1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện chứng giữa kinh tế và giáo dục trong sự phát triển nền kinh tế tri thức ở việt nam hiện nay

122 17 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 3,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chúng ta và công tác tuyên truyền thuần túy của Đảng, cả tính chất giáo dục và giảng dạy ở nhà trường, cũng như tính chất giáo dục ngoài nhà trường, đều phải thay đổi, nhưng điều đó khôn

Trang 1

NGUYỄN THỊ ANH THƢ

ỤC TRONG SỰ

ỆN NAY

LUẬ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014

Trang 2

NGUYỄN THỊ ANH THƢ

ỤC TRONG SỰ

ỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80 CBHDKH: TS HÀ THIÊN SƠN

LUẬ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình mà tôi nghiên cứu, dưới sự hướng dẫn của TS Hà Thiên Sơn

Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được ai công bố

TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2014

Người thực hiện

Nguyễn Thị Anh Thư

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các Thầy, các Cô trong khoa Triết học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh cùng toàn thể anh chị em và bạn bè đã tạo điều kiện và môi trường học tập thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc đến người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và dìu dắt tôi trên con đường nghiên cứu khoa học – TS Hà Thiên Sơn

Trang 5

BẢNG VIẾT TẮT

APEC: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương

ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

G8: Nhóm 8 quốc gia dân chủ và công nghiệp hàng đầu của thế giới GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

HDI: Chỉ số phát triển con người

IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế

ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức

OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc WB: Ngân hàng thế giới

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 01 PHẦN NỘI DUNG 09

KINH TẾ VÀ GIÁO DỤC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 09 1.1 Quan điểm về mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục của chủ

nghĩa Mác – Lênin 09

– Ph.Ăngghen 09 Lênin 15

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt

Nam về mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục 20

Kết luận chương 1 44 Chương 2: SỰ VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA

KINH TẾ VÀ GIÁO DỤC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH

TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 46 2.1 Khái niệm kinh tế tri thức và những đặc trưng của nó 46

ế tri thức 46

Trang

Trang 7

ế tri thức 50

2.2 Thực trạng việc vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục trong nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay 59

2.2.1 Thành tựu việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục trong nền kinh tế tri thức 60

2.2.2 Hạn chế việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục trong nền kinh tế tri thức 64

2.2.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục trong nền kinh tế tri thức 71

2.3 Phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả việc vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục trong nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay 77

2.3.1 Phương hướng nhằm thực hiện có hiệu quả việc vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục trong nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay 77

2.3.2 Một số ằm thực hiện có hiệu quả việc vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và giáo dục trong nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay 88

Kết luận chương 2 103

PHẦN KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thế kỷ XXI, con người càng đẩy nhanh cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử Các ngành công nghệ cao liên tiếp có những đột phá trong nền kinh tế như: tin học, vũ trụ, sinh học, hải dương học, năng lượng…đã thúc đẩy sự ra đời của nền kinh tế tri thức Trong nền kinh tế tri thức, sức mạnh của nền kinh tế chủ yếu được tạo nên bởi trí thông minh và sự sáng tạo, cái mà dân tộc nào

thức đóng vai trò quan trọng nhất, chúng là sở hữu của nhiều người và nhu cầu của mỗi cá nhân là vô hạ ển của tri thức gắn liền với lịch sử phát triển của loài người mà con người tạo ra tri thức và sử dụng tri thức để sống, để phát triển và hoàn thiện mình Tri thức được dùng để sống

và tiếp đó để làm và đến giai đoạn hiện nay, tri thức có thêm một chức năng mới có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với kinh tế xã hội, đó là dùng tri thức để tạo tri thức

ển kinh tếụ

ển, họ đã chọn hướng đi cho mình là

hệ ụ

Trang 9

ế tri thức Phải coi kinh tế tri thứ

ế ản phẩm kinh tếtri thức” [22, 28 – 29]

của Đảng Cộng sản Việt Nam

ọc – công nghệ, nền giáo dụ – có những

Trang 10

ức khoa họ –

ền kinh tế tri thứ ế giới

ục trong sự phát triển nền kinh tế tri thứ ệt Nam hiện nay

luận văn thạc sĩ của

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 11

ền kinh tế tri thức

ền

Biên dịch Nền kinh tế tri thức (nhận thức và hành động):

kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển củ

Thống kê, Hà Nội, 2000 Bước chuyển sang nền kinh tế tri thức

ở một số nước trên thế giới hiện nay của tác giả Lưu Ngọc Trịnh, Nxb

Giáo dục, Hà Nội, 2002; công trình Hướng đến nền kinh tế tri thức Việt

Nam củ ễn Thanh Tuyền, Đào Duy Hưng, Lương Minh

Cừ, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2003; công trình Kinh tế tri thứ –

Công trình Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai – vấn đề và giải

pháp các tác giả Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng, Nxb Chính trị

Trang 12

Quốc gia, Hà Nộ ụ

nhu cầu kinh tế

kinh tế TS Ngô Văn Lương, Nxb Chính trị ội, 2010;

Giáo dục Việ tác giả

Trang 13

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

thông qua việc tìm hiểu nền kinh tế tri thức với những đặc trƣng của nó để nhìn nhận và đánh giá thực lực mà Việt Nam đã, đang và sẽ có thể làm đƣợc để chuẩn bị hòa nhập vào nền kinh tế tri thức theo cách riêng của mình

Trang 14

, l ối quan hệ biện chứng ế ụ

và một số quan điểm hiện đại

, l khái niệm kinh tế tri thứ, k việc vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế

ằm thực hiện có hiệu quả việc vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế

và giáo dục trong nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nêu trên, luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề kinh tế

và giáo dục trong nền kinh tế tri thức Đồng thời tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, diễn dịch và quy nạp, so sánh, chứng

minh để làm sáng tỏ các vấn đề mà luận văn đã đặt ra

5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

ọc

ế

sự phát triển kinh tế tri thứ ệt Nam

inh tế tri thứịch sử

Trang 15

, ự

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết

Trang 16

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

Ề MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ

VÀ GIÁO DỤC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

1.1 QUAN ĐIỂM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ GIÁO DỤC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

Muốn tồn tại và trở nên giàu có trong bất cứ một môi trường kinh tế nào thì trước hết phải có một vốn giàu có về tri thức và năng lực tạo tri thức; thứ hai phải có khả năng biến các năng lực đó thành sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chứa nhiều hàm lượng tri thức hoặc nội dung của bản thân chúng là thông tin và tri thức; và thứ ba, có ý nghĩa quyết định, là có khả năng cạnh tranh để có thể chiếm lĩnh, có thể giữ được ưu thế cạnh tranh cho sản phẩm và dịch vụ đó Suy cho cùng, năng lực thích nghi, sáng tạo, nhạy bén và linh hoạt sẽ là những ưu thế giúp cho cá nhân có nhiều cơ hội lựa chọn nghề nghiệp và tìm việc làm một cách đầy tự tin; đồng thời, đấy cũng là những yếu tố giúp cá nhân duy trì được ưu thế cạnh tranh của mình,

mà theo quan điểm của Mác – Ăngghen, đó là những con người có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực vốn có của mình Chính nền công nghiệp do toàn xã hội kinh doanh một cách tập thể và có kế hoạch sẽ làm cho người công nhân thoát khỏi tình trạng một chiều mà sự phân công lao động dưới chế độ tư bản chủ nghĩa đang buộc mỗi người công nhân phải theo Rõ ràng, với sự phát triển của kinh tế đã tác động sâu sắc đến từng cá nhân đang sống trong xã hội, nó buộc mỗi cá nhân phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ Vì vậy, các nhà tư tưởng của chủ nghĩa Mác đã đưa quan điểm đó

Trang 17

Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng, các nhà mácxít đã khẳng định: “Những điều kiện kinh tế là cái quyết định cuối cùng sự phát triển lịch sử” [42, 81] Các ông không hề tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế Bởi

vì, bên cạnh đó, các ông cũng đã khẳng định rằng điều kiện kinh tế hoàn toàn không phải là nguyên nhân duy nhất chủ động, còn những thứ khác chỉ có tác dụng thụ động Trái lại, có sự tác động trên cơ sở tính tất yếu kinh tế, cái tất yếu này xét đến cùng bao giờ cũng tự vạch ra con đường đi của nó Bởi lẽ, chính con người mới là chủ nhân của xã hội, là người đã sáng tạo ra lịch sử của mình Nhưng đây lại là sự sáng tạo trong một hoàn cảnh nhất định, mà con người phải thích ứng, và trên cơ sở của những quan

hệ thực tế đang tồn tại, trong đó quan hệ kinh tế, mặc dù chịu sự tác động hay có thể bị ảnh hưởng bởi những quan hệ khác như giáo dục, nhưng xét đến cùng thì nó vẫn là những quan hệ quyết định, hình thành sợi dây chỉ đạo xuyên qua toàn bộ sự phát triển Như vậy, chúng ta có thể hiểu, kinh tế

là điều kiện tiên quyết; đồng thời, để đánh giá sự phát triển, sự thịnh vượng của một quốc gia, tất yếu chúng ta phải xem xét tất cả các lĩnh vực khác, trong đó có giáo dục vì sản phẩm của nó là con người Và những luận điểm sau đây sẽ là những minh chứng cho các quan điểm ấy của các ông Ph.Ăngghen khẳng định: “Một dân tộc muốn đứng lên trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lí luận” [43, 489] Còn C.Mác cho rằng: Giáo dục - đào tạo sẽ đem đến một đội ngũ những nhà khoa học, những chuyên gia kỹ thuật… cho nền kinh tế của một dân tộc Nếu như không có những con người này thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ tồn tại trên lời nói mà thôi Như vậy cả C.Mác và Ph.Ăngghen đều coi giáo dục - đào tạo là chìa khoá, là động lực đối với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là đối với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của một quốc gia, một dân tộc

Trang 18

Luôn nhận thức mọi sự vật ở tính hai mặt của nó Mác – Ăngghen, mặc dù, đã đánh giá rất cao tiến bộ của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản trong vòng chưa đầy một thế kỷ đã đưa nhân loại tiến một bước dài so với tất cả các phương thức sản xuất trước đó Đồng thời, những mặt tích cực do nền công nghiệp lớn đó đã đem lại là: Người lao động luôn có cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn và có nhiều cơ hội thể hiện và phát huy hết những tài năng, những sở trường và óc sáng tạo của mình Tuy nhiên, mặt trái của

nó là, ở đó đã diễn ra sự thay đổi trong quá trình phân công lao động Những người lao động bộ phận có nguy cơ bị loại trừ, bị đào thải, bị phế bỏ

vì sức lao động của con người dần dần bị thay thế bằng máy móc Cho nên nhà tư bản đương nhiên chỉ tuyển dụng những người lao động có khả năng làm được nhiều việc cho mình Và như vậy, trong xã hội đã lãng phí một lượng lao động to lớn Bên cạnh đó, mâu thuẫn xã hội lại không ngừng nảy sinh và tính chất phức tạp của nó ngày càng trở nên trầm trọng hơn Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân; mâu thuẫn ngay chính trong nội bộ giai cấp công nhân – mâu thuẫn giữa những người công nhân được tuyển dụng, làm được việc với những người công nhân mất việc Giữa họ không tránh khỏi sự đấu đá lẫn nhau chỉ vì miếng cơm manh áo Đạo quân thất nghiệp này luôn sẵn sàng bán sức lao động của mình với giá

rẻ mạt cho nhà tư bản một khi nhà tư bản có nhu cầu, dẫu rằng, họ biết mình bị bóc lột một cách thậm tệ, nhưng họ vẫn cam chịu Và cuối cùng chỉ

có giai cấp tư sản mới là người hưởng lợi Trong bộ Tư bản, C.Mác đã viết:

“…một vấn đề sinh tử Đúng thế, nền công nghiệp lớn buộc xã hội, nếu muốn khỏi bị tiêu diệt, thì phải thay thế người lao động bộ phận, tức là kẻ phải chịu đau khổ làm một chức năng sản xuất bộ phận, bằng người lao động phát triển hoàn toàn, tức là kẻ có thể làm được nhiều loại công việc khác nhau, và đối với anh ta những chức năng khác nhau do anh ta đảm

Trang 19

nhiệm chỉ làm cho những tài năng muôn vẻ vốn có hoặc do rèn luyện mà có được của anh ta, được tự do phát triển mà thôi” [42, 43 – 44] Và trong

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác – Ăngghen đã khẳng định: “Người

cộng sản không bịa ra tác động xã hội đối với giáo dục” [42, 33] Sự khẳng định ấy được rút ra từ trong tình cảnh khốn khổ hằng ngày của những người công nhân mà Mác – Ăngghen cũng đã từng trải nghiệm cùng họ từ các phong trào công nhân quốc tế Hai ông cho rằng, chính sự thiếu hiểu biết mà đa phần giai cấp công nhân đã không nhận thức được những lợi ích

mà đáng lẽ, bản thân mỗi cá nhân có quyền được hưởng: “Trong quá nhiều trường hợp, giai cấp công nhân bị dốt nát đến mức không hiểu được lợi ích chân chính của con cái mình hoặc những điều kiện phát triển bình thường của con người” [42, 38]

Chính nền công nghiệp lớn phát triển và phát triển đến một mức độ nhất định nào đó, nó đã cải biến cả đầu óc con người Thời kì tư sản khác với tất cả các thời kỳ trước kia ở chỗ là không chỉ có sự chuyển biến liên tiếp trong nền sản xuất, mà ở đó, nó còn kéo theo cả sự rung chuyển không ngừng của các quan hệ xã hội, có sự lay động và trạng thái bất ổn không ngừng Theo sự đánh giá của Mác – Ăngghen thì, “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của các thế hệ trước kia gộp lại” [44, 603] Những tưởng, sự phát triển ấy làm cho cuộc sống của quần chúng lao khổ được cải thiện Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế nhưng

ở đó không gắn liền với tiến bộ xã hội thì sự phát triển ấy, theo Mác, nó trở nên vô nghĩa Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, tất cả những gì được cho là

“tiến bộ, dân chủ, tự do, bình đẳng”, thực chất chỉ dành cho giai cấp tư sản

mà thôi Còn giai cấp công nhân thì bị tước tất cả các quyền cơ bản nhất của một con người và phải sống trong cảnh lầm than, bần cùng Mác đã

Trang 20

vạch trần những gì đen tối nhất trong cái xã hội ấy: “Tất cả những cái gì là vững chắc, là cố định đều tiêu tan như mây khói, tất cả những cái gì là thiêng liêng đều bị nhơ bẩn, và rốt cuộc mọi người đành phải nhìn những điều kiện sinh hoạt và những quan hệ giữa họ với nhau bằng con mắt chán chường” [42, 46 – 47] Như vậy, nền sản xuất bằng máy móc của nền công nghiệp lớn dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã không cho người công nhân có bất cứ một cơ hội nào để phát triển năng khiếu và bẩm tính sáng tạo của mình Ngược lại, nó lại càng hạ thấp người công nhân xuống từ chỗ họ là một chiếc máy đến chỗ chỉ giản đơn chỉ là một bộ phận phụ tùng của một chiếc máy Và còn tàn nhẫn hơn ở chỗ, nhà tư bản đã lạm dụng máy móc

để biến người công nhân khổ hạnh kia ngay từ khi họ còn thơ ấu Một sự bóc lột sức lao động hết sức dã man đối với trẻ em Đây là điều mà Mác – Ăngghen kịch liệt phản đối Chính sự sùng bái hàng hóa, tuyệt đối hóa lợi nhuận và mãnh lực đồng tiền mà chủ nghĩa tư bản làm cho mọi quan hệ của con người và mọi tình cảm đều tan biến và bị nhấn chìm một cách lạnh lùng, vô cảm và mất nhân tính chỉ vì sự toan tính của lòng ích kỷ Ở đây, chính các nhà tư bản cũng không khống chế được bản thân mình và những sản phẩm của xã hội Ph.Ăngghen đã viết: “và không chỉ công nhân mà cả những giai cấp trực tiếp hay gián tiếp bóc lột công nhân cũng trở thành nô

lệ - thông qua sự phân công lao động – của những công cụ hoạt động của mình: nhà tư sản có tâm hồn trống rỗng trở thành nô lệ của tư bản của chính họ và của lòng ham mê lợi nhuận của chính họ; nhà luật học trở thành nô lệ của những quan niệm pháp luật cứng đờ của họ như một quyền độc lập; những “giai cấp có học thức” thì nói chung đều bị nô dịch bởi tính chất hạn chế cục bộ và tính chất phiến diện về nhiều mặt, bởi tính cận thị của chính họ về thể chất và tinh thần, bởi tình trạng què quặt của họ vì một

Trang 21

nền giáo dục khuôn theo một nghề chuyên môn nhất định và vì bị trói buộc suốt đời vào bản thân ngành chuyên môn” [45, 404] Do vậy, họ cũng trở thành nạn nhân và cũng không thể tự giải phóng được mình Nói một cách khác, sự tha hóa con người là hoạt động của chính con người tạo ra; do đó, cũng bằng chính hoạt động tích cực của mình, con người có thể xóa bỏ sự tha hóa của mình Để xóa bỏ tha hóa và giải phóng con người, C.Mác đã đưa ra những chỉ dẫn xác đáng, trong đó ông có nhấn mạnh đến tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của sự nghiệp giải phóng con người Vì nó phụ thuộc chủ yếu vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, vào điều kiện vật chất bắt buộc của chính sự nghiệp giải phóng con người C.Mác đã nhất mực khẳng định: Chỉ khi nào lực lượng sản xuất hiện đại phát triển và chỉ khi nào một xã hội mới không còn cơ sở kinh tế của mọi bóc lột và nô dịch, không có giai cấp và hiện tượng người bóc lột người thay thế cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, thì khi ấy sự nghiệp giải phóng con người mới trở nên triệt để và toàn diện được Muốn vậy phải ra sức giáo dục để nâng cao trình độ hiểu biết và nhận thức cho tất

cả mọi người

Mục đích của giáo dục, theo Mác – Ăngghen, là chống bất bình đẳng

xã hội và mưu cầu một đời sống tốt cho tất cả mọi công dân Kỹ năng chuyên môn về khoa học kỹ thuật là điều kiện phải có để phát triển mọi mặt của xã hội Tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ làm tăng cầu lao động có trình độ, kết quả là số người tham gia học tập tăng lên rất nhiều Điều này tạo ra điều kiện cho giáo dục phát triển Ngược lại, giáo dục phát triển dẫn tới việc nâng cao tính cạnh tranh của lao động có trình độ, làm cho thu nhập và tăng trưởng kinh tế cao hơn Như vậy, giáo dục không chỉ là nguyên nhân mà còn là kết quả của tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ này, nếu tác động cùng chiều thì sẽ làm cho xã hội phát triển Ngược lại, nó sẽ

Trang 22

kiềm hãm sự phát triển của xã hội và tất yếu là mâu thuẫn sớm muộn gì cũng sẽ nảy sinh và đến một thời điểm nhất định, nó buộc con người phải giải quyết Giai cấp tư sản đã làm ngược sự phát triển tất yếu này Nền giáo dục trong xã hội tư bản là một nền giáo dục chỉ thật sự dành cho con em giai cấp thống trị, bình đẳng trong giáo dục chỉ tồn tại cho những người thuộc tầng lớp trên trong xã hội Giai cấp tư sản vì mưu cầu lợi ích cho một

bộ phận nhỏ của mình đã tước đoạt tất cả những gì được cho là quyền thiêng liêng vốn có của một con người Nhu cầu học tập của quần chúng lao khổ không ngừng tăng lên, nhất là giai cấp công nhân Nhưng để được học thì họ lại phải bị đặt trong khuôn khổ của những ràng buộc hết sức phi

lý, mà ở đó, họ không có quyền lựa chọn Bản thân người công nhân phải

tự đấu tranh với chính cá nhân của mình, hoặc là phải cam chịu ngu dốt, chấp nhận kiếp sống nô lệ; hoặc là tự mình giải phóng cho mình Sự giác ngộ về chính cá nhân mình và giai cấp mình là động lực thúc đẩy họ giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc vì một xã hội tiến bộ hơn và văn minh hơn

Vậy nên, tất cả những thế lực nào cố tình cản trở sự tiến bộ của xã hội ắt hẳn sẽ phải gánh chịu sự thất bại hoặc sẽ bị trừng phạt vì đã đi ngược với lợi ích chung của toàn nhân loại

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi, đó là thành công

vô cùng to lớn của toàn thể công nhân quốc tế nói chung và của công nhân Nga nói riêng Tuy nhiên, họ phải đương đầu với muôn vàn khó khăn do hậu quả của chiến tranh để lại Hơn ai hết, V.I Lênin là người nhận thức rõ điều đó Chính vì vậy, để cứu lấy chính quyền còn quá non trẻ mà phải đương đầu với rất nhiều kẻ thù trong và ngoài nước đang ra sức chống phá, Người nhận định rằng: “Tính chất của toàn bộ công tác tuyên truyền của

Trang 23

chúng ta và công tác tuyên truyền thuần túy của Đảng, cả tính chất giáo dục

và giảng dạy ở nhà trường, cũng như tính chất giáo dục ngoài nhà trường, đều phải thay đổi, nhưng điều đó không có nghĩa là phải thay đổi chính các nguyên tắc và phương hướng giảng dạy, mà là phải làm cho tính chất giáo dục của công tác phù hợp với bước chuyển sang xây dựng hòa bình với kế hoạch rộng lớn cải tạo công nghiệp và kinh tế nước nhà, vì khó khăn kinh

tế chung và nhiệm vụ chung là khôi phục lực lượng kinh tế của đất nước, làm sao cho cách mạng vô sản có thể xây dựng được những cơ sở mới cho đời sống kinh tế bên cạnh nền kinh tế tiểu nông” [42, 140] Người phân tích nền kinh tế của một quốc gia sau chiến tranh ắt hẳn sẽ bị kiệt quệ Đó là lẽ đương nhiên mà bất cứ một người dân nào cũng nhận thấy điều đó, ngay cả một người nông dân tăm tối nhất Nghèo nàn sẽ đeo bám lấy họ nếu như họ không khôi phục kinh tế Chính vì vậy, toàn bộ công tác tuyên truyền và giáo dục trong và ngoài nhà trường phải luôn luôn bám sát và gắn với nhu cầu bức thiết nhất của đời sống hằng ngày của người dân Kịp thời đáp ứng những nguyên vọng ấy để vừa lôi kéo họ và giúp họ nhận thức được sự phát triển của những nhu cầu đó và muốn thoát khỏi tình cảnh đó chỉ có con đường nhanh chóng khôi phục kinh tế, nhất là công nghiệp Nhưng quá trình khôi phục này rất gian nan và đòi hỏi cần có một đội ngũ lao động có trình độ khoa học kỹ thuật cao Bởi vì V.I.Lênin biết rằng không thể khôi phục công nghiệp trên cơ sở cũ mà phải dựa trên cơ sở kỹ thuật hiện đại Vì sao V.I.Lênin lại khẳng định như thế?

Trong xã hội tư bản, nền giáo dục của nó thực chất là nền giáo dục tự

do giả hiệu Nhà trường tư bản đào tạo những tôi tớ cần thiết cho bọn tư bản mà thôi, chứ không hề bao giờ làm cho nhà trường biến thành công cụ giáo dục nhân cách con người Nó biến những nhà khoa học thành những người bắt buộc phải viết và phải nói theo ý muốn của bọn tư bản, miễn sao

Trang 24

có thể đem lại nhiều tiền lời cho bọn chúng mà vẫn không quấy rầy đến sự nghỉ ngơi và thói ăn không ngồi rồi của chúng Do vậy, người cộng sản chân chính thì phải biết hấp thụ những kiến thức trên tinh thần phê phán chứ không phải hấp thụ chúng một cách thụ động, nhằm làm giàu trí óc bằng sự am hiểu mọi sự việc thực tế; không cần lối học gạo mà cần mở mang và hoàn thiện trí óc của mỗi người bằng những kiến thức về những

sự việc cơ bản Nên những người làm công tác giáo dục đang mang trên mình một trọng trách vô cùng nặng nề, mà trước hết họ phải trở thành đội quân chủ lực của việc giáo dục xã hội chủ nghĩa, với sứ mệnh lịch sử: “Cần phải giải phóng đời sống và tri thức thoát khỏi sự lệ thuộc vào tư bản, thoát khỏi ách áp bức của giai cấp tư bản” [7, 16] Điều quan trọng mà V.I.Lênin muốn nhấn mạnh là: cùng với việc cải tạo xã hội tư bản cũ thì việc huấn luyện, giáo dục và học tập cho thế hệ mới – những người sẽ sáng tạo ra một

xã hội tốt đẹp hơn – không thể y nguyên như trước được, từ những công thức, những lời dạy, những phương án, những quy tắc, những cương lĩnh cứng đờ nhất thiết phải trở thành một cái gì đó sinh động, với lý do toàn thể

xã hội trước đây đã được xây dựng và dựa trên sự phân chia giai cấp người bóc lột người, mọi sự sáng tạo của toàn bộ trí tuệ và toàn bộ thiên tài của loài người chỉ phục vụ cho một bộ phận người trong xã hội V.I.Lênin cũng chỉ rõ: “Không thể xây dựng một xã hội cộng sản trong một nước toàn những người mù chữ …, hoặc người ta huy động một bộ phận trong các chiến sĩ xuất sắc nhất của chúng ta để làm nhiệm vụ này, thì như vậy cũng chưa đủ” [7, 25], và: “Khi nào công nhân và nông dân đã chứng tỏ rằng với sức mạnh của bản thân mình, chúng ta có khả năng tự bảo vệ và sáng tạo ra một xã hội mới, thì lúc đó đã bắt đầu một nền giáo dục mới, cộng sản, một nền giáo dục thực hiện trong cuộc đấu tranh chống những kẻ bóc lột, trong cuộc liên minh với giai cấp vô sản chống bọn ích kỷ và bọn tiểu chủ” [7,

Trang 25

25] Cũng giống như các bậc tiền bối của mình, V.I.Lênin cũng “xoáy” vào việc nâng cao trình độ học vấn cho công nhân Để chỉ rõ chỉ có học thức mới giúp họ thức tỉnh, hiểu biết và có trí tuệ mới giúp họ nhận biết được đâu là giả tạo đâu là hiện thực và tiến bộ, Người viết: “Chỉ có giai cấp vô sản được huấn luyện và được thức tỉnh sau một giấc ngủ dài trước kia, mới

có thể tạo ra được” [42, 158] Một khi nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình, giai cấp công nhân tự nhận thấy trong cuộc cách mạng xây dựng

xã hội chủ nghĩa mình có nhiệm vụ là cải tạo, giáo dục lại một bộ phận trong nông dân, lôi kéo theo mình là những người nào là nông dân lao động, để đập tan sức phản kháng của những nông dân giàu có đang làm giàu trên sự giàu có của biết bao người khác

Đất nước sau chiến tranh, đời sống của nhân dân rơi vào cảnh cơ hàn, đói kém Cái đói kém và dốt nát đang lan tràn khắp nơi Để thoát khỏi nạn đói trước mắt, theo V.I.Lênin phân tích thì phải phát triển trồng rau, nhưng phải xem đây là nhiệm vụ của tất cả mọi người, của tất cả mọi tổ chức, chứ không phải là nhiệm vụ của riêng người nông dân Có như vậy thì số lượng

và diện tích các vườn rau sẽ tăng thêm và kết quả tốt đẹp hơn V.I.Lênin cũng giáo dục tất cả mọi người biết trân trọng thời gian, không được lãng phí một cách vô ích, mà phải biết tận dụng thì giờ rãnh rỗi vào những công việc có ích, lao động một cách tự giác và có kỷ luật Người dạy: “Các đoàn viên của Đoàn phải dùng tất cả các giờ rãnh rỗi của mình để cải tiến các vườn rau, để tổ chức trong một nhà máy hay một công xưởng nào đó việc học tập cho thanh niên, v.v… Chúng ta muốn làm cho nước Nga nghèo nàn, cùng khổ trở thành một nước giàu có Và phải làm thế nào để Đoàn thanh niên cộng sản gắn liền việc rèn luyện, học tập và giáo dục của mình với lao động của công nhân và nông dân, không tự giam mình trong các trường học và không tự hạn chế mình ở việc đọc sách báo và tài liệu cộng

Trang 26

sản Chỉ khi nào cùng lao động với công nhân và nông dân, người ta mới trở nên một người cộng sản chân chính được Phải làm cho mọi người thấy rằng mỗi đoàn viên của Đoàn thanh niên đều là người có học thức và đồng thời cũng biết lao động” [42, 168] Giáo dục gắn kết với lao động sản xuất

sẽ giúp cho bản thân mỗi người không ngừng sáng tạo, nỗ lực, tranh đấu và ham học hỏi để làm cuộc sống không chỉ của riêng họ mà còn của toàn xã hội được cải thiện Nhận thức được mình là ai? Vì sao mình phải sống, phải lao động, phải chiến đấu và phải học tập, là một vấn đề không hề đơn giản?

Để đạt được cái đích cuối cùng là “học tập”, V.I.Lênin giải thích nghèo khổ

và vô học không phải là tai họa Cái quan trọng mà chúng ta phải nhận thấy

là cần phải học tập và ham thích học tập Trong xã hội hiện đại hơn, được giáo dục và được học tập thì chúng ta sẽ nhận thức rõ hơn về những quyền

và nghĩa vụ mà chúng ta có được trong xã hội, để từ đó chúng ta hiểu rằng mình làm tất cả mọi thứ là để “cải thiện đời sống cho chính mình” chứ không phải để mang lại lợi ích cho một bộ phận người nào đó Chính vì thế, V.I.Lênin kêu gọi mọi người: “Vì thế chúng ta nhất định học tập, và nhất định sẽ trở thành những người có học thức” [41, 219]; và cam đoan rằng: “Một điều chắc chắn là: chúng tôi cần, trước hết là phải học đọc, học viết và học hiểu những điều chúng tôi đã học” [42, 220] Người phân tích thêm: giai cấp công nhân mới vừa thoát khỏi xiềng xích của bọn người bóc lột nên tinh thần đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội trong họ cực kì hăng hái

Họ rất muốn đem lại cho mọi người một bộ máy nhà nước tốt hơn, nhà nước ấy thật sự phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhưng thật sự

họ không biết làm như thế nào Bởi vì họ chưa có đầy đủ học thức và trình

độ văn hóa cơ bản để có thể làm được một việc vô cùng mới mẽ là xây dựng chủ nghĩa xã hội Điều đó cũng dễ hiểu Bởi vì trong chế độ trước, họ không được học tập gì nhiều Vì lý do này mà nhà lãnh đạo của nhà nước

Trang 27

xô – viết lúc bấy giờ đã đưa ra quan điểm “học, học nữa, học mãi”, cụ thể:

“Muốn đổi mới bộ máy nhà nước của chúng ta, phải cố hết sức tự đặt cho mình nhiệm vụ sau đây: một là học tập, hai là học tập, ba là học tập mãi; và sau nữa, phải làm sao cho học thức ở nước ta không nằm trên giấy hoặc là một lời nói theo mốt nữa, phải làm sao cho học thức thật sự ăn sâu vào trí não, hoàn toàn và thực tế trở thành một bộ phận khăng khít của cuộc sống của chúng ta” [42, 233]

Vậy là, theo quan điểm của V.I.Lênin, xã hội ngày càng tiến bộ, con người nếu như không muốn bị lạc hậu thì con đường duy nhất là không ngừng học tập Người cũng lưu ý rằng, người học cần biến tất cả những gì

mà mình học được từ sách vở vào trong đời sống, vào trong sản xuất, tức

là, tri thức phải hóa thân vào các sản phẩm và dịch vụ Con người tiến bộ phải biết dùng tri thức để tạo ra của cải với mục đích không chỉ phục vụ cho bản thân, cho gia đình mà còn cho cả xã hội nữa Như vậy, trong sự nghiệp khôi phục nền kinh tế của đất nước sau chiến tranh thì giáo dục đóng một vai trò rất to lớn

1.2.1 Tư tưởng

Khi phát biểu những quan điểm của mình, dù nhấn mạnh về phương diện kinh tế hay bất cứ một phương diện khác như chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục…, thì Người đều đặt chúng trong mối quan hệ, liên hệ tổng thể, có tác dụng qua lại lẫn nhau, thúc đẩy nhau hướng tới mục tiêu của cuộc cách mạng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Những phát biểu của Người về những vấn đề kinh tế, giáo dục, trước và sau khi nước nhà giành được độc lập, trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa, đều là mẫu mực của sự vận dụng đầy

Trang 28

sáng tạo những nguyên lý cơ bản của học thuyết Mác – Lênin và những quy luật kinh tế khách quan cũng như vấn đề về giáo dục vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam

Tư duy kinh tế của Người là một bộ phận cấu thành không thể thiếu

và không thể tách rời những luận điểm cách mạng có tính tổng hợp và thống nhất đã kết tinh thành tư tưởng Hồ Chí Minh Nếu tách biệt hay thoát

ly những vấn đề kinh tế ra khỏi thực thể thống nhất toàn vẹn của nó trong nhận thức thì không thể đi đến những kết quả thật diệu kì trong cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp với tinh thần tự lực tự cường và thực hiện đường lối “Kháng chiến – kiến quốc” hay “Thực hành cần, kiệm, liệm, chính” Đây không chỉ là những khẩu hiệu hành động mà còn là quan điểm, phương châm trong đường lối cách mạng của Người Đây là một kiểu tư duy lôgic biện chứng, lấy các nhân tố làm nội lực

Cải tạo kinh tế trước tiên, theo Hồ Chí Minh là cải tạo tư tưởng, cũng như đổi mới là đổi mới tư duy, trước tiên là đổi mới tư duy kinh tế Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là đường lối vừa kháng chiến vừa kiến quốc Bởi lẽ, hơn ai hết, Người nhận thức vấn đề đặt lên hàng đầu lúc này là làm sao đảm bảo cái ăn, cái mặc, thuốc men, đạn dược… cho tất

cả mọi người Hay nói một cách thật dễ hiểu là “có ăn no thì mới có thể đánh giặc được” Do vậy chính sách kinh tế lúc bấy giờ được Hồ Chí Minh

đề ra là đẩy mạnh tăng gia sản xuất nhằm huy động sức người sức của trong toàn dân để nhanh chóng dập tắt nạn đói Hồ Chí Minh luôn đặt kinh

tế đứng ở vị trí đầu tàu, phải ưu tiên đi trước khi Người dẫn dắt lại câu tục ngữ của người xưa: “Có thực mới vực được đạo”, truyền thống đạo đức của dân tộc “nhường cơm sẻ áo” ngay sau khi nước ta giành được chính quyền

từ tay thực dân Pháp Đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” của chính quyền còn non trẻ như “trứng nước”, Người vẫn quyết định chống giặc đói

Trang 29

trước rồi mới chống giặc dốt Và chính nhờ sự nhận thức vô cùng sâu sắc những quy luật phổ biến cũng như luôn bám sát vào thực tiễn của đất nước,

Hồ Chủ tịch đã từng bước đưa nước ta thoát khỏi tình thế hiểm nghèo Người đề nghị: “Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, một tháng nhịn ăn 3 bữa Đem gạo đó để cứu dân nghèo” [48, 31] Đùm bọc nhau trong cảnh đất nước đang đói nghèo, thì “cần, kiệm, liêm, chính” là điều không thể thiếu được Lúc bấy giờ, tinh thần ấy đã trở thành ý thức và tâm lý của cộng đồng Người phân tích: một trong các lý do khiến cho bước tiến của xã hội nói chung và của nền kinh tế nói riêng chậm lại đó chính là sự lãng phí Theo Người, những thứ mà con người thường lãng phí là: của cải, nhân lực, tiền bạc, chất xám, thời gian… Đây chính là những lực cản hữu hình đối với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đặc điểm cơ bản trong tư duy kinh tế của Hồ Chí Minh là tất cả mọi thao tác đều quy tụ về nhân tố người lao động Chính con người đứng ra tổ chức sản xuất, cũng chính con người phải làm công việc quản lý kinh tế và cũng chính con người là mục đích phục vụ cuối cùng Trong đó, Người nhấn mạnh đến việc sử dụng hợp lý người lao động trong quá trình sản xuất, người nào việc đó, bố trí công việc thích hợp theo đúng năng lực của từng người nhằm mục đích tạo nên sự thông suốt, nhịp nhàng giữa các khâu trong quy trình sản xuất và giữa các khâu có được sự tương trợ lẫn nhau Vấn đề này được Hồ Chí Minh rất xem trọng

Bởi vì, nếu không dùng đúng người, đúng việc thì hiệu quả lao động không cao, không chất lượng Như vậy việc tổ chức lao động có khả năng thất bại mà nguyên nhân là do thói trục lợi, chèn ép người tài, ưu tiên cho

họ hàng thân thích mặc dù biết họ không đủ năng lực Người phân tích thêm: con người thiếu hiểu biết rất dễ mắc phải sai lầm Những thói hư, tật xấu dù là cố ý hay vô ý cũng đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến tập thể,

Trang 30

cộng đồng Cho nên, Người cho rằng nền giáo dục mới có trách nhiệm đào tạo những con người có ý thức công dân và tạo điều kiện cho họ học tập thường xuyên và không ngừng nâng cao trình độ để hoàn thiện bản thân Chính vì thiếu hiểu biết nên con người mới có thái độ ứng xử không đúng với mọi người, với chính bản thân, từ đó, đưa mình vào tự ti, tự lợi, thiếu tự trọng, không thật thà Điều này gây bất lợi không chỉ trong hoạt động xã hội mà còn cả trong hoạt động kinh tế, nhất là khi tham gia quản lý xã hội, quản lý kinh tế

Về quản lý kinh tế, Người cho rằng cần phải quản lý người lao động trước tiên Người cắt nghĩa hệ thống pháp luật dù có chặt chẽ đến đâu thì vẫn có kẽ hở Đây lại là cơ hội cho những kẻ gian trục lợi Cho nên quản lý kinh tế phải đi đôi với giáo dục Mục đích giáo dục ở đây là giáo dục tính

tự nguyện, tự giác lao động và gìn giữ của công cho người lao động Vì thế, muốn quản lý tốt, phải có người quản lý giỏi, nhưng yêu cầu đối với người quản lý phải là một người thật mẫu mực và đầy tinh thần trách nhiệm Hồ Chí Minh đặt nặng vấn đề, người quản lý giỏi không chỉ giỏi về mặt lý thuyết quản lý mà còn phải trải nghiệm vào trong hoạt động sản xuất, hiểu

rõ từng khâu trong quy trình sản xuất, hiểu rõ người lao động để từ đó có được quan điểm quản lý rõ ràng và biện pháp quản lý cụ thể Còn về phía người lao động, họ sẽ có điều kiện phát hiện những điều hợp lý hay chưa hợp lý Họ có quyền góp ý, đề xuất với cấp trên của mình về cách thức phát huy hoặc biện pháp khắc phục, giúp cho người quản lý kịp thời đưa ra những giải pháp hữu hiệu hơn để có thể làm tốt không chỉ công việc của mình mà còn hoàn thành tốt công việc của cả tập thể Bất cứ một tập thể, một cơ quan, một xí nghiệp nào nếu cũng đều có sự đoàn kết, hòa đồng, thống nhất như thế thì việc dù có khó đến mấy cũng đều làm tốt Thực hiện được điều đó chính là thể hiện tính dân chủ trong chế độ xã hội chủ nghĩa,

Trang 31

bởi vì dân chủ là động lực của sự phát triển Quan điểm của Hồ Chí Minh

đã làm sáng tỏ vấn đề: một khi sản xuất tăng trưởng cao thì đời sống của người dân sẽ được cải thiện, xã hội ngày một tiến bộ; tức là tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ xã hội, khi ấy sự phát triển mới thật sự có ý nghĩa Tuy nhiên, kinh tế tăng trưởng cao mà xã hội không tiến bộ, tệ nạn lan tràn thì chỉ số tăng trưởng này không có ý nghĩa đích thực Chắc chắn khi truy tìm cái nguyên nhân chính của vấn đề, người ta sẽ phải để mắt tới trước tiên đó là giáo dục Như vậy, “một sự thật không ai có thể chối cãi được” là: muốn tăng trưởng gắn liền với tiến bộ xã hội, nghĩa là xây dựng một nền kinh tế xã hội phát triển thì việc “học, học nữa, học mãi”, “học tập suốt đời” luôn là yếu tố hàng đầu và liên tục tác động đến quá trình phát triển đến kinh tế - xã hội của một đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, một dân tộc hiếu học và biết học hỏi là một dân tộc mạnh, dân tộc đó sẽ gặt hái thành công trên bước đường phát triển, sẽ bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu Bản thân mỗi người,

dù bất cứ ở cương vị nào, nếu không muốn tụt hậu, hay bị đào thải thì cần phải không ngừng rèn luyện cả tài và đức để luôn luôn làm chủ trong mọi hoàn cảnh Người viết: “Xã hội ngày càng tiến, công tác của ta cũng ngày càng tiến Chúng ta phải kháng chiến thắng lợi, phải thực hiện dân chủ mới, phải tiến lên chủ nghĩa xã hội, rồi tiến lên chủ nghĩa cộng sản Vì vậy, năng lực của ta, sáng kiến của ta, tiến bộ của ta cũng luôn phát triển, tiến lên không ngừng Không tiến, tức là thoái” [50, 259]

Học để làm chủ và cũng là để thực hiện quyền dân chủ Muốn làm chủ nền kinh tế mới, về góc độ kinh tế, con người cũng phải học cách quản

lý và sử dụng tiền bạc sao cho hợp lý nhằm đem lại lợi ích cho công cuộc kiến thiết của nước nhà, nâng cao mức sống của nhân dân Do đó mà, tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là mấu chốt của thời kỳ quá độ lên chủ

Trang 32

nghĩa xã hội ở nước ta Làm tốt công việc này là để từng bước tạo dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật và tiến hành công nghiệp hóa đất nước Tất nhiên trong quá trình ấy hẳn là không thể thiếu một nhân tố vừa có tính chất quan trọng nhất, quyết định nhất nhưng cũng lại vừa sống động nhất, đó là con người,

mà theo quan niệm của Hồ Chí Minh, phải là con người xã hội chủ nghĩa

Về con người, quan điểm đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh rất rõ ràng, phải là một người có đủ đầy bốn đức tính: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Đã là người cách mạng thì không ngừng đổi mới tư duy, tức là đổi mới ý thức, thái độ, đạo đức, mà Người gọi đó là “Cách mạng tiên cách tân” Người nhận thức rất rõ ba điều: giành độc lập đã khó, việc giữ nền độc lập

ấy lại càng khó hơn; chiến thắng kẻ thù đã khó, chiến thắng đói nghèo, dốt nát lại càng khó hơn; chiến thắng kẻ thù bên ngoài đã khó nhưng chiến thắng chính bản thân chúng ta lại càng khó hơn bội phần Cho nên cần phải tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân bởi nó chính là mầm họa và chỉ cần có điều kiện là nó sẽ tàn phá cơ thể xã hội Từ đó, Người kêu gọi tất cả mọi người cần phải học tập thường xuyên và học tập suốt đời, trong đó Người dành sự quan tâm đặc biệt đối với thanh thiếu niên Người đã nhấn mạnh: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần do các thanh niên” [49, 185] Và sự lập luận

về vấn đề này được Người làm sáng tỏ, các thế hệ thanh niên bao giờ cũng

là lực lượng tiền phong của xã hội, là lực lượng năng động nhất và sáng tạo nhất Họ không ngừng làm thay đổi thế giới Bản chất thanh niên là ấp ủ những hoài bão và thể hiện những hành động mang tính cách mạng Cho nên tính tự phát ấy cần được giáo dục, rèn luyện để nó trở thành tự giác

Đây cũng chính là tâm nguyện mà Người đã viết trong Di chúc của mình:

“Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng say xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ Đảng cần phải chăm lo giáo

Trang 33

dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết” [51, 498] Đó là

tư duy lôgic biện chứng, là tư tưởng chiến lược con người – vì con người của Hồ Chí Minh Tư duy ấy xuất phát từ yêu cầu khách quan của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Tư tưởng phát triển con người toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã góp phần to lớn vào việc đào tạo những người con ưu tú, làm thay đổi căn bản vị thế của nước ta trên trường quốc tế Bởi vì, một khi trình độ văn hoá của nhân dân được nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ Do vậy, nhiệm vụ của giáo dục là phải đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà Đó là không chỉ là trách nhiệm nặng nề, mà là nhiệm vụ đặt ra đối với ngành giáo dục nước ta cho hôm nay và cho cả mai sau Tất nhiên, trong “cuộc chiến” ấy cần có sự tương trợ lẫn nhau của các ngành nghề khác, đặt biệt là các ngành kinh tế, cùng với sự góp sức hết mình của toàn dân tộc Đấy là những tâm nguyện

mà đến cuối đời, Người vẫn còn trăn trở và dặn dò những người ở lại cố gắng thực hiện cho tốt: “Ở đây nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế Phát triển công tác vệ sinh, y tế Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động…

Công cuộc trên đây là rất to lớn, nặng nề và phức tạp, mà cũng là rất

vẻ vang Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kĩ, hư hỏng,

để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” [51, 504 – 505]

Trang 34

Tóm lại, cả cuộc đời, Người đã không ngừng quan tâm đến con người và chăm lo phát triển con người Chính vì vậy, Người dành hết tất cả tâm tư và tình cảm của mình vào sự nghiệp cách mạng, để mong đem lại

“Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” cho dân tộc Tâm niệm mà cả đời Người luôn cố gắng thực hiện là: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn

tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [48, 161] “Sự ham muốn” cao cả ấy của Hồ Chủ tịch đã thể hiện rất rõ vấn đề

mà Người luôn tâm huyết là vấn đề con người không chỉ được giải phóng, được tự do, được hạnh phúc, được sống no đủ mà còn được giáo dục – đào tạo và được sống trong một xã hội hòa bình ổn định Vậy, điều cốt lõi trong

tư tưởng của Người là độc lập dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội và giải phóng con người Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là nội dung trọng tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư tưởng của Người Vấn đề kinh tế hay giáo dục trong tư tưởng của Hồ Chí Minh suy cho cùng đều hướng đến để giải quyết vấn đề lớn, đó là, vấn đề con người Bởi vì con người là khởi nguồn cho mọi sáng tạo và làm nên những điều diệu kỳ nhất trong lịch sử nhân loại

Giáo dục là tương lai của mỗi con người, hạnh phúc của mỗi gia đình, hưng thịnh của mỗi quốc gia Nhận thức được điều đó, nên từ khi đất nước hoàn toàn được độc lập, Việt Nam đã có sự thay da đổi thịt một cách

rõ nét Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển, nghèo nàn, tuyệt đại đa số dân số mù chữ, lại phát triển giáo dục trong điều kiện hết sức khó khăn khi chiến tranh mới vừa kết thúc, những tàn dư của chế độ cũ ăn sâu vào tư tưởng của thế hệ trước… Chúng ta đã làm đủ mọi cách, đi bằng mọi con đường để có thể chấn hưng nền giáo dục nước nhà Sự thật là chúng ta

Trang 35

đã đưa cả một dân tộc từ chỗ nghèo đói và dốt nát đến chỗ biết chữ, dân trí ngày một cao, nhân lực ngày càng có văn hóa, trình độ khoa học – công nghệ được nâng cao dần Để có được những thành tựu đó, Đảng đã đề ra những sách lược, những chiến lược và cũng đã nhiều lần chỉnh sửa hay bổ sung những sách lược ấy để chúng có thể hoàn thiện hơn Những quan điểm biện chứng giữa kinh tế và giáo dục của Đảng ta đều được thể hiện thông qua trong các sách lược, chiến lược, nghị quyết, luật, văn kiện…

Những năm đầu của thế kỷ XXI của Việt Nam là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp tục đường lối đổi mới, mở cửa phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nhà nhà, người người được ấm no, hạnh phúc

Nghị quyết 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VII) đã nêu lên 4 quan điểm chỉ đạo sự phát triển giáo dục –

đào tạo, trong đó có nội dung: Giáo dục – đào tạo cùng với khoa học –

công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo

là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển; huy động toàn xã

hội góp sức xây dựng giáo dục

Tháng 12/1996, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa VIII) (gọi tắt là Nghị quyết Hội nghị

Trung ương 2) đã ra Nghị quyết Về định hướng chiến lược phát triển giáo

dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 với tinh thần: Giáo dục – đào tạo phải phục vụ đắc lực sự nghiệp

bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Cơ cấu giáo dục – đào tạo, từ cơ cấu nội dung chương trình đến cơ cấu ngành nghề đào tạo, cơ cấu đội ngũ người học… đều phải nhằm phục vụ sự phát triển cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khẳng định: “Nhiệm vụ và

Trang 36

mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có

tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi; có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khỏe” [18, 18] Điều đó có nghĩa là, cùng với khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội; giáo dục – đào tạo là sự nghiệp của Nhà nước, của toàn Đảng và của toàn dân

Và hai năm sau là một sự kiện cực kỳ lớn lao đối với giáo dục nước

ta là, Quốc hội đã thông qua Luật Giáo dục (12/1998) Tại Điều 2 đã ghi rõ:

“Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” [38, 8]

Trong giai đoạn hiện nay, nói đến chiến lược phát triển toàn diện con người thì phải nói đến chiến lược giáo dục và đào tạo, trước hết là phát triển nhân cách thế hệ trẻ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cũng đã chỉ rõ: phương hướng chung của lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong những năm tới là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quan điểm ấy tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: “coi trọng đội ngũ công nhân tay nghề cao, kỹ sư thực hành và kinh doanh giỏi” [19, 733]

Vai trò của tri thức và vị trí của đội ngũ trí thức ngày càng được các quốc gia xem trọng Và khái niệm về đội ngũ trí thức cũng được Đảng ta

Trang 37

nêu lên tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X (9 – 17/7/2008) được tổ chức tại Hà Nội, như sau: Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội

Đại hội XI của Đảng xác định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ khoa học, công nghệ đầu đàn ” [24, 130]

Qua đó, chúng ta nhận thấy Đảng ta hết sức quan tâm và nhận thức sâu sắc về vai trò to lớn và đầy ý nghĩa của giáo dục – đào tạo, nhất là trong giai đoạn hiện nay Sự nhận thức ấy thể hiện thông qua các kỳ Đại hội của Đảng Mỗi phiên họp đều có sự nhìn nhận mới về tình hình thực tế của thế giới cùng những tác động của nó đến đất nước, cũng như những thay đổi đang diễn ra ngay trong chính đất nước mình Từ đó, Đảng đã đưa ra quan điểm mới về nguồn lực chủ yếu của lực lượng sản xuất xã hội

Các nền kinh tế trước đây chủ yếu là dựa vào nguồn lực hữu hình như vốn, tài nguyên, Còn nền kinh tế tri thức lại dựa vào nguồn lực vô hình, một nguồn lực hoàn toàn mới – nguồn lực tri thức

Ngày nay, ai cũng thừa nhận là thế giới đã và đang bước vào một nền kinh tế mới, đó là kinh tế tri thức Nhưng để nhận thức về nguồn lực tri thức thì không phải ai cũng quan tâm Điều này lại ảnh hưởng vô cùng lớn đến việc vận dụng và phát triển kinh tế tri thức, nhất là những nhà lãnh đạo quản lý Bởi vì nguồn lực này thực sự mang một ý nghĩa cách mạng và tầm vóc thời đại

Trang 38

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với sự ra đời của nguồn lực tri thức đã làm đảo lộn tận gốc lực lượng sản xuất xã hội Do ở đó, nhân tố sức lao động có tri thức được đặt lên hàng đầu trong cơ cấu lực lượng sản xuất, chứ không phải là các nguồn lực mang tính truyền thống như vốn, tài nguyên, thiết bị, nhà xưởng Không chỉ thế mà nó còn nâng cao chất lượng

và sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực khác một cách tiết kiệm và hiệu quả

Một khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì nó không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, rút ngắn thời gian sản xuất, đáp ứng mọi nhu cầu không ngừng tăng lên của con người một cách tốt hơn, rẻ hơn

Tính sáng tạo, sự đổi mới là điểm khác biệt và là điểm nổi trội của nền kinh tế tri thức so với lao động máy móc Chính sự sáng tạo này mà người lao động phát huy được năng khiếu, bản lĩnh, tư chất của riêng mình Đồng thời, nhân cách của con người càng ngày càng hoàn thiện hơn nhờ môi trường làm việc của họ trở nên đa dạng hơn, rộng hơn đã mở rộng sự hiểu biết và tầm nhìn của họ Sự xuất hiện của những con người lao động sáng tạo mà trước hết là trong công nhân, trí thức và nông dân sẽ một trong các nguyên nhân đưa tới sự ra đời của một xã hội mới Điều này có nghĩa là nếu lực lượng lao động xây dựng không vươn tới trình độ lao động sáng tạo

mà chỉ dừng lại ở mức làm công ăn lương thì chắc chắn rằng sẽ không có

sự ra đời của một xã hội văn minh hơn, nhân văn hơn và tiến bộ hơn

Nếu như trong Cương lĩnh 1991, Đảng ta chưa đưa ra khái niệm

“hiện đại hóa”, “kinh tế tri thức” thì trong Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định: phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường Cương lĩnh tiếp tục khẳng định vai trò “hàng đầu” của giáo dục – đào tạo cùng khoa học – công nghệ và do đó

Trang 39

cần được ưu tiên, bởi vì đây là hai nhân tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực của quốc gia Trong cương lĩnh mới này đã bổ sung thêm nội dung “đầu tư cho giáo dục – đào tạo là đầu tư cho phát triển” [24, 77] Biện chứng giữa kinh tế và giáo dục được thể hiện ngay trong quan điểm giáo dục – đào tạo phải gắn liền với sự nghiệp phát triển của kinh tế, khoa học kỹ thuật, xây dựng nền văn hóa mới và con người mới; giáo dục – đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, nhất là trong thời kỳ hội nhập như hiện nay Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) nâng luận điểm này lên cao hơn “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xã hội học tập, tạo cơ hội

và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” [24, 77]

1.3 MỘT SỐ QUAN ĐIỂM HIỆN ĐẠI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ

VÀ GIÁO DỤC

1.3.1 Quan điểm của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn

hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO)

Kể từ sau hậu quả thảm khốc của chiến tranh thế giới thứ II, UNESCO được Liên Hợp Quốc (UN) giao cho sứ mạng mà với những đóng góp và nỗ lực của nó đối với thế giới là vô cùng lớn lao: “Mặc dù UNESCO không phải là cơ quan tài chính, cũng không phải là một tổ chức thuần túy làm nghiên cứu, nhưng nó vẫn luôn luôn có nhiệm vụ phát triển những tiềm năng của con người, bằng cách hợp tác với những nước thành viên của tổ chức và với nhiều nước đối tác và đối thoại trên trường quốc tế” [65, 167] Và khi trong thời đại có quá nhiều sự biến đổi mạnh mẽ như hiện nay như việc chuyển giao và chia sẻ tri thức, sự đối thoại về ý tưởng, việc

Trang 40

tư vấn ở trình độ cao, việc tổ chức những mạng lưới canh tân, việc truyền

bá thông tin và kết quả thành công của những thí nghiệm, nghiên cứu, đánh giá…thì sứ mạng của tổ chức này lại càng mang tính thời sự hơn Bởi vì những sự khuyến khích hay can thiệp của nó đều ảnh hưởng đến sự sống còn để xây dựng một thế giới tương trợ nhau và hòa bình, hợp tác nhằm

“tăng cường hợp tác trí tuệ vừa là công cụ để làm cho các dân tộc, các cá nhân xích lại gần nhau và hiểu biết lẫn nhau, vừa là công cụ cần thiết, là kim chỉ nam cho hành động” [65, 167]

Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại đã gặt hái nhiều thành tựu quan trọng, nhưng vẫn còn những yếu kém bất cập và đang đứng trước những cơ hội mới cùng với không ít những thử thách, khó khăn trên các phương diện kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa, y tế,… Tất cả những gì mà chúng ta đang đối mặt và đang tìm cách giải quyết, suy cho cùng, là đều vì con người Chính trước những biến động ấy của thế giới thì sự nhìn nhận và quan điểm của UNESCO về giáo dục cũng có sự thay đổi, điều này được phản ánh qua các cuộc họp luân phiên, tại các hội nghị với các chủ đề khác nhau của tổ chức, cụ thể:

Trong Diễn văn khai mạc Hội nghị quốc tế về giáo dục, khóa họp lần thứ 46, tổ chức tại Genevơ từ ngày 5 đến ngày 8 tháng 9 năm 2001 với chủ

đề: “Giáo dục cho mọi người, học để cùng chung sống”

Trong Diễn văn khai mạc Hội nghị liên cơ quan tại Trụ sở UNESCO,

ngày 5/9/2003 với chủ đề: “Thập kỷ Liên Hợp Quốc về giáo dục vì sự phát

triển bền vững”

Trong Diễn văn Hội nghị bàn tròn Bộ trưởng, được tổ chức tại trụ sở

UNESCO, ngày 9/10/2003 đã tập bàn luận về vấn đề “Tiến tới các xã hội

tri thức”

Ngày đăng: 04/05/2021, 23:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w