1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản

54 3K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Trường học Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật chăn nuôi
Thể loại Sách chuyên khảo
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông thường phải qua hai bước: Bước 1: dùng đực ngoại lai với nái nội chọn con cái lai F1 để nuôi sinh sản chọn những con của con mẹ có khả năng sinh sản tốt như đẻ sai con, lợn con có

Trang 1

Kü thuËt ch¨n nu«i lîn n¸i sinh s¶n

Hµ néi 2004

Trang 2

Chương III: Hoạt động sinh dục và các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của

a Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái 16

c Một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác 20

4 Kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái từ khi cai sữa đến khi phối giống trở lại 33

Trang 3

Chương I Giống lợn và công thức lai trong chăn nuôi lợn

1 Giống lợn Móng Cái

* Nguồn gốc và sự phân bố

Giống lợn Móng Cái được nuôi nhiều ở huyện Móng Cái tỉnh Quảng Ninh Về nguồn gốc lợn Móng Cái có nguồn gốc từ lợn Quảng Đông Trung Quốc, giống lợn này được người Hoa mang sang nước ta nuôi từ lâu, dần dần phát triển thành giống lợn của nước ta

Hiện nay số lượng lợn Móng Cái lên đến trên 30 vạn con, được chăn nuôi rất rộng rãi ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng, ven biển miền Trung và Tây Nguyên, để thực hiện chương trình

“Móng Cái hoá đàn lợn” ở các tỉnh trên Lợn Móng Cái là lợn cái nền cơ bản để lai với lợn đực Yorshire và Landrace cho sản phẩm con lai nuôi lấy thịt chủ yếu hiện nay ở miền Bắc Việt Nam

* Đặc điểm ngoại hình

Lợn Móng Cái có 3 dòng: dòng xương to, dòng xương nhỡ và dòng xương nhỏ Lợn Móng Cái xương nhỏ có tầm vóc không khác lợn ỉ, và có vùng trắng ở bụng và vành trắng vắt ngang qua vai lớn hơn so với dòng xương nhỡ và xương to

Lợn Móng Cái có đặc điểm ngoại hình như đầu đen giữa trán có một đốm trắng hình tam giác hoặc hình thoi mà đường chéo dài theo chiều dài của mặt lợn Mõm trắng, bụng và 4 chân trắng Phần trắng này có nối nhau bằng một vành trắng vắt qua vai, làm cho phần đen còn lại trên lưng và mông có hình dáng như cái yên ngựa còn được gọi là vết lang hình yên ngựa ở chỗ tiếp giáp giữa lông đen và trắng có một khoảng mờ, rộng khoảng 2 - 3 cm trên đó da đen lông trắng

Đặc điểm về màu săc lông da của lợn Móng Cái là cố định Tuy nhiên ở dòng Móng Cái xương to thì phần trắng vắt qua vai thường hẹp hơn so với Móng Cái xương nhỏ và xương nhỡ và có trường hợp ở giữa vành trắng vắt qua vai có một vùng da đen ở giữa như là một hòn đảo đen nằm giữa vành lông trắng Lợn Móng Cái xương to có tai to và cúp về phía trước Còn lợn Móng xương nhỏ

và nhỡ thì tai nhỏ và đứng

Về kết cấu ngoại hình lợn Móng Cái có đặc điểm là đầu to, tai đúng hướng về phía trước, lưng võng, bụng xệ, chân yếu còn có hiện tượng đi bàn, có từ 12 - 14 vú

* Đặc điểm sinh trưởng

Lợn Móng Cái là giống thành thục sớm, thời gian sinh trưởng ngắn Khối lượng sơ sinh 0,5

- 0,7 kg/ con, khối lượng cai sữa 6-8 kg/ con, khối lượng lúc 6 tháng tuổi đạt 30 - 40 kg; khối lượng lúc 12 tháng tuổi đạt 60 kg; khối lượng trưởng thành đạt 100 - 120 kg Nếu so với lợn ỉ thì tầm vóc lợn Móng Cái có to hơn, nhưng nói chung vẫn thuộc loại tầm vóc nhỏ Mổ thịt ở khối lượng 100 kg cho 79% móc hàm, tỉ lệ thịt nạc 38,6%

* Khả năng sinh sản

Lợn Móng Cái có là giống lợn thành thục sớm: lợn đực 2 tháng tuổi có thể giao phối dược

và có thể thụ thai, lợn cái 3 tháng tuổi đã có biểu hiện đông dục, chu kỳ động dục bình quân 21

Trang 4

ngày (18-25 ngày), thời gian động duc 3-4 ngày, thời gian chửa bình quân 114 ngày, thời gian

động dục trở lại sau cai sữa 5-7 ngày

Lợn Móng Cái là giống lợn mắn đẻ, đẻ nhiều con, nuôi con khéo Có thể đẻ từ 10-12 con/ lứa, khối lượng sơ sinh 0,5 - 0,7 kg/ con, tỉ lệ nuôi sống đạt 80-90% So với các loại lợn lang khác thì các chỉ tiêu trên đều cao hơn từ 5 - 7%

Hình 1 Lợn nái Móng Cái

Lợn Móng Cái là giống lợn có tầm vóc tương đối lớn so với các giống lợn trong vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ Tuổi thành thục sớm, mắn đẻ, đẻ sai con, khả năng nuôi con khéo, khả năng tiêu hoá và lợi dụng thức ăn thô xanh tốt Một số hạn chế là kết cấu ngoại hình yếu, lưng võng, bụng xệ, tỷ lệ nạc thấp

Phương hướng công tác giống đối với giống lợn Móng cái là tăng cường chọn lọc và nhân thuần để nâng cao tầm vóc, cải tạo các nhược điểm của lợn Móng Cái

Cho lai tạo với các giống lợn nhập nội đẻ lấy con lai nuôi thịt Trong chiến lược nạc hoá

đàn lợn hiện nay, ngoài phần sử dụng lợn ngoại thuần nuôi tới các hộ nông dân, không thể thiếu vắng các loại lợn lai, mà trong đó chủ yếu là các con lai có đóng góp phần máu của lợn Móng Cái Việc sử dụng lợn nái lai F1(Yorkshire x Móng Cái) hoặc F1 (Landrace x Móng Cái ) làm nền

để tạo con lai 3/4 máu ngoại nuôi thịt nhằm nâng cao năng xuất chăn nuôi và tỉ lệ thịt nạc trong thành phần thịt xẻ lên 48 - 49 % là hướng đi hết sức đúng đắn hiện nay

Trang 5

Lợn ỉ có 2 loại hình: Lợn ỉ mỡ và ỉ pha Lợn ỉ mỡ hay còn gọi là ỉ mặt nhăn (ỉ nhăn) , loại này toàn thân màu đen, trán có nhiều nếp nhăn hằn sâu làm cho mũi có vẻ cong lên, mặt có vết nhăn Loại này thành thục sớm, tầm vóc bé, chân thấp, bụng sệ, mình ngắn

Loại hình lợn ỉ pha, toàn thân cũng có màu đen, có con 4 chân đốm trắng, chân cao hơn lợn

ỉ mỡ, bụng gọn hơn, mõm thẳng, mặt không nhăn

* Đặc điểm sinh trưởng

Lợn ỉ sinh trưởng chậm, giữa 2 nhóm thì lợn ỉ pha sinh trưởng nhanh hơn lợn ỉ mỡ khối lượng 2 tháng tuổi chỉ đạt 5 kg, từ 4-8 tháng tuổi khối lượng lợn ỉ đực luôn thấp hơn lợn ỉ cái, khối lượng ỉ đực lúc 4 tháng tuổi là11,9 kg, trong khi đó lợn ỉ cái là 13,5 kg Khối lượng trưởng thành của lợn ỉ chỉ đạt 70 kg (lúc 30 - 32 tháng tuổi) cho nên cần phải quan tâm cải thiện tầm vóc

Lợn ỉ nuôi thịt có tốc độ tăng trọng thấp chỉ đạt 200 - 250 g/ ngày, do vậy khi xuất chuồng lúc 8 tháng tuổi chưa đạt 50 kg Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng cao Tỉ lệ nạc từ 34,5 - 39,12%, tỉ lệ mỡ 40 %(39,97-43,2%) Chất lượng thịt tốt, độ dinh dưỡng cao, thớ thịt nhỏ, mùi vị thơm ngon (Viện chăn nuôi 1973-1976)

* Khả năng sinh sản

Lợn ỉ cái thành thục về tính sớm, lúc 3-4 tháng tuổi đã có biểu hiện động dục, chu kỳ động dục 19-21 ngày, thời gian động dục 3-4 ngày, thời gian chửa 110- 115 ngày, số con đẻ/ lứa 8 - 10 con, khối lượng lợn con lúc sơ sinh đạt bình quân 0,45 kg, tỉ lệ nuôi sống cao đạt 90-92% Khối lượng khi cai sữa lúc 60 ngày tuổi đạt bình quân 5,5 kg/ con

Lợn ỉ đực thành thục về tính sớm hơn lợn ỉ cái Nhìn chung lợn ỉ đực sinh trưởng phát triển chậm hơn lợn ỉ cái, tuổi sử dụng lợn ỉ đực tốt nhất lúc 6 - 8 tháng tuổi

Đối với lợn ỉ pha có khả năng sinh sản cao hơn, không thua kém lợn Móng Cái: số con đẻ / lứa đạt 11,7 (của lợn Móng Cái là 11,08); số con cai sữa / ổ là 10,7 con (lợn Móng Cái là 10,4 con)

Trang 6

* Kết luận

Lợn ỉ có ưu điểm là thành thục sớm, chất lượng thịt thơm ngon, khả năng chịu đựng kham khổ cao, nuôi con khéo, khả năng lợi dụng thức ăn thô xanh cao, dễ thích nghi với các điều kiện nuôi dưỡng khác nhau Tuy nhiên cũng có nhược điểm là tầm vóc quá nhỏ, thể chất yếu, bụng to, lưng võng, chân yếu, hướng mỡ Từng bước tạp giao cải lương với các giống lợn khác, nhất là các giống lợn ngoại để nâng cao tầm vóc và giá trị kinh tế Lợn cái ỉ có thể cho lai với lợn Yorkshire

để chọn lấy cái lai F1 làm nái nền trong các công thức lai 3 máu để nâng cao khả năng sinh trưởng

và tỷ lệ thịt nạc/ thịt xẻ

3 Một số giống lợn miền núi

Các giống lợn miền núi gồm có: Lợn Mường Khương, lợn Mẹo, nhóm lợn Lang như lợn Lang Chợ Rã (Bắc Kạn), lợn Lang Hạ Lang (Cao Bằng)…

Nhìn chung tình năng sản xuất còn thấp đó là do điều kiện địa lý, tập quán chăn nuôi và trình độ kỹ thuật chăn nuôi còn hạn chế

Nhìn chung các giống lợn trên đều có màu sắc lông da đen tuyền hoặc lang trắng đen, tuy nhiên vết lang không cố định Về tầm vóc, các giống lợn này đều có tầm vóc to hơn các giống lợn nơi khác nhưng mình hơi lép, kết cấu vững chắc rất thích hợp với chăn thả

Nhóm giống lợn miền núi có tuổi thành thục về tính dục chậm, tuổi động dục lần đầu vào lúc 8 tháng tuổi Về khả năng sinh sản, nhìn chung các giống lợn miền núi có khả năng sinh sản thấp, đẻ 5 - 6 con/lứa, số lứa đẻ/năm từ 1 - 1,2 Khả năng tiết sữa thấp, do đó khối lượng lợn con khi cai sữa chưa cao

Nhìn chung các giống lợn miền núi có ưu điểm là thích hợp với điều kiện tự nhiên, khí hậu miền núi Tuy nhiên có nhược điểm là năng suất chăn nuôi còn thấp, cho nên cần được cải tiến về

kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc, hoặc lai tạo với các giống lợn khác như lợn Móng Cái để nâng cao khả năng sinh sản

Trang 7

Lợn Yorshire có lông trắng tuyền, tai đứng (có nhóm giống tai hơi nghiêng về phía trước), mõm thẳng, dài vừa phải, trán rộng, ngực rộng, ngoại hình thể chất chắc chắn, nuôi con khéo, chịu đựng kham khổ, chất lượng thịt tốt, khả năng chống chịu stress cao Khối lượng trưởng thành con đực khoảng 300 - 400 kg, con cái 250 - 300 kg

Tăng trọng bình quân từ 650 - 750 gam/con/ngày; tiêu tốn thức ăn từ 2,80 - 3,10 kgthức ăn /kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc/ thịt xẻ từ 55 - 59%, có một số dòng tỷ lệ nạc từ 59,1 - 63,5% Lợn Yorkshire có khả năng sinh sản tương đối cao, đẻ bình quân 10 - 11 con/lứa, khối lượng sơ sinh đạt 1,1 - 1,2 kg/ con Khi nuôi tại Việt Nam số con đẻ ra trên ổ bình quân là 9,57, khối lượng sơ sinh đạt 1,24 kg/con, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi đạt 55 - 60 kg, khối lượng bình quân /con lúc 60 ngày tuổi đạt từ 15 - 18 kg

Hình 4: Lợn nái Yorkshire

Giống lợn Yorkshire có tính di truyền ổn định, tầm vóc to, khả năng sản xuất cao, khả năng thích nghi tốt, thích hợp với phương thức nuôi chăn thả Thường được sử dụng trong lai giống với lợn nái nội như Móng Cái và các loại lợn địa phương khác lấy con lai nuôi thịt và sử dụng trong công thức lai lấy lợn lai nuôi thịt giữa các giống lợn nhập nội

b Lợn Landrace

Xuất xứ từ Đan mạch, hiện nay tại Việt Nam có Landrace Bỉ, Cuba, Pháp, Nhật Có dạng hình nêm (còn gọi là hình tên lửa), lông da màu trắng tuyền, mõm dài và thẳng, hai tai to ngả về phía trước, che cả mắt, mình lép, bốn chân hơi yếu Khả năng thích nghi kém hơn Yorshire trong

điều kiện nóng ẩm Lợn nái có thể trọng từ 220 - 250 kg, lợn đực có thể trọng từ 280 - 320 kg,

Trang 8

tăng trọng bình quân 700 - 800 g/ngày, tiêu tốn thức ăn/ 1kg tăng khối lượng từ 2,7 - 3,0 kg, tỷ lệ nạc /thịt xẻ cao, đạt từ 58 - 60%

Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao, và khả năng nuôi con khéo (trừ Landrace của

Bỉ, ngoài ra lợn Landrace Bỉ còn có gen Halotal gây bệnh yếu tim) và lợn Landrace thường được chọn làm "dòng cái" trong các công thức lai giữa lợn ngoại cao sản với nhau

ở Việt Nam lợn Landrace được dùng để lai kinh tế và nuôi thuần dùng trong chương trình nạc hoá đàn lợn

Các công thức lai chủ yếu hiện đang dùng là:

Lợn đực Landrace x Lợn nái Móng cái (hoặc lợn nái địa phương) để lấy con lai F1 nuôi thịt Lợn đực Landrace x lợn F1 (YR x MC) lấy con lai F2 3/4 máu ngoại (50% LR, 25% YR, 25% MC) nuôi thịt cho tốc khối lượng lúc 6 tháng tuổi đạt 100 kg, tỷ lệ nạc đạt 46 - 48%

Sử dụng lợn Landrace trong các công thức lai kinh tế hai giống hoặc 3 giống giữa các giống lợn ngoại để tăng tỷ lệ nạc từ 52 - 60%

c Lợn Duroc

Nguồn gốc xuất xứ từ Bắc Mỹ với cái tên Duroc-Jersey Lợn được hình thành từ khoảng

1860 với sự tham gia của các giống lợn nhập nội như: Lợn đỏ Ghinea, lợn đỏ Tây Ban Nha, và lợn đỏ Bồ Đào Nha

Lợn Duroc có thân hình vững chắc, lông có màu nâu nhạt đến màu nâu sẫm, bốn chân to khoẻ, cao, đi lại vững vàng, tai to ngắn, 1/2 phía đầu tai gập về phía trước, mông vai rất nở, tỷ lệ nạc cao, tốc độ tăng trọng từ 660 - 770 g/ngày Tiêu tốn thức ăn từ 2,48 - 3,33 kg/ kg Lợn Duroc

có đặc điểm về sinh sản là đẻ ít, kém sữa

Lợn Duroc được sử dụng trong lai hai máu, ba máu hoặc bốn máu giữa các giống lợn ngoại,

đạt hiệu quả cao về năng suất và chất lượng thịt

5 Một số công thức lai trong chăn nuôi lợn

- Chương trình lai hai máu (A x B)

Lai giữa hai giống thuần khác nhau để tạo con lai F1 nuôi thịt

Đây là phương pháp lai đơn giản và sử dụng được tối đa 100% ưu thế lai từ con bố và con mẹ nhằm nâng cao một số đặc điểm tốt của các giống Mục đích là sử dụng ưu thế lai tạo đàn lợn thịt thương phẩm

Một số công thức lai như sau:

+ Đực Landrace (hoặc Yorkshire) x Nái Móng Cái (hoặc ỉ, lợn nái địa phương) + Đực Landrace x Nái Yorshire;

+ Đực Duroc x nái Yorshire hoặc nái Landrace

- Lai ba máu, sử dụng con mẹ là nái lai (C x AB)

Sử dụng 3 giống khác nhau để cho lai để tạo ra lợn thịt thương phẩm 3 máu năng suất cao:

Trang 9

Nhược điểm phải nghiên cứu, chọn lọc để tạo lợn nái lai F1 Thông thường phải qua hai bước:

Bước 1: dùng đực ngoại lai với nái nội chọn con cái lai F1 để nuôi sinh sản (chọn những con của con mẹ có khả năng sinh sản tốt như đẻ sai con, lợn con có khối lượng sơ sinh và khối cai sữa cao, lợn mẹ khéo nuôi con …)

Bước 2: Chọn con đực có hướng nạc cao, khả năng cho thịt lớn … để phối giống với lợn

cái lai F1 đã chọn, con lai tạo ra chỉ dùng nuôi lấy thịt không giữ lại làm giống

Một số công thức lai ba máu:

Lợn đực Landrace (hoặc Yorkshire) x Nái F1 (Y x Móng cái) Lợn đực Duroc (Pietran) x nái F1 (L x Y)

- Lai 4 máu, sử dụng con bố là lợn đực lai và con mẹ là nái lai (AB x CD)

Đây là phương pháp sử dụng 4 giống thuần để tạo ra lợn thịt thương phẩm Lợn thương phẩm

là sản phẩm của hai cặp lai F1 giữa hai dòng đực và dòng nái có tỷ lệ máu đều giữa các giống (25%)

Mục đích của phương pháp này là sử dụng ưu thế của cả 4 giống cùng tham gia

6 Phân loại lợn trong đàn lợn nái sinh sản

a Lợn cái hậu bị

Lợn cái hậu bị là lợn cái từ sau khi cai sữa được chọn để làm giống, nuôi cho đến khi phối giống lần đầu có chửa

Ngày nay, kỹ thuật chế biến thức ăn đã phù hợp với đặc điểm tiêu hoá của lợn con giai

đoạn bú sữa, cho nên đã cho phép tách lợn con khỏi lợn mẹ(cai sữa) rất sớm : có thể ở 21 ngày tuổi, 28 ngày tuổi, 35 ngày tuổi v,v Tuy nhiên tuổi chọn lợn để làm giống nên chọn ở 60 ngày tuổi Nếu trước đó, ở thời điểm chưa tách khỏi lợn mẹ đã tiến hành chọn rồi, thì đến 60 ngày tuổi cũng phải chọn lại để chính thức đưa vào giai đoạn nuôi lợn hậu bị

Thời gian nuôi từ 60 ngày tuổi cho đến khi lợn nái động dục và cho phối giống lần đầu có chửa là thời gian nuôi cái hậu bị Thời gian nuôi hậu bị dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, phụ thuộc vào sự thành thục về tính dục và thể vóc của từng giống

Số lượng lợn cái hậu bị trong một cơ sở chăn nuôi tuỳ thuộc vào qui mô đàn Nếu đàn lợn lớn thì số cái hậu bị được chọn lọc để làm giống sẽ lớn: Bao gồm lợn cái để thay thế đàn (thay thế những con bị loại thải) và các lợn cái hậu bị dùng để bán giống cho các cơ sở chăn nuôi khác

Trang 10

Lợn nái từ giai đoạn hậu bị phối giống có chửa, đẻ và nuôi con lứa đầu tiên, thời gian này gọi là nái kiểm định I Sau khi lợn nái đẻ và nuôi con xong lứa thứ nhất, phối giống có chửa đẻ và nuôi con lứa thứ 2 gọi là nái kiểm định II

c Lợn nái cơ bản

Nái cơ bản là lợn đã đẻ được 2 lứa, tức đã qua giai đoạn kiểm định I và kiểm định II, đảm bảo đủ tiêu chuẩn được chọn giữ lại làm nái sinh sản

d Lợn nái cơ bản hạt nhân

Là đàn nái được chọn lọc trong đàn lợn nái cơ bản, phải là những lợn nái thuần chủng và

đã qua kiểm tra năng suất cá thể có năng suất sinh sản cao: Phân cấp tổng hợp phải đạt từ I trở lên đến đặc cấp, trong đó cấp sinh sản nhất thiết phải đạt đặc cấp

Trong hệ thống nhân giống theo kiểu hình tháp hiện nay thì chỉ ở đàn cụ kỵ còn được gọi

là đàn lợn nái cơ bản hạt nhân, đây là đàn để sản xuất đàn giống ông bà

Trang 11

Chương II chuồng trại cho lợn nái sinh sản

5 Yêu cầu chung

Trong chăn nuôi lợn, bên cạnh các yếu tố giống, thức ăn, việc thiết kế xây dựng hệ thống chuồng trại hợp lý đúng tiêu chuẩn kỹ thuật cho từng loại lợn là một việc hết sức quan trọng, vì:

- Nó đảm bảo cho việc phát huy tối đa tính ưu việt của phẩm giống ( khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng lợi dụng thức ăn, năng suất sinh sản…)

- Nó cho phép người chăn nuôi có thể điều chỉnh điều kiện tiểu khí hậu, chế độ ăn uống và

vệ sinh thú y trong chuồng trại cho phù hợp với yêu cầu của từng loại lợn, ở từng thời kỳ sản xuất

và phát triển của chúng

- Nó giúp cho người chăn nuôi thuận tiện hơn trong việc quản lý đàn lợn, tiết kiệm được diện tích chăn nuôi và công chăm sóc nuôi dưỡng, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn

Yêu cầu về khu đất xây dựng:

- Đất xây dựng chuồng trại phải phù hợp với yêu cầu tổng thể, cao ráo, thoáng mát, thuận lợi cho thoát nước bằng phương pháp tự chảy

- Chuồng trại phải xây dựng ở nơi có nguồn nước sạch, đủ dùng Bảo đảm yêu cầu về hệ thống điện thắp sáng, bơm nước…, và hệ thống đường giao thông phục vụ cho vận chuyển vật tư, thức ăn và các sản phẩm khác của trại

- Chuồng nuôi phải xây dựng hệ thống cống rãnh thoát nước, nơi chứa phân, hố sử lý chất thải hợp vệ sinh thú y và cảnh quan môi trường

- Căn cứ vào mục đích kinh tế và số lượng đàn lợn dự kiến nuôi để xây dựng chuồng trại cho phù hợp về kích thưóc, số máng ăn, máng uống, cũi nhốt, sàn đẻ, quạt điện, bóng đèn…

- Trong điều kiện chăn nuôi nông hộ, nên tiến hành xây các hầm Biogas để góp phần xử lý phân, nước thải để tăng cường bảo vệ môi trường và tận dụng khí gas cho nhu cầu của trại chăn nuôi lợn và nhu cầu sinh hoạt của gia đình

Yêu cầu về chống nóng và chống rét cho lợn:

Nóng lạnh và thông thoáng đều là những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn

Chống nóng:

Vào mùa hè nhiệt độ ngoài trời thường giao động từ 31-380C Mái chuồng thường được làm bằng fibro ximăng, khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn ngoại kém nên ta phải luôn chú ý đến việc chống nóng bằng cách:

- Sử dụng hệ thống phun mưa nhân tạo trên mái trong những ngày có nhiệt độ từ 300C trở lên

- Làm mát cục bộ bằng phương pháp dùng vòi phun sương với lợn nái hậu bị, nái chờ phối

và nái chửa Sử dụng vòi nhỏ giọt trên đầu và lưng lợn nái đang nuôi con

Trang 12

- Ngoài ra lắp quạt điện treo tường hoặc quạt cây cho lợn

- Xung quanh chuồng căng bạt để che nắng chiếu trực tiếp vào lợn, tránh gió cho lợn…

Để chống nóng có hiệu quả tốt nhất là làm chuồng có mái cao, thoáng gió và trồng cây xung quanh

Chống lạnh:

Do sử dụng cũi cho lợn bằng sắt, nền chuồng bằng bê tông nên mùa đông lợn thường bị lạnh dễ sinh bệnh nên ta phải chú ý cung cấp nhiệt đầy đủ cho lợn, nhất là đối với lợn con theo

mẹ và lợn con sau cai sữa

Biện pháp khắc phục: Cần căng bạt che chắn chuồng vào ban đêm, lúc mưa hoặc có gió lùa Với lợn con dùng bóng điện tròn để sưởi ấm Với lợn lớn có thể đốt mùn cưa hoặc vỏ trấu ở trong chuồng vào những ngày rét Chú ý giữ chuồng luôn khô ráo, cho lợn ăn uống đầy đủ…

6 Chuồng cho lợn nái hậu bị

Được chia làm các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Tính từ khi bắt đầu nuôi thường đạt khối lượng là 20 - 25kg (đối với lợn

ngoại), 10 - 12 kg (với lợn nội) cho đến khi đạt 5 - 6 tháng tuổi Chuồng nuôi lợn là chuồng có tường xây bằng gạch hoặc đổ bê tông có chiều cao tường 0,8m, dài 4,3m và rộng 3m

Nền chuồng đổ bằng xi măng có độ dốc 3 - 50 để dễ vệ sinh Chuồng có lắp máng ăn, núm uống nước tự động bên trong Mỗi ô chuồng lắp một cửa ra vào bằng song sắt ặ10, hoặc cửa gỗ, trên cửa có khoá chốt tự động

Nếu nhiều ô chuồng liền nhau thì cứ 2 ô chuồng lắp một máng ăn ở bức tường chung để thức ăn được sử dụng triệt để

Giai đoạn 2: khi lợn đạt từ 5 - 6 tháng tuổi (khối lượng 75 - 80 kg, đối với lợn ngoại, 40 -

45 kg với lợn nội), ta chuyển lợn nái hậu bị sang nuôi trong các ô ngăn cách nhau bằng các vách ngăn, mỗi nái/1 ngăn, lúc này chuồng nuôi là cũi được làm bằng sắt tròn ặ16

Kích thước các ô như sau: Dài 2,2 - 2,4m, rộng 0,65 - 0,7m, cao 1,0 - 1,3m, ở mỗi vách ngăn có các chấn song nằm ngang, khoảng cách giữa các chấn song này là 15cm Nền chuồng chung được đổ bằng ximăng + cát

Phía trước xây máng ăn và đồng thời là máng uống được đổ bằng bê tông có kích thước : rộng 40cm, phần nhô ra ngoài hành lang là 10cm, phần ở trong chuồng là 30cm Chiều dài máng chạy ngang qua tất cả các ngăn (lòng máng phải được làm nhẵn để dễ thoát nước, tiện cọ rửa), ở cuối máng đặt một ống thông để rửa máng Phía sau có cửa ra vào, trên cửa có khoá tự động Nếu là nuôi lợn nội, ta có thể nhốt lợn nái trên chuồng có diện tích là 3 m2/con, chuồng xây cần có diện tích sân chơi từ 3 - 4 m2

7 Chuồng nuôi lợn nái sinh sản

Gồm có ô lợn nái chờ phối và chửa, ô lợn nái đẻ (hoặc cũi đẻ), khu nuôi úm lợn con Yêu cầu chuồng nuôi lợn nái:

Trang 13

- Chiếm ít diện tích, dễ kiểm tra khi phối giống, chửa và đỡ đẻ

- Tăng số lứa đẻ/ nái trên năm nhờ kỹ thuật cai sữa sớm và phát hiện nái động dục và phối giống kịp thời

- Giảm stress cho lợn khi sống cạnh nhau Chuồng của lợn nái chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Nái sau khi cai sữa (tách con) đ Chờ phối đ Thời kỳ mang thai đ Chửa

kỳ I Được nuôi trong các ô ngăn cách với các tiêu chuẩn như lợn nái hậu bị giai đoạn 2

Giai đoạn 2: Trước khi lợn đẻ 7-10 ngày, lợn nái được chuyển đến chuồng chờ đẻ, đẻ và

Sau cùng là cửa để chắnlợn con không ra ngoài được

Nền sàn của ô lợn mẹ được đặt 2 tấm bê tông, mỗi tấm dài 10,5m, rộng 0,7m, trên tấm bê tông có các lỗ thoát nước rộng 1cm, dài 8-10cm

2 ô chuồng của lợn con: ở 2 bên của ô lợn mẹ mỗi ô có chiều rộng là 0,7m, dài 2,2m, cao 0,5m, xung quanh được hàn bằng các song sắt ặ10, mỗi song cách nhau 5cm Nền sàn của ô lợn con cũng được đặt bằng các lan sắt tròn ặ10 mỗi lan cách nhau 1cm để dễ lọt phân và nước tiểu Một bên của ô lợn con ta đặt một cái ô úm kích thước: cao 0,5m, dài 0,8m, rộng 0,4m, làm bằng sắt ặ12 xung quanh úm có căng bao tải, mỗi úm có một cửa ra vào kèm theo chốt Ô lợn con bên kia đặt một núm uống nước tự động ở độ cao 15-20cm

Khi lợn con được 5-7 ngày tuổi ta đặt vào ô lợn con 1 máng ăn tròn có đường kính 30cm, cao 5cm, miệng máng có các thanh chắn không cho lợn con trèo vào Trên ô úm có lắp một bóng

đèn tròn công suất 100W để sưởi ấm cho lợn con khi cần thiết

Cả chuồng của lợn mẹ và 2 ô lợn con có sàn cao cách mặt đất 30cm, có tác dụng tốt trong việc thông gió tránh ẩm, dễ vệ sinh

Diện tích cần cho một đàn lợn con để nuôi úm cần 3 m2 cho 8 - 10 lợn con Thời gian chiếm chuồng khoảng 34 ngày (tính từ 28 - 60 ngày tuổi) + với 7 ngày để trống chuồng làm vệ sinh Tỷ lệ ô dự trữ là 10% Như vậy nếu nuôi 20 lợn nái với số lứa đẻ trên năm là 2,2 thì phải cần số ô nuôi úm lợn con với diện tích 3 m2/ ô là:

20 nái x 2,2 lứa x 41 ngày x 110

= 6 chuồng nuôi lợn đẻ và nuôi con

Trang 14

Nên sử dụng kiểu chuồng sàn cao để nuôi lợn con sẽ có hiệu quả cao hơn

8 Chuồng nuôi lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi

Lợn con những ngày đầu sau khi cai sữa thường gặp Stress bất lợi cho sinh trưởng, phát triển của chúng, lợn vừa chuyển từ môi trường bú sữa mẹ là chủ yếu sang môi trường tự lập hoàn toàn, nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể là thức ăn

Lợn con cũng thường bị xáo trộn, do phân thành các lô khác nhau theo khối lượng nên thường kém ăn, dễ bị lây nhiễm bệnh tật, do đó lợn con phải được sống trong điều kiện khô ráo,

vệ sinh, có nhiệt độ và điều kiện tiểu khí hậu thích hợp

Đến ngày cai sữa lợn con được chuyển sang chuồng mới, ở nơi quy định, các ô chuồng này

được hàn liền nhau và luôn luôn là chẵn kích thước: dài 2,2m - 2,4m, rộng 2m, cao 0,8m, khoảng cách giữa các chấn song của thành chuồng là 10cm, chuồng có sàn cao cách mặt đất từ 30 - 60cm Sàn chuồng được làm bằng tấm bê tông ở chỗ máng ăn, bên ngoài bằng các song sắt ặ10,

có các khe rộng 0,8 - 1cm, phần bằng bê tông có các khe hở 1cm, dài 10cm Cứ 2 ô có 1 máng tự

động chứa đựng được 20kg thức ăn Trong mỗi ô có các núm uống tự động

Nếu nuôi lợn con bằng chuồng nền cứng cần chú ý đến việc chống bẩn, ẩm và lạnh cho lợn con

Hình 5: Một số kiểu chuồng nuôi lợn nái

a- Chuồng nuôi lợn nái ở nông hộ b- Cũi nuôi lợn nái

Trang 15

Chương III Hoạt động sinh dục và các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của

lợn nái

1 Hoạt động sinh dục ở lợn nái

a Cơ chế động dục cuả lợn nái

Lợn cái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15-16 ngày lại động dục lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào qui luật mang tính chu kỳ

Chu kỳ động dục của lợn nái bình quân là 21 ngày (18-21 ngày) Một chu kỳ tính của lợn nái thường chia làm 4 giai đoạn, đó là giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn yên tĩnh Giai đoạn trước động dục thường kéo dài 1 - 2 ngày và được tính từ khi thể vàng của lần động dục trước tiêu biến đến lần động dục tiếp theo Đây là giai đoạn chuẩn bị cho đường sinh dục cái tiếp nhận tinh trùng, đón trứng rụng và thụ tinh Giai đoạn động dục kéo dài từ ngày thứ hai đến thứ ba tiếp theo gồm có 3 thời kỳ nhỏ hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực, giai đoạn này dài hay ngắn tuỳ theo từng giống lợn, lợn nội thường kéo dài 3-4 ngày, lợn ngoại và lợn lai thường kéo dài 4-5 ngày Giai đoạn sau động dục là giai đoạn kéo dài từ ngày thứ 3 - 4 tiếp theo của giai đoạn động dục, lúc này dấu hiệu hoạt động sinh dục bên ngoài giảm dần, âm hộ teo lại, lợn cái không muốn gần lợn đực, ăn uống tốt hơn Giai đoạn yên tĩnh thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng rụng và không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến (khoảng 14 - 15 ngày kể từ lúc rụng trứng) Đây là giai đoạn dài nhất trong cả chu kỳ sinh dục, con vật không có biểu hiện về hành vi sinh dục, là giai đoạn nghỉ ngơi yên tĩnh chuẩn bị cho chu

kỳ động dục tiếp theo

Trước đây người ta chỉ giải thích được sự biến đổi có tính chất chu kỳ của buồng trứng, bao gồm sự động dục và rụng trứng là do sự điều hoà nội tiết của buồng trứng và tuyến yên Trong những năm gần đây người ta đã đi sâu chứng minh được vai trò của thân kinh trung ương đặc biệt của vùng dưới đồi (Hypothalamus) trong việc điều hoà chức năng sinh sản Các chất tiết từ Hypothalamus có hoạt tính sinh học cao và có nhiệm vụ điều khiển tuyến yên tiết ra các yếu tố giải phóng và các yếu tố ức chế Các yếu tố giải phóng bao gồm FRF (Foliculin Releasing Factors), LRF (Luteino Releasing Factors) và PRF Dưới ảnh hưởng của các kích tố giải phóng, tuyến yên sé tiết ra FSH và LH làm cho bao noãn phát dục, thành thục, chín và rụng, lợn nái có biểu hiện động dục

Cơ chế động dục của lợn nái như sau: Khi lợn cái đến tuổi thành thục về tính dục, các kích thích bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ, thức ăn, feromon của con đực và các kích thích nội tiết đi theo dây thần kinh li tâm đến vỏ đại não qua vùng dưới đồi (Hypothalamus) tiết ra kích tố FRF

Trang 16

(Folliculin Releasing Factors) có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra FSH làm cho bao noãn phát dục nhanh chóng Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục thì thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn, làm cho lợn cái có biểu hiện động dục ra bên ngoài Cuối kỳ động dục tuyến yên tiết ra LH làm cho trứng chín và rụng Sau khi trứng rụng sẽ hình thành thể vàng buồng trứng, thể vàng tiết ra progesteron, có tác dụng kích thích sự tăng sinh của màng nhầy tử cung chuẩn bị cho hợp tử làm tổ trong sừng tử cung, đồng thời ức chế tuyến yên sinh ra FSH, ức chế sự thành thục của bao noãn trong buồng trứng, làm cho bao noãn không phát dục, đồng thời kích thích tuyến yên tiết prolactin, kích thích tuyến vú phát triển

Nếu lợn nái có chửa thì thể vàng sẽ thoái hoá sau khi lợn đã đẻ và nuôi con, lúc này tuyến yên không bị progesteron ức chế nữa nên lại sản sinh ra FSH, bao noãn mới lại bắt đầu phát dục

và đi vào một chu kỳ mới Nếu lợn nái không có chửa thể vàng sẽ tồn tại khoảng trên dưới 17 ngày sẽ thoái hoá và bao noãn mới lại phát dục và đến 21 ngày lại xuất hiện một chu kỳ động dục

kế tiếp

b Biểu hiện động dục cuả lợn nái

Phát hiện lợn nái động dục là nhân tố quan trọng nhất trong công tác phối giống, nhất là khi sử dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo Để phát hiện động dục cần kiểm tra ít nhất một ngày

2 lần, thời gian cách nhau giữa 2 lần kiểm tra là 12 giờ Thời gian kiểm tra vào lúc 6 giờ sáng và

6 giờ chiều là những thời điểm con cái có biểu hiện triệu chứng động dục rõ nhất Khi kiểm tra kết hợp giữa việc xem xét trạng thái con cái khi dẫn con đực đi ngang qua với việc quan sát âm

hộ con cái (độ sưng, mầu, dịch tiết …) nhưng tốt nhất vẫn là cưỡi lên lưng con vật để thử phản xạ

mê ì

Thời gian động dục của lợn nái nội từ 3 - 4 ngày, của lợn nái ngoại từ 4 - 5 ngày, của lợn nái hậu bị ngoại có thể dài hơn từ 5 - 7 ngày

Biểu hiện động dục của lợn nái tuỳ thuộc vào giống, tuổi và cá thể Toàn bộ thời gian

động dục của lợn nái có thể chia làm 3 giai đoạn :

- Giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu)

- Giai đoạn chịu đực (phối giống)

- Giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)

* Giai đoạn trước khi chịu đực

Đặc điểm chung của lợn cái khi bắt đầu động dục là thay đổi tính nết, kêu rít, bỏ ăn hoặc kém ăn, phá chuồng, dũi đất, cơ thể bồn chồn, tai đuôi ve vẩy, thích gần lợn đực, nếu nhốt nhiều con thì thích nhảy lên lưng con khác, âm hộ đỏ tươi sưng mọng, có nước nhờn chảy ra nhưng chưa chịu cho đực nhảy người nuôi không nên cho lợn phối giống vào lúc này Giai đoạn này ở lợn nái ngoại thường kéo dài khoảng 2 ngày

* Giai đoạn chịu đực

Trang 17

Còn gọi là thời kỳ mê đực, khi sờ tay lên mông lợn nái thì lợn đứng yên, đuôi cong lên, hai chân choãi rộng ra, lưng võng xuống, có hiện tượng đái són, âm hộ chuyển màu sẫm hoặc màu mận chín, chảy dịch nhờn Khi lợn đực lại gần thì đứng im cho phối Thời gian này kéo dài khoảng 2 ngày (lợn nội thường ngắn hơn khoảng 28 - 30 giờ) Nếu được phối giống ở giai đoạn này thì tỷ lệ thụ thai cao

* Giai đoạn sau chịu đực

Lợn nái trở lại trạng thái bình thường, ăn uống như cũ, âm hộ giảm độ nở, se nhỏ thâm,

đuôi cụp không cho con đực phối

* Chú ý

- Cá biệt có những lợn nái khi động dục chỉ thấy âm hộ xung huyết còn những biểu hiện khác thì không rõ rệt hoặc có con thì ngược lại, những trường hợp này cần theo dõi chặt chẽ thường xuyên, hoặc có thể dùng lợn đực thí tình để phát hiện động dục

- Đối với giống lợn ngoại và lợn lai, thường biểu hiện động dục không rõ ràng như lợn nội, nên phải theo dõi chặt chẽ thường xuyên để phát hiện và phối giống kịp thời

- Lợn nái trong thời gian nuôi con thường không động dục, tuy nhiên cá biệt vẫn có những con

có biểu hiện động dục Lợn nái thường sau cai sữa con từ 5-7 ngày nếu được nuôi dưỡng tốt

đa số đều có động dục trở lại

- Lợn nái sau khi thụ thai thường không có biểu hiện động dục, nhưng cá biệt có những con có biểu hiện động dục hiện tượng này gọi là động dục giả, hiện tượng này thường thấy ngay ở ngày thứ 1 - 2 của chu kỳ thứ nhất hay thứ 2 sau khi đã phối giống Động dục giả thường biểu không rõ ràng và chỉ trong thời gian ngắn, cần quan sát kỹ để xác định chính xác

- Có những lợn nái tuy đã phối giống không thụ thai, nhưng đến chu kỳ động dục lần sau không có biểu hiện động dục, gọi là hiện tượng chửa giả Nguyên nhân của hiện tượng này

có thể do thể vàng tồn tại quá lâu trên buồng trứng, hoặc do rối loạn nội tiết Cần theo dõi để

có biện pháp kích thích động dục cho những lợn nái này

c Xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái

Việc xác định thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái có một vai trò rất quan trọng Vì muốn đạt được tỉ lệ thụ thai cao và lợn nái đẻ nhiều con, thì cần phải xác định chính xác được thời điểm phối giống thích hợp cho lợn nái Mặt khác nếu chúng ta để lỡ kỳ phối giống sẽ gây tổn thất về kinh tế và ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất của cơ sở chăn nuôi

Để xác định được thời điểm phối giống thích hợp, trước hết phải nắm vững qui luật động dục, rụng trứng của lợn nái, đồng thời còn phải căn cứ vào thời điểm để 2 tế bào trứng, tinh trùng gặp nhau và có khả năng thụ thai để quyết định thời gian phối giống thích hợp cho lợn nái

Trang 18

Lợn nái sau khi động dục trứng mới rụng, thường sau động dục 39 - 40 giờ trứng mới rụng và trứng rụng kéo dài 10 - 15 giờ hoặc dài hơn, trong ống dẫn trứng, trứng có khả năng thụ thai chỉ 8-10 giờ, lợn nái mỗi lần động dục rụng trên 20 trứng, trong thực tế lợn chỉ đẻ được trên dưới 10 con

Sau khi phối giống tinh trùng và trứng gặp nhau ở 1/3 phía trên của ống dẫn trứng và thụ thai ở đó

Lợn đực sau khi xuất tinh, tinh trùng phải qua 2 - 3 giờ mới di chuyển được lên 1/3 phía trên của ống dẫn trứng, trong đường sinh dục của lợn nái tinh trùng có thể sống được 45 - 48 giờ, nhưng thời gian còn khả năng thụ thai chỉ là 20 - 24 giờ

Như vậy phải phối giống cho lợn nái trước khi trứng rụng 1 - 2 giờ vào giữa giai đoạn chịu đực Nếu chúng ta cho phối quá sớm, trứng chưa rụng, đợi đến lúc trứng rụng thì tinh trùng

đã hết khả năng thụ thai Ngược lại nếu cho phối quá muộn, trứng rụng lâu không gặp, hoặc khi

có tinh trùng thì trứng đã mất khả năng thụ thai, kết quả thụ thai thấp Do vậy xác định thời điểm

chịu đực có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong công tác phối giống cho lợn nái

* Qua các nghiên cứu cho thấy các giống lợn khác nhau, có thời điểm phối giống thích hợp khác nhau :

Đối với lợn nái lai và nái ngoại: Đối với lợn nái tơ cho phối giống ngay khi chịu đực và phối lặp lại sau khi phối giống lần đầu 12 giờ, với lợn nái đã sinh sản sau khi chịu đực 12 giờ cho phối lần thứ nhất và sau 12 giờ tiếp theo cho phối lặp lại lần hai

Đối với lợn nái nội cần phối sớm hơn lợn nái lai và nái ngoại, thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ 2 và sáng sáng thứ 3

Nên phối giống hai lần nếu là thụ tinh nhân tạo (lúc sáng sớm và chiều mát), 1 lần nếu là phối trực tiếp (vào buổi sáng)

Một số nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng: nếu lợn nái động dục sau cai sữa 4 - 6 ngày thì phối tinh lúc 24 - 36 giờ sau thời điểm chịu đực; nếu lợn nái động dục sau cai sữa 2 - 3 ngày thì phối giống lúc 36 - 48 giờ sau thời điểm chịu đực; nếu lợn nái động dục sau cai sữa > 7 ngày thì phối giống lúc 12 - 18 giờ sau thời điểm chịu đực

Nghiên cứu hoạt động sinh dục của lợn ỉ cho thấy thời điểm bắt đầu động dục của lợn ỉ, thường từ 4 giờ sáng trong ngày Thời gian động dục kéo dài 76,5 giờ - 81,5 giờ Thời gian phối giống thích hợp nhất là từ 24 - 30 giờ tính từ khi bắt đầu động dục thì tỉ lệ thụ thai đạt 100%, số con đẻ ra/ lứa đạt 10,5-11,5 con

2 Sức sản xuất của lợn nái

a Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái

*Tuổi động dục lần đầu:

Trang 19

Là thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn cái động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau tuỳ theo giống lợn, ví dụ: lợn nội có tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại

*Tuổi phối giống lần đầu:

Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta chưa cho phối giống vì ở thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường cho phối giống vào chu kỳ thứ 2 hoặc thứ 3

Tuổi phối giống lần đầu được tính bằng cách cộng tuổi động dục lần đầu với thời gian

động dục của một hoặc hai chu kỳ nữa hoặc tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu

*Tuổi đẻ lứa đầu:

Sau khi phối giống, lợn chửa trung bình 114 ngày Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi lợn mẹ đẻ lứa

* Số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ trên lứa đẻ:

Đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Nó nói lên khả năng đẻ nhiều hay ít con của giống, nói lên kỹ thuật thụ tinh của dẫn tinh viên và kỹ thuật chăm sóc lợn nái chửa Trong vòng 24 giờ sau khi sinh ra, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh (quá bé), không phát dục hoàn toàn,

dị dạng … thì sẽ bị chết Ngoài ra do lợn con mới sinh, chưa nhanh nhẹn, dễ bị lợn mẹ đè chết

Bình quân số lợn con đẻ ra còn sống/lứa: Tổng số lợn con đẻ ra còn sống trong vòng 24

giờ kể từ khi lợn nái đẻ xong con cuối cùng của các lứa đẻ trên tổng số lứa đẻ

Công thức tính:

Tổng số lợn con đẻ ra còn sống Bình quân số lợn con đẻ ra còn sống/lứa = -

Tổng số lợn con đẻ ra để lại nuôi:

Tổng số lợn con đẻ ra còn sống có khả năng để lại nuôi: Đối với lợn ngoại: khối lượng > 0,8 kg; đối với lợn nội: khối lượng > 0,3 kg Tính theo công thức:

Tổng số lợn con để lại nuôi Bình quân số lợn con để lại nuôi/ lứa = -

Tổng số lứa đẻ

* Tỷ lệ sống: tỷ lệ sống được tính theo công thức sau:

Trang 20

Số con sơ sinh sống đến 24 giờ

Tỷ lệ sống (%) = x 100

Số con đẻ ra còn sống

*Số lợn con cai sữa trên lứa:

Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng quyết định năng suất của nghề chăn nuôi lợn Nó liên quan đến kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa và khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con

Đó là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa lợn mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật chế biến thức ăn và kỹ thuật chăn nuôi Hiện nay có một số cơ sở chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp đã tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 21 hoặc 28 ngày tuổi, còn trong chăn nuôi đại trà thường tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 45 thậm chí 56 ngày tuổi Nếu chúng ta tiến hành cai sữa sớm cho lợn con sẽ góp phần tăng số lứa đẻ trên năm của lợn nái và hạn chế một số bệnh hay lây từ lợn con sang lợn mẹ

Số con sống đến cai sữa

Tỷ lệ nuôi sống (%) = x 100

Số con để lại nuôi Trong một số trường hợp số lợn con sơ sinh nhiều nhưng người ta chỉ giữ lại một số lợn con nhất định để nuôi để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của lợn con Thông thường tỷ lệ nuôi sống càng cao thì càng tốt

*Số lợn con cai sữa /nái/năm:

Là chỉ tiêu tổng quát nhất của nghề chăn nuôi lợn nái Chỉ tiêu này phụ thuộc vào thời gian cai sữa lợn con và số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa đẻ Nếu cai sữa sớm sẽ tăng số lứa

đẻ/ nái /năm và tăng số lượng lợn con cai sữa trong mối lứa thì số lượng lợn con cai sữa/ nái/năm

sẽ cao và ngược lại

Số lợn con cai sữa/nái/năm =

Các chỉ tiêu chất lượng đàn con:

*Khối lượng sơ sinh:

Là khối lượng của lợn con được cân ngay sau khi đẻ ra, cắt rốn, lau khô, bấm số tai và trước khi cho bú lần đầu tiên

Trang 21

Khối lượng sơ sinh toàn ổ là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, đặc

điểm giống, kỹ thuật chăm sóc quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa Do đó thành tích này phụ thuộc cả vào phần của lợn nái và phần nuôi dưỡng của con người

Khối lượng sơ sinh toàn ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn Nếu những lợn con sinh ra khoẻ mạnh bị lợn mẹ đè chết là thuộc về trách nhiệm của cơ sở chăn nuôi chứ không thuộc về thành tích của lợn nái

Khối lượng sơ sinh của các giống lợn khác nhau thì khác nhau PSS lợn nội (ỉ, MC) thường

từ 0,4 - 0,6 kg/con, PSS lợn lai (ĐB x MC) trung bình từ 0,6 - 0,8 kg/con, PSS của lợn ngoại trung bình 1,1 - 1,2 kg/con

Nhìn chung khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng sinh trưởng càng nhanh, khối lượng cai sữa sẽ cao và khối lượng khi xuất chuồng sẽ lớn cho nên lợn có chửa cần được chăm sóc nuôi dưỡng tốt để đàn con có khối lượng sơ sinh cao

* Độ đồng đều: là xác định xem trong cả ổ lợn con độ to, nhỏ có đồng đều nhau hay

không, thường có 2 phương pháp tính:

- Lấy khối lượng sơ sinh của từng con so sánh với khối lượng sơ sinh bình quân của toàn ổ Sự chênh lệch đó càng nhỏ chứng tỏ đàn lợn ấy càng đồng đều

- Lấy tỷ lệ về đồng đều phát dục để biểu thị:

Khối lượng sơ sinh con nhẹ nhất

Khối lượng sơ sinh con nặng nhất

Độ đồng đều là một chỉ tiêu quan trọng để giám định phẩm chất về khả năng sinh sản của lợn nái tốt hay xấu Bởi vì khối lượng sơ sinh giữa 2 đàn lợn con hơn kém nhau không nhiều, nhưng độ đồng đều có thể chênh lệch nhau lớn

*Khối lượng cai sữa toàn ổ:

Cùng với chỉ tiêu số con cai sữa trên lứa, chỉ tiêu khối lượng toàn ổ lúc cai sữa góp phần

đánh giá đầy đủ năng suất của nghề nuôi lợn nái

Do hiện nay các cơ sở chăn nuôi thường áp dụng thời gian cai sữa khác nhau tuỳ thuộc vào khả năng chế biến thức ăn và trình độ nuôi dưỡng, cho nên để đánh giá thành tích của lợn nái chúng ta thường cân khối lượng lợn con lúc 56 hoặc 60 ngày tuổi, có như vậy chúng ta mới so sánh và đánh giá thành tích của lợn nái với nhau được Còn cân khối lượng của lợn con lúc cai sữa ở thời điểm sớm hơn chỉ dùng để định mức dinh dưỡng cho lợn con mà thôi

Khối lượng lợn con cai sữa có liên quan chặt chẽ đến khối lượng sơ sinh và là nền tảng xuất phát cho khối lượng xuất chuồng sau này

Trang 22

Bình quân khối lượng 1 lợn con cai sữa (kg): Khối lượng trung bình tính bằng kg của 1

lợn con lúc cai sữa được tính theo công thức sau:

Tổng khối lượng lợn con cai sữa (kg)Bình quân khối lượng 1 lợn con cai sữa (kg)=

Tổng số lợn con cai sữa (con)

*Khả năng tiết sữa:

Khả năng tiết sữa là một chỉ tiêu quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống của đàn lợn con, cũng như khối lượng cai sữa sau này Do đó trong công tác giống cần chú ý chọn được những lợn nái có năng xuất sữa cao, cũng như áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng để nâng cao khả năng tiết sữa của lợn mẹ

Khi đánh giá khả năng tiết sữa của lợn nái, do đặc điểm cấu tạo giải phẫu của bầu vú lợn

mẹ không có bể sữa cho nên rất khó xác định chính xác lượng sữa sản xuất ra của lợn nái Có một

số phương pháp có thể áp dụng để đánh giá sản lượng sữa của lợn nái như căn cứ vào tình trạng sức khoẻ của lợn con, cân khối lượng lợn con trước và sau khi cho bú mẹ, hoặc cân khối lượng lợn mẹ trước và sau khi cho bú … Tuy nhiên các phương pháp này đều ít nhiều ảnh hưởng đến lợn con và lợn mẹ và không phù hợp với thực tiễn sản xuất

Quy luật tiết sữa của lợn mẹ có đặc điểm là tăng dần từ lúc mới đẻ đến 21 ngày đạt sản lượng cao nhất sau đó giảm dần Căn cứ vào đặc điểm này , trong thực tiễn sản xuất người ta lấy khối lượng lợn con toàn ổ lúc 21 ngày tuổi để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ

Sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, cá thể, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng … Để nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ chúng ta cần phải căn cứ vào từng yếu

tố ảnh hưởng để có biện pháp thích hợp

c Một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật khác:

Trong chăn nuôi lợn nái có một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cần thiết để theo dõi tình hình sản xuất của lợn nái trong cơ sở chăn nuôi Các chỉ tiêu này giúp cho các nhà quản lý trang trại trong công tác quản lý và hạch toán đảm bảo chăn nuôi có hiệu quả

* Tỷ lệ lợn nái không động dục sau cai sữa (%):

Là tỷ lệ giữa số lượng lợn nái chưa động dục tính đến ngày thứ 8 sau cai sữa so với tổng

số lợn nái đã cai sữa con và được đưa vào phối giống

Số lượng lợn nái đã cai sữa con tính đến ngày thứ 8

không động dục trở lại

và được đưa vào phối giống

Trang 23

Chỉ tiêu này không tính cho những lợn nái tơ mới đưa vào phối giống lần đầu

* Tỷ lệ thụ thai đối với toàn đàn nái được phối giống:

Là tỷ lệ giữa số lượng lợn nái đã mang thai được 40 ngày sau phối giống so với tổng số nái được phối giống

Số nái đã mang thai được 40 ngày sau phối giống

Số nái được phối giống

Có thể sử dụng lợn đực giống để kiểm tra kết quả thụ thai của lợn nái sinh sản và lợn nái tơ từ ngày thứ 18 sau khi phối giống trở đi hoặc có thể dùng máy siêu âm "chẩn đoán có thai sớm

ở lợn " vào thời điểm 30-40 ngày sau phối giống

* Tỷ lệ đẻ (%):

Tổng số nái đẻ

Tổng số nái được phối giống

* Tỷ lệ lợn con hao hụt từ sơ sinh đến cai sữa:

Tỷ lệ giữa số lượng lợn con bị chết từ sơ sinh đến cai sữa so với tổng số con đẻ ra còn sống

Tỷ lệ hao hụt Tổng số con đẻ ra còn sống - tổng số con cai sữa

cai sữa (%) Tổng số con đẻ ra còn sống

* Số lứa đẻ/nái/năm

Là tổng số lứa đẻ của đàn nái trong vòng 1 năm trên số lượng lợn nái bình quân của đàn

Tổng số lứa đẻ cả năm của đàn nái

Số lứa đẻ/nái/năm =

Số lượng lợn nái bình quân cả năm của đàn

Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa:

Là lượng thức ăn nuôi lợn nái và lợn con theo mẹ đến lúc cai sữa trên tổng số khối lượng lợn con cai sữa thu được của lợn nái đó trong 1 lứa đẻ hoặc 1 năm:

Tổng lượng thức ăn cho lợn nái + con (kg) Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa (kg) =

Tổng khối lượng lợn con cai sữa (kg)

Trang 24

Chương IV Chăn nuôi lợn cái hậu bị

1 Mục tiêu chăn nuôi lợn cái hậu bị

- Lợn nái sinh trưởng nhanh, đạt khối lượng quy định khi đến tuổi phối giống lần đầu

- Lợn cái động dục sớm, giảm được chi phí về thức ăn, công lao động và các chi phí khác

- Đẻ sai con ở lứa đẻ đầu tiên

- Lợn nái khai thác được bền lâu (đẻ được nhiều lứa)

2 Kỹ thuật chọn lợn cái gây nái sinh sản

- Địa chỉ chọn lợn cái hậu bị: cần chọn những nơi có địa chỉ tin cậy đó là những cơ sở chăn nuôi (quốc doanh hoặc tư nhân) có đàn giống đạt năng suất cao và an toàn về dịch bệnh Không nên tự gây nái từ những đàn bố mẹ để tạo lợn thịt thương phẩm

- Chọn nguồn gốc: Chọn lợn cái hậu bị từ những cặp bố mẹ có năng suất sinh sản tốt, lợn mẹ

đẻ sai con, tốt sữa, cai sữa nhiều con, mắn đẻ, nuôi con khéo …

- Chọn ngoại hình:

Đ Chọn những lợn nái khoẻ mạnh, lông da bóng mịn, hồng hào, mắt tinh nhanh, đi lại tự nhiên uyển chuyển, không có các khuyết tật như bị úng rốn, chân đi vòng kiềng, đi chữ bát …

Đ Chọn những con có thân hình phát triển cân đối, mông nở, 4 chân chắc khoẻ, mông phát triển đều Lợn được chọn phải có khối lượng cao hơn khối lượng trung bình toàn đàn ở thời điểm chọn

Đ Số lượng và chất lượng vú: số vú phải từ 12 trở lên, khoảng cách giữa các vú đều, lộ rõ

đầu vú, không chọn con vú kẹ

Đ Âm hộ chọn con có âm hộ phát triển, không chọn những con có âm hộ quá to hoặc quá bé

3 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn cái hậu bị

- Yêu cầu cần đạt: Lợn cái hậu bị trước khi phối giống phải đạt thể trạng phối giống, nghiã là

không béo quá hoặc gầy quá Muốn vậy cần chú ý các yếu tố sau đây:

+ Giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần hợp lý cho từng giai đoạn + Mức ăn cho lợn hàng ngày hợp lý cho từng giai đoạn

- Chế độ dinh dưỡng trong khẩu phần thức ăn cho lợn cái hậu bị qua các giai đoạn

Bảng 1: Chế độ dinh dưỡng trong khẩu phần thức ăn cho lợn nái Khối lượng lợn Pr.thô/khẩu phần (%) Năng lượng (ME) Kcal

Từ 65 kg đến phối giống và cả kỳ mang thai

- Mức ăn con/ngày (kg thức ăn hỗn hợp)

Trang 25

Bảng 2: Mức ăn cho lợn nái ngoại (con/ngày)

Thể trọng (kg)

Lượng TĂ/con/ngày

(kg)

Lượng protein thô/con/ngày (g)

Năng lượng trao đổi ME (Kcal/con/ngày)

số trứng rụng để tăng số con đẻ ra/ổ

Sau phối giống cho ăn 1,8 - 2 kg/con/ngày bằng loại thức ăn nuôi lợn nái chửa (tương ứng protein thô là 252-280 g, năng lượng trao đổi, ME = 5220-5900 Kcal)

Từ 65 kg đến phối giống có thể cho ăn thêm 2 kg rau xanh/con/ngày

Đối với lợn nái nội, cho ăn khoảng 80% mức ăn của lợn cái ngoại Thành phần dinh dưỡng của thức ăn giai đoạn 20 - 55 kg có 15% protein, 3000 Kcal năng lượng trao đổi, giai đoạn từ 56

kg trở đi cho ăn thức ăn có 14% protein, 2800 Kcal năng lượng trao đổi (Tiêu chuẩn Việt Nam – TCVN 1547-1994)

- Chế độ ăn

Từ 20 - 30 kg, ngày cho ăn 4 bữa

Từ 31 - 65 kg, ngày cho ăn 3 bữa

Từ 66 kg đến phối giống, ngày cho ăn 2 bữa

- ảnh hưởng của chế độ ăn không hợp lý đối với lợn cái giai đoạn hậu bị

+ Khẩu phần không đảm bảo dinh dưỡng, mức dinh dưỡng cung cấp không đủ thì giảm khả năng tăng trọng, kéo dài ngày đạt khối lượng phối giống lần đầu tiên dẫn đến kéo dài tuổi đẻ lứa đầu

+ Trường hợp cho ăn quá mức so với nhu cầu (đặc biệt giai đoạn từ 80 - 120 kg đối với lợn ngoại, 55 kg trở lên đối với lợn nội) làm cho lợn quá béo, khó động dục hoặc động dục bất thường, tỷ lệ thụ thai kém

Trang 26

4 Kỹ thuật quản lý lợn cái hậu bị

- Bố trí đầu lợn cái hậu bị trong ô chuồng nuôi:

Giai đoạn nuôi hậu bị, lợn cái nuôi nhốt chung trong ô sẽ tốt hơn nuôi riêng biệt từng con

và đảm bảo diện tích để dùng cho ăn và nằm là 1 - 1.2 m2/con (giai đoạn nhỏ) và 3 m2/con (giai

đoạn lớn) và diện tích sân chơi 0,5 - 0,6 m2/con

Nên chú ý những đực giống dưới 10 tháng tuổi chưa có tác dụng hoặc tác dụng ít đến việc kích thích phát dục ở lợn cái vì những con đực này còn non, chưa tiết ra nhiều lượng pheromon

mà đó là thành phần cần thiết của "hiệu ứng đực giống"

- Theo dõi để phát hiện lợn động dục lần đầu:

Ghi chép đầy đủ để nắm chắc diễn biến các chu kỳ động dục có ổn định hay không? Từ đó xây dựng kế hoạch phối giống và lên lịch tăng mức ăn trước khi phối giống

Để phát hiện lợn động dục được chính xác hơn nên kết hợp quan sát bằng mắt thường ngày hai lần và kết hợp dùng lợn đực thí tình

Dùng sổ ghi chép ngày động dục, thời gian động dục kéo dài, có như vậy mới có nhận xét chính xác là lợn động dục có đều hay không để quyết định là sẽ phối giống hay loại thải Nếu lợn động dục bất thường nghĩa là khoảng cách giữa các lần động dục không đều, thời gian động dục kéo dài giưã các chu kỳ, động dục không đều hoặc lợn động dục nhưng không chịu đực với những trường hợp như vậy nên loại thải và không nên phối ép

- Tuổi và thời gian phối giống

Đối với lợn cái hậu bị, cần kết hợp đồng thời 3 yếu tố sau được gọi là các yếu tố cần và đủ:

Tuổi phối giống: từ 7,5 - 8,5 tháng, trung bình phối giống lúc 8 tháng tuổi

Khối lượng phối giống: trung bình từ 115-120 kg (lợn ngoại), từ 45 - 50 kg (đối với lợn nội)

Phối giống: hoàn toàn không phối ngay ở lần động dục thứ nhất, mà sẽ phối giống cho lợn cái ở chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3

Ghi chép ngày phối giống để theo dõi kết quả phối giống của lợn cái Nếu lợn đã phối giống mà không thụ thai thì sẽ động dục trở lại trong vòng 17 - 23 ngày kể từ ngày phối giống Cần lưu ý chế độ dinh dưỡng cho lợn cái trước khi phối giống, các yếu tố thức ăn rất quan trọng ở thời kỳ này Thông thường, chúng ta nên cho lợn cái hậu bị ăn tăng, mức ăn từ 2,7 - 3,0 kg/ con/ ngày (đối với lợn cái ngoại), 2,1 - 2,4 kg (lợn cái nội) trong vòng 10 - 14 ngày trước

Trang 27

ngày dự kiến phối giống là thích hợp Sau khi phối giống, chúng ta phải giảm mức ăn xuống còn 1,8 - 2,0 kg/ con/ ngày (với lợn ngoại) và 1,4 - 1,6 kg (đối với lợn nội)

- Thú y đối với lợn hậu bị:

+ Đảm bảo tốt yêu cầu chung về vệ sinh thú y chuồng trại

+ Tẩy giun sán trước lúc vào nuôi hậu bị (18-25 kg thể trọng)

+ Lịch tiêm vác xin đối với lợn nái hậu bị: trước khi phối giống 35 ngày tiêm vác xin dịch tả, tụ huyết trùng Trước khi phối giống 14 ngày tiêm vác xin lépto, parvo, đóng dấu lợn

+ Lợn phải được tẩy giun sán trước khi phối giống

+ Thường xuyên kiểm tra phát hiện bệnh ghẻ và điều trị kịp thời

5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

- Các ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái nếu không đảm bảo yếu tố cần và đủ

+ Phối giống trước 7 tháng tuổi khi cơ thể lợn cái chưa phát triển hoàn thiện + Phối giống ở khối lượng cơ thể lợn cái thấp hơn khối lượng quy định thì sau khi đẻ lứa 1 sẽ

dễ làm hao mòn lợn nái dẫn đến loại thải sớm + Phối giống ngay ở lần động dục đầu tiên thì số trứng rụng ít do đó đẻ được ít con

- Tóm tắt một số yếu tố làm chậm tuổi phối giống lần đầu ở lợn cái hậu bị

+ Thường xuyên dịch chuyển và xáo trộn các nhóm lợn cái có thể ảnh hưởng đến sự phát dục của lợn cái

+ Tuổi của lợn cái khi chúng ta bắt đầu cho tiếp xúc với lợn đực Nếu chúng ta cho tiếp xúc quá sớm hoặc muộn đều không tốt Sự tiếp xúc thường xuyên của lợn cái với lợn đực trong suốt thời kỳ thời gian nuôi hậu bị cũng có thể tác động không tốt đến sự thành thục của lợn cái hậu

bị

+ Loại lợn đực khi cho tiếp xúc với lợn cái: Nếu cho tiếp xúc với lợn đực còn non thì hiệu quả kích thích động dục không cao Nói chung nên cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với nhiều lợn đực giống khác nhau

+ Nhiệt độ môi trường: Nếu nuôi lợn cái hậu bị trong điều kiện chuồng nuôi có nhiệt độ quá cao hay quá thấp có thể làm chậm tuổi động dục lần đầu

+ Hàm lượng khí thải trong chuồng nuôi như NH3, H2S nếu quá cao có thể làm chậm tuổi

động dục lần đầu (có thí nghiệm cho thấy chậm tuổi động dục lần đầu từ 25 - 30 ngày) + Phát hiện động dục: Nếu lợn đực tiếp xúc với lợn cái liên tục có thể khó phát hiện động dục Do đó nên nuôi lợn đực, cái tách biệt nhau và kích thích động dục cho lợn cái ngoài 5,5 tháng tuổi

Ngày đăng: 12/03/2014, 07:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1  Lợn nái Móng Cái - kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Hình 1 Lợn nái Móng Cái (Trang 4)
Hình 4: Lợn nái Yorkshire - kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Hình 4 Lợn nái Yorkshire (Trang 7)
Hình 5: Một số kiểu chuồng nuôi lợn nái - kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Hình 5 Một số kiểu chuồng nuôi lợn nái (Trang 14)
Bảng 2: Mức ăn cho lợn nái ngoại (con/ngày) - kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Bảng 2 Mức ăn cho lợn nái ngoại (con/ngày) (Trang 25)
Bảng 3. Mức ăn cho lợn nái cơ bản (kg thức ăn/nái/ngày) - kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Bảng 3. Mức ăn cho lợn nái cơ bản (kg thức ăn/nái/ngày) (Trang 29)
Hình 8: Ô úm để tạo nhiệt độ tối ưu cho lợn con - kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Hình 8 Ô úm để tạo nhiệt độ tối ưu cho lợn con (Trang 33)
Hình 6: Lợn con bị lạnh bởi gió lùa  Hình 7: Lợn con bị lạnh bởi nền xi - kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Hình 6 Lợn con bị lạnh bởi gió lùa Hình 7: Lợn con bị lạnh bởi nền xi (Trang 33)
Hình 9: Vị trí tiêm sắt cho lợn con - kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Hình 9 Vị trí tiêm sắt cho lợn con (Trang 41)
Hình 10: Thiến lợn đực - kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Hình 10 Thiến lợn đực (Trang 43)
Bảng 4: Lịch dùng vác xin cho lợn con - kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản
Bảng 4 Lịch dùng vác xin cho lợn con (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN