Đây là cuốn binh thư mà Trần Quốc Tuấn đã dày công biên soạn để cho tướng sĩ học tập nhằm chống lại 50 vạn quân Nguyên... + Là thể văn nghị luận thời xưa.+ Đối tượng dùng hịch thường l
Trang 1Đại La mảnh đất định đô lý tưởng
Về lịch sử:
Cao Vương
đã định đô
Vị thế chính trị, văn hóa: Chốn hội tụ bốn phương muôn đời
Về địa lý:
thuận lợi
Trình bày nội dung lợi thế của thành Đại La ?
Trang 22
3 4
Trang 3THỜI GIAN
CÂU 1:
Hội đồng khoa học Hoàng gia Anh đã xét phong 10 vị tướng tài của thế giới được chọn từ 98 vị từ cổ đại đến hiện đại vào tháng 2.1984 Việt Nam vinh dự là nước có hai người con ưu
tú, đó là những anh hùng dân tộc nào?
Hưng Đạo Đại Vương
Trang 4THỜI GIAN
CÂU 2:
“Vó ngựa ……… đi đến đâu,
cỏ không mọc được chỗ ấy”
MÔNG CỔ
Trang 6THỜI GIAN
CÂU 4:
Thể loại của văn bản có tên chữ Hán:
“Dụ chư tì tướng hịch văn”
Hịch
Trang 7Trong cuộc sống, khi cần khích lệ, động viên tinh thần, tình cảm của
ai đó, em sẽ làm gì?
Trang 8Tiết : 103,104,105
(Trần Quốc Tuấn)
I-Đọc và Tìm hiểu chung
1- Tác giả:
+ Trần Quốc Tuấn( 1231? - 1300 ), quê gốc ở huyện Mỹ Lộc,
tỉnh Nam Định Là con của An sinh Vương Trần Liễu, tước hiệu
Hưng Đạo Vương.
+ Ông là một danh tướng kiệt xuất của dân tộc, có công lớn trong hai lần KC chống Mông- Nguyên ( 1285 và 1287) Con người Trần Quốc Tuấn yêu người hiền, trọng kẻ sĩ, vì thế môn khách của ông có những người nổi tiếng như Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu,
+ Đời Trần Anh Tông, ông về trí sĩ ở Vạn Kiếp ( Chí Linh, Hải
Dương) rồi mất ở đó
+ Nhờ ảnh hưởng của tài năng, đức độ của ông mà sau khi ông mất, nhân dân tôn thờ ông và lập đền thờ ở nhiều nơi trên đất nước.
Trang 11Tượng đài Trần Hưng Đạo
tại TP Vũng Tàu
Tượng đài Trần Hưng Đạo
tại Nam Định
Trang 12Tín ngưỡng Thờ Đức Thánh Trần trên mọi miền đất nước
Trang 13Đền thờ Đức Thánh Trần ngày
lễ hội tháng Tám
âm lịch hàng năm tại xã Hưng Đạo (Chí Linh,
Hải
Dương)
Trang 14Đền thờ Trần Quốc Tuấn tại Yên Hưng,
Hà Nam
Trang 15Dựng lại Hội nghị Bình Than tại bến Lục Đầu tại Chí Linh (Hải Dương)
Trang 16Đây là cuốn binh thư
mà Trần Quốc Tuấn
đã dày công biên soạn để cho tướng sĩ học tập nhằm chống lại 50 vạn quân
Nguyên
Trang 17+ Là thể văn nghị luận thời xưa.
+ Đối tượng dùng hịch thường là vua chúa tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh của một phong trào.
+ Mục đích: để cổ động thuyết phục, kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài; hoặc để khích lệ t/cảm tinh thần người nghe.
+ Hịch thường được viết bằng thể văn biền ngẫu( từng cặp câu cân xứng với nhau)
Phần kết thúc: kêu gọi đấu tranh.
* Hoàn cảnh sáng tác: Được viết khoảng trước cuộc kháng chiến chống Mông- Nguyên lần 2 ( 1258 )
So sánh giữa Hịch và Chiếu :
- Hịch: Thể văn nghị luận,
kết cấu chặt chẽ, lập luận
sắc bén, viết bằng văn xuôi
hoặc văn vần Dùng để ban
bố công khai do vua, tướng
nhủ, răn dạy thần dân và
người dưới quyền.
Trang 18* Bố cục: 4 phần
+ Phần 1: từ đầu ''còn lưu tiếng tốt'': nêu những tấm gương trung thần nghĩa sĩ.
+ Phần 2: '' huống chi'' ''vui lòng'' : Tình hình đất nước
và nỗi lòng của vị chủ soái.
+ Phần 3: Tiếp -> “ phỏng có được không”: phê phán thái độ , hành động sai trái của tướng sĩ, chỉ ra việc đúng nên làm.
+ Phần 4: Còn lại: kêu gọi tướng sĩ học tập binh thư yếu lược.
Trang 19II Tìm hiểu chi tiết (Trần Quốc Tuấn)
1 Nêu gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách
“ Ta thường nghe: Kỉ Tín đem mình mà chết thay cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức , một chàng tuổi trẻ thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thế Sung; Cảo Khanh , một bề tôi
xa, miệng mắng Lộc Sơn, không nghe theo mưu kế nghịch tặc”
“ Vương Công Kiên là người như thế nào giữ thành Điếu Ngư nhỏ như cái đấu chống quân Mông Kha đông đến hàng trăm vạn khiến nhân dân đời Tống đến nay còn đội ơn sâu”
“ Cốt Đãi Ngột Lang xông vào chỗ lam trướng xa xôi nghìn trùng, đánh bại quân Nam Chiếu trong vài tuần khiến cho quân trưởng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt”
=> Điểm chung họ đều là Bậc trung
thần, nghĩa sĩ, sẵn sàng xả thân vì vua,
vì nước được sử sách lưu danh
- NT: cách vào đề tự nhiên, khéo léo, liệt
kê, dẫn chứng xác thực , tiêu biểu (từ xưa
-> nay); giọng văn thán phục, ngưỡng mộ
- Tướng: Kỉ Tín, Do Vu, Cảo Khanh, Kính Đức,
Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang
-Quan nhỏ: Thân Khoái
- Gia thần: Dự Nhượng
=> Thuyết phục tướng sĩ tin tưởng vào những
gương trung thần có thật trong lịch sử Từ đó
khích lệ lòng trung quân, ái quốc của tướng sĩ
thời Trần.
Trang 20(Trần Quốc Tuấn)
2 Tình hình đất nước và nỗi lòng của vị chủ soái
“ Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan Ngó thấy sứ giặc đi lại
nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để thỏa lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương
mà thu bạc vàng để vét của kho có hạn Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho để khỏi tai
vạ về sau!”
Trang 21a- Tình hình đất nước :
- Thời loạn lạc, buổi gian nan ( quân
Mông- Nguyên lăm le xâm lược nước ta lần thứ 2).
- Hình ảnh kẻ thù:
+ Sứ giặc đi lại nghênh ngang.
+ Uốn lưỡi cú diều, sỉ mắng triều đình + Đem thân dê chó bắt nạt tể phụ…
+ Đòi ngọc lụa, thu bạc vàng
+ Nuôi hổ đói.
Trang 22-Nghệ thuật:
- Sử dụng từ ngữ gợi tả thái độ, hành động (“ nghênh ngang,
uốn lưỡi, bắt nạt, đòi, thu, vét…”): gợi tả được thái độ ngang
ngược, hống hách, hành động tham tàn vô độ của kẻ thù.
- Những hình ảnh ẩn dụ cụ thể sinh động ( “ lưỡi cú diều,
thân dê chó, hổ đói”): nhằm vật hóa kẻ thù, coi chúng như
những loài cầm thú bẩn thỉu, đáng khinh.
- Giọng văn mang sắc thái mỉa mai châm biếm.
- Câu văn biền ngẫu tạo nên những hình ảnh tương quan đối xứng ( “ lưỡi cú diều- sỉ mắng triều đình”, ( “thân dê chó – bắt nạt tể phụ”)
=> Tác giả vạch trần bản chất của giặc: sự ngang ngược, vô đạo như loại cầm thú; lên án hành vi khinh mạn, hống hách bạo
ngược của giặc.
Tác giả căm ghét khinh bỉ kẻ thù và đau xót cho vương triều đang bị quân Mông Nguyên giày xéo.
Trang 23(Trần Quốc Tuấn)
b Nỗi lòng của vị chủ tướng
“ Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức một nỗi chưa xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng”
Trang 24- tới bữa quên ăn.
- nửa đêm vỗ gối.
- ruột đau như cắt.
Trang 25Luyện tập:
1.Ý nào nói đúng về chức năng của thể hịch?
A Dùng để ban bố mệnh lệnh của nhà vua
B Dùng để công bố kết quả một sự nghiệp
C Dùng để trình bày ý kiến đề nghị với vua, chúa
D Dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh
chống thù trong, giặc ngoài
D
2 Trần Quốc Tuấn viết “Hịch tướng sĩ” khi nào?
A Trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần I (1258)
B Trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần II (1285)
C Trước cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần III (1288)
D Sau ba lần kháng chiến chống quân Nguyên
B
Trang 263 Biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng trong câu văn “uốn lưỡi cú
4 Dòng nào nêu đúng nhất tội ác của giặc Nguyên được nói đến
trong câu “thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để thỏa lòng
tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng để vét của kho có hạn”
Trang 27Luyện tập:
5 Em hãy viết một đoạn văn nghị luận theo lối diễn dịch với độ dài từ 8-10 câu triển khai chủ đề sau:
“Yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ta”
(trong đoạn văn có sử dụng 1 câu phủ định)
Hướng dẫn
Hình thức:
- Đoạn văn diễn dịch có câu chủ đề (đầu đoạn văn)
- Độ dài: 8-10 câu, diễn đạt rõ ràng, lập luận chặt chẽ, lí lẽ, dẫn chứng thuyết phụ
- Sử dụng 1 câu phủ định
Nội dung: trình bày được các luận cứ phù hợp với chủ đề: “Yêu nước
là truyền thống quý báu của dân tộc ta” theo trình tự
Trang 28HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ
+ Tìm đọc toàn bộ bài Hịch tướng sĩ + Học thuộc phần nội dung đã học + Soạn: Các nội dung còn lại.