn khổ của đề tài Luận văn cao học không cho phép giải quyết hết mọi vấn đề, nên chúng tôi chỉ tập trung vảo việc hoàn thiện hệ thống các hình thức xử phạt và biện pháp xử lý

vi phạm lìành chính Với giới hạn như vậy, phạm vi Luận văn bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây :

- Những bất cập trong qui định và áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp xử lý vi phạm hành chính, nhu cầu cần hoàn thiện

và một số kiên nghị về phương hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện các qui định về các hình thức xử phạt và biện pháp xử lý vi phạm hành chính.

5 P hương p h á p n gh iên cứu :

Việc nghiên cứu dề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, có sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh và phương pháp thống kê số liệu, kết hợp phương pháp tổng hợp đê làm rõ mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài Viêc trình bày đề tài của Luận án với các phương pháp trên dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện hệ thông pháp luật

và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Trang 11

Luận văn cao học

6 Đ ó n g g ó p của đ ê tà i :

Đây là một trong số nhiều công trình nghiên cứu pháp luật hiện hanh về xử lý vi phạm hành chính, đặc biệt là hệ thống các qui định về xu' phạt và biện pháp xử lý vi phạm hành chỉnh, góp thêm thông tín có giá trị cho các cơ quan đang tiến hành soạn thảo Pháp lệnh 1995 (sửa đổi), những người làm công tác ngiên cứu, giảng dạy và những người, những cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong thực tế và gop phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hanh chính Việt Nam.

7 B ô'cục của Luân vấn :• •

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận vàn gồm 3 chương :

C hương I : Một số vấn đề lý luận cơ bản về vi phạm hành chính, cá: hình thức xử phạt và biện pháp xử lý vi phạm hành chính.

Chương 7/:Thưc trạng qui định pháp luật về hình thức xử phạt

vả biện pháp xử lý vi phạm hành chính, thưc trạng vi phạm hành chính và áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính ở Thừa Thiên

- Huê trong thời gian qua.

Chương III : Vấn dề hoàn thiện các qui định p h á p luật về các hình thức xử phạt và biện pháp xử lý vi phạm hành chính.

Trang 12

Luận văn cao học

Đe đưa ra khái niệm vi phạm hành chính, một mặt cần nêu sự khác biệt giữa vi phạm hành chính với các loại vi phạm pháp luật khác Ví dụ, người bị áp dung chê tài kỷ luật bao giờ cũng trực thuộc

cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng chế tài đó, còn giữa đốì tượng bị xử phạt vi phạm hành chính cũng như các đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính khác nói chung, với cơ quan, người có thẩm quyền áp dung các biện pháp đó không tồn tại quan hệ trực thuộc Trách nhiệm hành chính áp dung đối với mọi công dân, nhưng trách nhiệm kỷ luật thì không phải thế Như vậy, không có

vi phạm hành chính thì không có trách nhiệm hành chính Tương tự,

cơ sở của trách nhiệm hình sư là tội phạm, của trách nhiệm dân sự là

Trang 13

Luận văn cao học

vi phạm quan hệ dân sự, của trách nhiệm kỷ luật là vi phạm kỷ luật Xác định khái niệm vi phạm hành chính còn để làm cơ sở cho việc xác định trách nhiệm hành chính cho các chủ thể vi phạm hành chính dưới các hình thức xử phạt, các biện pháp xử lý hành chính khác Do đó, muốn xác định hành vi vi phạm hành chính cụ thể, đánh giá đúng tính chất, mức độ xâm hại của nó để qua đó tiến hành truy cứu trách nhiệm một cách nghiêm minh, có hiệu quả thì các cơ quan, công chức có thẩm quyền phải có nhận thức đầy đủ, đúng đắn bản chất, đặc điểm của hành vi vi phạm hành chính Hành vi vi phạm hành chính từ trước đến nay đã được qui định ở nhiều văn bản khác nhau, nhưng được tập trung đầy đủ ở Pháp lệnh 1995 gần đây nhất.

Pháp lệnh '1989, tại điều '1 qui định : "Vi ph ạm hành chính là hành v i do cá nhân, tô chức thực hiện m ộ t cách c ố ý hoặc vô ý , xầm

p h ạ m các q u i tắc quản lý nhà nư ớc m à không p h ả i là tộ i ph ạm hình sự

và theo qu i định của p h á p lu ậ t p h ả i b ị x ử p h ạ t hành chính".

Định nghĩa này cho chúng ta thây các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính là : hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, tính có lồi vầ tính bị xử phạt vi phạm hành chính Các dâu hiệu trên đồng thời cũng thể hiện dược mặt khách quan, mặt chủ quan của vi phạm hành chính Định nghĩa này cũng đề cập tới yếu tô" chủ thể của cấu thành pháp lý của vi phạm hành chính.

Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn cửu Việt : "Định nghĩa trên đây vẫn cần được chính xác hóa thêm ỏ một số klìía cạnh: Một là, yếu tố khách thể của vi phạm hành chính (những quan hệ xã hội bị vi phạm hành ch í nil xâm hại) không được thể hiện trong định nghĩa, tuy rằng điều này rất quan trọng Công thức "xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước" không phải chỉ khách thể vi phạm, mà lầ chỉ tính trái pháp luật của hành vi.

Trang 14

Luận văn cao học

Hai là, công thức "mà không phải là tội phạm hình sự "rất dễ làm cho chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hiểu lầm, dẫn đến chỗ tự cho mình có quyền đánh giá hành vi nào là vi phạm hình

sư, hành vi nào là vi phạm hành chính, mà xem nhẹ việc dưa vào

những qui định của Bộ luật hình sự" [sô 31 trang 400],

Chúng tôi đồng tình với cách đặt vân đề như trên BỞi vì nếu

xem "các qui tắc quản lý nhà nước" là khách thê của vi phạm hành

chính thì đó là một phạm trù rất rộng và nó hàm chứa cả tính trái pháp luật của hành vi Hơn nữa, "các qui tắc quản lý nhà nước" không chỉ là khách thể của hành vi vi phạm hành chính mà nó còn là khách thể của hành vi vi phạm kỷ luật, tôi phạm Vì vậy, Tiến sĩ Nguyễn cử u Việt có

lý khi cho rằng sự thiếu cụ thê hóa, chính xác hóa ở hai khía cạnh trên

dễ dần đến sự "linh động" của những người có thẩm quyền khi xử lý

vi phạm Đành rằng, dưới Pháp lệnh, Chính phủ còn ban hành các

nghị định qui định cụ thể hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vưc.

Pháp lệnh mới thay thế Pháp lệnh năm '1989 - Pháp lệnh 1995, thông qua quy định về "xử phạt vi phạm hành chính đã định nghĩa vi

phạm hành chính một cách gián tiếp tại điều 1, khoản 2 : "Xửphạt vi phạm hành chính dược áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố

ý hoặc vô ý vi phạm các qui tắc quản lý Nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nlĩiệm hình sự và theo qui định của pháp luật phải bị

xử phạt hành chính

Như vậy, Pháp lệnh 1995 cũng không qui định cụ thể hơn diều

gì, chỉ đưa ra thêm khái niệm "xử lý vi phạm hành chính" tại khoản 1 điều này là : "XỬ lý vi phạm hành chính" bao gồm "xử phạt vi phạm hành chính" và "các biện pháp hành chính khác".

Trang 15

Luận văn cao hoc

1.1.2 Các dấu hiêu của vi p h am h àn h ch ín h

Hai định nghĩa về vi phạm hành chính trong hai văn bản trên, tuy có khác nhau về sư diễn đạt nhưng đều thống nhất các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính : hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, tính có lỗi và tính bị xử phạt hành chính.

1.1.2.1 V i pham hành ch ín h là hành vi

Theo Các-Mác thì "con người chỉ tồn tại đôi với pháp luật thông qua hành vi của mình" [s° 3 trang 19] Yị phạm hành chính cũng như mọi vi phạm khác, trước hết nó phải là hành vi, nó chỉ được thực hiện bơi hành vi Những suy nghĩ, quan niệm, tư tưởng, khi chưa thể hiện thành hành vi thì dù xâu thế nào cũng chưa phải là vi phạm pháp luật Hànlì vi có thê thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động.

Hành vi vi phạm hành chính là loại hành vi xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại đến các quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực quản lý nhà nước Các quan hệ này được nhà nước tác động, điều chỉnh bằng pháp luật Mặc dù có nội dung đa dạng nhưng các quan hệ

xã hội trong quản lý nhà nước được sắp xếp, phân loại thành những nhóm nhất định do các qui phạm pháp luật hành chính điều chỉnh, tạo nên trật tư quản lý nhà nước Tính xâm hại đến các qui tắc quản lý nhà nước của hành vi vi phạm hành chính là việc làm tổn hại đến các trật

tự quản lý nhà nước được pháp luật qui định và bảo vệ.

1.1.2.2 T ín h trái pháp luât của hành vi vi ph am hành c h ín h thê hiện ở chỗ, những hành vi do chủ thể vi phạm hành chính thực hiện trái với các qui định của pháp luật hành chính điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực quản lý nhà nước Cụ thể hơn, đó là hành động bị pháp luật hành chính cấm, hoặc không thực hiện, hay thực hiện không đúng hành động mà pháp luật hành chính buộc phải thực hiện Ví dụ : Luật

Trang 16

Luân văn cao học

giao thông đường bộ câm lân chiêm lòng lề đường/ vỉa hè mà vẫn lân chiếm, hoặc luật doanh nghiệp qui định sản xuất, kinh doanh phải có giâv đăng ký kinh doanh, giây phép hành nghề nhưng người kinh doanh không đăng ký thì đều là hành vi (hành động và không hành động) trái pháp luật.

Tuv nhiên, một người hoặc một tổ chức, khi thực hiện hành vi trái pháp luật nhưng không được ngành luật hành chính qui định và bảo vệ (thể hiện trong các văn bản pháp luật qui định về hành vi vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính) thì không bị coi là trái pháp luật hành chính Ví dụ, sinh con thứ 3 (vi phạm chính sách dân

sổ - kế hoạch hóa gia đình), để trâu bò phá hoại hoa màu lầ những hành vi chưa bị pháp luật qui định là vi phạm hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính Trên cơ sở thừa nhận tính trái pháp luật hanh chính là một dấu hiệu của vi phạm hành chính, Pháp lệnh 1995

đà khẳng định tại khoản 2 điều 3 : "Cá nhằn, tổ chức c h ỉ b ị xử p h ạ t hành chínlĩ kh i có hầnli vi vi ph ạm hầrdĩ chính do p h ấ p lu ậ t qu i định

"Tuy nhiên, các hành vi trái với các qui định luật hành chính chỉ là một trong những loại hành vi mà chủ thể thực hiện chúng có thể phải chịu trách nhiệm hành chính mà thôi" [s° 30 trang 403].

Như vậy, không phải mọi hành vi có tính chất trái pháp luật hanh chính đều ỉà vi phạm hành chính Một sô" tội phạm cũng là hành

vi trái pháp luật hành chính (tội chông người thi hành công vụ, tội vi phạm các qui tắc trật tư an toàn giao thông, tội kinh doanh trái phép ) nhưng phải xử lý hình sự Đe phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính trong trường hợp hai loại vi phạm này cùng có chung khách thể, người ta thường lấy tiêu chí là m ứ c độ n g u y hiểm cho xã h ộ i của hành

17 dể phân biệt.

Trang 17

Luận văn cao học

Phạm vi của đề tài này không cho phép đi sâu vào phân tích, so sánh đê phân biệt giữa tội phạm và vi phạm hành chính, nhưng chúng tỏi thấy cũng thống nhất với các tiêu chí mà TS Nguyễn cử u Việt đã liêu 30 trang 402, 403, 404, 405] phân biệt giữa tội phạm và vi phạm hành chính là :

- Loại khách thể bị xâm hại, tính nguy hiểm cho xã hội của hành

vi là tiêu chí đầu tiên.

- Hành vi đó đã bị xử lý hành chính hay chưa ? (qui luật lượng biến đổi thành chất) Vì vậy có 66 tội danh trong Bộ luật hình sự năm

1999 qui định yếu tố cầu thành "đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm".

- Đa số các cấu thành vi phạm h à n h chính không bắt buộc phải

có dấu hiệu hậu quả thiệt hại của hành vi vầ quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của nó (chỉ cần hành động hay không hành động trái pháp luật là đủ căn cứ áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hanh chính).

- Trong những trường hợp cần thiết, cần phải xem xét ở mặt khách quan của vi phạm hành chính các hoàn cảnh khác như thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hành vi.

- Hành vi trái pháp luật và có lỗi phải được một văn bản pháp luật qui định là vi phạm hành chính và phải chịu trách nhiệm hành chính (dâu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của vi phạm hành chính).

"Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi khách quan là tiêu chí bản để nhà làm luật tiến hành phân chia chúng thành các loại khác nhau : tội phạm, vi phạm pháp luật hành chính/ vi phạm pháp luật dân sự " [số 4 trang 2],

Trang 18

Luân văn cao học

Tóm lại, nếu như trong khoa học hình sư những dấu hiệu bắt buộc của mặt khách quan là : hành vi trái pháp luật, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, thì trong khoa học luật hành chính, hai dấu hiệu bắt buộc là : hành vi và tính nguy hiểm cho xã hội, còn quan hệ nhân quả trong một số’ hành vi không phải là đâu hiệu bắt buộc phải có của cấu thành

1.1.2.3 Tính có lôi của vi pham hành chính

Mặt chủ quan của vi phạm hành chính thể hiện ở tính chất có lỗi cua nó Lỗi lả dấu hiệu cơ bản, bắt buộc của vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính nói riêng do các cá nhân thực hiện Lỗi

là trạng thái tâm lý, là thái độ của người vi phạm đối với hành vi vi phạm và hậu quả của hành vi đó tại thời điểm thực hiện hanlì vi của mình Hành vi được thực hiện phải là kết quả của sự tự lựa chọn, tự quyết định của các cá nhân hoặc tổ chức Nội dung của lỗi thể hiện sự nhận thức của người vi phạm Do dó, nếu là người không nhận thức được tính xâm hại cho xã hội của hành vi thì coi như không có lỗi và không có vi phạm pháp luật nói chung vả vi phạm hành chính nói riêng.

1.1.2.4 Tính bị xử phat vi pham hành chính

Trong vi phạm hành chính, tính bị xử phạt vi phạm hành chính được biểu hiện ở chỗ vi phạm hành chính là cơ sở để áp dụng hình thức xử phạt vi phạm hành chính tương ứng đốì với chủ thể vi phạm

Vì vậy có thể coi tính bị xử phạt vi phạm hành chính là một dấu hiệu của vi phạm hành chính Đây là dâu hiệu có tính quy kết bắt nguồn từ tính xâm hại và tính trái pháp luật hành chính Nói có tính quy kết, bởi

vì có vi phạm hành chính thì phải có xử phạt vi phạm hành chính theo qui định của pháp luật Tuy nhiên, không loại trừ khả năng áp dụng chế tài khác đối với chủ thể vi phạm hành chính, như biện pháp tác động mang tính xã hội (ví du : Giáo duc tại xã, phường, thị trấn hoặc ỏ

Trang 19

Luận văn cao học

cơ quan, tổ chức quản lý chủ thể vi phạm) đối với những vi phạm

hành chính nhỏ, hoặc do tình trạng đặc biệt về nhân thân của chủ thể

vi phạm ; hoặc có khi có vi phạm xảy ra mà không thể áp dụng biện

pháp xử phạt nếu nó đã hết thời hiệu xử phạt Do đó, tính bị xử phạt

vi phạm hành chính của vi phạm hành chính có ý nghĩa chủ yếu chỉ ở

chỗ nó là tiêu chí để phân biệt với các vi phạm pháp luật khác như : tội

phạm, vi phạm kỷ luật , khi chúng có chung khách thể với vi phạm

hành chính.

Trên đây là các dâu hiệu của vi phạm hành chính, chúng có mối

liên hệ hữu với nhau Hành vi do các cá nhân, tổ chức thực hiện có

đầy đủ các dâu hiệu đó thì được coi là vi phạm hành chính và phải bị

xử phạt vi phạm hành chính theo qui định của pháp luật.

1.1.3 Cấu thành vi pham hành chính

Vi phạm hành chính là một dạng của vi phạm pháp luật, do đó

nó cũng có các yếu tố cấu thành pháp lý là mặt khách quan, mặt chủ

quan, chủ thể và khách thể Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính

nằm trong một thể thông nhất và được coi là "thành tố" cơ bản cần và

đủ của một vi phạm hành chính và giữa chúng có môi liên hệ chặt chẽ

với nhau.

1.1.3.1 Măt khách quan của vi pham hành chính

Mặt khách quan của vi phạm hành chính là tổng hợp các dấu

hiệu bên ngoài của vi phạm hành chính, bao gồm : hành vi trái pháp

luật ; tính nguy hiểm cho xã hội ; hậu quả và môi quan hệ giữa hành vi

vả hậu quả ; các dấu hiệu khác như công cu, phương tiện, thời gian,

địa điểm vi phạm.

nêu, vi phạm hành chính trước hết là hành vi trái pháp luật do cá nhân

và tổ chức thực hiện Hành vi (có thể thực hiện bằng hành động hay

không hành động) chỉ dược cc,; là trái pháp luật khi hành vi đó thưc

Trang 20

Luận văn cao học

hiện những việc mà pháp luật ngăn cấm hay không thực hiện những việc mà pháp luật buộc phải làm do các chủ thể của vi phạm hành chính thực hiện.

- Về tính nguy hiểm cho xã hội, có quan điểm cho rằng chỉ có tội phạm mới có tính nguy hiểm cho xã hội, còn vi phạm hành chính và các vi phạm pháp luật khác thì không nguy hiểm Quan điểm này chưa thỏa đáng ở chỗ, đã là hành vi trái pháp luật tức là đã xâm hại đến các quan hệ xã hội và trật tư quản lý nhà nước được pháp luật bảo

vệ Do đó, bản thân hành vi trái pháp luật đã thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi Mặt khác, tính nguy hiểm của mỗi hành vi vi phạm hành chính có thể ít gây hậu quả nghiêm trọng, nhưng vi phạm hành chính xảy ra phổ biến, nếu cộng lại sẽ là hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Tuy nhiên, tính nguy hiểm của hành vi vi phạm hành chính thấp hơn so với tội phạm hình sự.

- Về hậu quả và mối quan hệ nhân quả

Đa số câu thành vi phạm hành chính không bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả thiệt hại của hành vi Tuy nhiên, đốì với cấu thành pháp

lý của nhiều hành vi vi phạm hành chính khác thì hậu quả thiệt hại cho xã hội là bắt buộc.

Giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính có môi quan hệ nhân - quả, trong đó hậu quả của vi phạm hành chính có tiền đề xuất hiện từ hành vi khách quan của vi phạm hành chính Quan hệ giữa hành vi vi phạm hành chính và thiệt hại mà nó gây ra cần thiết phải được xác định khi hậu quả của hành vi được tính

là cơ sở, là căn cứ để lực chọn áp dụng các biện pháp buộc khôi phục hoặc khắc phục, buộc bồi thường thiệt hại

- Ngoài ra, trong những trường hợp cần thiết, khi nghiên cứu mặt khách quan của vi phạm hành chính, cần phải xem xét một số dấu hiệu khác như thời gian, địa điểm, phương tiện thực hiện hành vi vi phạm như : gây rối trật tư ở cơ quan xí nghiệp; không áp dụng biện

Trang 21

Luân văn cao học

pháp phòng cháy Những dấu hiệu này tuy không phổ biến và không

c ó V nghĩa quyết định cho tất cả các loại vi phạm hành chính nhưng trong một số trường hợp, nó là dấu hiệu bắt buộc để xác định hành vi

đó có phải là vi phạm hành chính hay không.

1.1.3.2 Măt chủ quan của vi pham hành chính

Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là dấu hiệu bên trong của

vi phạm hành chính Một hành vi trái pháp luật không đồng nghĩa với

vi phạm pháp luật, nếu chưa xác định yếu tố chủ quan là lỗi, thái độ

và động cơ, mục đích của người vi phạm đối với hành vi của mình Lỗi

là dâu hiệu cơ bản trong cấu thành của mọi vi phạm hành chính Lỗi là quan hệ tâm lý bên trong của cá nhân đối với vi phạm, hay nói cách klìác, lỗi là thái độ tâm lý của người vi phạm, biểu hiện thái độ động co' và mục đích của người đó dối với hành vi vi phạm của mình.

Lỗi được qui định rõ trong điều 1, Pháp lệnh 1995, gồm có 2 hình thức : lỗi cố ý và vô ý Lỗi cố ý thể hiện ở chỗ người có hành vi vi phạm nhận thức được tính chất hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện hoặc nhận thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc và hoàn toàn có khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ đó nhưng họ lại có ý thức xem thường

Lỗi vô ý có hai hình thức thể hiện : vô ý do cẩu thả là việc người có hành vi vi phạm không biết và không nhận thức được rằng hành vi của mình là trái pháp luật, mặc dù cần phải biết và nhận thức được điều đó Vô ý do quá tự tin là việc người có hành vi vi phạm nhận thức được nhưng do khinh suât hoặc tư tin vì cho rằng có thể ngăn ngừa dễ dàng hậu quả của hành vi trái pháp luật đó của mình.

Chúng ta biết rằng, lỗi là dâu hiệu bắt buộc của vi phạm hành chính nói riêng cũng như vi phạm pháp luật nói chung Tuy nhiên việc xác định yếu tố lồi trong tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính chỉ căn cứ vào hành vi vi phạm và căn cứ vào mức xử phạt tương ứng

đã được ân định trong các văn bản qui định về xử phạt vi phạm hành chính, chứ không "định tội" tl 3ng qua một hệ thống trình tự như trong

Trang 22

Luận văn cao học

luật hình sự, mặc dù theo khoa học pháp lý thì vẫn cần thiết phải phân chia lỗi một cách cụ thể để làm cơ sở và căn cứ áp dụng các biện pháp

xử lý phù hợp.

Trong mặt chủ quan của nhiều vi phạm hành chính, vơí lỗi cố ý, tức có yếu tố động cơ, mục đích vi phạm rõ rệt thì cũng được tính đến khi xem xót để quyết định các hình thức và mức phạt cụ thể Tuy nhiên, yếu tố động cơ và mục đích vi phạm hành chính không được coi là dấu hiệu bắt buộc trong câu thành của mọi hành vi vi phạm hành chính.

1.1.3.3 K hách th ể của vi p h ạm hàn h ch ín h

Khách thể của vi phạm hành chính là cái mà hành vi vi phạm xâm hại đến Trong định nghĩa vi phạm hành chính ỏ điều 1 của Pháp lênh xử phạt vi phạm hành chính năm '1989 và khoản 2 điều 1 Pháp lệnh 1995, khách thể của vi phạm hành chính được phản ánh là "các qui tắc quản lý nhà nước" Qua định nghĩa trên ta thấy khách thể của

vi phạm hành chính chưa được chỉ rõ hoặc chưa đầy đủ "Hành vi xâm hại các qui tắc quản lý nhà nước" được nêu ra trong 2 văn bản này không phải chỉ khách thể vi phạm, mà là chỉ tính chất trái pháp luật của hành vi BỞi vì, "qui tắc quản lý nhà nước" chính là pháp luật (hiểu theo nghĩa rộng).

Khách thể của vi phạm hành chính không phải là các "qui tắc quản lý nhà nước" mà là các quan hệ xã hội được các qui tắc đó (tức là luật hành chính) bảo vệ Các loại quan hệ xã hội bị vi phạm hành chính xâm hại (khách thể của vi phạm hành chính) rất đa dạng, đỏ là : trật tự của nhà nước và xã hội, sỡ hữu xã hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Ví dụ, các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ trật tự an toàn xã hội, giao thông, môi trường, đất đai, an i:oàn

vệ sinh thưc phẩm

Trang 23

Luộn vồn cno hoc

Mặt khác, không phải toàn bộ các quan hệ quản lý nhà nước là khách thế của vi phạm hành chính, mà chỉ những quan hệ được bảo vệ bằng các biện pháp trách nhiệm hành chính trong số dó mà thôi Kêu enc quan hệ quản lý nhà nước đó không được các qui phạm về trế ch nliiộm hành chính bảo vệ thì cló không phải là khách thể của vi phạm hành chính, mà có thể là khách thể của tội phạm, vi phạm kỷ luật, vi phạm dân sư, lao động, hành chính, kinh tế

Cũng cần lưu ý rằng, các biện pháp trách nhiệm hành chínli không chỉ được áp dụng để bảo vệ các quan hệ xã hội do luật hành chính điều chỉnh, mà còn bảo vệ các quan hệ pháp luật khác như tài chính, đất đai, lao động Nhu' vậy, khách thể của vi phạm hành chính

r ò n là các quan hệ pháp luật lao dộng, đất dai, tài chính , thậm chí cả quan hệ pháp luật hình sự.

Có thể chia khách thể của vi phạm hành chính thành các loại sau :

- Khách thể chung : là các loại quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước nói chung.

- Khách thể loại : là những quan h ệ xã hội có cùng hoặc gần tính chất với nhau trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước (Ví dụ : lĩnh vực bảo vệ văn hóa, lĩnh vực môi trường tài nguyên, bảo

vệ sức khỏe, sản xuất kinh doanh ).

- Khách thể trực tiếp : l.à quan hệ xã hội cụ thể dược pháp luật qui định và bảo vộ bị chính hành vi vi phạm hành chính tru’c tiếp xâm hại tới (Ví dụ : hành vi kinh doanh thịt lợn không có dâu kiểm soát giết mổ của Thú y ).

1.1.3.4 Chủ thc của vi pham hành chính

Theo qui định của pháp luật về vi phạm hành chính, chủ thể của

vi phạm hành chính là các nhân, tổ chức có năng lực chịu trách nhiệm hành chính.

Trang 24

Luận văn cao học

• Cá nhân là chủ thế của vi pham hành chính

Cá nhân có thể chịu trách nhiệm hành chính khi có đủ năng lực pháp lý trách nhiệm hành chính và năng lực hành vi trách nhiệm hành chính, trừ những người mất khả năng điều khiển hành vi như người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác thì không phải chịu trách nhiệm hành chính (khoản 6, điều 3) ; những người hành động trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ cũng không phải chịu trách nhiệm hành chính Còn các cá nhân khác có đủ năng lực trách nhiệm hành chính đều là chủ thể của

vi phạm hành chính nếu có hành vi vi phạm hành chính (qui định tại khoản a, b khoản 1 điều 5 Pháp lệnh 1995).

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra, người từ đủ 14 tuổi đến dưới

16 tuổi chỉ bị xử phạt đối với những vi phạm hanh chính thực hiện do

cô ý Ngoài ra đối với chủ thể ỉầ người chưa thành niên, điều 6 Pháp lệnh 1995 qui định : người chưa thành niên vi phạm hành chính gây thiệt hại vật chất phải bồi thường (khoản 2) và người từ đủ '12 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi vi phạm qui định tại khoản 2 điều 22 của Pháp lệnh thì đưa vào trường giáo dưỡng.

Qui định tại diều 6 nêu trên còn 2 điểm chưa chặt chẽ : thứ nhất, người chưa thành niên vi phạm hành chính gây thiệt hại vật chất phải bổi thường (khoản 2 điều 6) VỊ thành niên thì đã làm gì có tài sản riêng mà bổi thường, nên bổ sung “nêu không thì cha mẹ hoặc người giám hộ có trách nhiệm bồi thường” Khoản 4 điều 6 mới chỉ có nói đến tuổi vị thành niên phải chịu trách nhiệm hành chính là từ đủ 12 tuổi đến dưới '18 tuổi Nên xem xót để qui định tuổi chịu trách nhiệm hành chính thấp hơn, vì thực tế hiện nay trẻ em dưới 12 tuổi vi phạm hành chính trong các lĩnh V IÍC được qui định tại điều 22 của Pháp lệnh

và các lĩnh vực khác (như an toàn giao thông, trộm cắp, vận chuyển

Trang 25

Luận văn cao học

buôn bán hàng cấm, hàng lậu ) tương đối nhiều, ta nên qui định cha

mẹ, người đỡ đầu liên đới chịu trách nhiệm Việc qui định liên đới

chịu trách nhiệm đôi với người chưa thành niên vi phạm hành chính

của cha mẹ, người đỡ đầu klìông có nghĩa là pháp luật Việt Nam áp

dung trách nhiệm hành chính đối với cả những người không có lỗi, mà

vì họ cũng có lỗi trong việc giáo dục người chưa thành niên thực hiện

vi phạm hành chính Qua đó để họ có trách nhiệm giáo duc người

chưa thanh niên tốt hơn.

quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị khi tập trung, công an nhân dân

nêu thực hiện vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công

dân khác.

Theo chúng tôi không nên đưa cụ thể 3 đối tượng này Nếu vì

phải chịu trách nhiệm hành chính đối với những vi phạm hành chính

liên quan đến việc thi hành công vu thì còn nhiều loại đôi tượng là

viên chức nhả nước nói chung và người có thẩm quyền nói riêng khác

Hoặc nếu cần qui định thì nên viêt là : Viên chức nhà nước phải chịu

trách nhiệm hành chính đối với những hành vi vi phạm hành chính

liên quan dấn việc thi hành công vụ mà không thuộc tình thế cấp thiết,

phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ.

Những người nước ngoài (trừ những người được miễn trừ ngoại

í2,iao, hưởng quyền ưu đãi) nếu đủ tuổi trên mà thực hiện hành vi vi

phạm hành chính trên lãnh thổ nước ta và vùng đặc quyền kinh tế,

vùng tiếp giáp lãnh hải thì bị truy cứu trách nhiệm hành chính như

công dân Việt Nam cũng hợp lý.

• Tố chức là chủ thể vi pham hành chính

Plìáp lệnh năm '1989 không áp dụng phạt cảnh cáo đối với tổ

chức nhưng Pháp lệnh năm 1995 (điều 12) không loại trừ hình thức xử

phạt nàv Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức có những

Trang 26

Luận văn cao học

vấn dề dang đặt ra Dưới giác độ nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm có điểm chưa hợp lý, bởi vì trách nhiệm pháp lý chỉ có thể áp dụng đối với một chủ thể khi chủ thể đó thực hiện hành vi trái pháp luật và có lỏi, tùy theo tính chất hành vi và mức độ lỗi Nhưng khi phạt tổ chức nói chung, những người trong tổ chức không có lỗi cũng phải chịu chung trách nhiệm Nếu chỉ xử phạt tổ chức chung chung tức là liên quan đến trách nhiệm của nhiều người nhưng lại không có người nào trực tiếp cả Trong trường hợp thủ trưởng tổ chức không là chủ thể trưc tiếp hoặc gián tiếp vi phạm hành chính (ví dụ đầu tư để xử lý vệ sinh môi trường, trật tự an toàn giao thông ) thì thủ trưởng phải làm

rõ nguyên nhân, trách nhiệm của cá nhân trực tiếp vi phạm hành chính để truy cứu trách nhiệm kỷ luật trong nội bộ tổ chức đó.

Theo chúng tôi, với cơ chế đề cao trách nhiệm cá nhân thì thủ trưởng tổ chức chính phủ hay phi chính phủ đều là người chịu trách nlìiệm chính trước nhà nước và pháp luật Vì vậy, "nên chăng, cần phạt thủ trưởng của tổ chức, cơ quan vi phạm để tăng cường trách nhiệm thủ trưởng và hiệu quả của việc truy cứu trách nhiệm hành chính’ [số 30 trang 409]-

róm lại, theo luật hành chính Việt Nam, chủ thê vi phạm hành chính bao gồm cá nhân, tổ chức Như vậy không như luật hình sự, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể.

Iư những phân tích về các dấu hiệu, các yếu tố câu thành, chủ tlìể, khách thể của vi phạm hành chính như trên, theo chúng tôi có thể rút ra một định nghĩa về vi phạm hành chính như sau : Vi phạm hành

xâm phạm quyền vả lợi ích hợp pháp của nhà nước, tập thể và công dân mà theo qui định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính.

Trang 27

Luận văn cao học

1.2 Khái n iêm xử phat vi pham hành chính, các hìn h thức xử phat vi pham hành chính và các b iên pháp khôi phuc quyển, lợi ích

hơp pháp bị vi pham hành chính xâm hai

1.2.1 Khái niêm xử phat vi pham hành chính, ngu yên tắc và đăc điổni của xử phat vi pham hành chính

Vi phạm hành chính cũng như mọi vi phạm pháp luật khác đều

là những hành vi trái pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội Nó trưc

tiếp xâm hại đến những qui tắc quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vưc đời

sông xã hội, làm ảnh hương không nhỏ đến những quyền và lợi ích

họp pháp của các tổ chức và cá nhân Vì vậy, xử lý vi phạm hành

c h í n h là một trong những hoạt động quản lý nhà nước rất quan trọng

và mang tính quyền lực đặc trưng Theo quan điểm của Các Mác thì :

"Hình phạt chẳng qua là sự tư vệ của xã hội đối với những hành vi

xâm phạm đến điều kiện tồn tại của nó" [s° 3 trang 531] X ự Ịý v j

phạm hành chính bao gồm nhiều hoạt động cụ thê khác nhau Trong

các hoạt động xử lý vi phạm hành chính thì hoạt động xử phạt vi

phạm hành chính là một trong những hoạt động quan trọng nhát, có ý

nghĩa to lớn trong đấu tranh phòng chông vi phạm hành chính, có tác

dụng trực tiếp củng cố, tăng cường trật tự quản lý nhà nước Thực chất

của việc xử phạt vi phạm hành chính là việc áp dung các chế tài hành

chính có tính chất trừng phạt do cơ quan, người có thẩm quyền tiến

hành đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính theo qui định của

pháp luật Tuy nhiên, việc áp dụng chế tài hành chính không chỉ nhằm

mục đích trừng phạt mà còn để giáo dục người vi phạm và công dân

nói chung [sô 30 trang 422], Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa xử

phạt vi phạm hanh chính như sau : "XỬphạt vi phạm hành chính là

thẩm quvền tiến hành theo thủ tục do pháp luật qui định nhằm mục

đích trừng phạt cắc chủ thể vi phạm hành chính và giáo dục họ cũng

n h ư các công dân nói chung dê bảo vệ trật tự quản lý nhà nước và

Trang 28

Luận vãn cao học

* Trong xử lý vi phạm hành chính nói chung và hoạt động xử phạt vi phạm hành chính nói riêng, cần đảm bảo các nguyên tắc sau :

- N guyên tắc pháp c h ế : Nguyên tắc này đòi hỏi một hệ thống

pháp luật hoàn thiện về xử phạt vi phạm hành chính Ngoài Pháp lệnh

1995, Chính phủ đã ban hành gần 50 nghị định và các văn bản qui

định về các hành vi vi phạm hành chính và hình thức, thủ tục xử lý đôi

với chúng trong các lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau Bản thân

việc ban hành Pháp lệnh 1995 và các nghị định xử phạt vi phạm hành

chính cụ thể là một biểu hiện đặc trưng trong việc thực hiện nguyên

tắc pháp chế của trách nhiệm hành chính Chỉ các cơ quan được pháp

luật qui định mới có quyền xử phạt và từng cơ quan hoặc người có

thẩm quyền chỉ được xử phạt theo mức, theo loại hành vi nhất định

Đặc biệt có ý nghĩa là chương về thủ tuc xử phạt vi phạm hành chính,

vai trò giám sát của công dân (thông qua khiếu nại, tô" cáo) của tổ chức

xã hội, tòa án và viện kiểm sát trong việc thực hiện pháp luật về xử lý

vi phạm hành chính ; ngưòi không có quyền xử phạt vi phạm hành

chính mà xử phạt hoặc có quyền xử phạt mà xử phạt sai, người bị xử

phạt không chấp hành quyết định xử phạt thì tùy theo tính chất, mức

JỈỘ vi phạm mà truy cứu trách nhiệm trước pháp luật là sự biểu hiện

_ìầy đủ của nguyên tắc pháp chế.

- N guyên tắc xử phat công minh : Muốn có pháp chế thì phải xử

phạt công minh Muôn có công minh thì phải xử đúng ngưòi, đúng tội,

lính đến một cách toàn diện đầy đủ mọi tình tiết có liên quan đến

lảnh vi ( tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ - diều 7, điều 8 Pháp lệnh 1995),

.nức độ và hình thức lỗi, hậu quả của hành vi, các yếu tố nhân thân,

lói chung tính công minh thể hiện sự thỏa đáng, đúng pháp luật.

- N g u y ê n tắc nhanh ch ón g kịp thời là nguyên tắc quan trọng

:ủa việc xử phạt vi phạm hành chính , bởi vì vi phạm hành chính xảv

•a nhiều, thường xuyên nên việc xử lý kịp thời, nhanh chóng góp phần

ụảo dục, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm hành chính, nâng cao hiệu

juả xử phạt, đảm bảo pháp chế.

Trang 29

Luân văn cao học

Ngoài ra, các n gu yên tắ c bìn h đẵng, côn g kh ai, nhân đ a o b ả o

vê q u yến và lơ i ích h ơ p p h áp, danh dư và nhân ph ẩ m của côn g dân

cũng được thể hiện rõ trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

* Ngoài các nguyên tắc cơ bản nêu trên, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính còn qui định các "nguyên tắc mang tính kỳ thuật" (được qui định tại khoản 4 điều 3 Pháp lệnh 1995), đó là :

- Tổng hợp hình phạt dối với 1 chủ thể thực hiện nhiều hành vi

- Cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính là hành vi vi phạm hành chính, có nghĩa là xử phạt vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi

- xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực nhà nước Vì vậy, việc xử phạt vi phạm hành chính là chỉ do các co' quan, người có thẩm quyền tiến hành (được qui định từ điều 26 đến điều 35 Pháp lệnh 1995).

Trang 30

Luận văn cao học

- Tính quyền lực nhà nước của xử phạt vi phạm hành chính qui

định tính bắt buộc phải thi hành vô điều kiện, phải thực hiện các nghĩa

vu plìáp lý nhât định, hay nói cách khác là buộc chủ thể vi phạm phải

gánh chịu những hậu quả bất lợi trước nhà nước.

- Là một hoạt động, xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành

qua nhiều giai đoạn theo thủ tục nhất định - đó lầ thủ tuc hành chính

do pháp luật qui định Đe tiến hành xử phạt phải lập biên bản vi phạm

hành chính, các hoạt động đình chỉ (trừ trường hợp phạt theo thủ tuc

đơn giản) và cuối cùng là ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính,

trong nhiều trường hợp còn có giai đoạn cưỡng chế thi hành quyết

định Quyết định xử phạt hành chính là hình thức thể hiện ý chí của

nhà nước và thái độ phản ứng trước hành vi vi phạm và mức cưỡng

chế đối với vi phạm.

Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính phải được thưc hiện

trong khuôn khổ của pháp luật và theo trình tự thủ tục hành chính do

pháp luật qui định Trình tự thủ tục này không phức tạp như trình tự

tlìủ tục tư pháp, nhưng cũng phải xác định được chủ thể vi phạm,

hành vi và lỗi vi phạm, mức độ thiệt hại (là những yếu tô" cơ bản) Bên

cạnh đó cũng cần phải xác định các yếu tố khác về nhân thân, thời

gian, địa điểm vi phạm và tiến hành ban hành quyết định xử phạt vi

phạm hành chính bảo đảm thời gian theo qui định.

1.2.2 Các hình thức xử phat vi pham hành chính và các biên pháp kh ôi phuc quyển, loi ích hơp pháp bị vi pham hành chính

xâm hai

Hình thức xử phạt hành chính là một trong sô" các hình thức xử

lý vi phạm hành chính Đ ó là những biện p h á p cưỡng c h ế nhà nước

hình thức xử phạt hành chính khác nhau được nhà nước qui định

trong nhiều văn bản qua các thời kỳ Ví dụ :

Trang 31

Luân văn cao học

- Nghị định số 225/TTg ngày 22/12/1952 ân định chế độ tạm thời về thuốc phiện (sửa đổi nghị định sô" 150/TTg ngày 5/3/1952), tại điều 6 qui định hình thức xử phạt vi phạm hành chính là tịch thu thuốc ph iện vầ p h ạ t tiền.

- Luật đường bộ ngày '13/3/1955 qui định h ì n h thức xử phạt :

p h ê bình cảnh cáo, p h ạ t tiền, thu h ồ i g iầ y p h é p ch ạy xc, thu h ồ i bằng lái

- Điều lệ xử phạt vi cảnh (ban hành kèm theo nghị định 143/CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ) qui định hình thức xử phạt : cảnh cáo, p h ạ t tiền, p h ạ t lao dộn g cổng ích, p h ạ t giam hảnlĩ chínlĩ.

- Pháp lệnh 1989 qui định 2 hình thức x ử p h ạ t chính là cảnh cầo

và p h ạ t tiền ; 2 hình thức p h ạ t b ổ su n g là tước quyền sử dụ n g g iâ y

p h é p ; tịch thu tang vật, ph ư ơ n g tiện v i phạm

- Pháp lệnh 1995 qui định 2 hình thức p h ạ t chính : cảnh cáo, p h ạ t tiền ; hai hình thức p h ạ t b ổ su n g là tước quyền sử dụ n g g iấ y p h é p và tịch thu tang vật, ph ư ơn g tiện dư ợc sử du n g d ể v i ph ạm hành chính.

Nhìn chung/ càng về sau, qui định tại các văn bản pháp luật về

xử phạt vi phạm hành chính nêu trên càng xác định rõ các hình thức chịu trách nhiệm hành chính của người vi phạm hành chính là : bị xử phạt do vi phạm hành chính và buộc khôi phục thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra (biện pháp cưỡng chế hành chính khác áp dụng kèm theo việc xử phạt trong những trường hợp do pháp luật qui định) Hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp buộc khôi phục thiệt hại cũng như cách thức áp dụng chúng được qui định chặt chẽ.

1.2.2.1 Hình thức xử phat chính

Là biện plìáp chủ yếu áp dụng đối với người vi phạm hành chính Nó được áp dụng một cách độc lập, nghĩa là đ ố i vớ i m ỗ i vi

ph ạm hành chính có th ể áp du n g m ộ t hình thức x ử p h ạ t chính m ả

Trang 32

Luân văn cao học

kh ôn g n h ấ t th iết p h ả i ấp dụ n g các hình thức p h ạ t b ổ su n g kcm ủĩco,

và củ n g c h ỉ đư ợc áp dụ n g m ộ t tio n g những hình thức p h ạ t chính m à

thôi (khoản 1 điều 11 Pháp lệnh 1995) Hình thức xử phạt chính gồm

cảnh cáo và phạt tiền Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, nhân

thân và tinh tiết giảm nhẹ, tăng nặng mà áp dụng một trong hai hình

thức xử phạt chính dối với người vi phạm hành chính.

Cảnh cáo : Là một trong hai hình thức xử phạt chính thể hiện

bằng văn bản được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức gây ra vi ph ạm

cảnh cáo trong các trường hợp có tình tiết tăng nặng.

Trong luật hình sự, hình phạt cảnh cáo được áp dụng đôi với

người phạm tội ít nguy hiểm, có tình tiết giảm nhẹ, song chưa được

miễn hình phạt và do tòa án quy định ; Hình thức cảnh cáo trong trách

nhiệm kỷ luật được tiến hành do người có thẩm quyền áp dụng, và

quan hệ giữa người bị cảnh cáo với người có thẩm quyền là quan hệ

trực thuộc, cảnh cáo trong trách nhiệm kỷ luật được lưu trong hồ sơ

cá nhân.

Phat tiên : Là hình thức xử phạt hành chính được áp dung phổ

biến Đ ó là biện p h á p m à n gư ờ i vi ph ạm p h á p lu ậ t p h ả i n ộ p p h ạ t bằng

tiền. Điều 13 Pháp lệnh mới quy định các mức độ phạt tiền khác nhau

nhằm đảm bảo tính hợp lý cho mỗi trường hợp cụ thể.

Trong luật hình sự phạt tiền có thể là hình phạt bổ sung do tòa

án quyết định, người bị phạt tiền phải mang án tích Trình tự xử phạt

tiền trong luật hình sự phức tạp hơn xử phạt tiền trong vi phạm

hành chính.

tiền trong trách nhiệm dân sự, hành chính, kinh t ế :

Người bị phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính chịu trách

nhiệm trước Nhà nước và mức tiền phạt áp dụng cả trong trường hợp

không gây ra thiệt hại Trong luật dân sự, hành chính, kinh tế người bị

Trang 33

Luận văn cao học

phạt tiền là bên gây ra thiệt hại phải chịu bồi thường cho bên bị thiệt hại theo hợp đồng dân sư, hành chính, kinh tế và mức phạt tiền phụ thuộc vào thiệt hại đã xảy ra (về vật chất và tinh thần) và vào các yếu

tố khác Trong xử phạt vi phạm hành chính, tiền phạt được nộp vào ngân sách nhà nước, trong luật dân sư, kinh tế, tiền phạt phải trả cho bên bị thiệt hại.

1.2.2.2 Các h ìn h thức phat bổ su n g

Ngoài 2 hình thức phạt chính nói trên, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính qui định 2 hình thức xử phạt bổ sung đôi với các chủ thể vi phạm hành chính là : tước quyền sử dụng giấy phép và tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.

Tước q u y ể n sử d u n g giấy phép : Là hình thức xử phạt bổ sung dược qui định tại điều l í , điều 14 Pháp lệnh '1995 Tước quyền sử

d ụ n g g iâ y p h é p là tư ớc đ o ạ t m ộ t diều kiện hành chính đ ã cho p h é p có

th ờ i hạn h oặc vô th ờ i hạn, nhằm hạn c h ế kh ả năng tiếp tục v i ph ạm và trừ ìig p h ạ t do d ã có hành vi v i ph ạ m hành chírdĩ g â y ra. Tước quyền

sử dung giấy phcp áp dụng đôi với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các qui tắc sử dung giây phép (giấy phép điều khiển các phương tiện giao thông vận tải, giấy phép kinh doanh hoặc các loại giấy phép khác).

Biện pháp tước quyền sử dụng giấy phép được áp dụng để xử phạt bổ sung khi đả áp dụng 1 trong 2 hình thức xử phạt chính, có nghĩa là nhất thiết phải có hình phạt chính mới có hình phạt bổ sung Mặt khác, không thê áp dụng hình thức phạt này nếu người vi phạm hành chính với hành vi vi phạm không liên quan đến việc lợi dụng giấy phép đó Ví dụ : không tước quyền sử dung giây phép kinh doanh khi chủ thể sử dụng giây phép đó để gây rối trật tự công cộng Hình thức phạt này có vai trò mt lớn trong việc đâu tranh với vi phạm hành chính, đặc biệt là trong lĩnh vực điều khiển các phương tiện giao thông vận tải, lĩnh vực sản xuất, lưu thông và dịch vụ kinh doanh.

Trang 34

Luận văn cao học

Tịch thu tang vât, phương tiên được sử d u n g đế vi pham hành

chính : cũng là hình phạt bổ sung được qui định tại điều 11, điều 15

Pháp lệnh '1995 Biện pháp này cũng được áp dụng trong trường hợp

như nêu ở trên N ộ i du n g cửa biện p h á p n à y là tước bỏ quyền sỡ hữu

v ề tang vật, ph ư ơ n g tiện đư ợc sử dụ n g d ể v i ph ạm hành chính của

n gư ời vi ph ạm chuyển sang quyền sở hữu của nhà nư ớc (sung vào

công quỹ nhà nước) Nhưng cũng cần lưu ý là đôi với vật, tiền,

phướng tiện thuộc sỡ hữu nhà nước hoặc thuộc sỡ hữu hợp pháp khác

bị người vi phạm chiếm đoạt/ sử dung trái phép thì không tịch thu mà

chuyên về cho chủ nhân hoặc người quản lý hợp pháp của chúng.

1.2.2.3 Các b iên pháp khôi phục quyển, lợi ích hợp pháp bị vi pham hành chính xâm hai

Ngoài các biện pháp trách nhiệm hành chính là phạt chính và

phạt bổ sung nói trên, còn những biện pháp trách nhiệm hành chính

mang tính chất khôi phục những quyền và lợi ích bị vi phạm hành

chính xâm hại, đồng thời trong số’ đó có những biện pháp nhằm muc

đích ngăn chặn những hậu quả xâu mà do vi phạm hành chính gây ra

Các biện pháp trách nhiệm hành chính này được qui định tại khoản 3

điều 11 với tên gọi là biện p h á p hành chínli khấc vắt chung chung và

sau đó được qui định cụ thể tại các điều 16,17,18 và 19 Các biện pháp

này thường được áp dung kèm theo với các biện pháp xử phạt, như :

- Buôc khôi phuc lai tình trạng ban đầu đã bị thay đối do vi pham hành chính gây ra hoăc bu ôc tháo dõ côn g trình xây dư ng trái

phép (điểu 16).

Đây lả biện pháp trách nhiệm hành chính mang tính cưỡng chế

"buộc khôi phuc" đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nhằm lập lại tình

trạng ban đầu của trật tự quản lý nhà nước mà vi phạm hành chính đã

làm thay đôi Biện pháp này được áp dụng chủ yêu đối với các vi

phạm trong lĩnh vưc quản lý sử dung đất đai, tài nguyên, xâm phạm

đối với các công trình giao thông, đê điều, thủy lợi, quốc phòng, điện,

nước và trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đô thị Thực

Trang 35

Luận văn cao học

tế áp dụng biện pháp này tương đối phức tạp do người vi phạm không

c ó khả năng, hoặc do sự tốn kém mà né tránh, chây ì Vì vậy, người có thẩm quyền phải cương quyết và tiến hành các thủ tục cưỡng chế đầy

đủ để biện pháp cưỡng chế có hiệu quả Biện pháp này, trong trường hợp ngoại lệ thì dù khi dã quá thời hiệu xử phạt (tức là không thể áp

d u n g c á c hình thức xử phạt được nữa) vẫn có thể áp dụng, ví du trường hợp xây dựng nhà cửa, công trình trái phép.

- Buôc bôi thường thiêt hại do vi phạm hành chính gây ra (điểu 17).

Điều này qui định cách xử lý b ồ i thường theo 2 mức trên nguyên

tắ c đo 2 bên thỏa thuận Nếu không thỏa thuận được thì người

thẩm quyền xử phạt quyết định mức bồi thường với giá trị thiệt hại dưới 1 triệu dồng ; trên 1 triệu đồng được giải quyết theo thủ tục tố tung dân sư.

- Buôc thuc hiên các biên pháp khắc phuc tình trạng ô nhiễm

m ô i trư ờn g sống, lâ y lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra (điều 18).

- T iêu hủy vât phấm gây hai cho sức kh ỏe con người, văn hóa

ph ẩm đ ộ c h ạ i (điều 19).

Nội dung và đôi tượng của 2 biện pháp này tương đối gần giống nhau Thực tế việc tiêu hủy vật phẩm, văn hóa phẩm độc hại là bước đầu thực hiện việc "khắc phục" Biện pháp này được áp dụng chủ vếu đối với các vi phạm hảnh chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm, các loại hóa chất độc hại như thuốc bảo vệ thực vật, chất thải công nghiệp, y tế, dược phẩm bị câm sử dụng Còn việc "khắc phục"

sẽ được tiến hành tiếp theo sau khi có sự điều tra, xác định hậu quả Vì vậy, c ó th ê viết 2 n ộ i du n g n à y Vcìo thành 1 diều khoản.

Trên đây là các điều được qui định tại chương II Pháp lệnh '1995 với tiêu đề : Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính Ngoài các qui định về các hình thức xử phạt trong chương này Pháp lệnh còn qui

Trang 36

Luận văn cao học

định thêm một số biện pháp về trách nhiệm hành chính khác mang

tính chất “khôi phuc pháp luật” Do đó, chính xác hơn thì điều 11 và

chương II nói trên nên gọi là "Cắc hình thức trách nhiệm hành chírứĩ

[số’ 3Ơ trang 422],

1.3 Các b iên pháp xử lý hành ch ín h khác - các b iên pháp cưỡng

c h ế hành ch ín h đặc biệt

1.3.1 K h á i n iêm các biên p h á p cưởng chê hành chính đăc b iệ t

Pháp luật Việt Nam qui định một số biện pháp cưỡng chế hành

chính đặc biệt tại nghị quyết số 49 ngày 20/6/1961 của ủy ban thường

vụ Quốc hội "về việc tập trung cải tạo những phần tử có hành động

nguy hại cho xã hội" và sau này tại chương III Pháp lệnh 1995 với các

biện pháp : giáo duc tại xã, phường, thị trấn ; đưa vào trường giáo

dưỡng ; dưa vào sở giáo dục ; đưa vào cơ sở chữa bệnh ; quản chế

hanh chính.

- Trước hết, cần xác định đây là các biện p h á p cưỡng c h ế hành

du n g bở i cấc cơ quan hành chính nhà nư ớc theo thủ tuc hành chính

Nó không mang tính cưỡng chê như cưỡng c h ế tư ph áp, nghĩa là

không thông qua xét xử của tòa án nhân dân Nó cùng khác vớ i cưỡng

chê k ỵ lu ậ t vì người bị áp dụng cuỡng chế không có quan hệ công vu,

quan hệ trực thuộc với cơ quan cũng như người có thẩm quyền áp

dụng biện pháp cưỡng chê.

- Mặt khác, đây là các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt

vì nó khác các biện pháp trách nhiệm hành chính nói trên ở tính chất

đặc trưng pháp lý, mức độ khắc nghiệt đa dạng, căn cứ và thủ tục áp

dụng Các biện pháp cưỡng chế trình bày ở trên mang tính tước đoạt

một phần về tinh thần và chủ yếu là về vật chất trong một thời điểm

nhất định, do đó có tính khắc nghiệt ít hơn Còn cấc biện p h ấ p cưỡng

chê'đặc b iệ t n ó i chung m ang tính khắc n g h iệt cao hơn nhiều Ở đây, về thực ch ất là tước đ o ạ t hoặc hạn c h ế quyền tự do cá nhân của n gư ờ i vi

Trang 37

Luận văn cao học

ph ạm p h á p lu ậ t trong Iĩiột g ia i đoạn n h ất định vớ i những hình thức

n h ư tập trung giáo dụ c cải tạo vả quẩn chế{ứ\QO nghị quyết 49), hoặc

dưa vào trường giáo dưỡng, đưa vảo cơ sở giảo duc, cơ SỞ chữa bệnh,

quản c h ế hành chính (ngoại trừ biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị

trân mang tính chất tác động xã hội) (theo Pháp lệnh 1995).

Về d ố i tượng được qui định bị áp dụng các biện pháp này cũng

rất đa dạng : có thể là các đôi tượng thực hiện vi phạm hành chính,

hoặc có thể là đối tượng thực hiện tội phạm hình sư (đối với các biện

pháp tập trung cải tạo hoặc quản chế theo nghị quyết 49), hoặc các đối

tượng thưc hiện vi phạm hành chính/ tội phạm hình sư nhưng chưa

đến tuổi chịu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự (với biện

pháp đưa vào trường giáo dường), ngoài ra còn có những đối tượng

đặc biệt khác như đối tượng nghiện ma túy, đối tượng mại dâm (với

biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, chữa bệnh ).

- Theo nghị quyết 49, đối tượng bị tập trung cải tạo là những phần tử có hành vi xâm phạm nghiêm trọng an ninh quốc gia nhưng

xét thấy chưa cần thiết đưa ra truy tố xét xử và những tên lưu manh

chuyên nghiệp chưa có tiền án, tiền sự, những tên lưu manh chuyên

nghiệp sống lang thang cư trú bất hợp pháp đã bị xử lý, giáo dục

nhiều lần nhưng không chịu cải tạo vẫn tiếp tục có hành vi vi phạm

hành chính làm phương hại đến an ninh trật tự.

Thâm quyền ra quyết định tập trung cải tạo được pháp luật qui

định do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố quyết định trên

cơ sở đề nghị của Hội đồng tư vấn gồm đại diện các cơ quan Công an,

Tư pháp, Viện kiểm sát và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Tập trung cải tạo là đưa những đối tượng cần cải tạo đến một nơi

nhất định, ở đó buộc họ phải lao động sản xuất ra của cải cho xã hội,

học tập chính trị, pháp luật

Trang 38

Luân văn cao học

Tuy nhiên, những đối tượng cưỡng chếđược qui định trong nghị

quyết 49 (nhát là đôi tượng có hành vi xâm phạm an ninh quôc gia)

ngày càng bị thu hẹp Hơn nữa các lĩnh vưc xã hội, các đối tượng vi

phạm phức tạp hơn nên Pháp lệnh '1995 qui định lại một số biện pháp

tương tư vả có tăng thêm một sô' biện pháp khác như : giáo dục tại xã,

phường, thị trấn ; đưa vào trường giáo dưỡng ; đưa vào cơ sở giáo

dục ; đưa vào cơ sở chữa bệnh ; quản chế hành chính Đối tượng bị áp

dưng các biện pháp này cũng rất đa dạng và phức tạp.

1.3.2 Các biên p h á p cư ỡng c h ế hành chính đảc b iê t

1.3.2.1 Giáo duc tai xã, phường, thị trấn

- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn đôi với người có hành vi vi

ph ạm p h á p lu ậ t n h ư n g chưa đến m ức đưa vào trường giáo dưỡng, cơ

sở giáo dục ; người mại dâm, người nghiện ma túy nhưng chưa đến

mức đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn từ 3 tháng đến 6 tháng.

Cơ sỏ để áp dụng biện pháp này đối với người có vi phạm nhỏ

nhưng nhiều lần có tính chất chưa nghiêm trọng nhưng cần thiết phải

giáo dục tại cộng đồng mà không tách biệt xã hội, với sự quản lý của

chính quyền, gia đình để họ không bị tha hóa hơn về nhân cách trở

thành công dân tốt cho xã hội.

Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp tác động

xã hội hoàn toàn mang tính chất giáo dục.

1.3.2.2 Đ u a vào trường giáo dưỡng

Đưa vào trường giáo dưỡng những người từ đủ 12 tuổi đến dưới

14 tuổi, từ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có cấc dấu hiệu

của m ộ t tộ i ph ạm n gh iêm trọn g và tộ i ph ạm í t nghiêm trọng qui định

tại Bộ luật hình sự (Đôi với tuổi từ 12 đến dưới 16 tuổi có thêm chế tài

"đã dược chính quyền và nhân dàn địa phương giáo dục nhiều lần mà

không chịu sữa chữa") ; người từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi nhiều lần có

hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vưc trật tư an toàn xã hội, đã

được chính quyền vả nhân dân địa phương giáo duc nhiều lần mà

không chịu sữa chữa Như vậv, biện pháp này được áp dung với

Trang 39

Luân văn cao học

những dối tượng có hành vi vi p h ạm p h á p lu ậ t có tính n g u y hiểm cho

xã h ộ i cao hơn (hànlì vi có dấu hiệu tội phạm hoặc nhiều lần vi phạm hanh chính trong lĩnh vực trật tư an toàn xã hội) Biện pháp nàv có tính đến yếu tố vị thanh niên nên có qui định về độ tu ổi và m ức độ

n gu ỵ h iểm của hành vi để đưa ra hình thức phù hợp là "trường giáo dưỡng" có thời hạn.

1.3.2.3 Đ ua vào co’ sở giáo duc

Đưa vào cơ sở giáo duc người có hành vi v i ph ạm p h á p lu ậ t có tính thư ờng xu yên nhưng chưa đến m ức tru y cứu trách nhiệm hình sư’

đả đư ợc chính quyền và nhân dân địa phương g iáo duc nhiều lần

không chịu sửa chữa, với thời hạn từ 6 tháng đến 2 năm Biện pháp này tu y ỉà g iá o du c như ng m ang tính cưỡng chê' k ỷ lu ậ t cao hơn. Vì vây, không thực hiện dối với những người chưa đủ 18 tuổi và nữ trên

55 tuổi, nam trên 60 tuổi.

Đây là biện p h á p đưa nhữ ng n gư ờ i nghiện m a túy, n gư ờ i m ại dẫm có tính ch ấ t thường xuyên đã được chính quyền và nhân dân địa phương g iá o dụ c nhiều lần m ả không chịu sửa chữa d ể chữa bệnh, học tập vả lao đ ộ n g có th ờ i hạn. Biện pháp này mang tính nlìân đạo vì nhà nước phải tốn một số kinh phí đê giúp chữa bệ nil, cai nghiện và đảm bảo sức klìỏc cho nạn nhân, vừa ngăn ngừa và bảo vệ sức khỏe cho xã hội, cộng đồng.

Ba biện pháp nêu trên đều được thưc hiện sau khi đã được chính quyền và nhân dân địa phương giáo dục nhiều lần mà không chịu sửa chữa trong thời hạn từ 3 tháng đến 6 tháng Tuy ở mức độ khác nhau nhưng bản chất pháp lý của các biện pháp cưỡng chế đặc biệt này đều mang tính trừng phạt nghiêm khắc và trong một thời hạn nhất định.

1.3.2.5 Quản chế hành chính

Chế độ quản chế áp dụng với những ngưò’í có những vi ph ạm hànlĩ chính ít n g u y hiểm Hình thức này không buộc đưa những đối tượng đi tập trung, mà lao động bình thường riơi họ cư trú, sinh sống,

Trang 40

Luận văn cao học

chính quyền sở tại kiểm soát và có các biện pháp giáo đuc họ Người

bị quản chế chịu sư theo dõi của chính quyền địa phương và không được ra khỏi nơi cư trú nếu không được phép.

Chế độ quản chê hành chính đã bắt đầu có tính khắt nghiệt vì đã

bị hạn chế tư do phần nào ; còn dưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào

cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sỏ chữa bệnh thực chất là tước quyền tư do

cá nhân không thua kém các biện pháp hình sự về tính trừng phạt và khắt nghiệt của nó Vì vậy, việc qui định cụ thể các biện pháp này trong Pháp lệnh '1995 là cần thiết vì đây là những biện pháp đặc biệt quan trọng Tuy nhiên, như ý kiên của TS Nguyễn cửu Việt, việc đưa các biện p h á p cư ỡng c h ế dặc b iệt n à y vảo các văn bản p h á p lu ậ t thuộc lĩnh vực xử lý v i p h ạ m hành chính có lẽ chưa p h ù h ợ p vì thưc chất các

d ổ i tư ợng trên thư ờng k h ôn g p h ả i là đ ô i tư ợng vi p h ạm hành chính

m ả chủ y ế u là tộ i p h ạ m vả các biện p h á p n à y có đặc điểm của biện

p h ấ p tư p h á p hình sư hơn là biện p h á p cưỡng c h ế hành chính ts° 30 trang 366].

Tóm lại, hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật hiện hành là hệ thống tương đối hoàn chỉnh Bốn hình thức xử phạt cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dung giây phép, tịch thu tang vật phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính và nhóm các biện pháp khôi phục thiệt hại, ngăn chặn vi phạm do vi phạm hành chính gây ra, nhóm các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt được qui định trong các văn bẳn pháp luật hiện hành của nhà nước về xử lý vi phạm hành chính đã thể hiện sự tương đối hoàn chỉnh này và đáp ứng

sự phát triển đa dạng, phức tạp của xã hội trong cơ chế thị trường có

sự định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của chúng, chúng ta càn tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiên về các vấn đề,

ví du : số lượng các biện pháp trách nhiệm hành chính, qui định chi tiết các biện pháp và thủ tục áp dụng chúng góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Bỏi vì "trong nhà nước pháp quyền, pháp luật là thước đo chuẩn mưc của sự tư do" ts° 29 trang 45].

Ngày đăng: 01/10/2020, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w