1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

HSG BUỔI 1 văn 9

82 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nêu Cảm Nhận Của Em Về Nét Đặc Sắc Trong Ngòi Bút Nghệ Thuật Của Tố Hữu Khi Khắc Họa Âm Thanh Ở 6 Câu Đầu Trong Bài “Khi Con Tu Hú”
Trường học trường trung học phổ thông
Chuyên ngành văn học
Thể loại bài luận
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 3,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Hình ảnh quê nhà trong kí ức của người tù-nhân vật trữ tình hiện ra lung linh trong nắng hè với màu sắc,ánh sáng,âm thanh,hương vị…được miêu tả sống động,ngập tràn vẻ đẹp và nhựa sống

Trang 1

Nêu cảm nhận của em về nét đặc sắc trong ngòi bút nghệ thuật của Tố Hữu khi khắc họa âm thanh ở 6 câu đầu trong bài”Khi con tu hú”

- HS cần chỉ ra được âm thanh của Tiếng tu hú, tiếng ve ngân và tiếng sáo diều.

- Ba âm thanh gợi mở 3 trạng huống của mùa hè.”Tiếng tu hú”gọi bầy mang tính chất báo hiệu thời gian bắt đầu dịch chuyển từ xuân sang hè, Tiếng ve ngân báo hiệu mùa hè thực sự bắt đầu Như vậy, hai âm thanh này được dùng để miêu tả thời gian và qua đó bộc lộ khả năng quan sát tinh tế các sự vật, hiện tượng trong đời sống cùng khả năng tái hiện chúng một cách tài tình của Tố Hữu.

- Âm thanh tiếng sáo diều là một âm thanh không có sẵn trong tự nhiên, do con người tạo ra bằng tâm hồn nghệ sĩ tài hoa tinh tế và bằng tài hoa của mình thế nên nó báo hiệu rằng ngoài ngục giam kia có người đang tự do ung dung hưởng thú vui tao nhã nơi đồng quê qua đó toát lên sức sống mãnh liệt sự vui tươi trẻ trung của mùa hè.

- Âm thanh Tiếng sáo diều xuất hiện cuối cùng trong khổ thơ đầu đó là âm thanh gợi lên mối liên hệ giữa người với người nó có tác dụng làm chuyển ý sang khổ thơ 2 để đến với tâm trạng của tác giả nhằm nêu bật sự tương phản giữa người tù tự do và người tù cộng sản.

Trang 3

Cho đoạn thơ:

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

Khắp dân làng tấp nập đón ghe về

Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe

Những con cá tươi ngon thân bạc trắng

Nghe chât muối ngấm dần trong thớ vở

Khi con tu hú gọi bầy

Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần

Vườn râm dậy tiếng ve ngân

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào    

Trời xanh càng rộng càng cao

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không

Trình bày cảm nhận của em về hai đoạn thơ trên.

Trang 4

Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận

-Giới thiệu về tác giả Tế Hanh và bài thơ Quê hương, tác giả Tố Hữu và bài thơ Khi con tu hú.

-Dẫn dắt và trích hai đoạn thơ trong đề bài.

Cảm nhận về hai đoạn thơ.

Về đoạn thơ trong bài”Quê hương”

- Nội dung, cảm xúc.

+ Đoạn thơ thể hiện vẻ đẹp của quê hương miền biển qua nỗi nhớ của nhân vật nhân vật trữ tình khi đã rời xa, với hình ảnh gần gũi bình dị mà xúc động

+Khung cảnh làng quê với không gian bao la kì vĩ của biển cả, của bầu trời mang tầm vóc vũ trụ, mang hồn điệu riêng của làng chài.

+không khí lao động khẩn trương, sôi nổi tấp nập khi đoàn thuyền đánh cá về bến đỗ với cá đầy khoang Khung cảnh ấy gợi ra một cuộc sống yên bình, ấm no vui tươi và hạnh phúc + Hình ảnh con người lao động quê nhà bình dị,chất phác, lam lũ, cơ cực mà vạm vỡ, mạnh mẽ lớn lao sánh ngang với sự kì vĩ của thiên nhiên, biển trời.

+ Tình yêu,sự gắn bó sâu sắc và niềm tự hào của nhân vật trữ tình về vẻ đẹp thiên nhiên và con người quê hương.

Nghệ thuật:

+ Hình ảnh thơ mộc mạc giản dị, giàu sức gợi mang ý nghĩa biểu tượng cao,để lại ấn tượng mạnh mẽ.

+ Ngôn ngữ giàu chất gợi, giàu chất tạo hình và biểu cảm cùng với cách diễn đạt gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của người miền biển, các biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa… được sử dụng linh hoạt tinh tế.

+ Giọng điệu say mê, hào sảng, xen với giọng trữ tình đằm thắm của nỗi nhớ.

Trang 5

Về đoạn thơ”Khi con tu hú”:

Nội dung,cảm xúc.

+ Đoạn thơ là những dòng hồi tưởng về quê hương,về đồng ruộng thân yêu, quen thuộc được đánh thức từ tiếng chim tu hú gọi hè vang vọng vào nhà ngục khi tác

giả bị giam cầm trong xà lim ở Thừa Thiên.

+ Khung cảnh quê hương được mở ra với không gian mênh mông bát ngát của đồng ruộng vào mùa hè, của bầu trời trong xanh, của vườn đang đơm hoa kết trái + Hình ảnh quê nhà trong kí ức của người tù-nhân vật trữ tình hiện ra lung linh trong nắng hè với màu sắc,ánh sáng,âm thanh,hương vị…được miêu tả sống

động,ngập tràn vẻ đẹp và nhựa sống.

+ Nỗi nhớ đồng quê gắn với niềm cô đơn u uất,với khát vọng tự do của người tù phải xa cuộc sống xa đồng bào, đồng chí.

Nghệ thuật:

+ Thể thơ lục bát với giọng điệu tâm tình, ngọt ngào tha thiết, ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc.

+ Hình ảnh thơ bình dị,mộc mạc và bay bổng, lãng mạn, kết hợp nhiều giác quan trong việc cảm nhận và thể hiện vẻ đẹp của quê hương đồng ruộng.

Trang 6

Điểm tương đồng và khác biệt

Trang 7

Điểm tương đồng và khác biệt

Điểm tương đồng:

+ Cả hai đoạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ quê hương với những hình ảnh thân thương gần gũi, hằn sâu trong tâm tưởng, với không gian bao la, bát ngát mang hồn cốt riêng của mỗi vùng quê

qua tình yêu mãnh liệt, cảm xúc sâu lắng.

+ Ngôn ngữ gợi hình gợi cảm hình ảnh thơ dung dị,mộc mạc mà ý nghĩa biểu tượng cao, giọng điệu tha thiết say me.

Sự khác biệt:

+ Khung cảnh quê hương trong đoạn thơ của Tế Hanh mang nét đẹp đặc trưng của không gian miền biển, gắn với những kỉ niệm tuổi thơ, với cuộc sống của con người, cảm xúc thơ nghiêng

về yêu thương tự hào về mảnh đất vẻ đẹp con người quê hương Còn đoạn thơ của Tố Hữu khắc họa khung cảnh làng quê ngày hè với âm thanh, màu sắc, ánh sáng, hương vị đặc trưng với vẻ đẹp lung linh sống động, cảm xúc nghiêng về nỗi niềm cô đơn khắc khoải của một người tù khao khát tự do bị cách ly cuộc sống.

+ Tế Hanh sử dụng thể thơ thất ngôn, hình ảnh thi liệu nghiêng về những trải nghiệm, những quan sát thực tế tuổi thơ với những ấn tượng đậm nét nhất trong ký ức Còn nhà thơ Tố Hữu lại

sử dụng thể thơ lục bát mang đậm phong vị dân gian, hình ảnh thi liệu mang đậm cảm xúc lãng mạn, bay bổng, trong tương quan đối lập giữa thế giới đồng quê tươi đẹp với không gian ngục

tù tăm tối mất tự do.

Trang 8

Kết bài:

- Khẳng định lại giá trị: Với những đặc sắc nghệ thuật bài thơ”Quê hương”và”Khi con tu hú”không chỉ là thành công lớn trong sự nghiệp thơ của hai nhà thơ mà còn thể hiện tình cảm yêu thương, nỗi lòng sâu sắc, cảm động của tác giả đối với quê hương của mình.

- Liên hệ và đánh giá tác phẩm: Đây là những bài thơ tiêu biểu nhất cho hồn thơ dạt dào tình cảm của hai nhà thơ viết

về tình cảm quê hương.

Trang 9

Suy nghĩ về bài học cuộc sống mà em nhận được từ hai câu chuyện sau:

Vật đổi sao dời, mấy năm qua đi, hạt cát đã trở thành viên ngọc lung linh, đắt giá, còn những bạn bè chế giễu nó ngốc thì vẫn chỉ là những hạt cát…  

Câu chuyện 2

Không hiểu bằng cách nào, một hạt cát lọt được vào bên trong cơ thể một con trai Vị khách không mời mà đến đó tuy rất nhỏ, nhưng gây rất nhiều khó chịu và đau     đớn cho cơ thể mềm mại của con trai Không thể tống hạt cát ra ngoài, cuối cùng con trai quyết định đối phó bằng cách tết ra một   chất dẻo bọc quanh hạt cát Ngày qua ngày, con trai đã biến hạt cát gây ra những nỗi đau cho mình thành một viên ngọc trai lấp lánh tuyệt đẹp  

Trang 10

Nội dung tư tưởng của hai câu chuyện

Câu chuyện 1:

+ Người nuôi trai lấy ngọc hỏi từng hạt cát có muốn biến thành ngọc trai không: Cơ hội đổi đời cho các hạt cát.

+ Các hạt cát đều lắc đầu và cuối cùng vẫn chỉ là những hạt cát: Trong cuộc sống, có những người do ngại khó, ngại khổ, chưa nhận ra giá trị đằng sau những khó khăn, thử thách mà thiếu cố gắng, nỗ lực, thiếu ý chí quyết tâm…chấp nhận làm hạt cát bé nhỏ tầm thường.

+ có một hạt cát chấp nhận chui đầu vào trong vỏ trai, trở thành viên ngọc lung linh: Con người chấp nhận cơ hội đổi đời, chấp nhận trải qua một quá trình gian nan, từ hạt cát tầm thường trở thành ngọc trai quý giá.

Câu chuyện 2:

+ Cơ thể con trai bị một hạt cát nhỏ chui vào gây nhiều khó chịu, và đau đớn: cuộc sống vốn tiềm ẩn thử thách biến cố bất thường.

+ Trước những khó khăn, biến cố đó, con người cần biết chấp nhận đối mặt với khó khăn, thử thách để vượt lên, hơn thế nữa cần kiên trì,nỗ lực, quyết tâm, chủ động biến thử thách thành

cơ hội (con trai quyết định đối phó bằng cách tiết ra một chất dẻo bọc quanh hạt cát thành viên ngọc trai)

Trang 11

Bàn luận về bài học cuộc sống từ hai câu chuyện.

Hai câu chuyện đều đem đến bài học cuộc sống sâu sắc:

- Mỗi con người cần có ý chí, nghị lực, dám đối mặt và sẵn sàng chấp nhận khó khăn, gian khổ trong cuộc sống Đó chính là mấu chốt của thành công.

Trong những hoàn cảnh đặc biệt, khi gặp biến cố bất thường hay phải đối diện với cái xấu… con người cần chủ động, quyết tâm, luôn có ý thức vượt qua để đạt tới thành công.

- Khó khăn, gian khổ cũng chính là điều kiện, là cơ hội để thử thách và tôi luyện ý chí con người Vượt qua nó, con người sẽ trưởng thành, tự khẳng định được mình, sống có ý nghĩa hơn và đóng góp cho cuộc đời nhiều hơn.

- Tuy nhiên cần phê phán những kẻ cơ hội chủ nghĩa vì quá tham vọng mà bất chấp tất cả, từ bỏ người thân, bạn bè để đạt được mục đích cá nhân

- Phê phán những con người sống hèn nhát, ngại khó,sống thụ động, thiếu ý chí nghị lực,niềm tin…chấp nhận những hạt cát vô danh, tầm thường có thể bị gục ngã thất bại bất cứ lúc nào trước sóng gió cuộc đời.

Trang 12

Bài học nhận thức và hành động.

- Mỗi con người cần có ý chí, nghị lực, dám đối mặt và sẵn sàng chấp nhận khó khăn, gian khổ trong cuộc sống Đó chính là mấu chốt của thành công Trong những hoàn cảnh đặc biệt, khi gặp biến cố bất thường hay phải đối diện với cái xấu… con người cần chủ động, quyết tâm, luôn có ý thức vượt qua để đạt tới thành công

- Khó khăn, gian khổ cũng chính là điều kiện, là cơ hội để thử thách và tôi luyện ý chí con người Vượt qua nó, con người sẽ trưởng thành, tự khẳng định được mình, sống có ý nghĩa hơn và đóng góp cho cuộc đời nhiều hơn

Trang 13

Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài

Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua bài thơ”Ông đồ”của nhà thơ Vũ Đình Liên, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên

-”Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài”+ Hồn tức là nội dung, ý nghĩa của bài thơ

+ Xác tức là nói đến hình thức nghệ thuật của bài thơ thể hiện ở thể loại, việc tổ chức ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu, cấu tứ…

- Như vậy, theo Xuân Diệu thơ hay là có sự sáng tạo độc đáo về nội dung cũng như hình thức nghệ thuật, khơi gợi tình cảm cao đẹp và tạo được ấn tượng sâu sắc đối với người đọc Chỉ khi đó thơ mới đạt đến vẻ đẹp hoàn mĩ của một chỉnh thể nghệ thuật

- Ý kiến của Xuân Diệu hoàn toàn xác đáng bởi nó xuất phát từ đặc thù sáng tạo của văn chương nghệ thuật Cái hay của một tác phẩm văn học được tạo nên từ sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức Một nội dung mới mẻ có ý nghĩa sâu sắc phải được truyền tải bằng một hình thức phù hợp thì người đọc mới dễ cảm nhận, tác phẩm mới có sức hấp dẫn bền lâu

Trang 14

“Ông đồ”của Vũ Đình Liên là bài thơ hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài

* Về nội dung: Bài thơ”Ông đồ”thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với một lớp người đang trở nên lạc lõng và bị gạt ra ngoài lề cuộc đời; là niềm hoài cổ của tác giả với một nét đẹp truyền thống của dân tộc (thú chơi câu đối ngày Tết) bị tàn phai

- Ở hai khổ thơ đầu, qua hình ảnh ông đồ xưa trong thời kì huy hoàng, tác giả gửi gắm niềm kính trọng, ngưỡng mộ, nâng niu nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc

+ Ông đồ xuất hiện bên phố phường đông đúc vào mỗi dịp tết đến xuân về Không khí mùa xuân, hình ảnh”hoa đào nở”đã tươi thắm nay lại thêm”mực tàu giấy đỏ”làm mọi nét vẽ trong bức tranh tả cảnh ông đồ rõ nét, tươi vui, tràn đầy sức sống Từ”lại”diễn tả sự xuất hiện đều đặn của ông đồ với mùa xuân cùng với công việc viết chữ nho

+ Dòng người đông đúc đều quan tâm và ngưỡng mộ, khâm phục tài viết chữ của ông đồ (Bao nhiêu người thuê viết/Tấm tắc ngợi khen tài) Nghệ thuật so sánh

và thành ngữ”Như phượng múa rồng bay”làm toát lên vẻ đẹp của nét chữ phóng khoáng, bay bổng,…

-> Ông đồ trở thành tâm điểm chú ý của mọi người, là đối tượng của sự ngưỡng mộ Đó là thời chữ nho được mến mộ, nhà nho được trọng dụng.

Trang 15

- Hai khổ thơ tiếp theo tác giả vẽ lên bức tranh ông đồ thời nay, một kẻ sĩ lạc lõng, lẻ loi giữa giữa dòng đời xuôi ngược

+ Mùa xuân vẫn tuần hoàn theo thời gian, phố vẫn đông người qua nhưng ông đồ bị lãng quên, nho học bị thất sủng, người ta không còn quan tâm đến ông đồ, đến chữ ông đồ viết

+ Câu hỏi tu từ và biện pháp nghệ thuật nhân hóa (Giấy đỏ buồn không thắm/Mực đọng trong nghiên sầu) -> Nỗi buồn như lan tỏa, thấm cả vào những vật vô tri vô giác, tất cả như đồng cảm với nỗi niềm của ông đồ trước con người, thời thế Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình (Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài giời mưa bụi bay) gợi không gian buồn thảm, vắng lặng nhấn mạnh sự lẻ loi, bẽ bàng của ông đồ… -> Một nét đẹp văn hóa dân tộc bị mai một, chữ nho đã trở nên lỗi thời, những người như ông

đồ bị rơi vào quên lãng Ông đồ trở thành

“di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn”

- Khổ thơ cuối tác giả dùng để bày tỏ nỗi lòng, khơi gợi ở người đọc niềm thương xót đối với ông đồ cũng như đối với một nét đẹp văn hóa của dân tộc bị mai một + Tết đến, xuân về, hoa đào vẫn nở nhưng không còn thấy ông đồ xưa -> Sau mỗi năm ông đồ đã già và giờ đây đã trở thành ngưừi xưa cũ

+ Câu hỏi tu từ thể hiện niềm cảm thương của tác giả cho những nhà nho danh giá một thời, nay bị lãng quên vì thế thời thay đổi, thương tiếc những giá trị tốt đẹp

bị lụi tàn và không bao giờ trở lại

Trang 16

* Về hình thức:

- Nhan đề bài thơ ngắn gọn nhưng gợi nhiều liên tưởng, chứa đựng

chiều sâu chủ đề tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm qua thi phẩm

- Mạch cảm xúc, mạch ý tạo thành tứ thơ tự nhiên theo dòng thời gian Kết cấu bài thơ giống như một câu chuyện kể về cuộc đời của ông đồ: Mở đầu câu chuyện ông đồ là tâm điểm mọi sự chú ý của công chúng, cùng thời gian ông dần bị quên lãng, đến cuối bài thơ ông đồ đã chìm vào quá khứ, từ đó nhà thơ bộc lộ tự nhiên niềm thương người và tình hoài cổ trước cảnh cũ người đâu

- Thể thơ ngũ ngôn gieo vần chân, lời thơ bình dị nhưng sâu lắng, cô đọng, kết cấu đầu cuối tương ứng chặt chẽ Hình ảnh thơ giản dị, ngôn ngữ thơ hàm súc, gợi hình, gợi cảm Kết cấu đầu cuối tương ứng, sử dụng câu hỏi tu từ, nhân hóa, bút pháp tả cảnh ngụ tình,… gieo vào lòng người đọc niềm tiếc thương, day dứt

- Giọng điệu trầm lắng, xót xa thể hiện đúng tình cảnh của nhân vật trữ tình và hồn thơ của tác giả

Trang 17

Đánh giá, nâng cao

- Sức hấp dẫn từ nội dung và nghệ thuật của bài thơ Ông đồ đã tác động sâu sắc đến người đọc bao thế hệ, khơi gợi niềm cảm thương chân thành đối với những nhà nho danh giá một thời, nay bị lãng quên vì thế thời thay đổi, thương tiếc giá trị văn hóa tốt đẹp bị lụi tàn

- Bài học cho người nghệ sĩ: Bằng tài năng và tâm huyết của mình, nhà thơ hãy sáng tạo nên những thi phẩm hay và giàu sức hấp dẫn từ nội dung đến hình thức Điều đó vừa là thiên chức vừa là trách nhiệm của nhà thơ, là yêu cầu thiết yếu, sống còn của sáng tạo nghệ thuật

- Sự tiếp nhận ở người đọc thơ: Cần thấy thơ hay là hay cả hồn lẫn xác Từ đó có sự tri âm, sự đồng cảm với tác phẩm, với nhà thơ để có thể sẻ chia những tình cảm đồng điệu Khi ấy, thơ sẽ có sức sống lâu bền trong lòng người đọc nhiều thế hệ

Trang 18

Kết bài

Trang 24

Thơ văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 ngoài hình ảnh người chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc còn mang nhịp thở của con người lao động mới.

Bằng những hiểu biết về văn học giai đoạn này, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Trang 25

Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có nhiều cách trình bày bài viết khác nhau miễn là làm sáng tỏ vấn đề, thuyết phục người đọc Với đề bài này, học sinh có thể giải quyết được những nội dung sau đây:

Nêu vấn đề nghị luận: Thơ văn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 ngoài hình ảnh

người chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc còn mang nhịp thở của con người lao động mới.

2.1 Giải thích nhận định: Hiện thực của đất nước ta từ 1945- 1975 là hiện thực của những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại và công cuộc xây dựng cuộc sống mới đi

lên CNXH Hiện thực đó đã tạo nên cho dân tộc Việt Nam một vóc dáng nổi bật: vóc dáng người chiến sĩ luôn trong tư thế chủ động chiến đấu chống kẻ thù, vóc dáng con người lao động mới trong những ngày đầu tiến lên xây dựng XHCN.

Hình ảnh người chiến sĩ và người lao động mới hòa quyện, tạo nên vẻ đẹp của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam Và điều này làm nên hơi thở, sức sống của văn học giai đoạn 1945- 1975.

Trang 26

2.2 Chứng minh: Học sinh đưa dẫn chứng để làm rõ nhận định:

Hình ảnh người chiến sĩ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc:

Họ là những con người ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi: Đó là những người nông dân mặc áo lính trong bài Đồng chí của Chính Hữu, đó là những chàng trai trí thức trẻ trung tinh nghịch trong Bài thơ

về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, đó là những cô gái thanh niên xung phong trong Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê cho đến hình ảnh người mẹ trong Khúc hát ru… của Nguyễn Khoa Điềm Họ có lòng yêu nước sâu sắc, có ý chí quyết tâm chiến đấu chống kẻ thù xâm lược.

Hoàn cảnh sống chiến đấu đầy khó khăn, gian khổ, thiếu thốn song họ luôn có tinh thần lạc quan và tình đồng chí, đồng đội cao đẹp.

Hình ảnh người lao động mới:

Người lao động trong Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận mang nhịp thở tươi vui, hăm hở, hòa mình cùng trời cao, biển rộng Đó là những con người mới mang tầm vóc lớn lao, phi thường, hăm hở

ra khơi với tất cả sức trẻ và trí tuệ của mình, chủ động trong công việc “ Ra đậu dặm xa…” Họ chiến đấu với muôn trùng sóng gió bằng nhiệt tình lao động, bằng niềm lạc quan tin tưởng vào công cuộc xây dựng CNXH Đó là những con người sống có lí tưởng và tràn đầy niềm lạc quan Họ thực sự tìm thấy niềm hạnh phúc trong công việc lao động đầy gian khổ của mình.

Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long mang nhịp thở của người lao động mới với phong cách sống đẹp, suy nghĩ đẹp, sống có lí tưởng, say mê nhiệt tình trong công việc, quên mình vì cuộc sống chung, vô tư thầm lặng cống hiến hết mình cho đất nước Công việc, cuộc sống của họ âm thầm, bình dị mà cao đẹp, tuy lặp lại đơn điệu song họ rất nhiệt tình, say mê gắn bó với nó.Họ thực sự tìm thấy niềm hạnh phúc trong lao động, cống hiến.

Trang 27

2.3- Đánh giá, bình luận:

Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 đã đáp ứng được những yêu cầu của lịch sử và thời đại Ở ngoài tiền tuyến khói lửa là hình ảnh của những người lính dũng cảm, kiên cường Nơi hậu phương là những người lao động bình dị mang nhịp thở của thời đại mới Hình ảnh người chiến sĩ và người lao động đã kết tinh thành sức mạnh của con người và dân tộc Việt Nam thế kí XX.

Các tác giả văn học thời kì này vừa là nhà văn, nhà thơ, vừa là người lính, người lao động cầm bút để ca ngợi về con người và dân tộc Việt Nam với niềm say mê và tự hào Họ đã làm nên vẻ đẹp rạng ngời và sức sống mới mãnh liệt cho Văn học Việt Nam.

Khẳng định lại vấn đề nghị luận và nêu suy nghĩ hoặc liên hệ mở rộng của bản thân.

Trang 28

Nhà văn Nguyễn Dữ đã kết thúc Chuyện người con gái Nam Xương bằng chi tiết Vũ Nương hiện về gặp chồng rồi sau đó biến mất.

Có ý kiến cho rằng: giá như nhà văn để Vũ Nương trở về trần gian sống hạnh phúc cùng chồng con thì kết thúc của truyện sẽ có ý nghĩa hơn Có người lại nhận xét: cách kết thúc của tác giả như vậy là hợp lí.

Suy nghĩ của em về hai ý kiến trên.

Trang 29

1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm, vấn đề

2 Bàn luận

2.1 Nêu tình huống và những tình tiết chính dẫn đến kết thúc của truyện

2.2 Về ý kiến: “Giá như nhà văn để Vũ Nương trở về trần gian sống hạnh phúc cùng chồng con thì kết thúc của truyện sẽ có ý nghĩa hơn”

- Đây là cách kết thúc thường gặp trong các truyện cổ dân gian, thể hiện quan niệm ở hiền gặp lành, cái thiện thắng cái ác của người lao động, thể hiện niềm tin, niềm lạc quan của họ Đó cũng là truyền thống nhân đạo của dân tộc, cũng là một trong những nội dung của văn học trng đại Việt Nam

- Cách kết thúc truyện như vậy có thể chấp nhận được vì không trái với tinh thần nhân đạo của văn học Tuy nhiên điều này sẽ ảnh hưởng tới giá trị  hiện thực và logic phát triển của cốt truyện

Trang 30

- Kết thúc truyện như vậy là hoàn toàn hợp lí vì nó vừa thể hiện được tư tưởng của tác giả, vừa đảm bảo tính lôgic của cốt truyện đồng thời phản ánh  một cách chân thực, khách quan số phận của người phụ nữ trong xã hội phong 2.0 kiến.

3 Đánh giá khái quát 1.0

Cách kết thúc câu chuyện của nhà văn không chỉ góp phần tạo nên sức sống của tác phẩm mà còn khẳng định tài năng của tác giả

Trang 31

Câu 2 (6 điểm). Suy nghĩ của em về câu chuyện sau (viết bài nghị luận ngắn):

Sau trận động đất và sóng thần kinh hoàng ở Nhật Bản, tại một trường tiểu học, người ta tổ chức phân phát thực phẩm cho những người bị nạn Trong những người xếp hàng, tôi chú ý đến một em nhỏ chừng chín tuổi, trên người chỉ mặc một bộ quần áo mỏng manh Trời rất lạnh mà em lại xếp hàng cuối cùng, tôi sợ đến lượt em thì chắc chẳng còn thức ăn nên đến gần và trò chuyện với em

Em kể thảm họa đã cướp đi những người thân yêu trong gia đình: cha, mẹ và đứa em nhỏ Em bé quay người lau vội dòng nước mắt Thấy em lạnh, tôi cởi chiếc áo khoác choàng lên người em và đưa khẩu phần ăn tối của mình cho em: “Đợi tới lượt cháu chắc hết thức ăn rồi, khẩu phần của chú đó, chú ăn rồi, cháu ăn đi cho đỡ đói” Cậu bé nhận túi lương khô, khom người cảm ơn Tôi tưởng em sẽ ăn ngấu nghiến ngay lúc đó, nhưng thật bất ngờ, cậu mang khẩu phần ít ỏi ấy đi thẳng đến chỗ những người đang phân phát thực phẩm, để túi thức ăn vào thùng rồi quay lại xếp hàng

Ngạc nhiên vô cùng, tôi hỏi tại sao cháu không ăn mà lại đem bỏ vào đó Cậu bé trả lời: “Bởi chắc còn có nhiều người bị đói hơn cháu Cháu bỏ vào đó để cô chú phát chung cho công bằng.”

(Dẫn theo báo Dân trí điện tử)

Trang 32

* Nêu được ý nghĩa của câu chuyện: Thể hiện tình yêu thương ấm áp, sự đồng cảm, sẻ chia giữa những con người đang ở trong hoàn cảnh éo le, hoạn nạn Điều này có thể thấy qua nghĩa cử cao đẹp của nhân

vật “tôi” đối với em nhỏ cũng như suy nghĩ, việc làm đáng trân trọng của em bé bất hạnh 1,5

Bàn luận về vấn đề tình yêu thương giữa con người với con người trong cuộc sống:

- Trong cõi đời, tình yêu thương giữa con người với con người là một giá trị cao quý, là điều cần thiết mà ai cũng phải hướng tới (VD minh họa) 0,75

- Trong hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn, lòng nhân ái càng cần thiết để sưởi ấm những mảnh đời bất hạnh (VD minh họa) 0,75

- Lẽ “công bằng” trong khó khăn, hoạn nạn là biểu hiện cao nhất của tình yêu thương giữa con người với con người (VD minh họa) 0,75

* Liên hệ bản thân và rút ra bài học:

Mỗi người cần biết sống yêu thương, gắn bó, có trách nhiệm với cộng đồng; đặc biệt là cần quan tâm, giúp đỡ những kiếp đời kém may mắn 1,0

Trang 33

Danh ngôn có câu:

Trang 34

* Giải thích ý kiến: 1,0

Ý nghĩ: là điều nảy sinh ra trong đầu óc do kết quả của hoạt động trí tuệ của con người.

Lời nói: là những điều con người nói ra do nhu cầu và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.

Việc làm: là hành động cụ thể của con người.

Nụ hoa, bông hoa, quả ngọt: Là quá trình phát triển tự nhiên, tất yếu theo quan hệ nhân - quả Trong đó, nụ hoa là vẻ đẹp, giá trị tiềm ẩn; bông hoa là giá trị, vẻ đẹp đã bộc lộ song chỉ tồn tại trong giới hạn thời gian; quả ngọt là giá trị, vẻ đẹp đã được bộc lộ trọn vẹn để tạo ra những hiệu quả viên mãn.

=> Câu danh ngôn trên không chỉ xác định mối quan hệ biện chứng giữa ý nghĩ, lời nói với việc làm mà còn đặt ra một yêu cầu đối với chúng: có suy nghĩ tốt mới

có lời nói hay và từ đó mới có việc làm đẹp, có ý nghĩa, giá trị.

Trang 35

Bàn luận vấn đề:

*Ý nghĩ: Thí sinh bàn luận những cơ sở hình thành ý nghĩ (sự hiểu biết, năng lực nhận thức, bản tính của con người ) Từ đó xác định yêu cầu đặt ra với ý nghĩ là phải trong sáng, sâu sắc, đúng đắn, tích cực để khởi đầu cho những điều tốt đẹp

- Mỗi người phải biết tự nâng cao hiểu biết, mở rộng tầm nhận thức, sửa đổi và hoàn 1,0 thiện tâm tính, nhân cách để tránh bị tác động tiêu cực từ cuộc sống làm vẩn đục tâm hồn

Lời nói: Lời nói được hình thành do nhu cầu của bản thân về giao tiếp trong cuộc sống trong những hoàn cảnh, đối tượng cụ thể và mục đích nhất định

Lời nói giúp chúng ta biểu đạt suy nghĩ, cảm xúc, truyền tải thông tin Nó có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến người khác

- Yêu cầu đặt ra là lời nói cần tế nhị, sâu sắc, phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp, đạt được hiệu quả cao nhất về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 1,0

• Con đường để đáp ứng những yêu cầu đó là tích lũy hiểu biết, có ý thức đầy đủ về hiệu quả, khả năng tác động của lời nói để thận trọng phát ngôn

• Việc làm: Là hoạt động thể chất và tinh thần để tạo ra những giá trị về vật chất và tinh thần phục vụ mọi nhu cầu trong cuộc sống

• Việc làm thể hiện năng lực, phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm của bản thân; là con đường gắn lý thuyết với thực hành

• Yêu cầu đặt ra là việc làm phải có mục đích rõ ràng, phương pháp thực hiện chuẩn xác, hiệu quả cụ thể

Phải tích lũy tri thức, rèn luyện kinh nghiệm, kỹ năng, tính thực tiễn cao để làm việc tốt 1,0

Trang 36

Bài học:

Ý nghĩ gắn với hiểu biết, tâm hồn và nhân cách Hiểu biết sâu thì tâm hồn phong phú, nhân cách đẹp mới có được ý nghĩ sâu sắc, có tầm vóc Đây là cái hạt mầm quan trọng nhất, là khởi đầu, xuất phát của tất cả Ý nghĩ đẹp, nói lời hay, làm việc tốt là biểu hiện cao đẹp của thanh lịch - văn minh, nhất là với học sinh.

Tuy nhiên, có ý nghĩ tốt chưa chắc đã có lời nói hay và việc làm giá trị Cần phải học nói để lời nói được giá trị và giàu sức thuyết phục Bởi ngôn ngữ là công cụ trực tiếp của tư duy, ngôn ngữ thể hiện trình độ nhận thức, phẩm chất, tâm hồn của conngười Cần phải học làm việc để biết và làm tốt Cần có ý thức và lòng tự trọng để lời nói đi đôi với việc làm 1,0

Trang 37

Nhà thơ Robert Frost(1874-1963) viết: “Trong rừng có nhiều lối đi, và tôi chọn lối đi không có dấu chân người”.

Nhà văn Lỗ Tấn(1881-1936) lại nói: “Kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường Người ta đi mãi thì thành đường thôi”.

Nêu suy nghĩ của em về hai cách chọn đường trên.

Trang 38

1.Mở bài :

Giới thiệu vấn đề và trích dẫn hai ý kiến :

Trong cuộc sống, có nhiều con đường dẫn tới thành công, nhưng quan niệm về con đường của mỗi người người lại khác nhau Nếu nhà văn Lỗ Tấn từng khẳng định: “Kỳ thực trên mặt đất vốn làm gì có đường Người ta đi mãi thì thành đường thôi” thì nhà thơ Robert Frost lại viết: “Trong rừng có nhiều lối đi, và tôi chọn lối đi không có dấu chân người” Vậy ta sẽ chọn cho riêng mình lối đã có dấu chân hay đường đã có sẵn để bước đi trong cuộc sống?

Trang 39

2.Thân bài :

2.1.Giải thích hai ý kiến:

– Lối đi đã được người ta đi mãi thành đường: lối đi cũ, cách làm cũ, dễ dàng, đã quen thuộc, đã nhiều người thực hiện,

– Lối đi chưa có dấu chân người: lối đi, cách làm sáng tạo, mạo hiểm, dũng cảm đối đầu với khó khăn

– Bằng cách nói hình ảnh, hai câu nói trên nêu lên những lựa chọn khác nhau để làm nên thành công trong hành trình cuộc sống của mỗi con người Mỗi người có một lựa chọn riêng, mỗi lối đi đều có những thuận lợi và khó khăn riêng

thu cái mới,…

Trang 40

2.2.Bàn bạc,đánh giá

– Mỗi lối đi đều có những thuận lợi và khó khăn riêng

Lối đi đã được người ta đi mãi thành đường: đây là lối đi an toàn, nhiều thuận lợi vì đã có người đi trước, mình có thể rút kinh nghiệm để thành công, đến đích sớm Tuy nhiên con người sẽ không còn nhiều cơ hội để tìm

ra cái mới, tìm cơ hội chinh phục và khám phá

Lối đi không có dấu chân người: đây là lối đi, cách thức nhiều trở ngại, nhiều khó khăn phải đối đầu, buộc con người phải dũng cảm, phải sáng tao, thậm chí mạo hiểm Lối đi ấy có thể có rủi ro, nhưng con người phải biết chấp nhận để có được thành công cho lần sau Nếu thành công, con người có niềm vui, niềm hạnh phúc của người tiên phong, người mở đầu

– Hai ý kiến trên thực chất bổ sung cho nhau, con người sẽ có được thành công khi vừa biết kế thừa kinh nghiệm của người đi trước, tìm lối đi an toàn, lại vừa sáng tạo kiếm tìm cái mới như một sự khởi nghiệp

Ngày đăng: 12/10/2022, 17:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh - HSG BUỔI 1   văn 9
hi tiết thơ đậm chất hiện thực, thành ngữ “cháy tàn cháy rụi” đem đến cảm nhận về hình ảnh làng quê hoang tàn trong khói lửa của chiến tranh (Trang 53)
- Cái bình nứt – hình ảnh ẩn dụ về conngười khiếm khuyết, kém may mắn nhưng vẫn mong muốn làm tốt công việc như 1 người bình thường - HSG BUỔI 1   văn 9
i bình nứt – hình ảnh ẩn dụ về conngười khiếm khuyết, kém may mắn nhưng vẫn mong muốn làm tốt công việc như 1 người bình thường (Trang 64)
•- Hình ảnh cái bình nước – người khiếm khuyết đã có những suy nghĩ thật đẹp. Anh biết được hạn chế của mình, anh buồn bã nhưng ko bất lực, tự - HSG BUỔI 1   văn 9
nh ảnh cái bình nước – người khiếm khuyết đã có những suy nghĩ thật đẹp. Anh biết được hạn chế của mình, anh buồn bã nhưng ko bất lực, tự (Trang 65)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w