Hệ tầng đổ sơn phân bố ở bán đảo Đồ Sơn, đảo Hòn Dấu và Núi Đối với bề dày trên 600m : Trầm tích của hệ tầng còn phổ biến rộng rãi ở Kinh Môn và các đảo ven biển Quảng Ninh.. Hệ tầng bao
Trang 1
HỘI ĐỒNG LỊCH SỬ
THÀNH PHÔ HẢI PHÒNG
Tập |
1990
Trang 2
@ Chi dao bién soan :
THANH UY HAI PHONG va UY BAN NHAN DAN THANH PHO
® 7T chức thực hiện :
HỘI ĐỒNG LỊCH SỬ THÀNH PHO HAI PHONG
@ Tham gia bién soan:
NGUYEN VAN BANG - PHAM BA CHI - NGUYEN THI CHIEN °- NGUYEN MANH
CUONG - NGUYEN ĐỨC CỰ - ĐINH VĂN HUY - NGUYEN CHU HOI - NGO DANG
LỢI - ĐOAN NHÂN - VŨ LỆNH NĂNG - CAO ĐỨC QUANG - NGUYÊN ĐÌNH
QUAN - NGUYEN XUAN RU - NGUYỄN THANH SƠN - TRỊNH ĐỨC TAM - TRAN
ĐỨC THẠNH - KHÔNG BUC THIEM - VU THI THOM - NGUYEN BANG TIEP -
NGUYEN HUU TRi
® Diên lập :
NGUYỄN HỮU TRÍ - HẢI ĐOAN -
Trang 3
MỤC LỤC
Trang
® Chương một : HẢI PHÒNG TRONG LÒNG TỔ QUỐC VIỆT NAM
Phạm BÁ'CNl+ ví án v0 + s2 6010 0516 nh ng 1
® Chương hai : ĐỊA CHẤT
@ Chuong ba : BIA HINH - BIA MAO
Nguyễn Thanh Sơn, Trần Đức Thanh, Binh Van Huy - Sinetron oY
® Chương năm : THỦY VĂN
Nguyễn Văn Bằng, Nguyễn Thị Chến . - - 58
| Trinh Dike TAM 0 om ES Rae reir aoe Re ore 14-
® Chương bảy : ĐẶC ĐIỀM ĐẤT HẢI BHÒNG
Cao Đức Quang, Nguyễn Đức Cự, Nguyễn Thanh Sơn - - - $4
® Chương tám : KHÍ HẬU :
® Chương chín : THỰC VẬT VÀ ĐỘNG VAT
Nguyễn Đình Quản ˆ 2.9 2x26 6516205 2120608 5T ca xIVÊ 34 4M
® Chương mười : DÂN CƯ,
Nguyễn Xuan Ri, Đoan NHÂN ‹ : ¿cv vs ca «cay 6006205 20 4tà
® Chương mười một : LƯỢC SỬ ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH
THANH PHO HAI PHONG
Map dp LAL ese: <n css hale 5 +> aL eel Ase
® Chương mười hai : LƯỢC CHI CAC QUAN, HUYEN, THI XA
Vũ Lệnh Năng, Khẳng Đức Thiêm, Vũ Thị Thơm, Nguyễn Đăng Tiếp, Nguyễn Hữu Trí, NgễÐănệ.lới : đt
® Phụ lục : TÊN CÁC ĐƯỜNG PHỐ CHÍNH
Nguyễn Đăng Tiếp, Nguyễn Hữu Trí . . 234
@ Taidiensnenn chan a See acetate atresia ware ceo hoe nnn dn oe nn eae 345
241
Trang 4~
CHƯƠNG HAI
BIA CHAT
Trong méi quan hệ nhân quả, các đặc điểm và quá trình địa chất, trực tiếp hoặc gián tiếp đều có
tác động tới tất cả các quá trình tự nhiên xảy ra trong các môi trường thủy quyển, khí quyển,
lớp phủ thổ nhưỡng và sinh quyền Thiên nhiên Hải Phòng là một bức tranh sinh động, nhiê u màu sắc mà địa chất chính là phông nền
Hầu hết diện tích Hải Phòng là đất trẻ, mới hình thành khoảng từ vài nghìn năm trước cho tới
hiện nay Nhưng một phần đáng kể đất đai lãnh thổ cấu thành từ những tầng đất đá cổ xưa, được tích tụ, nỗi cao thành lục địa vào hàng trăm triệu năm trước Cấu trúc địa chất vỏ trái đất Hải Phòng
rất phức tạp và ảnh hưởng quyết định tới hình thái địa hình Hải Phòng có một quá trình phát triển
địa chất dài lâu, hiện nay quá trình ấy vẫn đang xảy ra mạnh mẽ, thề hiện qua những mối tương tác
tích cực giữa các nhân tố nội sinh và ngoại sinh, khí hậu và phi khí hậu, giữa lục địa và biển Tài nguyên
khoáng sản đã phát hiện ở Hải Phòng chưa thể nói là giàu có, phong phú Song, vẫn có nhiều triển
vọng tìm thấy các khoáng sản quý hiếm nằm trong các tầng đá cổ chìm sâu dưới mặt biển và dưới mặt đồng bằng
I- DIA TANG
Cho đến nay, chỉ ghi nhận được các trầm tích Paleozoi và Kainoxoi ở Hải Phòng Các đá tiền Cambri
không lộ trên mặt Cac tram tích lục nguyên ở Núi Đèo, Phù Liễn trước đây coi là có tuổi Mezozoi nay
đều được xếp vào Paleozoi
1 - Giới Paleozoi
a) Hé Silua thống thượng - Hé Devon thống hạ liệ tầng xuân sơn (S2 - Dix) do Dovjicov và
đồng nghiệp lập năm 1965 theo mặt cất chuẩn ở phía đông bắc núi Xuân Sơn Hệ ting day gần
500m và chỉ phân bố hạn chế ở khu vực Kiến An Phần thấp địa tầng lộ ra ở Xuân Sơn, Tiên Hội
gồm sét kết, bột kết, cất kết màu xám phớt lục có xen các lớp kẹp vôi và sét vôi, đolomít, chứa
phong phú hóa thạch Phần trên hệ tầng lộ ra ở đổï Phù Liễn gồm sỏi kết xen cát kết màu xám giàu
khoáng vật Fenspat phân lớp dày, nghèo hóa thạch, có màu nâu đỏ khi bị phong hóa
Trong hệ tầng, đã phát hiện được nhiều hóa thạch tay cuộn (brachiopoda), Sanhôê vách đáy
(Tabulata), san hô bốn ta(Tetracoralla) và cả hóa thạch Chân dầu (Gastropoda), Hué biển
21
Trang 5
Hệ tầng có nguồn gốc chuyển tiếp giữa biển và lục địa (chưa rõ quan hệ dưới và trên)
b) Hệ Devon, thống hạ Hệ tầng đồ sơn (Dids) do Phạm Văn Quang và đồng nghiệp lập năm
1979 trên cơ sở "cát kết Đồ Sơn" tuổi Devon của Lantenois (19/7) Hệ tầng đổ sơn phân bố ở bán đảo Đồ Sơn, đảo Hòn Dấu và Núi Đối với bề dày trên 600m : Trầm tích của hệ tầng còn phổ biến
rộng rãi ở Kinh Môn và các đảo ven biển Quảng Ninh
Hệ tầng bao gồm các trầm tích lục địa màu nâu đỏ, tím đỏ, phần dưới hạt thô với các lớp cuội
kết, sạn kết, lên trên mịm dần và có các lớp chứa thành phần vôi Ở bán đảo Đồ Sơn rât phổ biến
cát kết quấczít dạng bản, phân lớp xiên mẫu xám sáng, chặt sit, hạt vừa, có xen các lớp kẹp bột kết
Da Um thấy hóa thạch Tay cuộn (Brachiopoda), trong đó có giá biên (Lingula sp.) hóa thạch cá và thực vật trong các lớp đá phến sét nằm trên, hóa thạch tay cuộn, Huệ biên trong các lớp hạt thô
nằm dưới ở khu nghỉ mát Đồ Sơn
Do nghèo hóa thạch, trước đây hệ tầng đồ sơn được xếp vào các tuổi khác nhau từ Silua cuộn đến Devon giữa Hiện nay, tuổi Devon sớm đã được khẳng định trên cơ sở được coi là trầm tích
chứa phức hệ c sinh Hysterolirtes wangii và cá
c) Hé Devon, thing ha - trung, hệ tầng dưỡng động (Di - 2 đ) do Nguyễn Quang Hạp lập năm 1967 theo mặt cắt điển hình ở làng Dưỡng Động Hệ
tang dưỡng động phân bố rộng rãi ở huyện Thủy Nguyên, bao gồm các đồi đá lục nguyên kể cả
Núi Đèo
Hệ tầng dày 400 - 600m, nguồn gốc lục địa chuyển dần sang môi trường biển ven bờ, bao gồm các trầm tích bột kết, cát kết dạng quăczí, phiến sét màu nâu đỏ, tím đỏ, vàng nhạt Các trim tích thô như sạn kết, cuội kết thường tập trung ở phần thấp, các lớp kết đá vôi xuất hiện ở phần trên
Tại Thủy Nguyên, đã phát hiện được loài san hô vách đáy Syringopora efeliensis Sch và một tập
hợp phong phú hóa thạch Tay cuộn Tập hợp hóa thạch này cho phép gộp tầng dưỡng động vào các
trầm tích chứa phức hệ cổ sinh Euryspirifer tonkinensis hiện đang được coi là có tuổi Devon sớm - giữa, kỳ Eifen ở miền Bắc Việt Nam
Nằm chuyên tiếp trên hệ tầng dưỡng động là điệp lỗ sơn
đ) Hệ Devon, thống trung - bậc Givet, điệp lỗ sơn
(D2Ÿ 1s) do Phạm Văn Quang lập năm 1969 theo mặt cắt điển hình ở Lỗ Sơn (Kinh Môn) Trong
phạm vi Hải Phòng, diệp chỉ phân bố ở Thủy Nguyên (khu vực Tràng Kênh và lân cận) : Trước đây
điệp lỗ sơn được gọi là tầng tràng kênh (Nguyễn Quang Hạp, 1967)
Điệp lỗ sơn gồm có ba phần Phần thấp nhất gồm đá vôi màu xám đen phân lớp trung bình có
xen một số lớn kẹp sét vôi dày 200m Phần giữa điệp dày khoảng 100m gồm chủ yếu là đá phiến
silie_ phân lớp lỏng màu xám tro gặp ở Tràng Kênh, Thụy Khê, Phi Liệt, bến phà Đụn Phần trên điệp
là đá vôi màu xám sáng, trắng, xám hồng tái kết tỉnh mạnh và có cấu tạo khối
Trong điệp, gặp phong phú hóa thạch Ruột khoang lỗ tầng (Sưomaropoidae), San hô vách đáy
và san hô bốn ta, Tay cuộn và các Trùng lỗ (Foraminifera) dạng cầu nguyên thủy Tập hợp hóa thạch
2
Trang 6+
này thuộc về phức hệ chứa Caliapora batersbyi tuổi Devon trung - kỳ Givet
Điệp lỗ sơn nằm bất chỉnh hợp dưới hệ tầng cát bà
_€)#f£ Cacbon - thống hạ, hệ tầng cát bà (Cicb)do Dovjicov và đồng nghiệp lập năm 1965 Hệ
tầng phân bố trên hầu hết diện tích đảo Cát Bà, đảo Long Châu, Núi Voi@%w Lao) Hệ tầng cát
bà còn gặp ở Lỗ khoan 14 xã Bạch Đằng (Tiên Lãng) ở độ sâu dưới 400m
Hệ tầng dày khoảng 1000m Phần dưới là đá vôi màu xám, xám sim và xám sáng, phân lớp dày
và được gọi là "đá vôi ròng" Phần trên là đá vôi xen vôi silit, phiến silicmàu đen Các lớp đá
phiến siliL, thường phân lớp mỏng (đến 10cm) do phong hóa học kém nên hay tạo thành các mái nhô
cha ra trên mặt biển Ờ phần trên có nơi còn gặp các lớp bột kết màu hơi đỏ và bột kết vôi màu
xám phớt lục nằm xen trong đá vôi chứa Bitum như ở phía bấc xã Gia Luận (Cát Hải),
Ở đảo Cát Bà, đã phát hiện được nhiều hóa thạch Trùng lỗ mà đặc trưng là Quasiendothyra,
Plectogyra, Eostafella, Endothyrida Oo phần trên mặt cất còn gặp cả Ruột khoang sợi (Chaetetes sp), San
hô vách đáy (Syrinhopora efintermedia Réd) Ngoài ra,ở Núi Voi còn gặp các hóa thạch San hô vách đáy,
San hô bốn tia và Tay cuộn,
Nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng cát bà là hệ tầng lưỡng kỳ
g) Hệ Caebon, thống trung - thượng - hệ Pecmi Hé tang
lu@ng ky (C2- Pix) Ở Hải Phòng, hệ tầng lưỡng kỳ chủ yếu là đá vôi, phân bố hạn chế ở đông
bắc và tây nam đảo Cát Bà và ở một số đảo nhỏ lân cận Đá vôi Cacbon trung - Pecmi khó phân chia,
Chúng có thành phần khá đồng nhất, mau tring, xám, xám tro, đễ vỡ, phân lớp dày và tạo nên những
khối đồ sộ
Đá vôi Cácbon -trung - thượng có bề đày chung 500 - 600m cấu tạo dạng trứng cá, ít tinh khiết hơn
va phan lớp kém hơn so với đá vôi Pecmi Trong đá vôi Cacbon trung - thượng gặp phong phú hóa thạch
Tring 15 (Foraminifera)
Đá vôi Pecmi có bề dày 200 - 300m, cũng chứa phong phú hóa thạch Trùng lỗ Trong mặt cất Pecmi
ở Hải Phòng vắng mặt các lớp đá silie
Hệ tầng lưỡng kỳ nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng cát bà Quan hệ này quan sát rõ ở rìa bắc đảo
Cát Bà Trong nội bộ hệ tầng, quan hệ giữa đá vôi pecmi và đá vôi Cacbon trung - thượng chưa được
khẳng định là chỉnh hợp hay bất chỉnh hợp
2 - Giới Kainozoi
a) Hé Neogen
Ở vùng trũng Hà Nội, các trằm tích Đệ tam có bề dày tới 5 -6000m Chúng được phân thành 6 điệp
theo thứ tự từ dưới lên là ; Điệp phù tiên tuổi Paleogen (Eoxen) ; điệp đỉnh cao tuổi Paleogen
(Oligoxen), điệp phong châu tuổi Neogen (Mioxen sớm) Ba điệp này có nguồn gốc lục địa Tiếp
theo là điệp phủ cừ tuổi Neogen (Mioxen giữa) có nguồn gốc biển ven bờ xen kẽ lục địa và là
đối tượng tìm kiếm dẫu khí ; điệp tiên hưng tuổi neogen (Mioxen muộn) có phần dưới nguồn gốc
biển ven bờ, phần giữa và trên có nguồn gốc đầm hồ lục địa, châu thổ có chứa nhiều lớp than
nâu ; điệp vĩnh bảo tuổi Neogen (Plioxen) nằm trên cùng mặt cất Đệ tam
Ở Hải Phòng, trừ dảo Bạch Lông Vĩ, nơi trầm tích Neogen lộ trên mặt, các trầm tích Đệ tam ở
23
Trang 7
cả phần biển và phần lục địa đều nằm chìm sâu dưới lớp phủ Đệ tứ Tài liệu hiện có cho phép
nhận định rằng ở phần lục địa của Hải Phòng vắng mặt các trầm tích paleogen và ch: có mặt các
trầm tích ncogen Trong đó sự có mặt của trầm tích thuộc các điệp tiên hưng và Vĩnh Bảo là chắc
chấn hơn cả Trầm tích điệp phủ cừ có lẽ chỉ phân bố han chế ở Vĩnh Bảo và rìa tây nam Tiên Lãng
Hơn nữa, ở phần lục địa, trầm tích Neogen cũng chỉ có mặt ở phía tây nam dải nâng Kiến An - Đồ
Sơn với bề dày dự đoán trên dưới 2000m Ở lỗ khoan 14 của đoàn 36 tại Tiên Lãng, trầm tích Neogen `
gặp ở khoảng độ sâu 70_- 440m và nằm phủ trực tiếp trên đá vôi hệ tầng cát bà Ở lỗ khoan số 3 gần
thị trấn Vĩnh Bảo, trầm tích Neogen gặp ở độ sâu 120m và chưa kết thúc ở độ sâu 1140m
Do còn thiếu những lỗ khoan sâu trên biển, hiểu biết về tầm tích Đệ tam trên khu vực thềm lục địa thuộc Hải Phòng còn rất hạn chế Phân tích cấu trúc địa chất và tài liệu địa vật lý cho phép
dự đoán rằng các trầm tích neogen có mặt ở lục địa Hải Phòng đều tiếp tục phân bố ra phần biển
với bề dày tăng nhanh Ngoài ra, dưới lãnh hải Hải Phòng có thể có mặt các trằm tích Palcogen
- Hệ tầng bạch long vỹ tuổi Mioxen muộn - Plioxen sớm
(NI-N¿ - blv)do Trần Văn Trị và đồng nghiệp lập năm 1977 Hệ tầng gồm chủ yếu các lớp cát
kết, cát kết acko có kích thước hạt không đều, bột kết, sét kết và diatomit (), có chứa asphantit,
Các lớp đã có màu xám vàng, xám tối và xám đen, dốc thoải (8 - 10°), đỗ về phía tây Hệ tầng dày
230m
Hệ tầng bạch long vĩ nguồn gốc lục địa, chứa phong phú hóa thạch thực vật (có tới 23 loài thuộc
6họ) và nhiều di tích bào tử phấn hoa Phức thệ hóa thạch thực vật cho thấy môi trường cổ địa
lý khu vực Bạch Long Vĩ thay đổi từ đầm lầy ngập nước (phổ biến sậy - Phrágmites) vào Mioxen
muộn rồi chuyển sang rừng cận nhiệt đới ôn hòa vào Plioxen sớm (phổ biến sồi - Quercus)
Chưa rõ quan hệ dưới và trên của hệ tằng
- Điệp Vĩnh Bảo - tuổi Plioxen Na vb) được Golvenoc V.K lập năm 1965 trên cơ sở mặt cất lỗ
khoan số 3 của đoàn 36, cách thị trấn Vĩnh Bảo 2km Trong phạm vi Hai Phong, trim tích của điệp
phân bố ở Vĩnh Bảo, Tiên Lãng với bề dày tới 270m : Điệp Vĩnh Bảo còn phô biến rộng rãi ở
đồng bằng Bắc Bộ với bể dày tới 500m và có lẽ còn tiếp tục ra ngoài thềm lục địa
Điệp Vĩnh Bảo có nguồn gốc biển ở phần dưới, xen kẽ giữa biển và lục địa ở phần giữa và
chuyển sang lục địa ở phần trên Trầm tích điệp bao gồm bột kết, sét kết màu xám phớt lục phân
lớp mỏng, cát kết đa khoáng hạt nhỏ chọn lọc tốt chứa khoáng vat glauconit
Phần dưới của điệp chứa phong phú di tích Trùng lỗ biển khơi sống nôi thuộc phức hệ
Globigenrinoides - §phaeroidinella Phần giữa chứa các Trùng lỗ sống đấy ven bờ thuộc phức
hệ Asterorotalia - Pseudorotalia Phần trên không chứa Trùng lỗ Trong điệp còn gặp nhiê u di tích ốc
(Gastropoda), thin mềm hai mảnh vỏ (Bivalvia), các vết in thực vật và một tập hợp bào tử, phấn
hoa rất phong phú mà đặc trưng là Liquidambar và Chenopodium
Trằm tích điệp vĩnh bảo nằm chuyển tiếp trên điệp tiên hưng và bất chỉnh hợp dưới trầm tích
Độ tứ
b) Các trầm tích Đệ tứ :
| Trong lờ bản đồ địa chất Hải Phòng - Nam Định tỷ lệ 1 :200.000(1978), trầm tích Đệ tứ
| được phân chia thành các hệ tầng : Thái Thụy (tudi Pleixtoxen sớm), Hà Nội (Pleixtoxen giữa - muộn),
Trang 8
Vĩnh Phúc (pleixtoxen muộn) Hải Hưng (Holoxen sớm - giữa) vă Thâi Bình (Holoxen muộn)
Nói chung, trầm tích Đệ tứ ở Hải Phòng rất đa dạng, gồm nhiều kiểu nguồn gốc khâc nhau `
(trim tich hang động, sườn tích, tăn tích, lũ tích, aluvi sông, gió, hồ - đầm lầy, tam giâc chđu, bêi
triều, vụng biển vă biển) vă nhiều loại thănh phần khâc nhau (cuội, sạn, sỏi, cât, bột, sĩt, than bùn, vỏ
vôi sinh vat) Bĩ day trầm tích cũng thay đổi tùy nơi Ở Tđy Nam Hải Phòng, trầm tích Đệ tứ dăy
trín 100m (6 LK3, Vinh Bảo) vă thường phủ trực tiếp trín trầm tích Neogen Từ dải nđng Kiến An
- Đồ Sơn trở về phía đông bắc, trầm tích Đệ tứ dăy không quâ 70m vă thường phủ trực tiếp trín
đâ gốc Trong trầm tích Đệ tứ, trầm tích Holoxen ở Hải Phòng đạt tới bề day 30 35m
Ở đông bắc Hải Phòng, tăi liệu của câc đoăn địa chất 204, 37 vă của Viện thiết kế quy hoạch
thănh phố cho phĩp phđn chia địa tầng Đệ tứ như sau :
- Câc trầm tích tuổi Pleixtoxen giữa - muộn (QU - 1II) gồm cuội sạn, sỏi, cât thô nguỗn gốc sông
-lũ, dăy 20 - 30m, trung bình 15m Chúng không lộ trín mặt vă ứng với hệ tầng Hă Nội
- Câc trầm tích tuôi Plebxtexen muộn - phần muộn (OIII) gồm hai tập Tập dưới lă sĩt, cât bột mầu
văng xâm, xanh lam, nđu, đỏ nđu, dẻo, chứa nhiều ở cât văng vă mảnh vỏ thđn mềm dăy 2,3 - 5m vă
phô biến rộng rêi Tập trín lă cât xâm văng, văng nhạt dăy 2 - 15m,trung bình 7m Chúng có nguồn gốc
sông biển, ứng với hệ tầng vĩnh phúc
- Trầm ứch Holoxen sớm - giữa (QIVÌ ' ?) gồm bùn sĩt, bùn cât mău đen, xâm tro chứa nhiều tăn
lich thu vat (dang than bin), chảy Chúng không lộ trín mặt vă phđn bố hạn chế dạng thấu kính
như ở Hồ Sen (quan Lí Chđn), xê Trường Sơn (2Đ Íề )., Câc trầm tích năy có bề dăy 1,5 - 19m,
trung bình 1Ôm, nguồn gốc hồ - đầm lục địa ven biển vă ứng với phần dưới của hệ tầng Hải
Hưng
- Trầm tích Holoxen giữa (QIV”) gồm sĩt, cât bột vă cât nhỏ mău xâm, xâm văng, nđu gu, hồng
nhạt phđn bố rộng khắp ở Hải Phòng vă lộ ra trín mặt thănh một dải hẹp không liín tục ở phía bắc
câc huyện Vĩnh Bảo, Tiín Lêng, An Hải, Thủy Nguyín ở độ cao khoảng 1,5 - 2m trở lín Chúng có
bề dăy trung bình 10m, nguồn gốc biển nông ven bờ vă ứng với phần trín của hệ tầng Hải Hưng
Có lẽ, hầu hết câc trầm tích bở rời lộ ra ở mặt đấy thềm lục địa khoảng từ độ sđu 25 - 30m
tới 60m cũng lă câc trầm tích tuổi Holoxen sớm giữa được lắng đọng văo giai đoạn đầu của biển
tiến holoxen
-Cĩc tram tích Holoxen muộn (OIV° gồm một số lớp có tuổi vă nguồn gốc khâc nhau
+ Trầm tích hồ - đầm lầy tuổi Holoxen muộn phần sớm qiv* thanh phần bùn sĩt chảy, chứa
nhiều di ích thực vật, phđn bố rộng rêi, dăy trung bình 8m
+ Trầm tích biển ven bờ tuổi Holoxen muộn, phần giữa (QIV”) gồm cât bột, cất nhỏ mầu
xâm, xâm đen chứa nhiều vỏ thđn mềm phđn bố rộng rêi, bề dăy trung bình 4m
+ Câc trầm tích đa nguồn gốc tuổi Holoxen muộn, phần muộn (QIV”) Đó lă câc trầm tích
bêi triểu lầy, vụng biển (lagun) thănh phần sĩt bột hoặc sết mău xâm, xâm xanh thường chứa
ˆ _ nhiều thđn rễ thực vật ngập mặn dăy 0,5 - 1m ; trầm tích bùn sĩt, bùn cât xâm đen chứa nhiều vật
chất hữu cơ phđn bố ở câc ao hồ hiện đại, dăy trung bình 4,5m ; trầm tích bêi triều cao chđu thỏ
thănh phần sĩt bột, bột cât mău nđu, nđu văng phủ rộng khắp trín bề mặt đồng bằng ven biển, trầm
tích aluvi sông gồm cât bột, cât nhỏ mău văng, nđu, xâm nhạt ; trầm tích cât biển phđn bố ở câc bêi
25
Trang 9
biển, các đê cát trên bề mặt đồng bằng và ở các đảo Phù Long, Cát Hải, Đình Vũ
Các trầm tích Holoxen muộn tạo nên phần chủ yếu bề mặt đồng bằng ven biển Hải Phòng với
độ cao bề mặt từ khoảng 1,5m trở xuống và còn tiếp tục ở phần mặt đáy vùng biển ven bờ cho
tới độ sâu 25 - 30m
Mặt cắt Đệ tứ ở tây nam Hải Phòng cơ bản cũng tương tự như ở đông bắc nhưng có bề đầy
lớn hơn
Il - CAU TRUC VA LICH SỬ ĐỊA CHAT
1 - Cấu trúc :
Lãnh thổ Hải Phòng nằm ở miền uốn nếp Việt - Trung và thuộc về hai đơn vị cấu trúc cấp nhỏ hơn là phức nếp lồi Quảng Ninh ở phần đông bắc và võng địa hào Hà Nội ở phần tây nam Ranh giới giữa hai cấu trúc này là đứt gãy sâu Kiến An, gần trùng với trục sông Văn Úc, kéo dài theo hướng tây bấc›- đông nam ra phía biển, vòng sát phía ngoài quần đảo Long Châu
Ở ngoài biển, khu vực đảo Bạch Long Vĩnằm trên một khối nâng hướng đông - tây nam Khối
nâng này ngăn cách và song song với khối nâng Cô Tô qua một trũng địa hào có bề day trầm tích
Lainozoi 4 - 5km thềm lục địa phía ngoài Hải Phòng thuộc về bể trầm tích Kainozoi sông Hổ ng Bễ này có trầm tích Kainozoi dày nhất 12 - 14km và bị khống chế bởi hai đứt gãy sâu sông Hồng và
sông Chảy kéo dài từ lục địa ra biển Võng sụt tây nam Bạch Long Vĩ (một khu vực có nhiều triển
vọng dầu kh? nằm trên đơn nghiêng phía đông của bể Kainozoi này Theo tài liệu địa vật lý, bề day
vỏ trái đất khu vực này khoảng 30km
- Khu vực đông bác Hải Phòng thuộc phức nếp lồi Quảng Ninh Phức này là một dai hình lưỡi liềm bao gồm các quần đảo ven bờ đông bắc và dải lục địa ven biển kéo đài tự Móng Cái qua Hòn Gai đến Đồ Sơn - Kiến An rồi vòng sang phía tây tới Phả Lại - Vĩnh Yên =
Phúc nếp lỗi Quảng Ninh được phân thành năm đơn vị cấu trúc nhỏ hơn theo thứ tự từ bắc xuống nam là : phúc nếp lồi dạng địa lũy Yên Tử, phức nếp lõm dạng địa hào Hòn Gai, phức nếp lồi Hạ Long, phức nếp lõm dạng địa hào Hải Phòng và cuối cùng là phúc nếp lồi Kiến An Địa phận đông bắc Hải Phòng có liên quan tới ba đơn vị cấu trúc nằm ở phía nam Các cấu trúc này
đều phân cách nhau qua các đứt gãy hình cánh cung, có hướng tây bắc - đông nam ở lục địa đổi
sang hướng á vĩ tuyến ở ven bờ Hải Phòng và chuyển dần sang hướng đông bắc - tây nam khí đi vào vùng ven biển Quảng Ninh, quần đảo Cát Bà và phần bắc - đông bắc huyện Thủy Nguyên nằm trong
- phạm vi phức nếp lỗi Hạ Long Ở đây có mặt các trầm tích lục nguyên của hệ tầng đướng động, trầm tích cacbonnat và silit của điệp lỗ sơn, hệ tầng cát bà và lưỡng kỳ Phức nếp lô¡ rộng nhất 36km, trung bình 20km, ở đây có biểu hiện hoạt động mác ma yếu Đó là xâm nhập Keratofia xuyên cất hệ tầng dưỡng động ở Bích Nhôi (Kinh Môn) kéo sang Doãn Lại, Thủy Nguyên
Phức nếp lõm Hải Phòng có bề ngang gần 10 km nằm giữa đứt gãy sông Giá và đứt gãy Hải Phòng Hầu hết diện tích của phức nếp lõm nằm chìm dưới lớp phủ Đệ tứ và dưới biển PHậm Văn Quang và đồng nghiệp (1986) dự đoán rằng, phức nếp lõm Hải Phòng là một trững địa hào Mezozoi có nhiều triển vọng về than đá Phức nếp lồi Kiến An rộng 15 km nằm giữa đứtgẫy Hải Phòng và đứt gãy Kiến An, phần lớn diện tích của nó cũng bị phủ bởi trầm tích Đệ tứ và nước biển Đá gốc chỉ lộ ra ở Đồ Sơn, núi Đôi, Kiến An và đảo Long Châu Đó là các trầm tích thuộc các
hệ tầng xuân sơn, đồ sơn và cát bà Quần đảo Cô Tô ở Quảng Ninh là phần kéo dài của phức
26
Trang 10~- Khu vực tây nam Hải Phòng thuộc võng dia hao Hà Nội, hình thành vào thời gian Đệ tam, Võng
được phân thành bốn đối cấu trúc nằm ngăn cách nhau qua các đứt gãy dạng bậc thang đó là cánh
đông bấc, trũng Đông Quan, đới nâng Khoái Châu - Tiền Hải và cánh tây nam
=
Vĩnh Bảo nằm ở rìa trũng Đông Quan Đây là một đới sụt không đồng nhất có bề dầy trâm
tích Kainozoi 5 - 6km Trũng Đông Quan phân cách với đới nâng Khoái Châu - Tiền Hải qua đứt gãy
Vinh Ninh và phân cách với đông bắc qua đứt gãy sông Chảy Đại bộ phận Tiên Lang và một phần
'Đồ Sơn - Kiến An thuộc cánh đông bấc Diện tích này ứng với đới sụt Hải Dương - Tiên Lãng
nằm giữa trũng Đông Quan và khối nâng - phức nếp lỗi Kiến An - Đồ Sơn Đới sụt Hải Dương
- Tiên Lãng lại được phân thành khối nâng tương đối Hải Dương (trầm tích Kainozoi dày 1000m) và
khối sụt tương đối Tiên Lãng (trầm tích Kainozoi dày tới 2000m)
2 - Lịch sử địa chất :
Có thể phân lịch sử phát triển địa chất Hải Phòng thành bốn thời kỳ như sau :
a) Thời kỳ trước địa máng Celazia Từ đầu Ackeozoi đến cuối Protezozoi (3,2 đến l,6 tỷ năm
trước) Hiểu biết về thời kỳ này ở Hải Phòng còn rất it Giống như tình hình chung ở miền Bắc
Việt Nam, trong đại Thái cổ (Ackeozoi) Hải Phòng còn chìm sâu dưới biển Cuối Thái cổ, nhờ những
chuyển động uốn nếp tạo vòm mà nền lục địa nguyên thủy có lẽ được hình thành
Sang đại Nguyên sinh (Protezozoi), chế độ biển lại ngự trị do nền nguyên thủy bị phá vớ biến
thành địa máng kiểu đại đương Vào cuối thời kỳ, nhờ một pha uốn nếp mạnh, vỏ trái đất được
"nâng cao, kết cố, mở rộng và chế độ lục địa lại được thiết lập Quá trình biến chất đã hình thành
móng kết tỉnh chìm sâu dưới lãnh thổ Hải Phòng
b) Thời kỳ địa máng Catazia Cuối Protezozoi đến Siua sớm (khoảngl 6 tỷ đến 420 triệu năm
(rước) Lãnh thổ Hải Phòng thuộc địa máng Caledoww Catazia hoạt động từ cuối Protezozoi Sự có
mặt của hóa thạch Bút đá trong hệ tằng Cô Tô đày 2000m cấu tạo kiểu flish chứng minh cho chế độ
biển sâu ở Duyên hải đông bắc, trong đó có Hải Phòng vào Silua sớm Chế độ địa máng biển ở Hải
Phòng thực sự kết thúc vào cuối Silua sớm nhờ chuyển động nghịch đảo, tạo núi Tuy nhiên, chuyển
động này ở Hải Phòng yếu và chưa thấy biểu hiện hoạt động mác ma kèm theo Nhưng sau nghịch đảo,
cấu trúc Caledoni đã được hình thành, chế độ lục địa thống trị và lãnh thổ Hải Phòng bước sang
một thời kỳ địa chất mới
€) Thời kỳ sau địa máng Catazia, từ Silua muộn tới đầu neogerv (khoảng 420 đến 26 triệu năm
- Giai đoạn Silua muộn - đầu Cacbon sớm
Sau nghịch đảo kiến tạo vào cuối chu kỳ Caledoni, Hải Phòng và lân cận biến thành vùng núi
cao có xen những trũng giữa núi Hệ tầng xuân sơn nguồn gốc chuyển tiếp giữa biển và lục địa
được tích tụ trong thời gian đầu lấp đầy các trũng ấy Hệ tầng đồ sơn với trầm tích vụn thô màu
đỏ có thể nằm rất thoải thuộc thành hệ molat sau tạo núi khá điển hình được tích tụ trong môi trường
Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của hoạt động kiến tạo chu kỳ Hecxin, cấu trúc Caledoni Catazia đã
bị biến cải sâu sắc Vào cuối Devon sớm - đầu Devon giữa biển lấn dần vào mở rộng phạm vỉ trên
địa phận Hải Phòng và miền duyên hải đông bắc Hệ tầng dưỡng đông được tích tụ Vào Devon giữa,
biển tiếp tục mở rộng lên phía bắc Trong điều kiện kiến tạo khá bình ổn, môi trường biển nông,
27