Hình thái của các hoá thạch giá biển khá phổ biến trong các tầng đá ở Đồ Sơn rất giống với con giá biển ở Cát Hải được làm thành món ăn đặc sản bán trên các tàu khách 1.1.2 Hệ Đệ tứ Cá
Trang 1MU À2 9020-00 22.-` b TRUNG TÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HẢI PHÒNG
Trang 2BAN CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN
1 Ong Va Ditc Van -
3 - Ong Dinh Xuân Thênh -
Pho Bi thu Thuong truc Thi ty
4 Ong Nguyén Van Tiéu -
Phó Chủ tịch UBND thị xã
5 TS Đào Viết Tác -
Giám đốc Sở KHCN&MT Hải Phòng
6 Ông Ngô Đăng Lợi -
Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử TP.Hải Phòng
7 Ông Hoàng Gia Thảo -
Uỷ viên Ban Thường vụ Thị uỷ,
Trưởng ban Tuyên giáo Thị uỷ
8 Ong Hoang Trung Hiéu -
Chánh văn phòng UBND thị xã
9 Ông Đỉnh Xuân Thuận -
Trưởng phòng văn hoá thể thao thị xã
10 Ông Trần Quốc Thành -
Giám đốc trung tâm văn hoá-thông tin thị xã
11 Bà Hoàng Thị Nghị -
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NGHIỆM THU CÔNG TRÌNH
-
1 Ông Đỉnh Xuân Thênh -
Phó Bí thư Thường trực Thị ủy
2 Ông Nguyên Văn Tiêu -
Phó Chủ tịch UBND thị xã
3 Ông Hoàng Gia Thảo - Uỷ viên Ban Thường vụ Thị uỷ,
Trưởng ban Tuyên giáo Thị uỷ
4 Ông Đỉnh Xuân Thuận -
Trưởng phòng văn hoá thể thao thị xã
5 Ông Hoàng Đình Bình -
Trưởng phòng Tài chính thị xã
ĐỒNG CHỦ BIÊN
1 Ông Hoàng Anh Hùng - Thành ủy viên,
Phó Bí thư Thị ủy, Chủ tịch UBND thị xã
2 Ong Nguyên Ngọc Thao - Giám đốc Trung tâm
KHXH&NV - So KHCN&MT Hai Phòng
Trang 3TS Dinh Van Huy
: Tran Thi Thu Ha : Nguyén Ngoc Thao
: Trinh Minh Hién
Trần Quốc Thành
Vũ Lệnh Năng : Phạm Xuân Thanh Đoàn Thị Thu : Ngô Đăng Lợi
HOÀN CHỈNH BẢN THẢO
Ngô Đăng Lợi - Phạm Xuân Thanh
NHŨNG NGƯỜI THAM GIA CUNG CẤP, THẨM ĐỊNH TƯ LIỆU:
ông Hoàng Gia Khoá, ông Vũ Hào, ông Hoàng Đăng Hoè,
ông Hoàng Đình Lập, ông Phạm Cấp, ông Luu Đình Giỏi,
ông Đăng Quang Tài, ông Hoàng Đình Chí, ông Hoàng Phúc,
ông Hoàng Gia Định, ông Nguyên Dac Hué
Trang 4MỤC LỤC
* Lời giới thiệu
* Lời nói đầu
* Chương mở đầu
ĐỒ SƠN - MIỀN ĐẤT, CON NGƯỜI
%* Chương I:
ĐỊA LÝ TỰNHIÊN
I Dia chat và địa hình - địa mạo
II Khí hậu và thủy văn
II Đất đai
IV Động - thực vật
* Chuong 2
LICH SU
I D6 Son từ tiền, sơ sử đến giữa thế kỉ XIX
* IL Dé Son tir gitta thé ky XIX va thé thé ky XX
* Chuong 3:
KINH TẾ
I Kinh tế biển
II Du lich - dich vu
III Diêm nghiệp- lâm nghiệp - nông nghiệp
Trang 5nước, nhân dân Đồ Sơn vừa chiến đấu bảo vệ bờ biển, vừa
tham gia chỉ viện chiến trường Đồ Sơn vinh dự có bến tau,
nơi xuất phát của những con tầu không số của Hải quân
nhân dân Việt Nam mở "đường Hồ Chí Minh trên biển", chỉ
viện có hiệu quả cho tiền tuyến lớn miền Nam Bài học lịch
sử lớn rút ra là phải luôn biết phát huy, bồi đắp tỉnh thần
yêu nước, ý chí kiên cường của người Đồ Sơn trong tiến trình
giữ vững địa bàn xung yếu của quốc gia này
Với tỉnh thần dân chủ cao, Đồ Sơn trong lịch sử còn là
căn cứ quan trọng của các phong trào khởi nghĩa như của
Nguyễn Hữu Cầu (quận He) chống lại tập đoàn phong kiến
Lê-Trịnh thối nát, của Phan Bá Vành chống lại triều
Nguyễn
* *
Non nước Đồ Sơn giầu đẹp Người Đồ Sơn cần cù, dũng
mãnh, giầu truyển thống yêu nước, truyền thống cách
mạng Văn hoá Đồ Sơn phong phú, có nét đặc sắc riêng
Thực hiện đường lối đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của Đảng, Đồ Sơn đã và đang phát triển toàn diện về kinh
tế-xã hội, là một pháo đài thép của thành phố Hải Phòng
1.1.1 Trước Đệ tứ
Các đá gốc trầm tích ở khu vực thị xã Đồ Sơn thuộc
về hệ tầng Đồ Sơn có tuổi Đêvon giữa (Ngô Quang Toàn, 1993) Ngoài ra, trầm tích của hệ tầng này phân bố rải rác ở đổi núi phía bắc Thuỷ Nguyên và khá phổ biến ở quần đảo
Bái Tử Long Hệ tầng Đồ Sơn do tác giả Nguyễn Công Lượng xác lập năm 1985 còn được gọi là “cát kết Đồ Sơn”
trong các văn liệu địa chất thời Pháp Hệ tầng có bề dày khoảng 350m, gồm cát kết dạng quắc zit, cát kết màu xám
tím, xám đỏ, xám vàng, xám trắng có xen các lớp cuội kết,
bột kết Cát kết Đồ Sơn có các tính chất cơ lý cơ bản như sau: khối lượng thể tích cốt đá 2,54g/cm?; khối lượng riêng 2,66g/cm”, độ rỗng 4,9%; cường độ kháng nén 745kg/em”;
cường độ kháng nén bão hoà 523kg/cm” và hệ số hoá mềm
0,63
Các di tích hoá thạch cá giáp, thực vật dạng vảy, tay cuộn và thân mềm hai mảnh cho biết hệ tầng được thành tạo trong môi trường ven bờ, cửa sông có khí hậu khô nóng Hoá thạch cá giáp tuổi Đêvon được phát hiện trong các tầng
đá tại Đồ Sơn là một tư liệu khoa học rất quí đóng góp cho hiểu biết về tiến hoá của sự sống trên trái đất vào hàng
Trang 6trăm triệu năm trước Các hoá thạch tay cuộn tìm được ở các
tầng đá Đổ Sơn đại diện cho một ngành sinh vật
(Brachiopoda) sống ở vùng biển nông ven bờ trong nguyên
đại Cổ sinh, nay gần như đã bị tuyệt diệt, chỉ còn lại rất ít
loài đang sống, trong đó có con giá biển Giá biển được gọi là
“hoá thạch sống” vì đã tôn tại hàng trăm triệu năm trên trái
đất Hình thái của các hoá thạch giá biển khá phổ biến
trong các tầng đá ở Đồ Sơn rất giống với con giá biển ở Cát
Hải được làm thành món ăn đặc sản bán trên các tàu khách
1.1.2 Hệ Đệ tứ
Các trầm tích bở rời hệ Đệ tứ ở khu vực thị xã Đồ Sơn
cơ bản thuộc về bốn hệ tầng Tên của các hệ tầng đặt theo
tên địa phương có các lỗ khoan chuẩn lần đầu xác lập hệ
tầng (Hoàng Ngọc Ky 1976) Dé là các hệ tầng Hà Nội và
Vĩnh Phúc có tuổi Cánh tân (Pleistocen) và các hệ tầng Hải
Hưng và Thái Bình có tuổi Toàn tân (Holocen) Ngoài ra,
còn có các tích tụ sản phẩm phong hoá đá gốc nằm trên mặt
và sườn đôi núi đá gốc
« Trầm tích Cánh tân
- Hệ tầng Hà Nội (Quạ hn) có tuổi cuối Cánh tân giữa-
muộn, là một phức hệ trầm tích hạt thô được tích tụ trong
môi trường bãi bồi và lòng sông có dòng chảy mạnh, phân bố
không liên tục tror# các lỗ khoan ở đồng bằng rìa bán đảo
Trầm tích hệ tầng không lộ trên mặt, xuất hiện ở độ sâu 15-
30m, bề dày trung bình 10-20m và có thể phân biệt thành
hai phần Phần dưới bề dày 10-15m, bao gồm các lớp cuội,
sạn, sỏi, cát hạt trung và lớn màu xám, xám trắng, xám
xanh, kích thước hạt nhỏ dần từ dưới lên trên Phần trên có
bề đày mỏng, chỉ 2-5m, bao gồm các lớp cát bột, cát sét màu
vàng, xám, nâu đỏ Trong bột sét có chứa các ổ cát thành phần khoáng vật thạch anh và muscovit, các ổ kaolin mau
trắng và các kết vón oxyt sắt màu đỏ, chứng tỏ đã từng bị
phong hoá Hệ tầng Hà Nội chứa nước nhạt chất lượng tốt,
độ khoáng hoá 0,6-9,12mgi1
-Hé tang Vĩnh Phúc (Q„vp) có tuổi cuối Cánh tân
muộn, nguồn gốc biển, đầm lầy biển, sông biển và aluvi
sông Đây là một phức hệ trầm tích châu thổ có bề dày 5-
20m, độ sâu xuất hiện thường trên dưới 10m ở đồng bằng
bao quanh thị xã Có thể phân biệt trầm tích hệ tầng thành
ba phần Phần dưới là cát hạt nhỏ, hạt trung màu xám
vàng, xám nhạt, đôi chỗ lẫn sỏi và mùn bã hữu cơ, chứa
nước ngầm có độ khoáng hoá cao, đến 9g/1 Đây là trầm tích
nguồn gốc biển tương ứng với thềm cao 10m chứa vỏ sò ốc và mảnh san hô ở Ao Cối (Cát Bà) Tại Đồ Sơn, trầm tích thềm phân bố hạn chế ở độ cao 10-15m ở Vạn Bún, được cấu tạo bởi cuội, sỏi, cát màu xám vàng, độ mài tròn, chọn lọc tốt
Phần giữa là bùn sét bột, cát bột chứa các ổ cát, chảy ướt,
màu xám, xám tro, chứa nhiều tàn tích thực vật mục nát
Đây là trầm tích nguồn gốc đầm lây biển và vùng triều
Phần trên phân bố rất rộng, gồm trầm tích sét, bột sét, cát
bột dẻo quánh màu xám vàng, nâu gụ, hồng nhạt, xám
trắng, nguồn gốc aluvi sông, chứa oxyt sắt biểu thị cho quá
trình phong hoá khá mạnh Trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc có
sức chịu tải khá tốt, 1,9-2,2kg/em” và nằm không sâu nên có
ý nghĩa đối với nền móng xây dựng công trình
« Trâm tích Toàn tân
Trầm tích Toàn tân ở địa phận Đồ Sơn thuộc về hai hệ
tầng Hải Hưng và Thái Bình với bề dày tổng cộng phổ biến 7-12m Khác với trầm tích thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc trầm
Trang 7tích Toàn tân nằm trên có xu thế hạt mịn hơn, màu xám và
xẫm hơn, chứa nhiều di tích vỏ thân mềm biển, mùn bã thực
vật và mềm, nhão hơn và nói chung là nền đất yếu đối với
xây dựng công trình (Tần Đức Thanh, 1999)
- Hệ tầng Hải Hưng (Q„y' ?), tuổi Toàn tận sớm-giữa,
được tích tụ vào khoảng 8-3 nghìn năm trước, có bể dày 4-
8m, nằm dưới bể mặt đồng bằng và thường gồm hai phần
Phần dưới là các trầm tích nguồn gốc đầm lây biển và biển
nông, thành phần bùn bột, bột sét, sét màu xám, xám nâu,
hay gặp vỏ thân mềm biển, phổ biến khá rộng khắp dưới
đồng bằng vùng bãi triều Phần trên là các trầm tích nguồn
gốc đầm lầy ven biển, phân bố không liên tục, thành phần
bùn cát bột và bùn bột màu xám, xám đen chứa nhiều mùn
bã hữu cơ và rất ướt nhão Ngoài ra, còn có các trầm tích
biển gồm cát hạt nhỏ, hạt trung màu xám vàng lộ ra và tạo
nên các tích tụ thềm biển ven chân núi, khu sân bay cũ
- Hệ tầng Thái Bình (Q„y), tuổi Toàn tân muộn, được
tích tụ vào khoảng 3 nghìn năm qua, có bề dày khoảng một
mét đến 3-4m và tạo nên đồng bằng ven biển Về cơ bản,
trầm tích hệ tầng cũng gồm hai phần Phần dưới là trầm
tích nguồn gốc biển (triểu thấp và dưới triểu), thành phần
cát nhỏ và cát bột màu xám, xám nâu chứa vỏ thân mềm
biển Phần trển là trầm tích nhiều nguồn gốc như bãi bồi
châu thổ ngập triều, đầm lây sú vẹt biển, bãi cát biển và cả
trầm tích hô đầm nước ngọt
s _ Trầm tích Đệ tứ không phân chia
Đó là các thành tạo tàn tích sản phẩm của quá trình
phong hoá, nằm tại chỗ trên sườn đồi hoặc tích tụ dưới chân
đổi, Ở sườn phía tây ưu thế là sản phẩm phong hoá vật lý
tạo vỏ saprolit (vỡ vụn) Trên mặt đường phân thuỷ của đồi
núi có mặt sản phẩm vỏ phong hoá sialit sắt (SiAlFe) day 2- 2,5m Phần lớn diện tích còn lại là sản phẩm phong hoá vỏ
ferosialit (FeSiAI) dày 1,8-3,5m, thích hợp cho trồng rừng
1.1.3 Trầm tích mặt đáy biển ven bờ
Trầm tích mặt đáy biển uen bờ Đồ Sơn đưng được tích
tụ bao gồm các loại cát hạt nhỏ, bùn bột lớn, bùn bột nhỏ uà
bùn sét bột (Trần Đức Thạnh và nnk, 1993)
Trầm tích cát hạt nhỏ có giá trị đường kính hạt trung bình (Md) nam trong khoảng 0,10 - 0,15mm, màu xám và xám nâu, phân bố ở các bãi cát biển ven bán đảo Đồ Sơn, tại
bãi biển và vùng triểu phía ngoài đê biển nông trường
Trung Dũng và hạn chế hơn bãi ven đê biển Bàng La Cát
nhỏ phân bố từ bờ tới độ sâu 0,5 - 1,0m Thành phần cát chủ
yếu là các khoáng vật thạch anh, fenspat, các mảnh vỏ vôi:
sò ốc biển và các khoáng vật nặng như limonit, hoblen,
actinolit, tremonit, silimanit, tuamalin, epidot va ilmenit
Bùn bột lớn có giá trị Md trong khoang 0,10- 0,05mm, màu nâu xám, phân bố ở vùng triều rộng lớn sát phía tây nam ban dao Dé Sơn và ngoài đê Bàng La, ven rìa các bãi lầy sú vẹt ở Ngọc Hải và thành dải ở sát bờ cho đến độ sâu khoảng 1 - 2m Bùn bột nhỏ có Md = 0,05-0,01mm, màu nâu
xám, nâu hồng phân bố hạn chế trên các bãi lầy sú vẹt và
thành đải từ khoảng độ sâu 1 - 2m cho đến 5 - 6m ở đáy biển ven bờ và diện phủ rộng nhất ở phía ngoài đê Trung Dũng
Bùn bột sét có giá trị Md = 0,009 - 0,010 mm, màu nâu
hồng, phân bố rộng rãi ở đáy biển có độ sâu khoảng 5 - 6m
trở ra
Trang 8Trâm tích mặt đáy biển uen bờ có đặc điểm phân bố
mặn dân từ bờ ra sâu, có liên quan đến địa hinh va điều biện
động lực tích tụ Thành phần của chúng có sự biến động
theo mùa, mịn hơn uề mùa mưa trong điều biện lắng đọng
tau thế uà thô hơn đôi chút uào mùa khô trong điêu biện bào
mon mat day uu thé
1.2- KIẾN TRÚC KIẾN TẠO, TÂN KIẾN TẠO VÀ KIẾN TẠO HIỆN
ĐẠI
Vùng đất Hải Phòng phát triển trên hai đới kiến trúc
kiến tạo có lịch sử phát triển khác nhau và ngăn cách nhau
qua đứt gãy sâu Kinh Môn - Hải Phòng - Cát Bà Đó là đới
uốn nếp Caledonit nằm ở phần đông bắc và bồn trũng dạng
địa hao Kainozoi ở phần phía tây nam địa phận (Đobjicov,
và nnk, 1965) Dai nang Kiến An - Đồ Sơn chính là phân
định hình thái của hai kiến trúc này Đặc điểm tân kiến tạo
và kiến tạo hiện đại ở Hải Phòng nói chung và Đồ Sơn nói
riêng thể hiện rõ nhất qua ba hệ thống đứt gẫy định hướng
tây bắc - đông nam, đông bắc - tây nam và á vĩ tuyến
(Nguyễn Cẩn, và nnk, 1994) Chúng cắt qua các tầng đất đá,
gây dịch chuyển, biến vị phá huỷ các lớp đá cứng, tạo ra các
chuyển động khối tảng, hình thành nên các bồn trũng và
khối nâng làm tiền dé cho các quá trình tích tụ hoặc xâm
thực bào mòn của các khu vực
.- Hệ đứt gã# định hướng tây bắc - đông nam bao gồm
một loạt đứt gãy lớn đóng vai trò chính phá huỷ các thành
tạo địa chất thuộc Hải Phòng Đứt gãy sâu sông Lô cắt qua
cửa Thái Bình Song song với đứt gãy này là các đứt gãy
Hải Ninh - Kiến An cắt qua cửa Văn Úc; đứt gãy Kim Thành
- Đồ Sơn cắt qua cửa Họng; đứt gãy Kinh Môn - Hải Phòng
cắt qua vùng cửa Bạch Đằng và đứt gãy Núi Đèo - Đồ Sơn
định hướng bắc tây bắc - nam đông nam
- Hệ đứt gãy định hướng đông bắc - tây nam bao gồm
đứt gãy Van Li - Tién Hai - Hon Dau; ditt gay Thuy Anh -
Đồ Sơn; đứt gãy Thái Bình - Hải Phòng và đứt gãy sông
Luộc (Kiến An - Hải Phòng)
- Hệ đứt gãy định hướng á vĩ tuyến bao gồm đứt gãy Kinh Điền - Cát Hải- Phù Long và một loạt đứt gãy Bắc
Thuỷ Nguyên và đứt gãy Kinh Môn
Do tính chất phân hoá phức tạp của vận động kiến tạo, trên phạm vi lãnh thổ Hải Phòng xuất hiện các đới nâng, hạ
tương đối Phần đất thị xã Đồ Sơn nằm trên đới nâng Kiến
An - Đồ Sơn, có biên độ nâng đạt 60-120m, đã tạo nên kiến trúc hình thái dương phân chia lãnh thổ Hải Phòng thành
hai phần đông bắc và tây nam có đặc điểm phát triển địa
chất khác nhau trong giai đoạn hiện đại Kiến trúc - hình
thái dương trùng với đới nâng Kiến An - Đồ Sơn rộng khoảng 15km, phần lớn diện tích của nó bị phủ bởi trầm tích
Đệ tứ và đá gốc chỉ lộ ra ở Đồ Sơn, Núi Đối và Kiến An Bề
mặt đồng bằng bao quanh đổi núi chỉ cao 1,0 - 1,5m đến 2 -
3m, Giáp kề phía tây nam là một đói sụt hạ có biên độ sụt
hạ tân kiến tạo tới nghìn mét, tốc độ đạt 0,03 0,04mm/năm Giáp kề phía đông bắc là đới sụt hạ Hải
Phòng, trên đó trong giai đoạn hiện đại lại xuất hiện đới sụt
hạ trung tâm ở vùng cửa sông Bạch Đằng
Hoạt động của các hệ đứt gãy có kèm theo biểu hiện địa chấn cường độ khác nhau Có thể chia vùng đất Hải
Phòng thành 3 vùng có biểu hiện địa chấn khác nhau liên
quan chủ yếu đến hệ đứt gãy định hướng tây bắc - đông
nam Trong đó, vùng trung tâm Hải Phòng được phân định
Trang 9bởi đứt gãy sông Lô và đứt gãy Kinh Môn - Hải Phòng có
biểu hiện động đất đạt cường độ 4,6-5,0 độ Richter, chấn cấp
6 "Io" bằng 7 Dọc theo đứt gãy Kim Thành - Đồ Sơn có 3
chấn tâm động dất đạt cường độ 2,5 - 5,0 độ Richter
1.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT
1.3.1 Thời gian trước kỷ Đệ tứ
Vào nguyên đại Cổ sinh sớm (570 - 410 triệu năm
trước), lịch sử địa chất Hải Phòng gắn liền với sự phát triển
của địa máng - biển sâu kéo dài dọc ven biển Trung Quốc
sang địa phận ven bờ Đông Bắc Việt Nam Vào cuối ky Silua
(410 triệu năm trước) thuộc cổ sinh giữa, khu vực biển này
trải qua một pha chuyển động nghịch đảo tạo sơn, biến vùng
biển sâu trở thành một vùng núi uốn nếp, kết thúc một chu
kỳ kiến tạo có tên là Caledoni và vì thế Đồ Sơn trở thành lục
địa chịu quá trình xâm thực, bóc mòn Vào Đevon giữa, Đồ
Sơn bị biển lấn và môi trường biển ven bờ được thiết lập tích
tụ nên hệ tầng trầm tích Đồ Sơn Cuối Đevon, khu vực bị
nâng cao thành lục địa Bước sang Cổ sinh muộn (bao gồm
kỷ Cacbon và Pecmi, kéo dài 340 - 240 triệu năm trước) chế
độ biển nông nóng ấm được thiết lập trở lại, đã tích tụ các
thành tạo đá vôi nguồn gốc hoá học và sinh vật rất phổ biến
ở ven bờ Đông Bắa Tầng đá vôi này cũng có thể từng có mặt
ở Đồ Sơn, nhưng sau này bị xâm thực hết Trong suốt
nguyên đại Trung sinh, gồm các kỷ Trias, Jura và Kreta
(240-67 triệu năm trước), ở Đồ Sơn tôn tại chế độ lục địa kéo
dai
Nguyên đại Tân sinh gồm 3 kỷ là Paleogen, Neogen
(gọi chung là thời gian Đệ tam, kéo dài 67 đến 2 triệu năm
trước) và Đệ tứ (còn gọi là kỷ Nhân sinh, kéo dài 2 triệu năm
qua) Trong Đệ tam, Đồ Sơn vẫn tôn tại ở chế độ lục địa, có
giai đoạn là núi, có giai đoạn là đồng bằng đồi kiểu bán bình
nguyên Địa hình đôi núi hiện nay, cơ bản được tạo nên nhờ
các chuyển động nâng kiến tạo từ cuối Neogen kéo dài sang
thời gian Đệ tứ
1.3.2 Kỷ Đệ tứ
Trong kỷ Đệ tứ, con người đã xuất hiện trên trái đất
và có các thời kỳ hoạt động của băng hà, khí hậu trái đất
lạnh giá gây đóng băng nước quy mô lớn ở bán cầu bắc và
các vùng núi cao, làm hạ thấp mực nước đại dương thế giới
và các kỳ nóng ẩm xen kẽ làm tan băng gây dâng cao mực
nước Trong kỷ Đệ tứ có bốn kỳ băng hà xen kẽ với các kỳ
tan băng Chúng gây nên những đợt biển tiến và biển thoái
trên các vùng thềm lục địa và dải ven bờ ở quy mô hành
tinh
Thời gian Cánh tân kéo dài từ 2 triệu năm đến 11 nghìn năm trước, được chia thành Cánh tân sớm (2 triệu -
700 nghìn năm trước), Cánh tân giữa (700 - 300 nghìn năm
trước) và Cánh tân muộn (800 - 11 nghìn năm trước) Vào
các kỳ băng hà, mực nước đại dương hạ thấp trên trăm mét
làm phơi cạn các vùng thềm lục địa, khí hậu khô lạnh ở các vùng đóng băng, nhưng lại thường mưa lũ lớn ở các vùng nhiệt đới bây giờ Trong hầu hết chiều dài của thời gian
Cánh tân, khu vực Đồ Sơn nằm trong môi trường lục địa, hoạt động xâm thực, bào mòn ưu thế hơn bồi tụ và địa hình
tương phan hơn hiện nay Trong Cánh tân sớm, môi trường
đổi núi chịu xâm thực bóc mòn trùm lên toàn bộ địa phận
Đồ Sơn hiện nay Sang thời gian Cánh tân giữa và muộn, vùng đổi núi xâm thực bóc mòn bị thu hẹp lại gần giống như
hiện nay, và bao quanh đổi núi là vùng đồng bằng sông lũ
tích tụ nên trầm tích hạt thô của hệ tầng Hà Nội Có lẽ đây
Trang 10là thời kỳ mưa lớn và dòng chảy lũ mạnh Một đợt biển tiến
vào khu vực Đồ Sơn và ven bờ Bắc Bộ đã xảy ra vào nửa sau
Cánh tân muộn, khoảng 3-5 vạn năm trước Dấu vết của
biển tiến này được ghi lại bằng các di tích vỏ hầu hà và các
thêm tích tụ biển cao 10-15m ở Hạ Long, Cát Bà và cả ở Đồ
Sơn, lúc đó là một quần đảo ven bờ Do biển tiến, môi trường
cổ địa lý khu vực xung quanh biến đổi từ cảnh quan vịnh
biển, chuyển dần thành ven bờ châu thổ Cuối cùng, biển
rút ra xa để lại cảnh quan đồng bằng mở rộng trên cả thềm
lục địa vịnh Bắc Bộ ngày nay và đường bờ nằm phía ngoài
cửa vịnh
Thời gian Toàn tân bắt đầu từ 11 nghìn năm trước và
kéo dài cho đến tận ngày nay Đó là thời gian xuất hiện con
người thông minh (Homo sapiens) trên trái đất, chủ nhân
của các nền văn hoá khảo cổ thuộc thời kỳ đá mới và kim
khí Toàn tân là thời gian khí hậu trái đất ấm dần, băng tan
và mực nước biển dâng cao trên quy mô hành tỉnh Dựa vào
các giai đoạn biến đổi khí hậu trên trái đất, Toàn tân được
chia thành 3 kỳ là sớm (11 - 7 nghìn năm trước), giữa (7 - 3
nghìn năm trước) và muộn (3 nghìn năm qua)
Khoảng 11- 7 nghìn năm trước là thời gian biển tiến
vào địa phận Đồ Sơn Biển bắt đầu tiến vào lục địa vào
khoảng 17-18 nghìn năm trước và xuất phát từ độ sâu 100-
190m, tốc độ lúc đầu khá lớn, sau đó chậm dần Đến khoảng
11 nghìn năm trước bờ biển tiến đến độ sâu 60m Vào
khoảng 7-8 nghìn năm trước, biển đã tràn vào phần ven bờ
châu thổ sông Hồng hiện nay và đã làm ngập vùng vịnh
nằm giữa Cát Bà và Đồ Sơn Xung quanh đổi Đồ Sơn - Kiến
An là vùng đầm lầy ven biển chịu ảnh hưởng của thuỷ triều
Thời gian 7- 4 nghìn năm trước là giai đoạn biển tiến tràn ngập khu vực Hải Phòng và lân cận, đường bờ biển mở rộng nhất trong Toàn tân Vào khoảng 7- 6 nghìn năm
trước, vùng cửa sông Bạch Đằng bây giờ là vịnh biển và
đồng bằng tây nam Đồ Sơn đã là vùng biển nông Biển tiến
mở rộng cực đại và đường bờ lùi xa nhất về phía lục địa vào khoảng 5 - 6 nghìn năm trước Về cơ bản, Đồ Sơn lúc này là một quần đảo, nước biển sạch và độ mặn cao đã cho phép
phát triển rạn san hô viền bờ ở bờ đảo Chỉ sau này, khi mực biển hạ thấp, nước biển bị đục và ngọt, san hô Đồ Sơn mới bị
chết hàng loạt Mực biển khá ổn định đã tạo nên các bãi cát
biển, ngày nay được nâng cao thành thềm tích tụ biển bậc
IL
Vào thời gian 4-3 nghìn năm trước, có sự hạ thấp tương đối của mực biển ở khu vực, đồng bằng rìa đổi núi mở rộng đôi chút với sự có mặt của các hồ đầm lây Vùng cửa
sông Bạch Đằng khi ấy cũng là một vùng đầm lầy rộng lớn ven biển, còn phía bắc Tiên Lãng, An Hải là vùng đồng bằng
châu thổ mới bồi
Vào thời gian 3-2 nghìn năm trước (đầu Toàn tân
muộn), mực biển tương đối dâng cao và biển lấn trở lại Các
tích tụ cát do sóng và dòng dọc bờ đã nối liền các đảo nhỏ
riêng biệt ở Đồ Sơn thành một đảo duy nhất (trừ Hòn Dáu),
nối liền Núi Đối với Thuy Hương ở Kiến Thuy và tạo nên các thềm biển hẹp cao 3-3,5m Sau đó, đồng bằng lại bồi tụ lấn
ra biển và sóng vun tụ thành các đê cát chạy từ Minh Đức
(Thuỷ Nguyên) sang nội thành Hải Phòng, Kiến An và sang huyện ly Tiên Lãng inh Van Huy va Tran Đức Thạnh, 1994)
Trang 11Thời gian từ 2 - 1 nghìn năm trước, đây là thời gian
bờ biển tiếp tục tiến ra phía biển do tốc độ bồi tụ đồng bằng
châu thổ khá nhanh ở cả đông bắc và tây nam Đồ Sơn
Trong lịch sử Toàn tân, đây là thời gian rừng sú vẹt phát
triển rộng khắp nhất, gần như ở toàn bộ vùng cửa sông
Bạch Đằng và phía đông bắc Đồ Sơn Tuy nhiên, Đồ Sơn vẫn
là một hòn đảo, phía bắc và tây bắc là một eo biển nước
nông
Khoảng một nghìn đến ð - 7 trăm năm trước, mực
nước biển dâng nhanh dần Tuy vậy, nhờ nguồn phù sa
phong phú, bờ biển vẫn tiếp tục di chuyển ra phía biển do
bồi tụ mạnh trên toàn dải bờ Hải Phòng Cả vùng tây nam
Đồ Sơn và vùng cửa Bạch Đằng đều nằm trong chế độ bồi tụ
cửa sông châu thổ Cuối thời gian này, hệ đê cát cao 2,5-3m
kéo dài từ Hùng Thắng sang Đại Hợp, đến Bàng La được
hình thành Vào thời khoảng 5-7 trăm năm trước, quá trình
bồi tụ đồng bằng lấn biển đã nối quần đảo Đồ Sơn trước đây
thành bán đảo gắn liền với đồng bằng Kiến Thụy (Đỉnh Văn
Huy, 1996 Trần Đức Thạnh uò nnh, 2001)
Trong 5 - 7 trăm năm qua, biển lấn vào lục địa ở
phía đông bắc bán đảo Đồ Sơn do tốc độ ngập chìm lớn hơn
tốc độ lắng đọng trầm tích Vùng cửa Bạch Đằng bị biển lấn,
chuyển từ kiểu cửa sông châu thổ sang kiểu cửa sông hình
phễu (Trần Đức Thạnh, 1987) Ö khu vực tây nam tích tụ
châu thổ vẫn tiếp tục bồi tụ trong điều kiện ngập chìm có
đền bù bồi tích Tuy nhiên, tốc độ bồi tụ ở đây không đều và
gúó những pha bồi-xói xen kẽ chu ki ngắn Trong giai đoạn
hiện nay, mực nước chân tĩnh tiếp tục nâng cao do khí hậu
trái đất ấm lên và đạt 1-1,5mm/năm trong thế kỷ qua Mực
nước biển tại trạm Hải văn Hòn Dấu dâng cao trung bình
2,24mm/năm trong thời gian 1957-1989 Vì vậy, đã xấy ra
ngập chìm không đền bù trầm tích ở đông bắc Đồ Sơn Có một số nguyên nhân gây ra sự thiếu hụt bồi tích: Khoảng 5 -
7 trăm năm trước bán dao Dé Sơn nối liền với đồng bằng vừa bồi lấn mở rộng ở rìa tây nam vùng cửa sông Bạch Đằng
đã ngăn không cho bồi tích dọc bờ tây nam đi lên; Thuỷ triều lớn và dòng triều mạnh lên đã tăng cường phân tán bồi tích
lơ lửng ra khỏi vùng cửa sông Bạch Đằng và dòng chảy tổng
hợp ven bờ hướng thống trị tây bắc-đông nam có xu hướng đưa bồi tích xuống phía tây nam; Trong quá trình phát triển châu thổ, nhiều nhánh nối ngang sông Hồng với hệ thống sông Cầu-Bạch Đằng bị cạn, làm giảm nguồn bồi tích bổ
của thế kỷ XX và mới bắt đầu bồi tụ trở lại khoảng chục
năm qua Ở vùng biển ven bờ, mặc dù có sự biến đổi phức
tạp, song có thể thấy xu thế đường đẳng sâu 5m trong thời gian 1941-1990 lấn về phía lục địa ở phía đông bắc Đồ Sơn,
thuộc cấu trúc vùng cửa sông hình phễu Trong khi đó,
đường này mở lấn ra phía biển ở phía tây nam Đồ Sơn,
thuộc cửa sông ven bờ châu thổ
Hoạt động của con người đã làm thay đổi hình thái địa hình và biến dạng cảnh quan tự nhiên; thay đổi mạng lưới
Trang 12thuỷ văn sông tải lượng và phân bố nước, bồi tích từ luc dia
ra biển; thay đổi hình dạng và cân bằng động lực bờ biển;
làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên và thoái hoá các hệ
sinh thái Đến đầu thế kỷ XX, từ Câu Rao dén Đồ Sơn vẫn
là vùng bãi lầy sú vẹt rộng mênh mông Con đường 14 đã
chặn lấp tất cả các lạch triểu-sông lớn như sông He, sông
Riêng, sông Sàng, ngăn nước và phù sa từ sông Đa Độ sang
khu vực Núi Độc - Lạch Tray Cho đến giữa thế kỷ XX vẫn
còn những côn cát nổi cao dài hàng trăm mét phía ngoài đê
biển đường 14, nay đã bị xói hết Con đê biển đường 14 đắp
năm 1979 đã làm thay đổi hướng bờ tạo cho dòng bồi tích cát
dọc bờ tràn xuống phía nam gây bồi lấp luồng vào bến Xăm -
một bến cá lâu đời Để cải tạo bến và chống sa bồi, Đồ Sơn
đã tiến hành xây kè đọc luồng chống sa bồi cát
1.4 KHOANG SAN
Nam trong dia phận hẹp uà các thành tạo địa chất
bhá đơn giản, Đồ Sơn không có mỏ khoáng sản quan trọng
nào, trừ các mỏ uật liệu xây dựng có quy mô nhỏ uò nước
ngâm có trữ lượng rất hạn chế
Khoáng sản đáng kể nhất là đá quaczit ốp lát lộ ra ở
ven đổi tại Vạn Hương, Ngọc Xuyên, Bến Nghiêng , trữ
lượng 406 nghìn mở Đá ốp có chất lượng trung bình, màu
không đẹp lắm, ngoài ốp lát, có thể sử dụng làm vật liệu xây
dựng các công trình chống axit gặm mòn Thành phần
khoáng vật của đá gồm thạch anh 80-95%; fenspat 3-5%;
hạt vụn silic 2-3% và khoáng vat nang tuamalin, zircon
Cac tinh chats lý co bản của đá ốp lát như sau: kích thước
hạt 0,05 - 0,7mm; độ cứng 6-7 (thang độ cứng tương đối gồm
10 cấp); dung trọng 2,59g/cm”; tỉ trọng 2,64gfcm”; độ rỗng
24: độ hút nước 0,6%; cường độ kháng áp khô 1098kg/cm”;
cường độ kháng áp no nước 1013kg/em* Tuy nhiên, không nên đặt ra vấn đề khai thác đá ốp lát vì làm tổn hại đến giá trị cảnh quan quí giá ở khu du lịch
Vật liệu cát phục vụ trong xây dựng chủ yếu san lấp
nền và một phần làm vữa xây có trữ lượng đáng kể, ước tính
trên chục triệu m° Lượng cát chủ yếu phân bố ở dải cát khu
sân bay cũ trên bề mặt địa hình cao 4-6m và ở khu bãi ngập triều phía bắc bến cá Ngọc Hải Cũng không nên đặt ra vấn
đề khai thác vật liệu cát vì ảnh hưởng đến cảnh quan tự
nhiên và xói lở bờ biển
Nước ngầm là loại khoáng sản quý đối với Đồ Sơn,
nhưng trữ lượng không lớn Tầng chứa nước hệ tầng Đồ Sơn
có lưu lượng ở các lỗ khoan nhỏ, khoảng 0,56 - 4,47 I/s Nude
ton tại trong các khe nứt của đá cứng Chất lượng nước tốt,
độ khoáng hoá 0,085 - 0,13g/1, loại hình hoá học nước
bicacbonat-celorua và là một nguồn đóng góp cho cấp nước của thị xã Nước ngầm trong tầng chứa nước Hà Nội, tuổi Cánh tân giữa-muộn có độ khoáng hoá 0,3 - 9,12 g/l, loại
hình hoá học nước clorua-bicacbonat hoặc bicacbinat-clorua Triển vọng trữ lượng nước nhạt trong tầng này trên diện tích 12km” là 10.000m”ngày Các tầng chứa nước Vĩnh
Phúc, Hải Hưng và Thái Bình chứa nước ngầm lợ và thậm
chí mặn Tuy nhiên, trong các thể cát trẻ ven biển, có gặp
các tầng nước ngầm tầng nông, được bổ sung thường xuyên bằng nước mưa, trữ lượng nhỏ và có thể bị nhiễm mặn nếu
bơm hút quá mức
Trong trầm tích bãi biển Đồ Sơn, có khi gặp các mảnh
tectit Đó là một loại đá thiên thạch có nguồn gốc từ ngoài
vũ trụ rơi xuống, màu đen có ánh, rất cứng, khi mài bóng thì thành một loại ngọc rất đẹp
Trang 132 DIA HINH DIA MAO
2.1 HINH THAI DIA HINH
Với diện tích hơn 3.000 ha thị xã Đồ Sơn là vùng đất
qui tụ tương đối đầy đủ các loại địa hình cơ bản: đổi, đồng
bằng, bờ và đáy biển Toàn bộ địa hình cơ bản trên lại được
phân bố trong một không gian lục địa - biển - đảo Do vậy,
địa hình Đồ Sơn khá phong phú về kiểu loại, đa dạng về
nguồn gốc
2.1.1 Địa hình đổi núi và đồng bằng
Địa hình đổi của Đồ Sơn không cao quá 130m và
thường liên kết với nhau thành dãy đổi như dãy Vạn Hương
(cao 91m ,88m) - Chòi Mòng (cao 101m, 127m) - Đồ Sơn (cao
78m, 87m), kéo dài theo phương tây bắc - đông nam; các dãy
đồi có độ cao thấp hơn như dãy núi Ba Đì cao 46,0m, dãy núi
Nà Hàu cao 68,0m kéo dài theo phương tây bắc- đông nam
Một số đồi sót đứng độc lập như núi Độc cao hơn hai chục
mét hoặc tách khỏi bờ dạng đảo như hòn Dau cao 40,5m
Địa hình đôi cấu tạo chủ yếu bằng các đá trầm tích hệ
tầng Đồ Sơn rất rắn chắc Bề mặt đỉnh tương đối bằng
phẳng, đường chia nước không rõ, sườn thẳng hoặc hơi lồi,
đường nét trơn chu Sườn đổi thường dốc 15 -201
Địa hình đồng bằng ở Đồ Sơn khá bằng phẳng và hầu
hết đất đang còn chua mặn Những nơi đồng bằng cao, thoát
khỏi chua mặn, phân bố hạn chế ở ven chân đổi hoặc trên
các dải cồn cát cao ở Vạn Sơn, Ngọc Hải, Ngọc Xuyên Độ cao
của bề mặt đồng bằng trung bình 1,0 - 1,2m; những nơi cao
độ cao có thể lên tới 3 - 4m nên hỒần toàn không bị nhiễm
mặn Độ nghiêng bề mặt đồng bằng rất nhỏ, dưới 30, những
nơi sát chân đổi và côn cát cổ góc dốc bề mặt tăng lên 1 - 20
44
Địa hình bờ biển và bờ đảo Đồ Sơn gồm hai kiểu bờ
đặc trưng là kiểu bờ tích tụ, thấp, bằng phẳng bao gồm các
đoạn bờ cát, bờ bùn được trải rộng, nghiêng thoải ra phía biển và kiểi bờ tích tụ - mài mòn với những vách xâm thực
dốc đứng cao một vài chục mét nhô ra biển, nằm xen kẽ với
các cung lõm tích tụ Kiểu bờ tích tụ - mài mòn phân bố chủ
yếu trên đoạn bờ của bán đảo Đồ Sơn và đảo Hòn Dáu Dưới chân các vách dốc đứng là các bãi tầng cuội hoặc trơ nền đá gốc Chiều rộng của các bãi tảng, cuội này không lớn chỉ rộng hơn trăm mét khi thuỷ triều hạ thấp nhất và chúng cũng nghiêng thoải về phía biển
Địa hình đáy biển Đồ Sơn được trải rộng từ bờ ra đến
trung tâm vịnh Bắc Bộ Trong khoảng từ bờ đến độ sâu 20 -
25 m, đáy biển Đồ Sơn đang được bồi tụ bởi các vật liệu bùn
sét mang đến từ các vùng cửa sông Cấm - Bạch Đằng, Văn
Úc - Thái Bình và Lạch Tray Nằm ngoài độ sâu 20 - 25m là
phần đáy vịnh Bắc Bộ, nguyên là đồng bằng lục địa mới bị
biển dâng cao làm ngập trong thời gian 8 - 9 ngàn năm
trước
2.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO
2.2.1 Các loại địa hình theo nguồn gốc phát sinh
* Địa hình nguồn gốc lục địa là các kiểu, dạng địa
hình được thành tạo trong môi trường, hoàn cảnh lục địa
như các quá trình xâm thực, xói lở bờ sông, suối, hồ, ao Các dòng chảy thường xuyên (dòng chảy sông) hay dòng chảy
tạm thời (chỉ xuất hiện khi có mưa) ngoài việc xâm thực, xói
mòn còn có một ý nghĩa hết sức quan trọng là vận chuyển
bồi tích dưới dạng lơ lửng, hoà tan, di đáy từ thượng nguồn
Trang 14hay sườn các đổi núi về hạ lưu các sông hay chân sườn đồi
núi tích tụ
Sông Họng (sông Đại Bàng) trước đây được hình
thành bởi dòng chảy thường xuyên xâm thực và khoét sâu
Thời kỳ đó, sông được nối thông với hệ thống thượng nguồn
như sông Văn Úc, sông Đa Độ và không bị đắp chặn cửa
thông ra biển ở Cống Họng Hiện nay sông đã bị đắp chặn ở
cả phần thượng nguồn và phần cửa sông thông với biển Nó
chỉ là một lạch trũng sót lại và được sử dụng làm kênh dẫn
nước vào đồng muối Bàng La hoặc kênh dẫn nước thải của
các cánh đồng xung quanh ra biển Thực tế lòng sông Họng
đang diễn ra quá trình bồi lấp lòng sông, đã chấm đứt quá
trình xâm thực lòng Quá trình bồi lấp lòng sông này sẽ diễn
ra rất chậm nếu chỉ có các dòng chảy tạm thời trong các
mùa mưa hàng năm mang vật liệu từ các vùng cao xung
quanh đến tích tụ, nhưng sẽ rất nhanh nếu con người san
lấp tạo mặt bằng xây dựng
Trên các đỉnh đổi và sườn đổi thị xã Đồ Sơn, nước
mưa đã bóc mòn, rửa trôi các sản phẩm phong hoá và vận
chuyển dần xuống dưới chân đồi, tạo nên dải tích tụqiẹp ven
các chân đổi Quá trình bóc mòn, rửa trôi đỉnh và sườn các
đổi đã diễn ra như vậy hàng triệu năm qua làm cho đỉnh và
sườn đổi có đường nét mềm mại, đỉnh bằng phẳng dạng
vòm, đường chia nước (đường nối các đỉnh đổi với nhau)
* Địa hình nguồn gốc hỗn hợp biển sông, trong đó
sông và bồi tích sông đóng vai trò chủ đạo Đồng bằng này
gồm hầu hết đồng bằng phía trong đê biển trừ các đê cát ở
Ngọc Hải (khu sân bay cũ) Đồng bằng được bồi tụ trong thời
gian khoảng 2- 1 nghìn năm trước Độ cao trung bình của bề
mặt đồng bằng là 1- 1,2 m Địa hình có hướng chung thấp dần về phía đông, đông nam Bề mặt địa hình có tính tương
phan rõ với các địa hình đổi núi xung quanh và với sự có
mặt của các đê cát cổ chạy dài thành tuyến theo hướng tây
bắc - đông nam Thực tế bề mặt đồng bằng này còn thấp
nhưng do có hệ thống đê quốc gia bảo vệ nên nước thuỷ triều
dâng cao không tràn ngập được Tuy nhiên, nước mặn vẫn
có thể ảnh hưởng tới các lớp đất canh tác bề mặt do hiện
tượng thẩm thấu, nhất là vào mùa khô
° Đồng bằng nguồn gốc hỗn hợp đầm lầy - biển phân bố
hạn chế ở phía bắc thị xã, nơi giáp xã Hợp Đức Khu vực này xưa kia nằm trên địa phận một vụng biển cổ bị lấp đầy
trong khoảng 700 - 1000 năm qua Cho đến đầu thế kỷ XX,
về cơ bản vụng biển cổ này mới hoàn toàn được khai phá và
thoát khỏi ảnh hưởng của biển Độ cao bề mặt đồng bằng
thường chỉ cao 0, - 0,8 m, ít khi cao quá 1 m Hầu hết trên
bề mặt đồng bằng này vắng bóng các cồn cát nguồn gốc sóng biển Trầm tích cấu tạo bề mặt đồng bằng là bột sét, cát bột
màu xám, xám nâu dẻo quánh Nằm sâu dưới bề mặt 20 - 40cm thường bắt gặp lớp sét bột hoặc cát bột màu xám xanh
dẻo quánh chứa nhiều di tích thân rễ thực vật ngập mặn và các hợp chất lưu huỳnh ở dạng khử Lớp này được tích tụ
trong môi trường đầm lầy - vụng biển, yếm khí Khi bị ô xy
hoá nó sinh ra chua mặn nặng nề cho đất Dấu tích của vụng biển cổ còn được ghỉ lại qua một hệ thống lạch triều cũ
dày đặc, phân nhánh chằng chịt, phân bố ở các xã Amh
Dũng, Hoà Nghĩa, Hợp Đức thuộc huyện Kiến Thuy Các
sông He, Đồn Riêng, sông Sàng, sông Cốc Liễn chính là
những lạch triểu lớn còn sót lại Trước đây, ở vùng vụng biển
Trang 15cổ này thực vật ngập mặn phát triển rất tươi tốt Hiện nay
đã trở thành các cánh đồng lúa
* Địa hình nguồn gốc biển
- Địa hình tích tụ do sóng
Các bậc thềm biển tích tụ phân bố ở các độ cao khác
nhau và tuổi của chúng cũng khác nhau Tuổi và độ cao của
các bậc thềm ở Đồ Sơn theo quy luật tuổi thềm càng lớn thì
thềm phân bố ở độ cao càng lớn Thầm bậc III cao 10 - 15m
thành tạo cách ngày nay khoảng 30 000 năm Nó phân bố
rất hạn chế, có thể bắt gặp ở tây bắc núi Nà Hầu Chiều dài
thểm tới 200 - 300m, chiều rộng khoảng 100 - 150m Cấu tạo
thểm là cuội, sỏi, cát, bột màu nâu vàng, gắn kết yếu Bậc
thểm này cũng khá phổ biến ở Việt Nam và có thể bắt gặp
được ở nhiều nơi như Nghệ An, đảo Hòn Thu, Cà Ná, Vũng
Tàu, Phú Quốc, đảo Bạch Long Vĩ Ở Quảng Ninh - Hải
Phòng cũng bắt gặp thềm bậc III này ở nhiều nơi như
Hoàng Tân, Tiền An, đảo Cát Bà Chúng được cấu tạo bởi
cát hạt trung, hạt nhỏ, độ mài tròn và chọn lọc tốt Thềm
tích tụ biển bậc II cao 4 - 6m, tạo thành cách ngày nay
khoảng 6 - 5 nghìn năm Chúng thường tạo thành các dải @
hẹp, ngắn ven các cung bờ lõm của đổi núi hoặc nằm trên
các yên ngựa giữa các đỉnh đôi thấp kề nhau Diện tích các
mắng thểm có thể rộng tới 10 ha (khu II Đồ Sơn) Thém chu
yếu được hình thành bởi quá trình tích tụ, một số nơi bắt
gặp thém dạng tích tụ - mài mòn hỗn hợp Chúng có thể
được cấu tạo từ cát trắng, xám vàng chứa vỏ sò ốc hoặc từ
cuội sạn sỏi Một vài nơi tảng đá gốc nhô cao trên bể mặt
thềm Có thể bắt gặp thềm bậc II ở dưới chân các núi Ngọc
Xuyên, Đồ Sơn, Ba Đì, Bến Sét và nhiều nơi khác thuộc
ven biển Việt Nam Thém tich tu bién bac I cao 3 - 3,5 m,
được tạo thành cách ngày nay khoảng 2 - 3 nghìn năm
trước Đây là bậc thểm trẻ nhất và còn được bảo tồn khá tốt
Cấu tạo bề mặt bậc thềm là cát hạt nhỏ mầu vàng xám đôi chỗ lẫn vỏ sinh vật biển Nó thường tạo nên những mảng thềm rộng từ vài mét tới 200 - 300m, dài vài trăm mét nằm
kề sát các vách sóng cũ Một số nơi thềm có dạng hỗn hợp
tích tụ - mài mòn, cấu tạo từ các vật liệu hạt thô như cuội, s0i, đá gốc nổi cao trên mặt
Đê cát ven bờ cao 2 - 4 m, tạo thành cách ngày nay
khoảng 2 - 3 nghìn năm trước Ở Đồ Sơn, đê cát này có thể bắt gặp ở Ngọc Hải và Bàng La Đê cát ở Ngọc Hải có độ cao
3, - 4m, chiều rộng từ 50m đến vài trăm mét, chiều dài một vài km Đặc điểm trầm tích cát cồn ở đây phân biệt khá rõ 2 lớp: lớp cát nhỏ nằm trén day 50 - 80cm, mau xám, có độ
mài tròn, chọn lọc tốt; lớp cát màu vàng dày 200-250m nằm
dưới màu xám chứa nhiều vỏ sò ốc biển, dưới 300m là lớp bùn màu nâu Dé cát ở Bàng La chỉ cao 2 - 2,5m được hình thành sau đê cát ở Ngọc Hải trong cơ chế biển lùi, vào giai
đoạn phát triển đồng bằng tam giác châu Bắc Bộ mở rộng
tới Yên Lập Yếu tố quyết định tới việc tạo thành địa hình này là do dòng chảy dọc bờ kết hợp sóng hướng Nam, đưa vật liệu cát tích tụ cao dần
Bãi cát biển là dạng địa hình phổ biến ở Đồ Sơn Bãi
cát Đồ Sơn được cấu tạo bởi cát lục nguyên hạt nhỏ màu xám độ chọn lọc tốt Bãi cát của bãi tắm I và II có thành
phần độ hạt tương đối đồng nhất, bãi cát của bãi II có thành phần phức tạp hơn gồm nhiều cấp hạt, độ phân tuyển cũng kém hơn bãi Ï và II Bãi có vật liệu thô như tảng, cuội,
sỏi thường gặp ngay dưới chân vách dốc đứng Ở bãi tắm, từ
Trang 16độ sâu 50em trở xuống, vật liệu bãi thô dần từ cát hạt nhỏ
đến cát hạt to và chuyển sang dăm sắc cạnh
- Địa hình tích tụ do thuỷ triều
Bãi triểu cao phân bố ngoài đê quốc gia, chỉ bị ngập
triểu khi nước thuỷ triều đạt mức trung bình đến cực đại
Độ cao bề mặt thường cao 0m - 0,5m, khá bằng phẳng, trên
đó thực vật ngập mặn được trồng phát triển tươi tốt Bề mặt
được phủ một lớp trầm tích sét bột màu nâu xám Bãi triều
cao là đối tượng chính để khai hoang lấn biển và quai đắp
đầm nuôi thuỷ sản
Bãi triều thấp thường xuyên bị ngập triều, chỉ lộ ra
khi triều rút thấp Độ cao bề mặt bãi triều thấp trung bình
là -0,õ đến - 1,1 m khá bằng phẳng Khác với triều cao, bãi
triều thấp hoàn toàn vắng bóng thực vật ngập mặn
* Địa hình tích tụ hỗn hợp triều - sóng và dòng hải
lưu ven bờ Tích tụ bờ ngầm, từ độ sâu 6m trở vào Kể từ độ
sâu này vào bờ, sóng bị biến dạng mạnh do ma sát với đáy
Vật liệu trầm tích từ các cửa sông đưa ra được dòng triều và
các dòng chảy ven bờ mang di phát tán ra xa cửa sông và
lan toả vào biển Bề rộng của bờ ngầm tới 6-7 km Vật liệu
tích tụ của bờ ngầm chủ yếu là cát bột, bùn bột màu nâu
hồng
Tích tụ biển nông ven bờ nằm trong khoảng độ sâu
6m tới 20-25 m Đây là đới chịu tác động của sóng đến đáy
yếu Vật liệu tích tụ ở các mặt đáy chủ yếu là bùn sét mịn
màu nâu hồng từ các cửa sông cung cấp
Phía ngoài đới này là đáy vịnh Bắc Bộ với các dạng
địa hình lục địa bị ngập chim trong khoảng 8 -17 nghìn năm
trước và được bảo tồn khá tốt do hầu như rất ít tích tụ các vật liệu từ sông đưa ra
* Địa hình nhân sinh
Đó là hệ thống đê, kè, kênh, mương do con người đào
đắp trong quá trình phát triển kinh tế Trong số đó, quan
trọng nhất là hệ thống đê quốc gia đủ ngăn không cho nước
mặn xâm nhập vào sâu trong đồng ruộng và biến đổi môi
trường từ môi trường biển (mặn, lợ, ngập triểu) thành môi
trường lục địa (ngọt, không ngập triều)
2.3 ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN ĐỊA HÌNH
2.3 1 Thời gian trước Toàn tân Trong suốt thời gian Đệ tam (kỷ Paleogen và Neogen)
ở Đồ Sơn và Đông Bắc Hải Phòng vẫn tồn tại chế độ lục địa
bán bình nguyên Chỉ vào cuối Neogen và đầu Đệ tứ (khoảng trên 2 triệu năm đến 70 vạn năm trước), Đồ Sơn mới tham gia vào những chuyển động nâng cao Kết quả của
chuyển động này đã tạo nên một bề mặt cao 80 - 127m gồm các đỉnh Vạn Hương, Ngọc Xuyên, Chòi Mòng, Đồ Sơn liên kết lại
Trong thế Cánh tân chế độ lục địa cơ bản vẫn tôn tại
ở Đồ Sơn, nhưng địa hình đã bị phân cách sâu sắc, gồm các
dải đổi núi xen các thung lũng Đợt vận động nâng cao vào Cánh tân giữa đã tạo nên bề mặt địa hình cao 40 - 70m gồm
các đỉnh Ba Đì, Bến Tau, Ba Phúc Đông, Hòn Dáu, Núi Đối,
Trà Phương liên kết lại Đợt vận động nâng cao vào đầu
Cánh tân muộn đã tạo nên bề mặt địa hình thấp hơn, cao 20-30m mà đỉnh Núi Độc là di tích còn sót lại Người ta dự
đoán ở ven bờ Việt Nam trong đó có Đồ Sơn có những lần
mực biển dâng cao 20-30m, 40 60m trong Cánh tân Nhưng
Trang 17chắc chắn hơn cả là chỉ có một lần mực nước biển dâng cao
vào cuối Cánh tân muộn (khoảng 30 - 50 nghìn năm trước)
và ở Đồ Sơn có bậc thểm cao tương đương
2.3.2 Thời gian Toàn tân
Vào cuối Cánh tân, do đóng băng ở bán cầu bắc nên
mực biển ở vịnh Bắc bộ hạ thấp hơn hiện nay 100-120m
Sau đó mực biển thế giới lại nâng cao dần do băng tan vào
đầu Toàn tân sớm khoảng 11 nghìn năm trước, mực nước
vịnh Bắc Bộ đã dâng tới đường đẳng sâu 60m Đến cuối
Toàn tân sớm, khoảng 7 nghìn năm trước, mực biển thỉ còn
thấp hơn hiện nay 5-6m và biển đã tràn ngập toàn bộ lãnh
thổ Đồ Sơn, cảnh quan biển và đảo xuất hiện
Đến đầu Toàn tân giữa, khoảng 5 - 6 nghìn năm trước,
mực biển đã dâng cao xấp xỉ hiện nay Đến giữa Toàn tân
giữa, khoảng 4.500 năm trước, mực biển dâng cao cực đại 5 -
6 m trên mực biển hiện nay Khi ấy biển vùng Đồ Sơn khá
sâu, các đảo đá gốc bị sóng mài mòn tạo nên các vách đứng
Các thềm mài mòn, tích tụ - mài mòn cao 5-6m được hình
thành Bán đảo Đồ Sơn bị tách dời thành một quần đảo
Sau đó vào khoảng cuối Toàn tân giữa (4- 3 nghìn năm
trước) mực biển hạ thấp tương đối hơn hiện nay 4-6m,
nhưng ở Đồ Sơn vẫn tôn tại cảnh quan biển và đảo trong
diện tích các đảo có mở rộng
Vào đầu Toàn tân muộn, gần 3.000 năm trước mực
biển dâng cao tương đối trở lại và cao hơn hiện nay 3-3,5m
Sóng biển lại tích cực mài mòn bờ đá gốc và tạo nên thềm
mài mòn, tích tụ và tích tụ - mài mòn ở bán đảo Đồ Sơn, núi
Đối, núi Trà Phương thuộc huyện Kiến Thuy
Sau đó mực biển hạ thấp dần và đồng bằng châu thổ hiện đại của hệ thống sông Hồng bồi tụ mở rộng ra phía
biển Nhưng chỉ khoảng sát trước công nguyên (2.300 -
2.000 năm trước) đường bờ biển mới lùi tới vị trí núi Đèo
huyện Thuỷ Nguyên - làng An Biên ở nội thành - đồi ở Kiến
An -ởMinh Đức, Khởi Nghĩa (huyện Tiên Lãng) Lúc đó chỉ
có các đảo ở Đồ Sơn được bồi tụ mở rộng với tốc độ chậm
Đến sau công nguyên, đồng bằng khu vực Đồ Sơn mới được bồi tụ mở rộng khá mạnh Quá trình lùi dần của
đường bờ ra phía biển có thể chia được thành một số giai
Thuy) rồi kéo sang Toàn Thắng (huyện Tiên Lãng) Tuổi của
hệ thống đường bờ này đã được xác định là giáp trước thời
Lý (trước thế kỷ X) Trong giai đoạn này, tốc độ bồi tụ ở khu vực Đồ Sơn không đều giữa phần đông bắc và tây nam Kết
quả là đoạn bờ phía tây bắc (Anh Dũng, Hưng Đạo) lõm vào
thành một vịnh nhỏ, còn đoạn bờ núi Đối, Ngũ Phúc phình
Giai doan thứ hai: Đoạn bồ phía tây nam tiếp tục
di chuyển phình ra phía biển, ở phía đông bắc vẫn lõm sâu
do bồi tụ rất chậm Giai đoạn thứ hai kết thúc bằng sự tạo thành hệ thống đê cát cao 2-2,õm chạy dọc theo khu dân cư
các xã Tân Trào, Đại Hợp và Ngũ Phúc Tuổi của hệ đê cát - đường bờ này có lẽ tương đương thời Lý Đến thế kỷ XVI,