Điều này có thể được lý giải theo học thuyết của phái xã hội, tiêu biểu là Luật gia Duguit vào thế kỷ XIX như sau: “tôn trọng ý chí của các bên giao kết, nhưng cũng cần chú trọng vào quy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
MỘT SỐ BIỆN PHÁP XỬ LÝ VIỆC KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG
SO SÁNH GIỮA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THẾ HÀ KHÓA: 2008 - 2012 MSSV: 0855050048 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS ĐỖ THỊ MAI HẠNH
TP.HỒ CHÍ MINH, 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do chính trí tuệ và sự nỗ lực của bản thân Kết quả nghiên cứu chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
TP.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012
Sinh viên thực hiện
NGUYỄN THẾ HÀ
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình hoàn thành khóa luận, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ nhiều người, và khóa luận không thể hoàn thành nếu thiếu những sự đóng góp này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những người đã dành cho tôi sự giúp đỡ quý báu
Tôi biết ơn sâu sắc Tiến sỹ Đỗ Thị Mai Hạnh - Tổ trưởng bộ môn tư pháp quốc tế, Khoa Quốc tế, Đại học luật TP.HCM Cô đã tận tình hướng dẫn tôi ngay từ những bước đầu khi tiến hành nghiên cứu, chọn lọc, phát triển ý tưởng và đưa ra những nhận xét, phản hồi cho khóa luận
Tôi chân thành cám ơn PGS.TS Đỗ Văn Đại, Quyền Trưởng khoa Dân sự, Đại học luật TP.HCM Những công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo của Thầy là niềm cảm hứng cho tôi đi sâu vào nghiên cứu, so sánh với pháp luật Pháp Thầy cũng hướng dẫn tôi lựa chọn phạm vi nghiên cứu phù hợp với yêu cầu của khóa luận
Cám ơn rất nhiều Thầy, Cô khác của trường Đại học luật TP.HCM đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ trong thời gian hoàn thành khóa luận, đặc biệt là ThS.Vũ Duy Cương, Giáo viên Chủ nhiệm lớp QT33A
Ngoài ra, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ TS.LS Nguyễn Mạnh Bách, LS.Nguyễn Ngọc Bích (Master of Harvard), LS.Trần Minh Phương Nhờ sự tận tình chỉ bảo và cho phép tôi tiếp xúc với những hồ sơ vụ việc đã giúp cho khóa luận rút ra những bài học từ thực tiễn.Tôi không thể không cám ơn sự hỗ trợ rất lớn từ phía gia đình và bạn
bè
Do hạn chế kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của mọi người để khóa luận được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
NGUYỄN THẾ HÀ
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trong bài nghiên cứu này, một số từ viết tắt dùng trong nhiều phần được ghi dưới đây Ngoài ra trong mỗi phần có một vài chữ tắt nhất định và chỉ ghi trong các chương ấy
BLDS 2005 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
LTM 2005 Luật thương mại số 36/2005/QH11 của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam BLDS Pháp Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp phiên bản năm 2005
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 5
DẪN NHẬP 5
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ BIỆN PHÁP XỬ LÝ VIỆC KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT PHÁP 9
1.1 Khái quát về hệ thống pháp luật Pháp 9
1.2 Một số biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng 12
1.2.1 Biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng 12
1.2.1.1 Khái quát về biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng 13
1.2.1.2 Điều kiện áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng 14
1.2.1.3 Ngoại lệ của biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng 16
1.2.1.4 Nâng cao tính khả thi của biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng bằng chế tài 18
1.2.2 Yêu cầu bồi thường thiệt hại 19
1.2.2.1 Khái quát về biện pháp yêu cầu bồi thường thiệt hại 19
1.2.2.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại 21
1.2.2.3 Những loại thiệt hại được bồi thường 26
1.2.2.4 Xác định giá trị bồi thường thiệt hại 28
1.2.2.5 Phân biệt bồi thường thiệt hại với phạt vi phạm 32
1.2.3.Hủy bỏ hợp đồng 34
1.2.3.1.Khái quát về biện pháp hủy bỏ hợp đồng 34
1.2.3.2 Điều kiện áp dụng biện pháp hủy bỏ hợp đồng 35
1.2.3.3 Hệ quả của việc áp dụng biện pháp hủy bỏ hợp đồng 40
1.3 Mối quan hệ giữa buộc thực hiện đúng hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại và hủy bỏ hợp đồng 41
Trang 7CHƯƠNG 2 SO SÁNH, ĐÁNH GIÁ VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆC HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VIỆC KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP
ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 44
2.1 Kiến nghị về kỹ thuật lập pháp 44
2.1.1 Lựa chọn thuật ngữ "biện pháp xử lý" thay cho thuật ngữ "trách nhiệm dân sự" và "chế tài" 44
2.1.2 Thống nhất văn bản pháp luật quy định các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng 46
2.1.3 Tập trung đầy đủ các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong một mục 47
2.2.So sánh, kiến nghị về một số biện pháp biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng cụ thể 49
2.2.1 Biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng 49
2.2.1.1 Bổ sung khái niệm về "buộc thực hiện hợp đồng" 49
2.2.1.2 Sự cần thiết của quy định về "Thư hối thúc" 50
2.2.1.3 Phân biệt nghĩa vụ thành "nghĩa vụ theo kết quả" và "nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất" 52
2.2.1.4 Xây dựng nguyên tắc ưu tiên áp dụng và ngoại lệ đối với biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng 53
2.2.1.5 Bổ sung chế tài kèm theo nhằm nâng cao tính khả thi của biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng 55
2.2.2 Yêu cầu bồi thường thiệt hại 57
2.2.2.1 "Lỗi" là yếu tố không thể thiếu trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng 57
2.2.2.2.Bổ sung quy định về khoản lợi trực tiếp bị mất 60
2.2.2.3 Yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm là hai biện pháp khác nhau 62
2.2.3 Quy định rõ ràng điều kiện áp dụng biện pháp hủy bỏ hợp đồng 65
Trang 82.3 Mối quan hệ giữa buộc thực hiện đúng hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại và hủy
bỏ hợp đồng 68
PHẦN KẾT LUẬN 71
Trang 91
PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Hợp đồng là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật, được nhiều văn bản pháp
lý điều chỉnh Chế định này bao gồm những quy định về khái niệm, hiệu lực bắt buộc của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, vấn đề vi phạm hợp đồng và những biện pháp
xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng Đây là một chủ đề đã được nghiên cứu từ lâu, toàn diện trên tất cả khía cạnh, được thể hiện qua rất nhiều công trình khoa học, bài báo, sách chuyên khảo viết về lĩnh vực hợp đồng
Nội dung của hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng được điều chỉnh bởi hai văn bản pháp lý chủ yếu là Bộ luật Dân sự
2005 (BLDS 2005) và Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) Theo đánh giá của nhiều luật gia, quy định về vấn đề này còn tồn tại nhiều điểm thiếu sót, hạn chế, vì vậy ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình nghiên cứu và áp dụng trên thực tiễn Trong bối cảnh Nhà nước thúc đẩy cải cách tư pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc hoàn thiện những quy định của pháp luật về vấn đề này được đặt ra một cách cấp thiết
Tại Việt Nam, phần lớn các công trình nghiên cứu chỉ tập trung trong một vài biện pháp
xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng như buộc bồi thường thiệt hại, hủy bỏ hợp đồng , và thiếu hẳn những công trình nghiên cứu mang tính khái quát và toàn diện Năm
2010, PGS.TS Đỗ Văn Đại có một công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ được in thành
sách mang tên “Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật
Việt Nam” Công trình nghiên cứu này có nội dung nghiên cứu khá toàn diện, đầy đủ cho
người đọc có thể khái quát được các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra vài so sánh với pháp luật các nước, đặc biệt là Pháp nhằm khuyến nghị, góp ý hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật Việt Nam
Tác giả đã nhận thấy được việc nghiên cứu, so sánh pháp luật các nước trên thế giới đóng vai trò rất quan trọng, là "con đường" nhanh chóng và hiệu quả nhằm hoàn thiện pháp
Trang 10Do vậy, kế thừa và tiếp tục phát huy tinh thần và giá trị của công trình “Các biện pháp xử
lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam” của PGS.TS Đỗ Văn
Đại, tác giả mở rộng việc nghiên cứu và so sánh quy định giữa hai quốc gia Pháp và Việt Nam về biện pháp xử lý nhằm tìm ra những điểm tiến bộ có thể được nhà làm luật Việt Nam tham khảo, phục vụ cho việc hoàn thiện pháp luật
2.Mục tiêu và đối tƣợng nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài trước hết nghiên cứu pháp luật của Pháp về các biện pháp xử
lý việc không thực hiện đúng hợp đồng, sau đó so sánh, đánh giá những ưu và nhược điểm với pháp luật của Việt Nam về vấn đề này Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam và Pháp
Trang 113
biện pháp trên.1 Hoặc nghiên cứu về biện pháp bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng của TS.Dương Anh Sơn, chỉ tập trung phân tích yếu tố lỗi và mức bồi thường thiệt hại.2Hơn nữa, việc so sánh chế định này giữa pháp luật Việt Nam và các nước chưa được quan tâm đúng mức, hầu như chưa có công trình nào viết về vấn đề này
4.Phạm vi nghiên cứu
Đối với quy định trong pháp luật Việt Nam, tác giả chỉ tập trung vào một số biện pháp xử
lý áp dụng đối với hợp đồng dân sự và thương mại, được quy định trong Bộ luật Dân sự
2005 và Luật thương mại 2005, bao gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, buộc bồi thường thiệt hại, đơn phương chấm dứt và hủy bỏ hợp đồng
Đối với quy định của Pháp, tác giả tập trung nghiên cứu về những biện pháp tương đồng quy định trong Bộ luật dân sự Pháp phiên bản 2005 theo bản dịch của Nhà Pháp luật Việt
- Pháp và một số bản án của tòa án Pháp
5.Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Marx-Lenin, tiếp cận trên phương diện lí luận và thực tiễn quy định của pháp luật về vấn đề nghiên cứu, đề tài được nghiên cứu trên cơ sở tài liệu tham khảo được thu thập, tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau như giáo trình, tạp chí chuyên ngành, công trình nghiên cứu, bình luận khoa học Đề tài kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, đánh giá nhằm đưa ra những kiến nghị cụ thể
6.Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Không thể phủ nhận rằng so sánh pháp luật nước ngoài về vấn đề được nghiên cứu mang lại những kinh nghiệm to lớn trong công tác hoàn thiện pháp luật Khi nghiên cứu và so sánh pháp luật của Pháp với Việt Nam, tác giả đã rút ra một số điểm tiến bộ và hạn chế trong quy định của BLDS Pháp lẫn BLDS 2005, LTM 2005 Trên cơ sở nghiên cứu đó
1
Đỗ Văn Đại - Đỗ Văn Hữu, Buộc thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Hội thảo "Không thực hiện
đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam" (2010)
2 TS.Dương Anh Sơn, Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, Hội thảo "Không thực hiện đúng hợp đồng trong
pháp luật thực định Việt Nam" (2010)
Trang 124
đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định "biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng" trong pháp luật Việt Nam
Trang 135
PHẦN NỘI DUNG DẪN NHẬP
Quan hệ hợp đồng là quan hệ phổ biến trong đời sống xã hội được hình thành từ rất sớm
Do đó, cổ luật Việt Nam từ thời phong kiến đã có những quy định điều chỉnh quan hệ hợp đồng Điển hình như "Quốc triều Hình luật" (thường được gọi là Bộ luật Hồng Đức) được ban hành vào khoảng giữa thế kỷ XV đã có những quy định về hợp đồng mua bán, cầm cố và thuê mướn ruộng đất.3 Hợp đồng đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh
tế của cá nhân lẫn xã hội vì nó là hình thức pháp lý cơ bản của việc trao đổi hàng hóa,là một trong những phương tiện pháp lý chủ yếu để cá nhân, tổ chức trao đổi lợi ích nhằm thỏa mãn các nhu cầu nhân sinh.4
Vì vậy, hợp đồng được xem là một công cụ hữu hiệu mang lại lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn (Điều 123 BLDS 2005) bằng việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền
và nghĩa vụ giữa các bên (Điều 388 BLDS 2005) Do đó, để có thể đạt được mục đích của mình thì các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng
Để bảo vệ ý chí của các bên giao kết, pháp luật các nước đều quy định hợp đồng có hiệu
lực bắt buộc, chẳng hạn luật Việt Nam quy định “cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu
lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng” (Đoạn 3 điều 4 BLDS 2005) hay pháp luật Pháp cũng quy định tương tự “hợp đồng được giao kết hợp pháp có giá trị là luật đối với các bên giao kết” (Đoạn 1 điều
1134 BLDS Pháp) Như vậy, hiệu lực của hợp đồng được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, các bên phải tuân thủ và thực hiện hợp đồng một cách nghiêm chỉnh và thiện chí
Tuân thủ hiệu lực của hợp đồng, người có nghĩa vụ “phải thực hiện nghĩa vụ của mình
đúng cam kết” (Điều 283 BLDS 2005), nghĩa là các bên phải thực hiện “đúng thời hạn”
(Điều 285 BLDS 2005), đối với nghĩa vụ giao vật đặc định phải giao “đúng vật đó và
3
http://vi.wikipedia.org/wiki/Lu%E1%BA%ADt_H%E1%BB%93ng_%C4%90%E1%BB%A9c#S.E1.BB.9F_h.E1 BB.AFu_v.C3.A0_h.E1.BB.A3p_.C4.91.E1.BB.93ng (truy cập ngày 15/05/2012)
4 Nguyễn Minh Hùng, Luận án Tiến sỹ Luật học: Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam (2010), tr.1
Trang 146
đúng tình trạng như đã cam kết” (Điều 289 BLDS 2005), “đúng địa điểm và phương thức
đã thỏa thuận” (Điều 290 BLDS 2005) và đối với nghĩa vụ thực hiện công việc phải
“thực hiện đúng công việc đó” (Điều 291 BLDS 2005)
Luật của Pháp cũng quy định người có nghĩa vụ phải giao đúng vật đã cam kết (Điều
1243 BLDS Pháp), giao vật đúng địa điểm đã thỏa thuận (Điều 1247 BLDS Pháp) và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ (Điều 1244 BLDS Pháp) Tuy nhiên, luật của Pháp đã mở rộng
việc thực hiện nghĩa vụ của các bên phải “theo yêu cầu của nguyên tắc công bằng, theo
tập quán hay theo quy định của pháp luật” (Điều 1135 BLDS Pháp) như nghĩa vụ cung
cấp thông tin, chỉ dẫn, cảnh báo cho khách hàng về hàng hóa Điều này có thể được lý giải theo học thuyết của phái xã hội, tiêu biểu là Luật gia Duguit vào thế kỷ XIX như sau:
“tôn trọng ý chí của các bên giao kết, nhưng cũng cần chú trọng vào quyền lợi chung của
xã hội bởi vì nếu các cá nhân được hoàn toàn tự do, tình trạng này sẽ đưa đến kết quả bất công cho những người yếu thế”.5
Việc quy định chặt chẽ quyền và nghĩa vụ của các bên vẫn chưa đủ để điều chỉnh quan hệ hợp đồng một cách hiệu quả vì vẫn có những trường hợp không mong đợi có thể xảy ra như không thực hiện, chậm thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng Do vậy, pháp luật các nước đã dự đoán trước vấn đề “vi phạm hợp đồng” Pháp
luật Việt Nam quy định là "việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” (khoản 12 Điều 3 LTM 2005) Tuy nhiên, thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” chưa bao
quát hết các tình huống xảy ra trong thực tế6, chẳng hạn một bên thực hiện hợp đồng sau thời điểm thỏa thuận, đây là trường hợp chậm thực hiện, không được đề cập trong quy định trên Ngoài ra, sử dụng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” không phù hợp trong trường hợp một bên không thực hiện được hợp đồng do lỗi của đối phương hoặc do nguyên nhân bất khả kháng
Trang 157
BLDS Pháp sử dụng thuật ngữ “không thực hiện nghĩa vụ”, điển hình như quy định tại
Điều 1142 “nếu người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ”, Điều 1144 “người có
nghĩa vụ không thực hiện công việc đã thỏa thuận” và Điều 1146 “người có nghĩa vụ chỉ phải bồi thường thiệt hại nếu đã được yêu cầu mà vẫn không thực hiện nghĩa vụ” Khái
niệm “không thực hiện nghĩa vụ” không chỉ bao gồm hành vi không thực hiện mà còn hành vi thực hiện trễ hạn hoặc không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.7
Để tìm ra một thuật ngữ chính xác nhất, việc tham khảo các văn bản pháp lý quốc tế về hợp đồng hiện nay là một việc làm cần thiết Bộ nguyên tắc Unidroit và Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng không sử dụng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” (breach of contract),
mà thay vào đó là thuật ngữ khác mang tính trung lập “không thực hiện đúng hợp đồng" (non-performance of contract).8
Như vậy, thuật ngữ “không thực hiện đúng hợp đồng” sẽ được định nghĩa như sự thiếu sót của một trong các bên trong khi thực hiện nghĩa vụ, và các trường hợp không thực hiện đúng hợp đồng phổ biến như chậm thực hiện hợp đồng so với thời hạn đã ấn định; thực hiện không đúng hợp đồng về số lượng, chất lượng hay địa điểm; chỉ thực hiện một phần nghĩa vụ; hoặc không thực hiện toàn bộ nghĩa vụ Ngoài ra, trước khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đến, người có nghĩa vụ tuyên bố bằng lời nói hoặc thông qua hành động thể hiện rằng họ sẽ không thực hiện hợp đồng, trường hợp này được xem là "vi phạm trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ" (anticipatory breaches of contract).9
Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng, lợi ích của người có quyền đã bị xâm hại, Nhà nước phải ban hành những biện pháp xử lý người có nghĩa vụ Bởi vì niềm tin bắt đầu từ pháp luật, người có quyền tin người có nghĩa vụ giữ cam kết thực hiện hợp
No 3 (July 1996), p 662-667, Published by Cambridge University Press on behalf of the British Institute of
International and Comparative law
Trang 168
đồng, nếu không thì đã có biện pháp chế tài Luật pháp đem lại cho mỗi người tham gia hợp đồng một kỳ vọng là nếu mình không vi phạm thì quyền lợi của bản thân sẽ được đảm bảo.10
Pháp luật Việt Nam đã quy định khá đa dạng các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng như buộc thực hiện đúng hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại, yêu cầu trả lãi chậm thanh toán, yêu cầu giảm giá, hoãn thực hiện hợp đồng, cầm giữ tài sản, đơn phương chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng, thay thế việc thực hiện của bên có nghĩa vụ Ngoài những biện pháp trên, với tinh thần tôn trọng tự do thỏa thuận (Điều 4 BLDS 2005), các bên được lựa chọn những biện pháp xử lý khác không trái quy định của pháp luật (phạt vi phạm, thỏa thuận tăng miễn, giảm trách nhiệm của bên có nghĩa vụ )
Tuy nhiên, những quy định trên vẫn còn nhiều bất cập trong việc nghiên cứu và áp dụng trên thực tế, đặc biệt trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay Thay vì phải dự đoán và
có nguy cơ tạo ra những giải pháp không thích hợp, nhà làm luật có thể khai thác, tham khảo kinh nghiệm phong phú của các nước thông qua con đường nghiên cứu, so sánh pháp luật nước ngoài.11 Do vậy, so sánh các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong luật Việt Nam và pháp luật Pháp có thể mang lại nhiều kinh nghiệm cho nhà lập pháp Việt Nam tìm ra những thiếu sót và hoàn thiện chế định này
Các biện pháp xử lý được luật quy định rất đa dạng, nhưng đề tài chỉ tập trung nghiên cứu, so sánh ba biện pháp quan trọng nhất, được áp dụng phổ biến trên thực tế và có mối quan hệ mật thiết với nhau Đó là biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại và hủy bỏ hợp đồng
10 Nguyễn Chính Tâm, Hợp đồng của niềm tin, Báo Sài Gòn Tiếp thị số Tết (2012), tr.21
11 Michael Bogdan, Comparative law, Kluwer Norstedts Juridik Tano (1994), tr.22
Trang 179
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ BIỆN PHÁP XỬ LÝ VIỆC KHÔNG THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT PHÁP
1.1 Khái quát về hệ thống pháp luật Pháp
Trên thế giới có hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ12 và vì vậy, tương ứng có nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Dựa trên một số tiêu chí nhất định hoặc sự tương đồng trong
hệ thống pháp luật của các quốc gia, các hệ thống pháp luật thường được phân nhóm thành những hệ thống chính như: hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa và một số hệ thống pháp luật nhỏ khác (luật Hồi giáo, luật Hindu ).13
Trong đó, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (hay còn gọi là hệ thống pháp luật Dân luật
- Civil Law) là hệ thống pháp luật lớn nhất trên thế giới, bao gồm các nước như Pháp, Italy, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Áo, Bỉ, Luxembourg, Hà Lan, Thụy Sĩ, Scotland Bên cạnh đó, nhiều nước ở Châu Phi, Đông Á và một số khu vực Bắc Mỹ như vùng Quebec và bang Louisiana cũng kế thừa truyền thống pháp luật này.14
Xét về tổng quan, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa có một số đặc trưng chính Thứ
nhất, luật La mã ảnh hưởng sâu sắc đến pháp luật các nước, thể hiện qua ba khía cạnh:
Corpus juris civilis được tiếp nhận rộng rãi và được nghiên cứu tại các trường Đại học từ thế kỷ XIII; luật La mã được xem như nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật thành văn và tập quán chưa điều chỉnh; các Bộ luật dân sự lớn của lục địa Châu Âu được hình thành trên cơ sở kết hợp tập quán và luật La mã.15
Thứ hai, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa có trình độ hệ thống hóa, pháp điển cao,
được chứng minh qua việc những bộ luật thành văn đồ sộ ra đời từ rất sớm, điển hình như
Bộ luật Dân sự 1804, Bộ luật tố tụng dân sự 1806, Bộ luật thương mại 1807 của Pháp và
Bộ luật Dân sự 1896 của Đức Do hoạt động lập pháp phát triển đến trình độ cao nên việc
12 252 quốc gia & vùng lãnh thổ trên thế giới, Nhà xuất bản thế giới (2010)
13
Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật so sánh, Nhà xuất bản Công an nhân dân (2010), tr.88
14 Đại học Luật Hà Nội, chú thích số 13, tr.99
15 Đại học Luật Hà Nội, chú thích số 13, tr.100
Trang 1810
nghiên cứu, thực hiện và áp dụng pháp luật trở nên dễ dàng Các quy phạm pháp luật rất
cụ thể, chế tài rõ ràng nên có thể áp dụng trực tiếp vào các quan hệ xã hội mà không cần thông qua văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành
Thứ ba, các quốc gia Châu Âu lục địa chịu ảnh hưởng của học thuyết phân chia quyền
lực nên lập pháp là hoạt động của Nghị viện, Tòa án chỉ là cơ quan xét xử, không được tạo ra luật Tuy nhiên, các phán quyết của Tòa án vẫn có giá trị tham khảo, được áp dụng hạn chế như là hình thức khắc phục khiếm khuyết của luật thành văn.16
Khi nghiên cứu hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, không thể không nhắc đến pháp luật Pháp, một hệ thống pháp luật mang tính điển hình được hình thành từ rất sớm Tương tự
hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, pháp luật Pháp được phân chia thành luật công (điều chỉnh quan hệ xã hội giữa cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với tư nhân) và luật tư (điều chỉnh quan hệ giữa tư nhân với tư nhân) Sự phân chia này xuất phát từ quan điểm "lợi ích công và lợi ích tư không thể cùng đặt lên một bàn cân"17
và phương pháp điều chỉnh khác biệt trong từng mối quan hệ
Lĩnh vực luật tư bao gồm những ngành luật như luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật thương mại, luật lao động Trong đó, luật dân sự nắm giữ vai trò đặc biệt quan trọng, được xem như "luật chung", quy định những nguyên tắc cơ bản để các "luật chuyên ngành" dựa vào đó phát triển Nếu luật chuyên ngành không quy định một trường hợp cụ thể thì các luật gia sẽ quay lại những quy định chung trong luật dân sự nhằm tìm
ra cách thức giải quyết.18
Trong thế kỷ XIX, luật dân sự nói riêng và lĩnh vực tư pháp của Pháp nói chung đã phát triển đến một trình độ cao, đó là khi Bộ luật dân sự - được xem là "Hiến pháp dân sự" được công bố vào ngày 21 tháng 3 năm 1804 Bộ luật được soạn thảo với những quy định khái quát, toàn diện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực tư pháp Văn bản pháp lý này bao gồm 2283 điều, chia thành Thiên mở đầu chứa đựng một số nguyên tắc
16 Đại học Luật Hà Nội, chú thích số 13, tr.103
17 Đại học Luật Hà Nội, chú thích số 13, tr.101
18 Nguyễn Ngọc Bích, Tài ba của luật sư, Nhà xuất bản Trẻ (2010), tr.43 - 46
Trang 1911
cơ bản về luật và ba quyển, cụ thể Quyền 1 (từ Điều 7 đến Điều 515) quy định về người; Quyền 2 (từ Điều 516 đến Điều 710) quy định về tài sản và những thay đổi về sở hữu và Quyền 3 (từ Điều 711 đến Điều 2281) quy định các phương thức xác lập quyền sở hữu
Bộ luật Dân sự đã trải qua hơn 200 năm tồn tại, không ngừng được hoàn thiện bằng nhiều quy định sửa đổi, bổ sung những điều khoản không còn phù hợp với xã hội Những đạo luật này được Nghị viện ban hành, có giá trị thay thế, bổ sung hoặc hủy bỏ những điều khoản trong BLDS đã lỗi thời, những quy định nào trước đây trái với luật mới được ban hành sẽ không còn giá trị Chẳng hạn Điều 84 Luật số 91-650 ngày 09-07-1991 bổ sung quy định của Điều 1139 BLDS Pháp người có quyền có thể gửi "một bức thư có nội dung thúc giục thực hiện nghĩa vụ" Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự vẫn chứng tỏ được giá trị về kỹ thuật và tư duy lập pháp khi rất nhiều quy định vẫn còn hiệu lực đến ngày nay
Nguồn của luật dân sự còn bao gồm những phán quyết của Tòa án mặc dù pháp luật nghiêm cấm thẩm phán khi giải quyết những vụ việc đặt ra những quy định chung và có tính chất quy phạm (Điều 5 BLDS Pháp) Vì quan niệm Bộ luật Dân sự là một văn bản pháp lý hoàn thiện, không còn thiếu sót là một ý tưởng viễn vong, công tác hoàn thiện các kẽ hở của pháp luật được giao cho Tòa án Do đó, Điều 4 BLDS Pháp quy định:
"Thẩm phán nào từ chối xét xử, với lý do luật không quy định, quy định không rõ ràng
hoặc không đầy đủ, thì có thể bị truy tố về tội từ chối xét xử" Từ đó, bản án của Tòa Phá
án và Tòa phúc thẩm được xuất bản, nghiên cứu và được áp dụng trong thực tiễn xét xử cho dù các phán quyết đó không chính thức ràng buộc các Thẩm phán Ngoài ra, các Thẩm phán không áp dụng Bộ luật Dân sự một cách cứng nhắc mà áp dụng nó một cách sáng tạo, giải thích luật phù hợp với hoàn cảnh của xã hội.19
Khi nghiên cứu chi tiết, có một điều dễ dàng nhận thấy rằng quyển thứ ba của BLDS Pháp "Các phương thức xác lập quyền sở hữu" (từ Điều 711 đến Điều 2281) chứa đựng
số lượng điều khoản lớn nhất, trong đó quy định một chế định rất quan trọng - nghĩa vụ dân sự, được định nghĩa là mối quan hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó người có quyền
19 Michael Bogdan, chú thích số 11, tr.135
Trang 2012
được yêu cầu người có nghĩa vụ chuyển giao một vật, làm một công việc hoặc không được làm một công việc nhất định Từ đó, nghĩa vụ dân sự là một trong những căn cứ để một người xác lập quyền sở hữu đối với tài sản cụ thể Theo quan điểm của Dân luật Pháp, tồn tại 5 nguồn gốc của nghĩa vụ dân sự, bao gồm: hợp đồng, sự cam kết đơn phương, tự nguyện cam kết như hợp đồng, trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và nghĩa
Do vậy, các biện pháp xử lý theo luật của Pháp sẽ được nghiên cứu thông qua quy định của Bộ luật Dân sự Pháp, những đạo luật sửa đổi, bổ sung và một số bản án điển hình trong lĩnh vực hợp đồng nhằm trang bị kiến thức khái quát về nội dung này trước khi so sánh với quy định theo luật Việt Nam
1.2 Một số biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng
1.2.1 Biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng
"Buộc thực hiện đúng hợp đồng" được pháp luật quy định như một biện pháp được ưu
tiên áp dụng Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại đoạn 2 Điều 1184 "Bên nào mà
cam kết đối với họ không được thực hiện, thì có quyền yêu cầu bên vi phạm phải thực hiện hợp đồng nếu có thể được, hoặc yêu cầu hủy bỏ hợp đồng và bồi thường thiệt hại”
Quy định trên được hiểu là “buộc thực hiện hợp đồng” phải được người có quyền lựa chọn trước, nếu cảm thấy biện pháp này không thực hiện được hoặc không thỏa mãn yêu cầu của mình thì mới có thể chuyển sang biện pháp yêu cầu bồi thường thiệt hại và hủy
Trang 2113
Quan điểm "ưu tiên áp dụng" tồn tại ở các nước theo hệ thống dân luật (Civil Law), nghĩa
là hợp đồng có giá trị bắt buộc đối với các bên, vì thế nếu một bên không thực hiện đúng hợp đồng, bên kia có quyền yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng đối với hầu hết trường hợp
vi phạm Điều này ngược lại với hệ thống Thông Luật (Common Law), khi hậu quả pháp
lý duy nhất và bao quát cho mọi trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện là bắt buộc người có nghĩa vụ phải trả tiền bồi thường thiệt hại.22
1.2.1.1 Khái quát về biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng
BLDS Pháp không đưa ra khái niệm cụ thể về biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng
mà chỉ đề cập biện pháp này trong một số điều khoản Điển hình như Điều 1139 “Người
có nghĩa vụ được yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bằng giấy đòi nợ hoặc một văn bản khác có giá trị tương đương”; Điều 1143 “Người có quyền có thể yêu cầu phá bỏ những gì mà
người có nghĩa vụ đã làm trái với cam kết” hoặc Điều 1144 "Trong trường hợp người có
nghĩa vụ không thực hiện công việc đã thỏa thuận, thì người có quyền cũng có thể được
Tòa án cho phép yêu cầu người khác thực hiện công việc đó, mọi chi phí cho người có nghĩa vụ chịu"
Những quy định trên không thể hiện rõ ràng về cách thức áp dụng biện pháp Nhằm khắc phục thiếu sót trên, Luật số 91-650 được ban hành ngày 9-7-1991, trong đó, Điều 85 bổ
sung cho Điều 1139 BLDS quy định: "Người có nghĩa vụ được yêu cầu bằng một bức thư
có nội dung thúc giục thực hiện nghĩa vụ" Như vậy, luật đã quy định cụ thể người có
quyền được yêu cầu người có nghĩa vụ thi hành đúng hợp đồng thông qua một thư hối thúc Quy định này giúp người có quyền chủ động bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình Xét về bản chất, thư hối thúc là một văn bản của người có quyền xác định sự chậm trễ của người có nghĩa vụ, đồng thời yêu cầu họ phải thi hành nghĩa vụ Mặc dù thời hạn của hợp đồng đã trôi qua rất lâu mà nghĩa vụ vẫn chưa được thi hành nhưng việc này không
có nghĩa là người có quyền đã hối thúc (nguyên tắc Dies non interpellat pro homine: việc
22 Oliver Wendell Holmes.Jr, The Common law (Thông luật), University of Toronto Law school - Typographical Society (2011), tr.266 (the only universal consequence of a legally binding promise is, that the law makes the promisor pay damages if the promised event does not come to pass)
Trang 2214
hối thúc không được coi là đương nhiên khi nghĩa vụ đến hạn) Bởi vì người có quyền thông qua thư hối thúc chứng minh rằng người có nghĩa vụ đã không tự giác thi hành hợp đồng, họ phải chịu trách nhiệm về việc này Nếu không hối thúc, pháp luật suy đoán rằng người có nghĩa vụ chưa gây thiệt hại cho người có quyền và pháp luật suy đoán rằng họ
đã mặc nhiên cho phép người có nghĩa vụ được thi hành chậm trễ.23
BLDS Pháp không đưa ra khái niệm về biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng nhưng thông qua quy định về "thư hối thúc" tại Điều 1139 BLDS Pháp và Điều 85 Luật số 91-
650 ngày 9-7-1991 có thể hiểu được nội dung của biện pháp này Đó là người có quyền được yêu cầu người có nghĩa vụ thi hành đúng hợp đồng bằng một văn bản hoặc một hỉnh thức khác có giá trị tương đương Theo Điều 25-1 Luật số 2004-575 ngày 21-06-2004, hình thức khác có giá trị tương đương được hiểu là văn bản đó có thể được lập và lưu giữ dưới hình thức điện tử
1.2.1.2 Điều kiện áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng
Điều kiện áp dụng "buộc thực hiện đúng hợp đồng" khá đơn giản, vì đây chỉ là hệ quả đương nhiên của thỏa thuận hợp pháp, gồm ba điều kiện sau đây:
Thứ nhất, cam kết, thỏa thuận hợp pháp mới có thể thúc buộc các bên tôn trọng và thực
hiện, trên cơ sở đó, biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng chỉ áp dụng đối với hợp đồng có hiệu lực pháp luật Điều đó nghĩa là các bên phải thỏa mãn được các yếu tố chủ
yếu sau đây: "Các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện và có năng lực giao kết hợp đồng và
đối tượng của hợp đồng phải xác định; căn cứ của hợp đồng phải hợp pháp" (Điều 1108
BLDS Pháp) Nếu khiếm khuyết một trong những yếu tố trên, hợp đồng bị coi là vô hiệu, không còn hiệu lực ràng buộc các bên phải tuân thủ, các bên phải hoàn lại nguyên trạng, nghĩa là hoàn trả lại cho nhau tài sản đã nhận bằng hiện vật hoặc bằng tiền (Restitution in integrum).24 Người có quyền không thể buộc người có nghĩa vụ thi hành nghĩa vụ trong
Trang 2315
một hợp đồng vô hiệu Vì vậy, điều kiện đầu tiên để áp dụng biện pháp là tồn tại hợp đồng có hiệu lực pháp lý giữa các bên
Thứ hai, nếu người có nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng thì người có quyền được
yêu cầu thi hành những nghĩa vụ đã cam kết Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc người có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ và người có quyền nhận được lợi ích mong đợi là hoàn toàn khác nhau
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, Luật gia Demogue phân biệt 2 loại: nghĩa vụ theo kết quả và nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất Đối với nghĩa vụ theo kết quả, người
có nghĩa vụ phải thi hành một nghĩa vụ rõ rệt, đảm bảo mang lại kết quả mà các bên dự kiến, ví dụ trả một món nợ đến hạn Ngược lại, đối với nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất, người có nghĩa vụ không cam kết mang lại một kết quả nhất định mà chỉ cam kết sử dụng mọi khả năng, mọi phương tiện và phương thức có thể và hợp lý để hướng tới việc đạt được kết quả Ví dụ Bác sĩ chữa trị cho bệnh nhân dựa trên kiến thức, kinh nghiệm của mình, trong điều kiện tốt nhất có thể Ông không thể cam kết là sẽ chữa khỏi hoặc chữa khỏi trong thời hạn nào.25
Do vậy mà đôi khi người có quyền không nhận được kết quả mỹ mãn như mong muốn, mặc dù người có nghĩa vụ đã thi hành đúng hợp đồng Vì vậy, tùy theo loại nghĩa vụ mà người có quyền có cách xác định người có nghĩa vụ đã không thực hiện đúng hợp đồng khác nhau Đối với nghĩa vụ theo kết quả, chỉ cần chứng minh bản thân không nhận được kết quả mong đợi, nhưng với nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất thì phải chứng minh người có nghĩa vụ đã không cẩn trọng khi thi hành nghĩa vụ
Thứ ba, Dân luật Pháp quy định chỉ áp dụng biện pháp đối với việc chậm thực hiện nghĩa
vụ, nghĩa là nghĩa vụ không được thực hiện đúng thời hạn đã thỏa thuận, một thời gian sau nó mới được thi hành nhưng vẫn mang lại cho người có quyền kết quả như mong muốn Điều này khác với trường hợp nghĩa vụ chỉ có thể được thực hiện trong một thời
25 Vũ Văn Mẫu, chú thích số 5, tr.28
Trang 2416
hạn nhất định nhưng thời hạn đó đã hết, việc thi hành nghĩa vụ sau thời hạn không còn giá trị đối với người có quyền (Điều 1146 BLDS Pháp)
Điều kiện thứ ba được thể hiện rõ nét trong Bản án phòng dân sự ngày 5.1.1938 (D H
1938.97) Vợ chồng Morin k/ góa phụ Faisant Vợ chồng Morin kiện chủ nhà là Faisant
bồi thường vì cầu thang trong nhà bị hư, gây tai nạn cho bà Morin Theo nhận định của Tòa án, chủ nhà phải bồi thường vì không thi hành nghĩa vụ mà không cần bị hối thúc theo điều 1146 BLDS, trừ khi người thuê sơ suất không báo cho chủ nhà cần phải sửa chữa chỗ mà chỉ riêng người thuê mới thấy rõ.26
Người thuê - vợ chồng Morin không cần hối thúc mà vẫn được bồi thường thiệt hại vì đây là trường hợp chủ nhà không thi hành chứ không phải chậm thi hành nghĩa vụ
Tóm lại, có ba điều kiện chủ yếu phải thỏa mãn để người có quyền áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng: (1) tồn tại hợp đồng có hiệu lực pháp luật giữa các bên; (2) người có nghĩa vụ không thi hành nghĩa vụ đã cam kết và (3) việc thực hiện sau khi bị hối thúc vẫn mang lại cho người có quyền lợi ích như mong đợi khi giao kết hợp đồng Những trường hợp không thỏa những điều kiện này, người có quyền được áp dụng những biện pháp khác như bồi thường thiệt hại, hủy bỏ hợp đồng nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình
1.2.1.3 Ngoại lệ của biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng
Tuy nhiên, ưu tiên "buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng" là một nguyên tắc không tuyệt đối
Đầu tiên, theo lẽ thông thường, không thể buộc người có nghĩa vụ thi hành hợp đồng nếu
việc này là không thể trên thực tế hoặc pháp luật không cho phép.27 Chẳng hạn Điều 1722 BLDS Pháp quy định trường hợp toàn bộ tài sản thuê bị phá hủy do yếu tố ngẫu nhiên thì hợp đồng thuê đương nhiên bị hủy bỏ, các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình
26 Trần Thúc Linh - Nguyễn Văn Thọ, Những án lệ quan trọng, Viện Đại học huế xuất bản (1962), tr.54 - 57
27 TS.Đỗ Văn Đại, chú thích số 6, tr.60
Trang 2517
Thứ hai, trong nhiều trường hợp, yêu cầu tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thường không đem
lại kết quả nếu như việc thực hiện hợp đồng trực tiếp gắn với nhân thân của người có nghĩa vụ Ở Pháp gọi là “hợp đồng nhân vì” (contrat conclu intuitu personae), nghĩa là
“hợp đồng được giao kết vì không thể được giao cho cá nhân khác thực hiện vì nó đòi hỏi những khả năng cá biệt mang tính nghệ thuật hay khoa học, hoặc có liên quan đến một quan hệ mật thiết và riêng tư”.28 Nếu bản thân người giao kết không còn khả năng hoặc không có ý định thực hiện thì biện pháp buộc thực hiện hợp đồng không có tác dụng, hợp đồng phải chấm dứt Điển hình như trường hợp “Hợp đồng xây dựng công trình chấm dứt khi công nhân, kiến trúc sư hoặc nhà thầu chết” (Điều 1795 BLDS Pháp)
Thứ ba, trong một số hoàn cảnh, việc thực hiện hợp đồng trở nên quá tốn kém đối với
người có nghĩa vụ Ví dụ A là người vận chuyển một số hàng cho B (trị giá 50 triệu đồng) Do sự cố, tàu của A bị đắm, phải trục vớt tàu (chi phí 500 triệu đồng), A mới có thể giao số hàng trên cho B Chi phí trục vớt tàu phát sinh sẽ rất lớn so với giá trị món hàng của B Trong trường hợp này, B khăng khăng buộc A phải bỏ một số tiền 500 triệu trục vớt tàu và giao món hàng trên so với thiệt hại của mình không quá 50 triệu đồng là một điều vô lý, thay vào đó, B có thể yêu cầu A bồi thường thiệt hại cho mình
Cuối cùng, như đã phân tích trong mục "Điều kiện áp dụng biện pháp", tòa án và nhiều
luật gia Pháp đã phân biệt trường hợp chậm trễ và trường hợp không thi hành nghĩa vụ
Họ quan niệm việc hối thúc không cần thiết khi nghĩa vụ chỉ có thể thi hành trong thời gian mà người có nghĩa vụ đã để trôi qua hoặc khi có một điều khoản của hợp đồng ấn định rõ một thời hạn nhất định, trong đó nghĩa vụ bắt buộc phải được thi hành mà không cần bất kỳ yêu cầu nào (Điều 1139 BLDS Pháp) Ví dụ, bánh ga-tô phải được hoàn thành trước lễ cưới hoặc khi chiếc váy phải được may trước cuộc thi hoa hậu
Như vậy, một số ngoại lệ thường xuyên xảy ra trong thực tế bao gồm: (1) người có nghĩa
vụ không thể thi hành hợp đồng trên thực tế vì lý do khách quan hay chủ quan; (2) pháp luật không thừa nhận việc cưỡng chế thi hành nghĩa vụ bằng mọi giá đối với những nghĩa
28 Trần Thúc Linh, Danh từ pháp luật lược giải, Nhà sách Khai Trí (1965), tr.614
Trang 2618
vụ liên quan đến quyền tự do và các giá trị nhân thân khác của cá nhân người có nghĩa vụ; (3) vì lợi ích kinh tế, không thể buộc người có nghĩa vụ phải tuân thủ cam kết với chi phí quá chênh lệch so với thiệt hại của việc không thi hành hợp đồng và (4) yêu cầu này không thể áp dụng trong trường hợp không thi hành nghĩa vụ
Đối với những trường hợp ngoại lệ, Tòa án được quyền quyết định bên có nghĩa vụ chỉ phải bồi thường thiệt hại mặc dù bên có quyền yêu cầu thực hiện.29 Và một điều phải được nhấn mạnh là nguyên tắc ưu tiên áp dụng biện pháp "buộc thực hiện đúng hợp đồng" vẫn được pháp luật và thực tiễn xét xử chấp nhận, những trường hợp hạn chế chỉ mang tính biệt lệ
1.2.1.4 Nâng cao tính khả thi của biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng bằng chế tài Sau khi người có quyền gửi một văn bản mang nội dung thúc giục thực hiện hợp đồng, người có nghĩa vụ vẫn không chịu thi hành nghĩa vụ đã cam kết Liệu có cách thức nào để
"răn đe" người có nghĩa vụ hay không Vấn đề này có hai trường hợp, đối với nghĩa vụ thanh toán một khoản tiền, người có nghĩa vụ ngoài việc thanh toán số tiền trên, luật quy định thêm khoản tiền chậm trả theo lãi suất do luật định Khoản lãi này là bắt buộc và được tính từ ngày nhận được giấy đòi nợ hoặc một văn bản khác có giá trị tương đương (Điều 1153 BLDS Pháp)
Còn đối với nghĩa vụ thực hiện một công việc, trong thời gian trước đây, tuy chưa có quy định của luật nhưng Tòa án Pháp đã mạnh dạn phạt tiền theo đơn vị thời gian (ngày, tuần hoặc tháng) nhằm buộc người có nghĩa vụ tuân thủ yêu cầu Điển hình như Bản án phòng
thỉnh nguyện 29.1.1834 (DP 1834.1.81; S 34.1.129) Normand k/ de Rohan: “Bản án
Tòa thượng thẩm Paris buộc các chủ nợ phải hoàn lại gia đình de Rohan giao ước năm XIII nếu không sẽ bị phạt một số tiền cưỡng thúc là 100 francs cho mỗi ngày chậm trễ,
dù sự chậm trễ ấy không gây thiệt hại gì cho người có quyền30” Tòa án đã dùng một phương pháp gián tiếp buộc người có nghĩa vụ phải thi hành nghĩa vụ mà không viện dẫn
29 Đỗ Văn Đại - Đỗ Văn Hữu, chú thích số 1, tr.16
30 Trần Thúc Linh - Nguyễn Văn Thọ, chú thích số 26, tr.74 - 77
Trang 2719
lý do gì Sau đó, Tòa phá án chỉ tuyên rằng phán quyết bị kháng cáo không vi phạm luật
lệ nào
Tòa án có dịp sử dụng lại chế tài “phạt” trên thông qua vụ án Sacaze k/ Margouet năm
1919: Ngày 02/03/1919, Sacaze đăng ký mua của Margouet (đại lý xe ô tô) một chiếc André Citroen 10 HP với giá 7,950 francs và đã thanh toán 2,500 francs Tuy nhiên, bên bán không giao xe Tòa án buộc bên bán phải giao xe như đã thỏa thuận Bên cạnh đó, Tòa án còn quyết định “trong tháng sau khi nhận được bản án, Margouet phải giao cho Sacaze xe ô tô như nội dung hợp đồng ngày 02/03/1919 Trong trường hợp không giao xe trong thời hạn trên, bên bán phải chịu phạt 100 francs/ngày chậm giao xe”.31
Thông qua thực tiễn xét xử trong một thời gian dài và với tính thuyết phục của án lệ, nhà lập pháp của Pháp đã ban hành một đạo luật năm 1972, được sửa đổi, bổ sung năm 1991 ghi nhận khả năng Tòa án được áp dụng chế tài như đã trình bày để nâng cao việc tôn trọng và thi hành phán quyết của mọi người
Kết luận: Buộc thực hiện đúng hợp đồng được xem là biện pháp được ưu tiên áp dụng giúp các bên đạt được lợi ích mong đợi khi giao kết hợp đồng Pháp luật Pháp đã quy định tương đối hoàn thiện biện pháp này, điều kiện áp dụng, nguyên tắc ưu tiên và trường hợp ngoại lệ không áp dụng biện pháp
1.2.2 Yêu cầu bồi thường thiệt hại
1.2.2.1 Khái quát về biện pháp yêu cầu bồi thường thiệt hại
Hợp đồng là thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên Khi hợp đồng được giao kết, các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình vì lợi ích của bên kia Như vậy, tại thời điểm ký kết hợp đồng, lợi ích của các bên là ngang bằng nhau Khi một bên không thực hiện đúng hợp đồng, thì lợi ích của bên kia đã bị xâm phạm Để lập lại sự cân bằng về lợi ích, luật pháp đặt ra nhiều cách thức khác nhau, trong đó bồi thường thiệt hại là biện pháp thường xuyên được áp dụng.32 Tuy nhiên, để áp dụng được
31 TS.Đỗ Văn Đại, chú thích số 6, tr.66
32 TS.Dương Anh Sơn, chú thích số 2, trang 19
Trang 2820
trách nhiệm bồi thường do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng cần phải thỏa những điều kiện sau:
Thứ nhất, giữa các bên đã tồn tại một cam kết, thỏa thuận về việc chuyển giao, thực hiện
hoặc không thực hiện công việc nhất định; việc không thực hiện đúng nghĩa vụ làm phát sinh thiệt hại cho người có quyền Mặc dù vậy, trên thực tế vẫn tồn tại một số ngoại lệ, chẳng hạn như một đề nghị giao kết chưa được chấp thuận, hợp đồng chưa được giao kết, nhưng giữa các bên có một lời hứa đơn phương bán tài sản, ví dụ: A cam đoan bán cho B căn nhà với giá 10,000 francs và hạn cho ông B 3 tháng để trả lời, hợp đồng chỉ được giao kết khi nào ông B ưng thuận Tuy nhiên, chưa hết thời hạn 3 tháng, A đã bán nhà cho người khác Trong trường hợp này, pháp luật buộc A chịu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng (Điều 1589 BLDS Pháp33) và bản án của Tòa phá án ngày 10.4.1948 (D.1948 J.421) đã khẳng định người hứa bán đã vi phạm vào nghĩa vụ hợp đồng và phải gánh chịu trách nhiệm do hành vi trên
Ngoài ra, đối với hợp đồng được giao kết vì lợi ích của người thứ ba, án lệ thừa nhận rằng người thứ ba có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải bồi thường cho họ, nếu người này không thi hành nghĩa vụ.34
Ngược lại, trong trường hợp hợp đồng vô hiệu, hợp đồng được coi như không hề được giao kết, trách nhiệm giữa các đương sự được xem xét trong khuôn khổ trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
Thứ hai, mục đích của bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng hướng đến việc giúp
người có quyền nhận được những lợi ích mong đợi (lợi ích thuận) Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ, việc bồi thường không giải phóng người có nghĩa vụ khỏi trách nhiệm thực hiện đúng hợp đồng, người này phải tiếp tục thực hiện những nghĩa vụ còn lại
Tuy nhiên, phạm vi của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thay đổi trong suốt thời gian dài phát triển Án lệ đã nới rộng phạm vi, nhằm tạo thuận lợi cho các nạn nhân bị tai nạn giao thông chứng minh lỗi của người vận chuyển Chẳng hạn từ năm 1912, Tòa phá án
33 Điều 1589 BLDS Pháp: "Hứa bán coi như bán khi đã có thỏa thuận giữa hai bên về vật bán và giá cả"
34 Vũ Văn Mẫu, chú thích số 5, tr.451 - 456
Trang 2921
Pháp đã quan niệm trong hợp đồng chuyên chở có “nghĩa vụ đảm bảo an toàn” với khách hàng Nếu tai nạn xảy ra giữa đường, phải coi rằng hợp đồng chuyên chở không được thi hành và nạn nhân được bồi thường không cần dẫn chứng một lỗi nào cả Ngoài ra, “nghĩa
vụ đảm bảo an toàn” còn được mở rộng đối với những người tổ chức hoạt động thể thao, vui chơi giải trí, trường học và nhiều lĩnh vực khác.35
Như vậy, bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng hợp đồng là một hình thức của trách nhiệm dân sự Việc bồi thường này là một cách thức giúp cho người có quyền đạt được những lợi ích mong đợi khi giao kết hợp đồng
1.2.2.2 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Để có thể yêu cầu người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do không thực hiện đúng những thỏa thuận, Luật dân sự Pháp quy định ba yếu tố mà người có quyền phải chứng minh, bao gồm: người có nghĩa vụ có lỗi, thiệt hại thực tế của người có quyền và mối quan hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại nói trên
Người có nghĩa vụ có lỗi
Trong Bộ luật dân sự Pháp, những điều khoản cơ bản liên quan đến vi phạm hợp đồng đều không nhắc đến khái niệm "lỗi"36
mà chỉ quy định những hành vi vi phạm cụ thể, chẳng hạn người có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ chuyển giao vật, nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn vật cho đến khi giao (Điều 1136 BLDS Pháp), người có nghĩa vụ không thực hiện công việc đã thỏa thuận (Điều 1142, 1144 BLDS Pháp)
Tuy nhiên trong học thuyết của Pháp, các luật gia quan niệm rằng việc không thực hiện một nghĩa vụ theo hợp đồng là không đủ để quy trách nhiệm cho người có nghĩa vụ Họ
đã công nhận nguyên tắc "Bất cứ hành vi nào của một người mà gây thiệt hại cho người
khác, thì người đã gây ra thiệt hại do lỗi của mình phải bồi thường thiệt hại", mặc dù
nguyên tắc này được quy định tại Điều 1382 BLDS Pháp - phần trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng
35 Nhà Pháp luật Việt – Pháp, Các thuật ngữ hợp đồng thông dụng, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa (2011), tr.104
36 Nhà Pháp luật Việt – Pháp, chú thích số 35, tr.396
Trang 3022
Do quan niệm “lỗi” là một yếu tố bắt buộc phải được chứng minh trong trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói riêng và trách nhiệm pháp lý dân sự nói chung nên việc tìm ra khái niệm chính xác về lỗi đóng một vai trò rất quan trọng Một trong những ý kiến rất đáng được quan tâm là định nghĩa về lỗi của Giáo sư A.Mazeaud: “Là một lầm lỗi trong cư xử
mà một người hiểu biết sẽ không làm, nếu như bị lâm vào tình huống tương tự như bị đơn Vì một người hiểu biết lẽ phải chẳng bao giờ lại từ chối mà không thi hành các nghĩa vụ của họ, trừ khi có một nguyên nhân khách quan ngăn cản sự thi hành ấy”.37
Vì “lỗi” của người vi phạm nghĩa vụ không thể nhìn thấy, không thể nắm bắt được nên Giáo sư Mazeaud đã giải thích thêm rằng trong tất cả các trường hợp nghĩa vụ không được tuân thủ đều tìm thấy lỗi của người có nghĩa vụ Tuy nhiên, cách thức chứng minh lỗi trong mỗi loại nghĩa vụ là hoàn toàn khác nhau
Trong nghĩa vụ theo kết quả, nếu người có nghĩa vụ không đem lại kết quả mà họ đã hứa cho người có quyền thì họ đã vi phạm nguyên tắc "Những cam kết, thỏa thuận phải được tôn trọng" (Pacta sunt servanda) Do đó, lỗi của người có nghĩa vụ được pháp luật suy đoán và người có quyền không cần phải dẫn chứng cũng được bồi thường (Điều 1145 BLDS Pháp) Ngược lại, đối với nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất, người có quyền muốn được bồi thường phải dẫn chứng sự bất cẩn của người có nghĩa vụ Tòa án
sẽ phải xem xét hành vi của người có nghĩa vụ so với điều mà người có quyền mong đợi một cách hợp pháp, so sánh với người bình thường đặt trong tình huống tương tự
Ngoài việc đưa ra khái niệm về lỗi, các học thuyết còn phân chia lỗi thành "lỗi cố ý" (dolus) và "lỗi vô ý" (culpa) Lỗi vô ý được hiểu là người có nghĩa vụ không nhìn thấy trước được những gì mà một người với sự cẩn trọng bình thường cũng có thể nhìn thấy.Trong lỗi vô ý cũng chia thành "lỗi vô ý không đáng kể" và "lỗi vô ý nghiêm trọng" Lỗi vô ý nghiêm trọng tức là người có nghĩa vụ không thể hiện được mức độ cẩn trọng cần phải có ở tất cả mọi người trong hoàn cảnh tương tự và không thể hiện được sự hiểu biết những gì người bình thường đều biết Lỗi cố ý và lỗi vô ý nghiêm trọng được pháp
37 Vũ Văn Mẫu, chú thích số 5, tr.516
Trang 31Căn cứ vào điều 1789 Bộ luật dân sự, người công nhân chỉ cung cấp sức lao động hoặc
kỹ xảo, không chịu bất cứ trách nhiệm nào về sự hư hỏng của sản phẩm hay của nguyên liệu đã nhận để gia công nếu không xuất phát từ lỗi của mình, điều mà người đó phải chứng minh; người thợ nhuộm, người sản xuất ra sản phẩm được miễn trách nhiệm nếu chứng minh mình không mắc lỗi.39
Tóm lại, lỗi là một yếu tố không thể thiếu trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, nếu không tìm thấy lỗi trong hành vi của người có nghĩa vụ thì không thể buộc người này gánh chịu bất kỳ trách nhiệm nào Lỗi có thể do pháp luật suy đoán trong nghĩa vụ theo kết quả hoặc phải được chứng minh trong nghĩa vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất
Tồn tại thiệt hại
Biện pháp mang tên "Bồi thường thiệt hại", vậy thiệt hại có phải là điều kiện bắt buộc không, điều này tùy thuộc vào quan niệm của từng hệ thống pháp luật Đối với một số quốc gia theo hệ thống pháp luật Anh-Mỹ ghi nhận trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngay
cả khi người có quyền không có bất kỳ tổn thất nào Họ nhìn nhận bồi thường “tượng trưng”, Thầm phán sẽ kết luận người có nghĩa vụ phải thanh toán một khoản tiền bồi thường thiệt hại mà luật Anh định giá trước đây là 2 Bảng Anh và luật Mỹ định là 1 USD (nominal damages).40
38
http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com_content&view=article&catid=93:ctc20033&id=233 :tc2003so3knlttnds&Itemid=106 (truy cập ngày 20/05/2012)
39 Nhà Pháp luật Việt - Pháp, chú thích số 35, tr.401
40 Nhà Pháp luật Việt - Pháp, chú thích số 35, tr.541
Trang 3224
Ngược lại, các nước Châu Âu lục địa đều theo hướng trách nhiệm bồi thường chỉ được chấp nhận khi người có quyền có thiệt hại Luật của Pháp cũng không ngoại lệ và các luật gia quan niệm thiệt hại là điều kiện tất yếu của việc bồi thường Nếu không bị thiệt hại, lẽ tất nhiên, đơn kiện bồi thường sẽ không có lý do và cũng trái với nguyên tắc căn bản trong luật tố tụng: không có quyền lợi thì không thể khởi kiện (Pas d'intérêt, pas d'action) Chẳng hạn người thuê phải trả lại tài sản thuê trong tình trạng như khi nhận (Điều 1730 BLDS Pháp) Trong thực tế có thể xảy ra trường hợp nhà cho thuê được trả trong tình trạng tồi tàn hơn so với lúc nhận, nhưng chủ nhà sẽ xây lại một văn nhà mới Chủ nhà không thể yêu cầu người thuê phải trả cho mình một số tiền để sửa chữa vì căn nhà sẽ được phá ngay sau khi trả
Ngoài quy định của pháp luật, học thuyết của các luật gia, các phán quyết của Tòa án, đặc biệt là Tòa Phá án đã khẳng định vai trò của thiệt hại trong trách nhiệm dân sự khi vi phạm hợp đồng Điền hình là bản án (Civ, March 5, 1913, D.P 1914, I.61) đã tuyên:
“Việc chậm trễ khi thực hiện hợp đồng không gây cho người có quyền một thiệt hại nào thì không được yêu cầu người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại”.41 Ngoài ra, bản án ngày 25-5-1936 (Gaz Pal 1936.2.309) đã nhắc lại nguyên tắc trên
Tuy nhiên, không phải cứ có thiệt hại thì người có quyền được đòi bồi thường người có nghĩa vụ Sự thiệt hại cần phải thỏa mãn những điều kiện cơ bản sau mới được bồi thường như thiệt hại phải có tính cách xác định và chắc chắn, liên quan trực tiếp đến hành
vi không thực hiện đúng hợp đồng và thiệt hại này chưa được bồi thường
Như vậy, người có quyền phải chứng minh mình gánh chịu một thiệt hại trên thực tế, không chứng minh được thì không thể đòi bất kỳ khoản bồi thường nào từ người có nghĩa
Trang 3325
Không phải xảy ra thiệt hại hoặc có việc không thực hiện đúng hợp đồng là phát sinh trách nhiệm bồi thường mà giữa hai yếu tố trên phải có quan hệ nhân quả với nhau Về mặt thời gian, nguyên nhân phải có trước kết quả, hành vi không thực hiện đúng hợp đồng phải có trước thiệt hại Do vậy, nếu thiệt hại xảy ra trước thì không có quan hệ nhân quả, tuy nhiên, thiệt hại xảy ra sau khi có hành vi không thực hiện đúng hợp đồng cũng không đảm bảo người bị vi phạm được bồi thường
Trong thực tế, việc xác định "quan hệ nhân quả" rất khó khăn trong trường hợp một sự kiện do nhiều nguyên nhân gây nên Các luật gia Đức đã nghiên cứu tường tận trường hợp này và đặt ra hai lý thuyết Thứ nhất là lý thuyết điều kiện tương đồng, nghĩa là tất cả các sự kiện đã góp phần gây ra thiệt hại đều là nguyên nhân của sự thiệt hại Những sự kiện ấy là điều kiện cần thiết để phát sinh ra sự thiệt hại; thiếu một sự kiện, thiệt hại không thể xảy ra Tuy nhiên, lý thuyết này không được chấp nhận rộng rãi, thay vào đó các luật gia và Tòa án Pháp chấp nhận lý thuyết thứ hai, đó là lý thuyết quan hệ thích đáng, được giải thích rằng chỉ riêng những biến cố nào phát sinh ra thiệt hại một cách
"bình thường", mới được coi là nguyên nhân
Ngoài ra, có thể xảy ra trường hợp một hành vi phát sinh ra một sự kiện, sự kiện này lại sinh ra một sự kiện khác và tình trạng ấy tiếp diễn nhiều lần Để giải quyết vấn đề này, Điều 1151 BLDS Pháp quy định người có nghĩa vụ chỉ phải bồi thường những khoản thiệt hại được coi là hậu quả tức thì và trực tiếp của việc không thực hiện hợp đồng Như vậy, quan hệ nhân quả được hiểu rằng hành vi không thực hiện đúng hợp đồng phải là nguyên nhân chính, trực tiếp gây ra sự thiệt hại mới có thể quy trách nhiệm cho người có nghĩa vụ
1.2.2.3 Những loại thiệt hại được bồi thường
Ngoài việc chứng minh đủ ba yếu tố trên, người có quyền còn phải chứng minh những thiệt hại mà mình gánh chịu được luật chấp nhận cho bồi thường Theo Điều 1149 BLDS Pháp quy định thiệt hại của việc không thực hiện đúng hợp đồng bao gồm hai yếu tố:
Trang 3426
thiệt hại thực tế và phần lợi nhuận mà lẽ ra người có quyền được hưởng, được Dân luật
Pháp gọi là damnum emergens và lucrum cessans.42
Thiệt hại vật chất (le dommage matériel)
Thiệt hại vật chất là loại thiệt hại dễ dàng được nhận thấy và chứng minh trên thực tế, do
đó, đa số yêu cầu bồi thường thiệt hại đều liên quan đến loại tổn thất này Thiệt hại vật chất bao gồm tổn hại về tài sản tính được thành tiền, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại Ngoài ra, không thực hiện đúng hợp đồng có thể gây ra tổn hại cho sự toàn vẹn thân thể con người, chi phí đã phải chi cho chăm sóc người bị thương, tổn hại do mất khả năng làm việc tạm thời hay vĩnh viễn.43 Ví dụ A bán cho B một máy nén hơi Do chất lượng máy kém, vài tuần sau khi vận hành thì máy nổ, gây tai nạn cho
B Trong trường hợp này, B có quyền đòi A bồi thường chi phí chữa trị, chi phí cho người chăm sóc do giao sản phẩm không đúng tiêu chuẩn chất lượng theo quy định trong hợp đồng
Ngoài ra, khi các bên đưa tranh chấp ra trước Tòa án, mỗi bên có thể phải chịu những chi phí tố tụng phát sinh như chi phí giám định, chi phí thuê luật sư Liệu những chi phí này
có được xem là thiệt hại được Tòa án chấp nhận cho bồi thường hay không Ở Pháp, việc
ai phải chịu chi phí này phụ thuộc vào quyết định của Tòa án và Tòa án khá tự do trong việc quyết định ai phải chịu chi phí này và chịu ở mức phí bao nhiêu.44
Do đó, thiệt hại về vật chất có thể được tính thành tiền và xâm phạm quyền tài sản của người có quyền45, là loại thiệt hại cơ bản nhất mà đa số người có quyền phải gánh chịu trong trường hợp hợp đồng không được thực hiện đúng
Tổn thất về tinh thần (praetium doloris)
Ngoài những thiệt hại vật chất được xác định rõ ràng, người có quyền còn có thể gánh chịu những tổn hại về mặt tinh thần xuất phát từ hành vi không thực hiện đúng hợp đồng
Trang 35Không chỉ dừng lại về mặt lý thuyết, trong thực tiễn xét xử, từ đầu thế kỷ XX, Tòa án đã chấp nhận khoản bồi thường về mặt tinh thần, điển hình như Bản án vào năm 1932, Tòa
án Pháp đã cho một gia đình được bồi thường tổn thất về tinh thần khi công ty phục vụ mai táng đã chậm trễ trong việc mai táng người thân của họ.47
Tóm lại, thiệt hại về tinh thần rất đa dạng, thể hiện qua việc gây tổn hại đến tên, danh dự hay thanh danh của một người, thiệt hại về thẩm mỹ, thiệt hại về sự vui thích và tổn thất
về tình cảm
Khoản lợi nhuận bị mất
Ngoài những thiệt hại tức thời (dommage actuel), người có quyền còn có thể gánh chịu những thiệt hại xảy ra trong tương lai (dommage futur), đó là khoản lợi nhuận đáng lẽ được hưởng nếu người có nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng Điều 1149 BLDS Pháp quy
định “giá trị khoản bồi thường cho người có quyền bao gồm thiệt hại thực tế và phần lợi
nhuận mà lẽ ra người có quyền được hưởng” Nếu khoản lợi nhuận trong tương lai thỏa
46 TS Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, tập 2, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
(2011), tr.180
47 TS Đỗ Văn Đại, chú thích số 6, tr.97
Trang 3628
mãn đầy đủ điều kiện của một thiệt hại sẽ được chấp nhận, nghĩa là phải chứng minh người có quyền chắc chắn sẽ thu được khoản lợi nhuận đó với giá trị được ước lượng chính xác
Từ lâu, án lệ Pháp chấp nhận việc mất lợi nhuận đáng lẽ được hưởng như một loại thiệt hại được bồi thường khi có việc chấm dứt hợp đồng hay không thực hiện hợp đồng mua bán.48 Chẳng hạn, A và B giao kết hợp đồng mua bán một món hàng trị giá 1000 francs Sau đó, B lại giao kết hợp đồng khác với C bán lại món hàng trên với giá 1500 francs Do
A không giao hàng, B không thể bán lại cho C và thu được khoản lợi nhuận là 500 francs,
đó là thiệt hại trong tương lai mà B có thể chứng minh trước Tòa
Trong môt số trường hợp, khoản lợi nhuận đáng lẽ thu được có giá trị lớn hơn nhiều lần
so với thiệt hại tức thời Do đó, quy định về khoản lợi nhuận bị mất đảm bảo cho người
có quyền được hưởng đầy đủ lợi ích mà họ mong đợi khi giao kết hợp đồng
1.2.2.4 Xác định giá trị bồi thường thiệt hại
Các bên trước khi giao kết hợp đồng phải dự đoán được lợi nhuận và rủi ro có thể phát sinh khi thực hiện, từ đó quyết định có giao kết hợp đồng hay không Trong quá trình thực hiện hợp đồng, vì một lý do nào đó mà người có nghĩa vụ gặp khó khăn, họ phải tính toán trước bồi thường bao nhiêu để quyết định thực hiện hay không thực hiện nghĩa vụ Nếu buộc người có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại mà họ không dự kiến được thì chức năng quản lý rủi ro của hợp đồng bị triệt tiêu Vì vậy, "người có nghĩa vụ chỉ có
trách nhiệm bồi thường những thiệt hại đã được dự kiến khi giao kết hợp đồng" (Điều
1150 BLDS).49
Bởi vì mức độ thiệt hại là khác nhau đối với từng vụ việc nên tính chất "đã được dự kiến"
sẽ được Tòa án xem xét trong từng trường hợp cụ thể, xét trên khả năng của một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự Tòa Phá án không được tăng hoặc giảm mức bồi
48 TS Đỗ Văn Đại, chú thích số 46, tr.178
49 TS Nguyễn Minh Hằng, Quy định của Công ước Viên về các chế tài khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, Hội thảo "Không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam (2010), tr.83
Trang 3729
thường đã được tuyên, tuy nhiên, Tòa Phá án có quyền kiểm soát những thiệt hại được chấp nhận cho bồi thường có phù hợp với quy định của pháp luật hay không.50
Xác định thế nào là "có thể dự kiến" trong thực tế không hề đơn giản, nhưng vấn đề này
có thể được làm rõ hơn thông qua việc nghiên cứu một số bản án điển hình về bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng Đầu tiên, Bản án dân sự ngày 26.7.1948 (D 1948.535):
Balenciaga k/ Soca:
Tháng 7 năm 1941, cô Soca đã giao cho hãng Balenciaga giữ một áo khoác dài bằng lông chồn và một áo khoác ngắn bằng da hải cẩu Đến ngày 12 tháng 8, hãng Balenciaga báo cho cô biết những chiếc áo ấy bị mất, hãng xin đền những bộ áo tương tự hoặc xin trả một số tiền là 700.000 franc Tòa Thượng thẩm Paris ngày 13.1.1944 cử giám định để ước lượng giá trị những chiếc áo ấy tính vào ngày giao áo cho hãng Balenciaga Hãng đã kháng cáo bản án vì cho rằng Tòa án đã vi phạm luật ngày 21.10.1940 quy định các hàng hóa và dịch vu phải giữ giá đã thông dụng vào ngày 1.9.1939 Theo Tòa Phá án, văn bản luật nói trên chỉ quy định về mua bán, không được áp dụng vào việc ấn định giá trị bồi thường thiệt hại mà người giữ tài sản phải chịu trách nhiệm vì đã để mất hàng hóa gửi giữ theo điều 1150 BLDS.51
Tình huống điển hình thứ hai là các hãng tàu hỏa thường xuyên hoãn chuyến tàu vì nhiều
lý do khác nhau, đôi khi một số hành khách đã khởi kiện hãnh tàu hỏa vì cho rằng việc hoãn chuyến tàu gây cho họ một thiệt hại Tòa án đã giải quyết những trường hợp này thông qua Bản án Dân sự ngày 29.1.1908 (Civ., January 29, 1908, D.P 1910, I.280): Một chuyến tàu hỏa bị hoãn, một trong số những hành khách đã khởi kiện công ty tàu hỏa
vì cho rằng chuyến tàu bị hoãn làm anh ta không thể tham gia và giành chiến thắng trong cuộc đua ngựa Tòa Phá án đã phán quyết rằng anh ta không được bồi thường nhiều hơn tiền vé và phí khách sạn vì việc hoãn chuyến tàu.52
50 Professor René David, chú thích số 41, tr.62
51 Trần Thúc Linh, Nguyễn Văn Thọ - chú thích số 26, trang 60
52 Professor René David, chú thích số 41, tr.63
Trang 3830
Tuy nhiên, trong một trường hợp khác, Tòa án Paris đã cho nguyên đơn được bồi thường một số tiền khá lớn vì việc hoãn chuyến tàu làm anh ta lỡ mất một cơ hội kinh doanh Tòa giải thích rằng "công ty tàu hỏa cũng như những người khác đều biết hành khách này đi lại vì công việc kinh doanh, việc hoãn chuyến tàu có thể sẽ gây ra cho anh ta một thiệt hại nghiêm trọng".53
Hoàn cảnh thứ ba là các hãng vận chuyển làm mất hành lý của hành khách Thông qua
Bản án Dân sự ngày 7.7.1924 ( Civ., July 7, 1924, S.1925, I.321, D.P.1927, I.119) Tòa án
đã nhận định một hãng vận chuyển thông thường sẽ không phải chịu trách nhiệm vượt quá giá trị của hàng hóa mà họ có thể dự kiến.54 Tuy nhiên, hãng này phải thấy một số hành khách có thể mang hành lý giá trị lớn hơn trường hợp bình thường vì tính chất công việc, vì lý do của chuyến đi và theo giá vé họ đã mua.55
Trong những bản án nêu trên, tính chất "có thể dự kiến" được Tòa án xem xét trong trong mối tương quan với hoàn cảnh mà sự việc xảy ra Việc xác định liệu thiệt hại có thể được người có nghĩa vụ dự kiến trước hay không hoàn toàn không dễ dàng mà đòi hỏi Thẩm phán phải có lý luận vững chắc và kinh nghiệm phong phú
Tuy nhiên, nguyên tắc bồi thường những "thiệt hại có thể dự kiến" vẫn tồn tại một số ngoại lệ, chẳng hạn trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý nghiêm trọng khi thi hành hợp đồng thì họ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại là hậu quả tức thì và trực tiếp của việc không thực hiện đúng hợp đồng (Điều 1151) Pháp luật Pháp đã mượn câu "Không thể khoan dung với kẻ ác ý" (Malitiis non est indulgendam)56 nhằm trừng phạt người có nghĩa vụ, không cho họ hưởng sự giới hạn "có thể dự kiến" khi bồi thường Một ngoại lệ khác là người có nghĩa vụ không phải bồi thường toàn bộ thiệt hại nếu người có quyền có lỗi một phần Bởi lẽ không thể buộc người khác bồi thường phần thiệt hại xảy ra do lỗi của mình, chính người đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi xuất phát từ
53
Professor René David, chú thích số 41, tr.68
54 Professor René David, chú thích số 41, tr.68
55 Professor René David, chú thích số 41, tr.69
56 Vũ Văn Mẫu, chú thích số 5, tr.701
Trang 39Ngoài ra, có một số trường hợp luật quy định “mức trần” của số tiền bồi thường thiệt hại, chẳng hạn theo Điều 1953 BLDS Pháp: "Chủ nhà trọ hoặc chủ khách sạn phải chịu trách nhiệm về việc các tài sản đó bị lấy cắp hoặc bị hư hỏng, việc bồi thường thiệt hại cho khách trọ, nếu không có thỏa thuận thấp hơn, thì được giới hạn ở mức tương đương một trăm lần giá tiền trọ một ngày" Trong những trường hợp này, mặc dù xảy ra thiệt hại nghiêm trọng cho người có quyền, nhưng người này chỉ được đòi bồi thường số tiền tối
đa theo luật định
Những trường hợp đã được tìm hiểu trên liên quan đến thiệt hại thực tế hoặc phần lợi nhuận bị mất, còn đối với việc bồi thường tổn thất tinh thần, vấn đề này tế nhị hơn Bộ luật dân sự không quy định rõ mức bồi thường vì việc bù đắp chỉ mang tính ước lệ, không thể bù đắp đầy đủ cũng như không tính toán được thành một giá trị nhất định Tòa án có thẩm quyền tương đối rộng để ước lượng mức bồi thường nhưng trong phạm vi kiểm soát của luật Trong án lệ của Pháp, sự ước lượng ngạch số bồi thường về tổn hại tinh thần thay đổi theo từng vụ kiện Đối với một nghệ sỹ hoặc nỗi đau đớn sau tai nạn thường được Tòa cho bồi thường khá nhiều; trái lại trong nhiều vụ kiện, Tòa án chỉ tuyên án phạt tượng trưng một đồng bạc bồi thường.58
Luật của Pháp đã quy định tương đối hoàn chỉnh về cách thức xác định giá trị bồi thường
từ Điều 1149 đến Điều 1151 trong BLDS Pháp Đồng thời với quy định trên, án lệ của Pháp là một nguồn bổ trợ quan trọng trong việc nghiên cứu cũng như áp dụng trên thực
tế
57 Professor René David, chú thích số 41, tr.70
58 Vũ Văn Mẫu, chú thích số 5, tr.480
Trang 4032
1.2.2.5 Phân biệt bồi thường thiệt hại với phạt vi phạm
Ngoài những quy định về bồi thường thiệt hại, trong Dân luật Pháp còn tồn tại một biện pháp xử lý khác, được gọi là "phạt vi phạm" Hai biện pháp này có những điểm tương đồng nhất định, đôi khi gây ra sự lúng túng trong việc áp dụng Do vậy, cần phải có một
sự phân biệt rõ ràng nhằm giúp người có quyền bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình
Theo Điều 1152 BLDS Pháp quy định "Trong trường hợp hợp đồng quy định bên nào không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, sẽ phải trả một khoản tiền nhất định với danh nghĩa
là tiền bồi thường thiệt hại, thì bên vi phạm không phải hoặc không thể trả cho bên bị vi phạm một khoản tiền lớn hoặc nhỏ hơn khoản tiền quy định trong hợp đồng" Như vậy, phạt vi phạm là một biện pháp mà người có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng trả một khoản tiền như đã thỏa thuận Xét về bản chất, biện pháp này
là một hình thức của bồi thường thiệt hại thông qua việc dự kiến trước số tiền phải trả trong trường hợp một bên không thi hành đúng nghĩa vụ của mình khi giao kết hợp đồng
Do đó, không thể áp dụng đồng thời hai biện pháp vì người có nghĩa vụ sẽ bồi thường hai lần cho cùng một thiệt hại
Có thể phân biệt phạt vi phạm với bồi thường thiệt hại thông qua những đặc điểm cơ bản
như sau: thứ nhất, trong nội dung hợp đồng phải ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về
phạt vi phạm Trong thực tế, khi vi phạm đã xảy ra, người có quyền yêu cầu bồi thường một số tiền cụ thể, người có nghĩa vụ chấp nhận, đây không phải là phạt vi phạm mà là thỏa thuận của các bên về số tiền bồi thường Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại, người
bị vi phạm đương nhiên được bồi thường sau khi chứng minh đủ ba yếu tố theo quy định của luật (mục 1.2.2.2) mà không cần sự thỏa thuận của các bên
Thứ hai, khi yêu cầu phạt vi phạm, người có quyền không cần chứng minh mình đã gánh
chịu thiệt hại mà chỉ căn cứ vào việc không thực hiện đúng hợp đồng Ngược lại, đối với bồi thường thiệt hại, người bị vi phạm phải chứng minh mình đã gánh chịu thiệt hại thực
tế và những thiệt hại này phải được pháp luật chấp nhận