Thứ ba – điều kiện cốt yếu để triển khai và thực hiện các chiến lược kinh tế tri thức là sự sở hữu một hạ tầng văn hoá vững vàng và một nền văn minh phát triển bao gồm các chuẩn mực đào
Trang 1N ỀN KINH TẾ TRI THỨC TẠI PHẦN LAN
Tác giả: TS Nguyễn Hoàng Tiến,
Đại Học Hoa Sen
Trong thập kỷ cuối của thế kỷ vừa qua Phần Lan đã đạt tới trình độ văn minh như một trong nhưng nước tiên phong của nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin thế giới và châu Âu Một trong những ví dụ điển hình là năm 2001 Phần Lan chiếm vị trí thứ nhất trong xếp hạng các quốc gia phát triển cao về công nghệ
và thứ hai trong xếp hạng về cạnh tranh quốc tế (chỉ sau có Singapore) Để hiểu được bản chất của quá trình này cần phải nhận thấy rằng các nhà chức trách, các doanh nghiệp và toàn thể xã hội Phần Lan có tầm nhìn rất đặc thù về kinh tế tri
thức, xã hội thông tin và vai trò của quốc gia Phần Lan trong nền kinh tế tri thức Châu Âu ngoài sự ủng hộ nhiệt tình của toàn thể xã hội cho những quan điểm và
tầm nhìn đó Thứ nhất – khái niệm xã hội thông tin, theo cách nghĩ của người
Phần Lan, không chỉ hạn chế tới vai trò của công nghệ thông tin và các công nghệ
hiện đại khác, mà nó còn là một hiện tượng mới của nền văn minh nhân loại bao
gồm nhiều khía cạnh khác nhau Thứ hai – sự phát triển kinh tế-xã hội và năng lực
cạnh tranh của bất kỳ nền kinh tế nào trong thời kỳ chuyển đổi sang kinh tế tri
thức phải được dựa trên khả năng phát triển của khoa học, công nghệ và các ứng
dụng khác nhau của chúng trong thực tiễn cuộc sống Thứ ba – điều kiện cốt yếu
để triển khai và thực hiện các chiến lược kinh tế tri thức là sự sở hữu một hạ tầng
văn hoá vững vàng và một nền văn minh phát triển bao gồm các chuẩn mực đào
tạo đại học rõ ràng, bình đẳng trong các cơ hội thăng tiến nghề nghiệp của tất cả các tầng lớp trong xã hội
Định hướng và chiến lược phát triển xã hội thông tin – đặc thù của Phần Lan
a) Khái niệm về xã hội thông tin theo cách nghĩ của người Phần Lan
Trang 2Theo quan điểm của người Phần Lan, khái niệm về phát triển xã hội thông tin bao gồm nhiều khía cạnh Trên phương diện hệ thống, chính phủ phải thể hiện và xây dựng tích cực các chiến lược, chính sách và biện pháp nhằm chuẩn bị đất nước
trước những thách thức do xã hội thông tin dẫn tới, nền kinh tế thị trường và hiện
tượng toàn cầu hoá đặt ra Ngoài ra, chính phủ còn cần phải:
- Giữ mối liên hệ chặt chẽ giữa các chính sách khoa học, công nghiệp và sự phát triển của công nghệ;
- Bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác tích cực giữa khu vực nhà
nước và tư nhân vì lợi ích nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng đổi mới của
nền kinh tế quốc gia
Trên phương diện tổ chức thực hiện, nhiệm vụ của Bộ Giáo Dục bao gồm quản
lý hệ thống khoa học và đào tạo, chuẩn bị toàn thể xã hội trước những thách thức
do xã hội thông tin đưa tới Bộ Thương Mại và Công Nghiệp đóng vai trò chiến
lược trong phát triển công nghệ gồm xây dựng cơ cấu công nghiệp thoả mãn các đòi hỏi đặt ra của nền kinh tế trí thức và nâng cao tính cạnh tranh quốc tế của đất nước
Theo các kết quả nghiên cứu, các yếu tố thành công trong xây dựng và phát triển xã hội theo mô hình mới bao gồm:
- Sự hoạt động hiệu quả của hạ tầng Hệ Thống Sáng Tạo Quốc Gia (National Innovative System) từ các quyết định, chính sách đến các khía
cạnh biện pháp thực hiện của các viện tổ chức nghiên cứu khoa học
- Sự hợp tác giữa các viện nghiên cứu khoa học và các tổ chức kinh tế-xã
hội dựa trên những nguyên tắc thị trường và nguyên tắc tương hộ lẫn nhau (subsidiary)
- Các phương tiện tác động của chính phủ tới cơ cấu và định hướng phát triển kinh tế bao gồm các biện pháp trợ giúp quốc gia cho các chương trình nghiên cứu và phát triển (R+D) thuộc nhà nước hoặc tư nhân
b) Chiến lược phát triển xã hội thông tin
Trang 3Chiến lược phát triển kinh tế tri thức và xã hội thông tin dựa trên sự chuyển đổi
từ nền kinh tế công nghiệp điện và điện tử sang nền kinh tế công nghệ thông tin và
viễn thông Những điểm nhấn mạnh của chiến lược này bao gồm:
- Phát triển công nghệ thông tin và hạ tầng thông tin như là những cơ sở hạ
tầng của xã hội thông tin;
- Tạo điều kiện phát triển, duy trì và củng cố nền kinh tế tri thức;
- Chuẩn bị nhân dân trước các điều kiện sống và phát triển trong một xã hội thông tin
Chiến lược phát triển xã hội thông tin liên quan tới nhiều mặt, chẳng hạn như: chính sách kinh tế, triển khai đổi mới, chính sách công nghiệp:
- Chính sách kinh tế – thay đổi cơ cấu kinh tế để sản xuất kiến thức một cách
đa lĩnh vực và liên tổ chức Tính hấp thụ khoa học, cạnh tranh quốc tế với
hiệu quả cao và giá trị gia tăng của nền kinh tế, tích cực tham gia vào quá trình phát triển của khối liên minh châu Âu EU là những mục đích cốt lõi
của chính sách;
- Triển khai đổi mới – hợp tác các giữa các lĩnh vực khác nhau trên cơ sở
những nguyên tắc thị trường để thực hiện các chiến lược phát triển Vai trò tích cực của chính phủ bao gồm: chuẩn bị hạ tầng khoa học cần thiết, đảm
bảo hợp tác đa phương nhằm sản xuất kiến thức và chiếm được sự ủng hộ
của xã hội cho chiến lược phát triển đã định
- Chính sách công nghiệp – tăng trưởng kinh tế, cải thiện thị trường lao động,
đa dạng hoá sản xuất Triển khai ý tưởng những khu công nghiệp tổng hợp (Cluster) gồm công nghiệp sản xuất, công nghệ, nghiên cứu và phát triển
dẫn tới sự liên kết giữa chính sách công nghiệp, khoa học và phát triển công nghệ (khám phá và xây dựng các vùng công nghiệp mới, quản lý quỹ phát triển khoa học theo đúng mục đích của chính sách công nghiệp)
H ỗ trợ từ phía xã hội, chính phủ và các doanh nghiệp cho các giải pháp phát tri ển - yếu tố thành công của nền kinh tế tri thức tại Phần Lan
Trang 4a) Ủng hộ của các tầng lớp xã hội
Phần Lan triển khai kế hoạch hoá chính sách khoa học từ trên xuống dưới dựa trên hệ thống các cơ quan tư vấn bao gồm các nhà chức trách cao cấp, các doanh nghiệp, các tổ chức địa phương và các chuyên gia cá nhân Chức năng của nhà nước bao gồm việc đảm bảo các điều kiện tài chính để khuyến khích đổi mới trong
hợp tác giữa các học viện khoa học và doanh nghiệp, giữa các tổng công ty và các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thành công của các giải pháp phát triển tập trung là nhờ vào sự ủng hộ và đồng thuận của các thành phần xã hội, quyết tâm cải thiện tương lai, coi nhà nước
như là cơ quan đại diện quyền lợi tối cao của toàn thể nhân dân Những đặc điểm
xã hội của Phần Lan mang tính chất hộ trợ tích cực cho phát triển theo hướng kinh
tế tri thức là:
- Sở hữu những năng lực thực tế và cần thiết cho sự hợp tác giữa khu vực tư nhân và nhà nước;
- Thực hiện chiến lược chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin dựa trên nguyên tắc hợp tác chứ không phải điều phối (không có một tổ
chức nào duy nhất chịu trách nhiệm về việc phát triển xã hội thông tin của
Phần Lan);
- Hệ thống đánh giá xét duyệt trong việc tài trợ cho các đơn vị và các tổ
chức từ quỹ nhà nước được Phòng Thanh Tra Quốc Gia (State Auditing Bureau) đảm bảo tính minh bạch rõ ràng;
b) Các yếu tố thành công chính của nền kinh tế tri thức Phần Lan
Phần Lan là một trong những nước phát triển kinh tế nhất và dẫn đầu về công nghệ của thế giới nói chung và châu Âu nói riêng Phần Lan cũng là nước thực
hiện một cách gương mẫu nhất quan niệm phát triển xã hội thông tin châu Âu và chương trình e-Europe Những yếu tố quyết định sự phát triển như vũ bão và hết
sức thành công của nền kinh tế Phần Lan bao gồm:
Trang 5- Vai trò tiên quyết của khoa học và tiến bộ kỹ thuật – nhà nước chi phí rất
nhiều cho công tác nghiên cứu và phát triển, chưa kể sự tham gia đáng kể
của khu vực tư nhân trong lĩnh vực này, sự tăng mạnh số lượng cán bộ nghiên cứu khoa học và luận án tiến sĩ được bảo vệ
- Sự phát triển của công nghệ thông tin – sự tăng trưởng đột biến về số
lượng máy tính (có kết nối với Internet), số lượng thuê bao điện thoại di động, giảm thiểu các chi phí truyền dữ liệu trong các thế hệ mạng truyền thông
- Biến đổi cơ cấu của nền kinh tế – sự tăng trưởng đáng kể của nền sản xuất
công nghiệp điện tử, phần mềm, viễn thông và giá trị xuất khẩu các loại hàng đó
- Tiềm lực khoa học – Phần Lan chiếm vị trí thứ 3 về số lượng công trình
nghiên cứu khoa học trên 1 tỷ USD GDP, thứ 4 – trên 1 vạn dân
T ổng kết
Dựa trên kinh nghiệm của đất nước Phần Lan ta thấy một nền kinh tế tri thức không chỉ đơn thuần là việc tập trung nâng cao mức độ đầu tư cho nghiên cứu khoa học mà còn cần phải có một cơ cấu rõ ràng và phù hợp cho việc đầu tư đó
nhằm ưu tiên phát triển và sản xuất kiến thức nhằm đảm bảo tính cạnh tranh quốc
tế của nền kinh tế đất nước Nhất là cần thiết phải triển khai các giải pháp sau:
- Giải pháp xây dựng và triển khai những phương pháp điều phối chính sách công nghiệp với chính sách khoa học và phát triển công nghệ;
- Giải pháp mang tính hệ thống cao để đảm bảo sự hợp tác hiệu quả giữa các đơn vị tham gia Hệ Thống Sáng Tạo Quốc Gia nhằm thực hiện các mục đích chính sách đã vạch ra;
- Môi trường xã hội phải có thiện cảm và đồng tình với các giải pháp đảm bảo
sự hỗ trợ tích cực cho việc triển khai và ứng dụng chúng trong thực tế