1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tk Ôn Hsg Văn 9-1.Doc

104 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương pháp Viết Mở Bài Kết Bài Hay
Người hướng dẫn GV. Nguyễn Đình Vương
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Tài liệu ôn thi
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 797 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VĂN HỌC TRUNG ĐẠI CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG TRUYỆN KIỀU 1 – Mời qúy thầy cô tham gia vào nhóm Tài liệu ôn thi hsg ngữ văn 6 7 8 9 để tải bài cho tiện nhé (Bộ 9 190 đề 850 trang, Tặng TL ôn, GA 5[.]

Trang 1

Mời qúy thầy cô tham gia vào nhóm: Tài liệu ôn thi hsg ngữ văn 6.7.8.9 để tải bài cho

tiện nhé (Bộ 9: 190 đề 850 trang, Tặng TL ôn, GA 5 HĐ,phụ đạo, đề đọc hiểu, đề ôn vào 10)

P1.CHUYÊN ĐỀ 1:VĂN HỌC TRUNG ĐẠI:

( 1 TRONG 14 CHUYÊN ĐỀ CỦA BỘ ĐỀ HƠN 600 TRANG)

PHƯƠNG PHÁP VIẾT MỞ BÀI KẾT BÀI HAY

(ÔN THI HỌC SINH GIỎI)

Có nhiều yếu tố để làm nên một bài văn hay, và người ta thường chú trọng phần nội dung(thân bài) mà quên đi rằng mở bài và kết bài cũng quan trọng không kém Mở bài đánh dấubước khởi đầu trong quá trình trình bày vấn đề nghị luận, và kết bài cho ta biết việc trìnhbày vấn đề đã kết thúc để lại ấn tượng trong lòng người đọc Để viết được một mở bài vàkết bài hay, lôi cuốn cũng là một kĩ năng rất quan trọng

I PHƯƠNG PHÁP VIẾT MỞ BÀI

1 Tầm quan trọng của một mở bài hay:

Nhà văn M.Gorki đã từng nói: “Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu, cũng nhưtrong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của tác phẩm và người ta thường tìm nó rất lâu”.Thật vậy, nhiều bạn trẻ thường gặp khó khăn trong việc mở đầu bài văn của mình Một mởđầu hay sẽ giúp các bạn có thêm cảm hứng cho bài viết của mình, giúp bài viết được trôichảy hơn Mở bài hay còn tạo ấn tượng cho giám khảo Và người đọc thấy được sự thíchthú khi cảm nhận bài văn ngay từ phần mở đầu thì có thể khẳng định được chất lượng bàivăn đạt giá trị cao Một bài văn cần nhiều kỹ năng và mở bài là một kỹ năng quan trọngcho thấy người viết đã xác định đúng hướng và đi sâu vào vấn đề cần thể hiện

2 Các yếu tố của một mở bài hay:

Để có một mở bài hay cho một bài viết không hề dễ dàng, hay ở đây không chỉ là nội dungthể hiện đủ đúng ý mà mở bài hay còn được thể hiện qua việc sử dụng ngôn từ viết hay,ngôn ngữ của mỗi người là khác nhau vì cách cảm nhận văn học trong mỗi người là khácnhau nên trau dồi về kiến thức văn học cũng quan trọng Có hai nguyên tắc để viết mở bàihay: thứ nhất là nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài hay còn gọi là làm “trúng đề”; thứ hai

là chỉ được phép nêu những ý khái quát về vấn đề hay là tóm tắt nội dung thể hiện trongbài viết một cách súc tích nhưng vẫn thể hiện ý rõ diễn đạt

Một mở bài hay cần có các yếu tố:

-  Ngắn gọn: ở đây được hiểu mở bài hay ngắn gọn là ngắn về số lượng câu và nội dung thểhiện, số lượng câu chỉ cần khoảng 4 - 6 câu, nội dung chỉ cần sự tóm tắt ngắn gọn Phần

Trang 2

mở bài quá dài dòng không những khiến bạn mất thời gian mà còn khiến bạn bị cạn kiệt ýtưởng cho phần thân bài, đôi khi mở bài dài quá khiến sai lệch ý trong cách thể hiện Hãyviết mở bài là sự tóm tắt, khơi nguồn nội dung ít để người đọc cảm nhận được sự tò mò và

đi chinh phục nội dung tiếp theo ở phần thân bài

-  Đầy đủ: Một mở bài hay đầy đủ là phải nêu được vấn đề nghị luận, câu nói dẫn dắt, ngắnnhưng đầy đủ ý mới quan trọng, vấn đề chính cũng như nội dung quan trọng bắt buộc phảinhắc đến phần mở bài

-  Độc đáo: Độc đáo trong một mở bài hay là gây được sự chú ý cho người đọc về vấn đềcần viết bằng những liên tưởng khác lạ, tưởng tượng phong phú trong các bài văn miêu tả,

kể tạo sự thu hút bất ngờ cho người đọc Sự độc đáo trong mở bài khiến bài viết của cácbạn trở nên nổi bật và nhận được sự chú ý và theo dõi của mọi người về chất lượng bài văn

- Tự nhiên: Dùng ngôn từ giản dị, mộc mạc trong cách viết bài, đặc biệt thể hiện ở phần

mở bài là cần thiết để có một mở bài hay

Phần mở bài có ảnh hưởng đến cảm xúc, tâm  lý người chấm nên sự đầu tư kỹ càng về kiếnthức và kỹ năng cho phần mở bài để tránh lạc đề, sơ sài hay dài dòng, tuân thủ nhữngnguyên tắc hay những yếu tố cơ bản là cần thiết trong việc tạo một mở bài hay và ý nghĩa

3 Cách viết mở bài hay

Thông thường có hai cách mở bài:

a) Trực tiếp (cách này thường dành cho các bạn học sinh trung bình): Là cách đi thẳng

vào vấn đề cần nghị luận Nghĩa là sau khi đã tìm hiểu đề và tìm được vấn đề trọng tâm củabài nghị luận, ta nêu thẳng vấn đề đó ra bằng một luận điểm rõ ràng Tuy nhiên khi mở bàitrực tiếp, ta cũng phải trình bày cho đủ ý, không nói thiếu nhưng cũng không nên nói hếtnội dung, phải đáp ứng đủ các yêu cầu của một phần mở bài đúng mực trong nhà trường.Đặt vấn đề theo cách trực tiếp dễ làm, nhanh gọn, tự nhiên, dễ tiếp nhận, tuy nhiên thườngkhô khan, cứng nhắc, thiếu hấp dẫn cho bài viết

Nếu đề bài yêu cầu nghị luận về tác phẩm thì mở bài phải giới thiệu được tên tác giả,phong cách thơ tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, trích dẫn khổ thơ, hoặc giới thiệuvấn đề nghị luận

b) Gián tiếp (dành cho các bạn khá – giỏi): Với cách này người viết phải dẫn dắt vào đề

bằng cách nêu lên những ý có liên quan đến luận đề (vấn đề cần nghị luận) để gây sự chú ýcho người đọc sau đó mới bắt sang luận đề Người viết xuất phát từ một ý kiến, một câuchuyện, một đoạn thơ, đoạn văn, một phát ngôn của nhân vật nổi tiếng nào đó,

dẫn dắt người đọc đến vấn đề sẽ bàn luận trong bài viết Mở bài theo cách này tạo được sự uyển chuyển, linh hoạt cho bài viết, hấp dẫn người đọc.

Trang 3

Các cách mở bài gián tiếp:

So sánh: So sánh là cách đối chiếu hai hoặc nhiều đối tượng với nhau ở phương diện

giống nhau, khác nhau hoặc cả hai Cách mở bài so sánh gây thích thú cho người đọc vì

nó chứng tỏ người viết có kiến thức văn học phong phú Có nhiều cách làm phần mở bài theo dạng so sánh Tác phẩm thì có tác giả, đề tài, chủ đề, nội dung, cảm hứng, thể loại, giai đoạn, giá trị, nhân vật… nên người viết có thể đối chiếu điểm giống nhau, khác nhauhoặc vừa giống vừa khác của một trong các vấn đề đó

Đi từ đề tài: Bất kì tác phẩm văn học nào cũng thuộc một đề tài nào đó Hiểu điều này,

cùng với kiến thức lí luận văn học “Đề tài là phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm”, người viết nghị luận văn học sẽ dễ dàng giới thiệu vấn đề một cách rành mạch Các nhà văn viết về mùa thu thì đề tài là mùa thu; viết về tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình thì đó cũng là đề tài

Đi từ giai đoạn: Mỗi thời kì lịch sử, giai đoạn lịch sử lại có những bối cảnh xã hội khác

nhau ảnh hưởng ít nhiều trực tiếp hoặc gián tiếp đến giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật của tác phẩm Đi từ giai đoạn, thời kì văn học sẽ gắn hiện thực đời sống với nhà văn - tácphẩm - bạn đọc Cách mở bài này dành cho những học sinh kiểu “triết học gia” ham tìm tòi, ưa lí luận nhờ đó dễ tạo điểm nhấn cho bài văn

Đi từ thể loại: Không có tác phẩm nào không thuộc một thể loại chính nào đó Mỗi thể

loại văn học lại có những đặc trưng riêng Người viết dựa vào đặc trưng thể loại để giải

mã nghệ thuật trong tác phẩm

Trích dẫn một câu nói, một câu thơ hoặc từ một triết lí cuộc sống

II PHƯƠNG PHÁP VIẾT KẾT BÀI

1 Tầm quan trọng của kết bài:

Kết bài trong văn nghị luận là một phần khá quan trọng bởi đây là phần sẽ tạo dư âm cho bài viết Nếu kết bài có sức nặng sẽ tạo nên những cảm xúc rất tốt cho người đọc. Kết bài là phần kết thúc bài viết, vì vậy, nó tổng kết, thâu tóm lại vấn đề đã được đặt

ra ở mở bài và phát triển ở thân bài, đồng thời mở ra hướng suy nghĩ mới, tình cảm mớicho người đọc Phần kết bài có nhiệm vụ tổng kết, đánh giá vấn đề đặt ra ở mở bài và đãgiải quyết ở thân bài Phần này góp phần tạo tính hoàn chỉnh, trọn vẹn cho bài văn

Trang 4

2. Các yêu cầu viết kết bài hay:

Giống như phần mở bài, phần này chỉ nêu lên những ý khái quát, không trình bày lan man,dài dòng hoặc lặp lại sự giảng giải, minh họa, nhận xét một cách chi tiết như ở phần thânbài. Một kết bài thành công không chỉ là nhiệm vụ "gói lại" mà còn phải "mở ra" - khơi lạisuy nghĩ, tình cảm của người đọc Thâu tóm lại nội dung bài viết không có nghĩa là nhắclại, lặp lại mà phải dùng một hình thức khác để khái quát ngắn gọn; khơi gợi suy nghĩ haytạo dư ba trong lòng người đọc; là câu văn khi đã khép lại vẫn khiến cho người đọc daydứt, trăn trở, hướng về nó

3. Cách viết mở bài hay:

- Kết bài bằng cách bình luận mở rộng và nâng cao: Là kiểu kết bài trên cơ sở quan

điểm chính của bài viết, bằng liên tưởng, vận dụng, người viết phát triển, mở rộng nângcao vấn đề

CÁC CÁCH MỞ BÀI HIỆU QUẢ GV CẦN NẮM KHI ÔN HSG KHỐI

789, ÔN CHUYÊN.

2 NGHỊ LUẬN VỀ ĐOẠN TRÍCH, THƠ, VĂN XUÔI

3 MỞ BÀI CHO DẠNG ĐỀ SO SÁNH CÁC TÁC PHẨM

4 CÁCH MỞ BÀI CHO DẠNG ĐỀ NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

4.1.ĐỀ TÀI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, PHÁP.

4.2MỞ BÀI VỀ NGƯỜI NÔNG DÂN / NHỮNG CON NGƯỜI BẤT HẠNH

4.3 Mở bài bằng nhận định tác giả và quan niệm sáng tác

4.4 Mở bài bằng chủ đề hay hình tượng trung tâm

4.5.Bình luận mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật và hiện thực cuộc sống Chứng

minh bằng một số tác phẩm.

4.6.ở bài nghị luận xuất phát từ lý luận văn học

4.7 Mở bài về thơ ca

4.8 Mở bài văn xuôi

5 Mở bài giới thiệu sự trường tồn của tác phầm trong lòng người đọc.

6 Mở bài theo lối đồng điệu cùng chủ đề.

7.Mở bài thông thường

Trang 5

=> TẤT CẢ CÁC PHẦN NÀY ĐÃ CÓ MỘT BỘ CÁCH MỞ BÀI RIÊNG Ạ, GỦI KHI THẦY CÔ LẤY TRỌN BỘ.

CHUYÊN ĐỀ VHTĐ: ÔN HSG VĂN 9

CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG- TRUYỆN KIỀU

ĐỀ SỐ 27

Phần I Đọc hiểu (4,0 điểm)

Phần I Đọc hiểu (4,0 điểm):

Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi

“Còn gì đáng buồn hơn khi mà giàu có về vật chất thì lại nghèo nàn đến thảm hại về văn hóa tinh thần, Một bộ phận thanh niên bây giờ nghĩ nhiều, nói nhiều đến tiền bạc, hưởng thụ Ăn mặc đẹp, tiện nghi, hiện đại lắm nhưng con người thì vô cùng mỏng Gió thổi nhẹ

là bay biến tứ tán ngay Ngày trước dân ta nghèo nhưng đức dày, nhân cách vững vàng, phong ba bão táp không hề gì, chung quy tại giáo dục mà ra Cha mẹ bây giờ chiều con quá, không để chúng thiếu thốn gì Vì thế mà chúng rất mong manh, dễ vỡ, dễ hư hỏng…”

(Theo Nguyễn Khải, báo Đầu tư, sách Ngữ Văn 11 Nâng cao, NXB Giáo dục, 2014)

 

Câu 1: Văn bản trên nói về hiện tượng gì trong đời sống? (0,5 điểm)

Câu 2: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên (0,5 điểm)

Câu 3: Trong văn bản trên có sử dụng thành ngữ Hãy ghi lại chính xác và giải thích ýnghĩa của thành ngữ đó (2 điểm)

Câu 4: Chữ “mỏng” trong văn bản được hiểu như thế nào? (1,0 điểm)

 

Phần II Làm văn: (16 điểm)

Câu 1: ( 6.0 điểm)

Trang 6

Một trong những tình cảm thiêng liêng luôn thường trực trong mỗi con người Việt Nam làtình yêu Tổ quốc Đặc biệt, tình cảm đó đã được nhiều nhà thơ, nhà văn thể hiện trong tácphẩm của mình.

Trong bài thơ “Tình sông núi”, nhà thơ Trần Mai Ninh viết:

Có mối tình nào hơn thế nữaNói bằng súng, bằng gươm sáng rền

Có mối tình nào hơn thế nữaTrộn hoà lao động với giang sơn

Có mối tình nào hơn Tổ quốc?

Dựa vào ý thơ trên và các bài thơ hiện đại đã được học ở chương trình Ngữ văn lớp 9 - tập

1, em hãy viết một bài văn với nhan đề: Tình yêu Tổ quốc

Câu 1: Văn bản nói về hiện tượng một bộ phận thanh niên mải chạy theo những nhu cầu

về vật chất, không chú trọng đến đời sống văn hóa tinh thần. 0.5đ

Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận 0.5đ

Câu 3: Thành ngữ được sử dụng trong văn bản là “phong ba bão táp”. 

Thành ngữ “phong ba bão táp” có nghĩa là những khó khăn, gian khổ. 2đ

Câu 4: Chữ “mỏng” có nghĩa là sự yếu đuối, kém cỏi về đạo đức, nhân cách, nghị lực,

Trang 7

sức mạnh, bản lĩnh, ý chí,… không đủ sức chống đỡ những thử thách gian khổ trong cuộc

* Yêu cầu nội dung:

- Vào bài tự nhiên, hấp dẫn, hướng người đọc vào vấn đề mà đề bài yêu cầu, trích dẫn đượcđoạn thơ của nhà thơ Trần Mai Ninh

- Nêu được vấn đề mà đề bài yêu cầu: Tình yêu Tổ quốc của con người Việt Nam trongchiến đấu và trong lao động, được thể hiện trong các bài thơ hiện đại ở chương trình Ngữvăn lớp 9 tập 1. 

a) Tình yêu Tổ quốc của con người Việt Nam trong chiến đấu: 

(Trong các bài: Đồng chí - Chính Hữu, Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm TiếnDuật), với các biểu hiện cụ thể:

+ Họ trước hết là những người nông dân mặc áo lính Khi quê hương bị giày xéo trước gótchân kẻ thù xâm lược, thì bằng tình yêu thiêng liêng với Tổ quốc, họ đã bỏ lại tất cả ở quênhà để ra đi chiến đấu, quét sạch bóng kẻ thù (dẫn chứng trong bài thơ Đồng chí) 

+ Tình yêu đối với đất nước cùng với lí tưởng cao cả là chiến đấu đánh đuổi kẻ thù xâmlượcđã giúp họ vượt lên mọi khó khăn gian khổ để sống và chiến đấu cho dù trên conđướng đó họ có thể gặp nhiều gian khổ, mất mát, hi sinh với một niềm tin và lạc quan: (dẫnchứng trong bài thơ Đồng chí, Bài thơ về tiểu đội xe không kính)

=> Như vậy, khi Tổ quốc bị kẻ thù xâm lược thì tình yêu Tổ quốc của con người Việt Namlà: “Nói bằng súng, bằng gươm sáng rền”

b) Tình yêu Tổ quốc không chỉ trong chiến đấu mà trong lao động mà tình yêu ấy cũng được thiết tha đối với đất nước thân yêu. 

- Đó là thứ tình yêu được thể hiện bằng những công việc, những tình cảm tuy lặng thầmnhưng không kém phần sâu sắc được thể hiện trong các bài thơ: Đoàn thuyền đánh cá -

Trang 8

Huy Cận, Bếp lửa - Bằng Việt, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn KhoaĐiềm; Ánh trăng - Nguyễn Duy:

+ Đó là niềm tự hào khi con người Việt Nam đợc làm chủ cả một vùng biển Đông rộnglớn, đợc ra khơi khai thác tài nguyên biển để làm giàu cho Tổ quốc Vì vậy dù công việcrất vất vả nhng họ vẫn luôn lạc quan, ra khơi trong tiếng hát hào hứng và say mê (dẫnchứng trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá)

+ Đó là hình ảnh người bà đáng kính tuy không trực tiếp lao động sản xuất nhưng đã hếtlòng vì con vi cháu cho các con công tác để phục vụ cho đất nước và cũng là người bà giàunghị lực, giàu ý chí và niềm tin (dẫn chứng trong bài thơ Bếp lửa)

+ Đó là người mẹ dân tộc Tà Ôi đã có sự thống nhất giữa tình yêu con và tình yêu Tổ quốc:Công việc của bà tuy vất vả nhưng luôn gắn với dân làng, bộ đội, đất nước, tình cảm, mơước của bà không chỉ cho con mà còn gắn với dân làng, bộ đội, đất nước (dẫn chứng trongbài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ) 

+ Đó còn là sự giật mình thức tỉnh nối dài hiện tại với quá khứ, để sống đúng với đạo lí

“Uống nước nhớ nguồn” trước ánh trăng - nhân dân đất nước bình dị, độ lượng, bao dung,khi con người được sống trong hoà bình, đã vô tình lãng quên quá khứ (dẫn chững trongbài Ánh trăng)

c) Tình yêu Tổ quốc còn là đấu tranh chống lịa thế lực thù địch, chống lại tiêu cực trong XH

1.Yêu cầu về kĩ năng:

- HS có kĩ năng làm bài nghị luận văn học tổng hợp, biết kết hợp các phép lập luận nhưgiải thích, phân tích, chứng minh

- Hiểu đúng và hướng trúng vào vấn đề mà đề bài yêu cầu: giá trị nhân đạo trong tác phẩmvăn chương

Trang 9

- Biết lựa chọn dẫn chứng, phân tích và bình dẫn chứng sao cho làm sáng rõ vấn đề.

- Biết kết hợp với liên hệ, mở rộng để trình bày vấn đề một cách thấu đáo, toàn diện

- Văn viết có cảm xúc, diễn đạt lưu loát, trôi chảy; biết dùng từ, đặt câu chuẩn xác, gợicảm

- Bố cục bài phải hoàn chỉnh, chặt chẽ

2.Yêu cầu về nội dung kiến thức:

a Giới thiệu vấn đề nghị luận: 

- Vấn đề trung tâm của văn chương là vấn đề con người và nguồn gốc cốt yếu của vănchương chính là lòng thương người

- Lòng thương người hay nói rộng ra là giá trị nhân đạo là phẩm chất cốt lõi, là tiêu chuẩncho một tác phẩm văn học chân chính

+Tình thương người, thương cả muôn vật, muôn loài: là lòng nhân ái – một tình cảm rộnglớn, cao cả, mang tầm nhân loại Tình cảm ấy không chỉ là cội nguồn của văn chương màcòn là thước đo giá trị của tác phẩm văn chương chân chính Đó chính là giá trị nhân đạo,

là những ý nghĩa nhân

văn sâu sắc mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm

+ Nói đến giá trị nhân đạo, đến ý nghĩa nhân văn là nói đến vấn đề con người, vấn đề nhânsinh đặt ra trong tác phẩm Ở đó, con người luôn được đặt ở vị trí hàng đầu, trong mối quantâm thường trực của các nhà văn

Ý kiến của Hoài Thanh là một nhận định về giá trị tư tưởng của tác phẩm văn chương,khẳng định nguồn gốc cốt yếu của các tác phẩm văn chương chính là giá trị nhân đạo.+ Biểu hiện của giá trị nhân đạo trong tác phẩm rất đa dạng song thường tập trung vàonhững mặt cụ thể sau: lòng thương yêu, sự cảm thông, xót xa trước những hoàn cảnh,

Trang 10

những số phận bất hạnh; lên án, tố cáo các thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của conngười; ngợi ca, đề cao những vẻ đẹp, phẩm giá cao quý; trân trọng, nâng niu khát vọngsống, khát vọng tình yêu và hạnh phúc của con người.

- Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ và đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích(Truyện Kiều) của Nguyễn Du là minh chứng rõ nhất cho quan điểm: nguồn gốc cốt yếucủa văn chương chính là lòng thương người

C.Giá trị nhân đạo qua tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích: 

- Tấm lòng yêu thương, đồng cảm, xót xa cho những số phận người phụ nữ tài sắc mà bấthạnh, gặp nhiều bi kịch trong cuộc đời: số phận của Kiểu bị ném vào nhà chứa, rồi giamlỏng trong lầu Ngưng Bích với nỗi cô đơn, buồn tủi, thương thân, xót phận; là tình cảnhoan khiên nghiệt ngã của Vũ Nương, đến mức nàng phải dùng cái chết để chứng tỏ tấmlòng trong trắng, tiết hạnh của mình. 

- Qua bi kịch thân phận của Kiều và Vũ Nương, cả hai nhà văn gián tiếp lên án, tố cáo xãhội phong kiến bất công, tàn bạo đã tước đi quyền sống, chà đạp lên con người Đó là chiếntranh phi nghĩa, là chế độ nam quyền (Chuyện người con gái Nam Xương), là bọn quan lạitham lam, là lũ buôn thịt bán người dồn đẩy con người vào cảnh ngộ đau thương (TruyệnKiều)

- Khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất cao quý của người phụ nữ, dù cuộc đời của họ bấthạnh, khổ đau, oan trái, truân chuyên Đó là lòng chung thủy, sự hiếu hạnh, giàu tình yêuthương, luôn sống vì người khác, nghĩ cho người khác của Kiều và Vũ Nương

- Trân trọng, đề cao những khát vọng nhân văn của người phụ nữ: khát vọng về tình yêu,hạnh phúc, về một mái ấm gia đình bình dị, sum vầy

d Đánh giá về ý kiến của Hoài Thanh. 

- Ý kiến của Hoài Thanh về nguồn gốc, phẩm chất của văn chương là ý kiến đúng đắn,khoa học bởi nó đã nói lên đặc trưng, thuộc tính quan trọng nhất của văn học: Văn học làtiếng nói của tâm hồn, cảm xúc; văn học mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc “Văn học là nhânhọc” (M Gorki)

- Tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương (Trích Truyền kỳ mạn lục) của Nguyễn Dữ

và đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều) của Nguyễn Du đã thể hiện rõ

Trang 11

nét quan niệm văn học của Hoài Thanh Bởi cả hai đều là những tác phẩm mang giá trịnhân đạo cao cả, hướng tới con người, vì con người

***********************************************

ĐỀ SỐ 29

I ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)

I ĐỌC - HIỂU (3,0 điểm).

Hãy đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

“Trong dòng đời vội vã có nhiều người dường như đã quên đi tình nghĩa giữa người vớingười Nhưng đã là cuộc đời thì đâu phải chỉ trải đầy hoa hồng, đâu phải ai sinh ra cũng cóđược cuộc sống giàu sang, có được gia đình hạnh phúc toàn diện mà còn đó nhiều mảnhđời đau thương, bất hạnh cần chúng ta sẻ chia, giúp đỡ Chúng ta đâu chỉ sống riêng chomình, mà còn phải biết quan tâm tới những người khác (Đó chính là sự “cho” và “nhận”trong cuộc đời này)

“Cho” và “nhận” là hai khái niệm tưởng chừng như đơn giản nhưng số người có thể cânbằng được nó lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay Ai cũng có thể nói “Những ai biết yêuthương sẽ sống tốt đẹp hơn” hay “Đúng thế, cho đi là hạnh phúc hơn nhận về” Nhưng tựbản thân mình, ta đã làm được những gì ngoài lời nói? Cho nên, giữa nói và làm lại là haichuyện hoàn toàn khác nhau Hạnh phúc mà bạn nhận được khi cho đi chỉ thật sự đến khibạn cho đi mà không nghĩ ngợi đến lợi ích của chính bản thân mình Đâu phải ai cũng quênmình vì người khác Nhưng xin đừng quá chú trọng đến cái tôi của chính bản thân mình.Xin hãy sống vì mọi người để cuộc sống không đơn điệu và để trái tim cỏ những nhịp đậpyêu thương

Cuộc sống này có quá nhiều điều bất ngờ nhưng cái quan trọng nhất thực sự tồn tại là tìnhyêu thương Sống không chỉ là nhận mà còn phải biết cho đi Chính lúc ta cho đi nhiều nhấtlại là lúc ta được nhận lại nhiều nhất”

(Trích “Lời khuyên cuộc sống…”)

Câu 1 Nêu nội dung chính của văn bản trên?

Câu 2 Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?

Câu 3 Theo tác giả, cuộc sống này có quá nhiều điều bất ngờ nhưng cái quan trọng nhất

Tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” (Trích Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ)

đã phản ánh bi kịch và khát vọng muôn thuở của con người Hãy phân tích nhân vật VũNương trong truyện để làm sáng tỏ điều đó./

Trang 12

ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN:

Phần I

1 Nội dung văn bản: Bàn về cho và nhận trong cuộc sống

2 Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận

- Nhận: Lấy về cái được cho, được ban tặng

-> Cho và nhận là truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta từ bao đời nay.-> Cho và nhận có mối quan hệ mật thiết với nhau

Trang 13

- Đó là hành động hoàn toàn tự nguyện, không vụ lợi cá nhân.

- Khi chúng ta cho đi cũng là lúc chúng ta được nhận lại Điều chúng ta nhận lại

có thể là một lời cảm ơn chân thành, một nụ cười, một cử chỉ ấm áp khiến chúng

ta vui lòng

c Ý nghĩa của cho và nhận

- Cho và nhận gắn kết con người lại với nhau nhiều hơn

- Giúp chúng ta biết yêu thương đồng loại, sống nhân ái, vị tha hơn

- Những người biết cho đi sẽ được mọi người quý mến

d Bài học

- Không sống ích kỉ mà phải biết chia sẻ với người khác, biết cho đi

- Phê phán lối sống vị kỉ, chỉ biết nhận mà không biết cho đi

3 Kết Bài

- Khẳng định vai trò, tầm quan trọng của cho và nhận trong cuộc sống

d. Chính tả: Đảm bảo những quy tắc về chính tả, dùng từ, đặt câu.

  e. Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo , có suy nghĩ riêng về vấn đề nghị luận

Câu 2:

Câu 3

(10 điểm) 1.Về kĩ năng: 3 điểm

- Hiểu đúng yêu cầu của đề Biết cách viết bài văn nghị luận kiểuphân tích nhân vật để làm sáng tỏ một vấn đề đặt ra trong tác phẩmtruyện Học sinh biết huy động năng lực phân tích , cảm thụ nhânvật trong tác phẩm truyện, vận dụng các thao tác nghị luận hợp lí

- Bài viết có bố cục rõ ràng: luận điểm trình bày mạch lạc, lập luậnchặt chẽ

- Không mắc lỗi chính tả, không mắc các lỗi cơ bản về cách dùng

từ, về ngữ pháp

1.0

1.5 0.5

2.Về nội dung: 7 điểm

Hs có thể trình bày những cách thức khác nhau nhưng phải làmsáng tỏ vấn đề nghị luận và hướng đến các nội dung chính sau:

I.Đặt vấn đề: dẫn dắt, giới thiệu tác phẩm, nhân vật, nhận định.

II Giải quyết vần đề: ( 6.0 điểm)

1.Giải thích khái quát nhận định:

0.5

0.5

Trang 14

- Bi kịch và khát vọng luôn có mối quan hệ với nhau Càng đaukhổ, con người càng có khát vọng vươn lên trên đau khổ Tác phẩm

“Chuyện người con gái Nam Xương” (Trích Truyền kì mạn lục của

Nguyễn Dữ đã phản ánh được bi kịch và khát vọng muôn thưở củacon người trong cuộc sống gia đình

2 Phân tích nhân vật Vũ Nương để làm sáng tỏ nhận định.

a.Cuộc đời, số phận của Vũ Nương là một bi kịch ( 2,5 điểm)

- Cuộc sống gia đình của Vũ Nương ngay từ đầu đã ẩn chứa mầmmống bi kịch ( dẫn chứng và phân tích)

- Khi Trương Sinh đi lính, Vũ Nương phải một mình chịu gánhnặng gia đình và sống trong cảnh cô đơn, buồn nhớ chồng (dẫnchứng và phân tích)

- Ngày Trương Sinh trở về, Vũ Nương bị vu oan và chịu sự đối xử

tệ bạc (dẫn chứng và phân tích)

- Cuối cùng Vũ Nương chịu cái chết oan ngiệt

+ Nguyên nhân trực tiếp:

Do sự hiểu lầm từ nhiều cái ngẫu nhiên: chiến tranh, cha con xacách nên ngày trở về con không nhận cha, còn nói những lời thơngây về một người cha khác khiến Trương Sinh hiểu lầm

+ Nguyên nhân sâu xa:

Do Trương Sinh gia trưởng, thất học, đa nghi, độc đoán, vũ phu,ghen tuông mù quáng

Do chế phong kiến phụ quyền bất bình đẳng đã tạo cho TrươngSinh cái thế của kẻ giàu có bên cạnh cái thế của người đàn ông giatrưởng

Do chiến tranh phong kiến

->Vũ Nương phải chọn cái chết để chứng minh cho tiết hạnh, thủychung chính là bi kịch đau đớn của số phận cuộc đời nàng Kếtthúc truyện , nàng dù có được trở về dương thế nhưng cũng chỉtrong khoảnh khắc Nàng không bao giờ có được hạnh phúc giađình trọn vẹn ở cõi người

0.5 0.5 0.5 0.75

1.5 0.5

0.5

0.5

Trang 15

b Dù sống trong bi kịch Vũ Nương vẫn ủ ấp khát vọng về hạnh phúc gia đình- một khát vọng bình dị cần có và nên có.

- Vũ Nương theo đuổi và tạo dựng khát vọng ấy trong cõisống.Nàng chỉ mong được cùng chồng vun đắp hạnh phúc gia đìnhbình yên, khao khát cảnh vợ chồng, cha con được đoàn tụ khi chiếntranh gây xa cách

( Nêu dẫn chứng và phân tích xoay quanh những hành động, lời nói

của nàng lúc chia tay chồng đi lính “chỉ mong ngày về mang theo

được hai chữ bình yên thế là đủ rồi”, những lúc “ ngày thường ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo cha Đản”, khi khẳng định với Trương Sinh “ thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì cái thú vui nghi gia nghi thất ”)

-Vũ Nương vẫn không nguôi quên và tha thiết với gia đình cả khi ởdưới thủy cung ( Dẫn chứng và phân tích cụ thể lời của Vũ Nương

nói với Phan Lang “ Vả chăng ngựa hồ gầm gió Bắc, chim Việt đậu

cành Nam Cảm vì nỗi ấy , tôi tất tìm về có ngày”, ở hành động trở

về dương thế, nói lời chia biệt với Trương Sinh “ Đa tạ tình chàng

nhưng thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa’ )

-Kết thúc truyện , Vũ Nương và chồng con vẫn âm dương cách trở,hạnh phúc gia đình không thể hàn gắn nhưng khát vọng hạnh phúcgia đình vẫn tha thiết không nguôi

* Trong bi kịch, Vũ Nương khao khát được minh oan, được bảotoàn danh dự, được lẽ công bằng soi tỏ ( Dẫn chứng và phân tích

lời cầu xin chồng “ Dám xin bày tỏ để cởi bỏ mối nghi ngờ Mong

chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”, ở lời than với thần sông

trước khi chết “ thần sông có linh xin ngài chứng giám Thiếp

nếu đoan trang giữ tiết , trinh bạch gìn lòng, vào nước làm xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin là cỏ Ngu mĩ ”, ở sự lựa chọn cái

chết.)

0.5

3 Đánh giá chung: (1 điểm)

- Nhân vật Vũ Nương là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt

0.5

Trang 16

Nam trong xã hội phong kiến xưa Ở họ hội tụ đáng quý nhưngcuộc đời , số phận của họ đầy bi kịch Nguyễn Dữ đã thể hiện sựthấu hiểu , đồng cảm với người phụ nữ và bộc lộ thái độ bênh vực

họ khi phản ảnh cái hiện thực bất công đó

- Khát vọng của Vũ Nương không chỉ là của người phụ nữ xưa màcòn là khát vọng của người phụ nữ ở mọi thời đại Qua đó Nguyễn

Dữ đã lên tiếng đấu tranh đòi quyền sống, quyền được hạnh phúcxứng đáng cho họ

Thời gian làm bài: 150 phút(Không kể thời gian giao đề)

Câu 1.(4 đ)

Nhận xét về cách kết thúc " Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ, có ý

kiến cho rằng: " Truyện kết thúc có hậu, thể hiện được ước mong của con người về sự công

bằng trong cuộc đời", song có ý kiến khác lại khẳng định: " Tính bi kịch của truyện vẫn tiềm

ẩn ở ngay cái kết lung linh kì ảo".

Hãy trình bày suy nghĩ của em về hai ý kiến trên

Câu 2 (6đ)

Nhà văn người Mĩ Helen Keller có nói: " Tôi đã khóc vì không có giầy để đi cho đến khi

tôi nhìn thấy một người không có chân để đi giầy".

Suy nghĩ của em về lời tâm sự trên

Câu 3 (10đ)

Ra-xum Ga-đa-tốp được mệnh danh là " nhà thơ của mọi thời đại" có dành cho báoNước Nga văn học một cuộc trò chuyện trong đó bày tỏ sâu sắc suy nghĩ của mình về văn học:

" Nền tảng của bất kì tác phẩm nào phải là chân lí được khắc họa bằng tất cả tài

nghệ của nhà văn Cần phải hát đúng giai điệu về thời đại mình và phải miêu tả nó một cách trung thực bằng những hình ảnh hấp dẫn, không một chút giả tạo." ( Đọc hiểu văn bản sách

giáo khoa ngữ văn 9, 2005, trang 160)

Em hiểu lời bàn trên như thế nào? Bằng sự hiểu biết của mình về hoàn cảnh lịch sử đấtnước, con người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ, hãy làm sáng tỏ

lời bàn ấy qua tác phẩm Đồng chí của Chính Hữu, Bài thơ về tiểu đội xe không kính của

Phạm Tiến Duật

Trang 17

HƯỚNG DẪN ĐÁP ÁN ĐỀ THI HSG HUYỆN NGỮ VĂN 9 Câu 1

- Yêu cầu về kĩ năng:

+ Hs có thể viết dưới hình thức bài văn ngắn hoặc trình bày theo ý Song cách lập luận phảisáng tỏ, rõ ràng, chặt chẽ

+ Chú ý cách dùng từ, viết câu và diễn đạt chuẩn xác và trôi chảy

- Yêu cầu về nội dung:

+ Giới thiệu khái quát truyện truyền kì của Nguyễn Dữ và kết thúc của tác phẩm Chuyệnngười con gái Nam Xương

+ Nhận xét trình bày về hai ý kiến:

* Ý kiến 1 Nhìn thấy giá trị nhân văn của tác phẩm, giống như truyện cổ tích: người tốt

dù phải trải qua bao khó khăn, gian khổ, bất hạnh nhưng cuối cùng sẽ được giải oan, được trảlại phẩm giá, được hạnh phúc Điều đó đồng tình với quan điểm của Nguyễn Dữ: chi tiết kì ảovừa là tạo ra một kết thúc li kì, hấp dẫn và có hậu, vừa thể hiện ước mơ của con người về sựbất tử, sự chiến thắng của cái thiện, cái đẹp, thể hiện nỗi khát khao công bằng, hạnh phúc chongười lương thiện, nhất là người phụ nữ bất hạnh như Vũ Nương

* Ý kiến 2 Xuất phát từ giá trị hiện thực của tác phẩm Sự trở về của Vũ Nương chỉtrong thoáng chốc, một ảo ảnh loang loáng, mờ nhạt giữa dòng sông cùng lời nói: " Đa tạ tìnhchàng, thiếp chẳng trở về nhân gian được nữa" rồi biến mất, đó là hiện thực bi kịch cuộc đời

Vũ Nương được sống sung sướng bình yên dưới thủy cung chỉ là một giấc mơ đẹp Sự trở vềgặp chồng trong chốc lát cũng chỉ là giấc mơ Thực tế chàng-nàng vẫn âm dương đôi ngả.Khói sương đàn tràng của Trương Sinh không xóa được nỗi oan khuất của vợ Sự ân hậnmuộn màng cũng không cứu vãn được hạnh phúc Hiện thực phũ phàng bi kịch vẫn là bi kịch

Sự trở về ấy càng làm tăng thêm sức tố cáo của tác phẩm Là lời cảnh tỉnh, sự trừng phạt đốivới Trương Sinh và dư vị ngậm ngùi, bài học thấm thía cho bất cứ ai về việc giữ gìn hạnhphúc gia đình

+ Hai ý kiến không đối lập mà bổ sung cho nhau để hoàn thiện một quan điểm, cách nhìn củanhà văn

Câu 2.

* Yêu cầu về kĩ năng:

- Hs viết dưới hình thức bài văn ngắn, phương pháp giải thích, phân tích, bình luận, lập luậnphải sáng tỏ, rõ ràng, chặt chẽ

- Chú ý cách dùng từ, viết câu và diễn đạt chuẩn xác và trôi chảy

* Yêu cầu về nội dung:

- Vấn đề nghị luận: Sự thiếu thốn, khó khăn của riêng mình chắng thấm gì nếu so với nhữngkhổ đau, bất hạnh của nhiều người khác trong cuộc sống

- Tư liệu trong đời sống thực tế

* Xác lập được các ý sau:

- Giải thích hình ảnh đối lập: " không có giầy để đi/không có chân để đi giầy"

+ " không có giầy để đi": gợi ra sự thiếu thốn, khó khăn về vật chất ( hoàn cảnh nghèo khó)+ "không có chân để đi giầy": gợi ra nỗi bất hạnh nghiệt ngã của số phận (nỗi đau về thể xác,tinh thần còn hơn cả sự nghèo khổ đơn thuần)

=> Ý nghĩa của lời tâm sự: Cuộc sống muôn vàn nỗi khổ đau và bất hạnh, sự thiếu thốn, cùngtúng của bạn chẳng thấm vào đâu khi so với nỗi bất hạnh của nhiều người khác Hãy thấymình còn là người may mắn để biết sẻ chia và cố gắng vươn lên

- Phân tích, bình luận:

+ Người ta khóc là khi trạng thái tâm hồn xúc động, đau thương, buồn tủi hay kể cả lúc quávui Nữ sĩ đã khóc vì hoàn cảnh cùng túng của mình " không có giầy để đi" Nữ sĩ khóc về

Trang 18

buồn khổ, yếu đuối, tuyệt vọng trước hoàn cảnh của mình Khóc mãi, khóc mãi cho đến mộtngày bà nhìn thấy một người không có cả đôi chân để đi giầy, bà mới nhận ra là mình còn maymắn hơn họ Dù là đôi chân trần, mình còn có chân để bước trên con đường đời, đứng vữngtrên đôi chân của mình để có thể làm ra bất cứ thứ gì mình muốn Còn họ, không có chân để đithì dù có giầy cũng không thề đi được, không thể làm bất cứ điều gì họ muốn Như vậy, bà đãngộ ra: mình còn may mắn, hạnh phúc hơn, những thiếu thốn của mình chẳng thấm gì so vớingười khác.

+ Lời tâm sự của nhà văn Mĩ không dừng lại ở đôi giầy, đôi chân Đôi giầy là ước mơ, khátvọng của mình thì đôi chân lại là ước mơ, khát vọng của người khác Hãy biết hài lòng vớinhững gì mình đang có và biết sẻ chia nỗi bất hạnh cùng người khác, thiếu bản lĩnh, nghị lực,cuộc đời sẽ dễ rơi vào tuyệt vọng

+ Lời tâm sự không chỉ thể hiện sự thức ngộ trước cuộc sống mà còn hàm chứa lời động viên,khích lệ: Dù ở bất kì hoàn cảnh nào cũng không ngục ngã, phải gắng sức vươn lên, khó khăn,bất hạnh chính là thử thách tôi luyện ta trưởng thành, hoàn thiện

- Bài học:

Lời tâm sự của nữ Helle Keller đem lại bài học cho những ai đang than vãn, bi quantrước hoàn cảnh của mình, hiểu ra giá trị đích thực của cuộc sống Cuộc sống của mỗi ngườiđược quyết định bởi sự nhận thức, bản lĩnh và nghị lực vươn lên không ngừng Hơn thế, ta cònphải nhìn ra cuộc đời để nhận biết, đồng cảm, chia sẻ Từ đó thêm sức mạnh, lòng tin yêu cuộcsống để làm việc và cống hiến nhiều hơn

Câu 3

* Yêu cầu về kĩ năng:

- Hs viết dưới hình thức bài văn, phương pháp giải thích, chứng minh, phân tích tổng hợp,bình luận, lập luận phải sáng tỏ, rõ ràng, chặt chẽ

- Chú ý cách dùng từ, viết câu và diễn đạt chuẩn xác và trôi chảy

* Yêu cầu về nội dung:

MB:* Dẫn dắt và nêu vấn đề nghị luận:

- Văn học nghệ thuật bao giờ cũng lấy chất liệu từ đời sống hiện thực khách quan Ngườinghệ sĩ phải phản ánh hiện thực đó một cách vừa trung thực vừa sáng tạo

- Dẫn lời nhận xét của Ra-xum Ga-đa-top

- Khái quát hoàn cảnh đất nước Việt Nam nửa cuối thế kỉ XX – đương đầu với TD Pháp và

Đế quốc Mĩ Văn học cách mạng đã hướng ngòi bút vào hiện thực ấy, ca hát về thời đạimình khổ đau mà vô cùng vĩ đại, trong đó có Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểuđội xe không kính của Phạm Tiến Duật

TB

* Giải thích khái niệm trong nhận định về mối quan hệ giữa cuộc sống - tác giả - tác phẩm

- Chân lí là sự phản ánh sự vật hiện tượng của hiện thực vào nhận thức của con người đúngnhư chúng tồn tại

- Văn học là thư kí của cuộc sống hiện thực, là tấm gương phản chiếu hiện thực thông qualăng kính chủ quan và sự sáng tạo của người cầm bút Hiện thực được phản ánh phải trung

Trang 19

thực, phù hợp với hoàn cảnh của thời đại: “… Nền tảng của bất kì tác phẩm nào phải làchân lí được khắc họa bằng tất cả tài nghệ của nhà văn”.

- Với tài năng của người nghệ sĩ, hiện thực cuộc sống được ghi lại trong tác phẩm bằngnhững hình ảnh hấp dẫn và sáng tạo để tác phẩm đó sống mãi với thời gian Vì vậy, văn họcthường mang nội dung cụ thể của thời đại mình

* Chứng minh nhận định của Ga-đa-tôp:nền tảng chân lý qua hai tác phẩm Đồng chí (ChínhHữu), Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật)

- Nền tảng chân lý của bài thơ Đồng chí  là hiện thực của đất nước trong cuộc kháng chiếntrường kỳ chống thực dân Pháp từ 1946 - 1954 Dân tộc ta tiến hành cuộc kháng chiến vớibao khó khăn, gian khổ và thiếu thốn Lực lượng chính là nông dân Họ sẵn sàng hi sinh tất

cả sức người sức của để giành lấy độc lập, tự do Và bài Đồng chí được sáng tác năm 1948,sau chiến dịch Việt Bắc của quân và dân ta đánh thắng cuộc tiến công quy mô lớn của quânPháp cuối năm 1947 lên khu căn cứ địa Việt Bắc Chính Hữu – một nhà thơ, một ngườichiến sĩ lúc đó là chính trị viên đại đội thuộc trung đoàn Thủ đô, cùng đơn vị của mìnhtham gia chiến đấu suốt chiến dịch Bài thơ ra đời là kết quả của những trải nghiệm thực vànhững cảm xúc sâu xa, mạnh mẽ của tác giả với những người đồng đội trong chiến dịchViệt Bắc

- Nền tảng chân lý của Bài thơ về tiểu đội xe không kính là hiện thực của đất nước trongcuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ năm 1954 đến 1975 Miền Bắc vừa xây dựng đấtnước, vừa làm hậu phương vững chắc cho miền Nam Giặc Mỹ đã gây ra cuộc chiến tranhhủy diệt, tàn khốc với dân tộc Việt Nam Song cả dân tộc với tinh thần độc lập, tự do đãđoàn kết đứng dậy đấu tranh, quyết đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào Đặc biệt là tinhthần của lớp thanh niên quyết “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” (Tố Hữu) Phạm TiếnDuật cũng là một nhà thơ - chiến sĩ có mặt trong đội ngũ trùng trùng điệp điệp ấy Ông đãsáng tác Bài thơ về tiểu đội xe không kính năm 1969, khi ông trực tiếp ngồi trên nhữngchiếc xe không kính “hở hông hốc” (lời tác giả) cùng đoàn xe tiến thẳng vào miềnNam quatuyến đường Trường Sơn

=> Hai bài thơ đã phản ánh trung thành hiện thực chiến tranh của đất nước: khổ đau mà vĩđại, bi tráng mà hào hùng Khẳng định chân lý bất biến của dân tộc: “Không có gì quý hơnđộc lập, tự do!” (Hồ Chí Minh)

* Giai điệu về thời đại được phản ánh một cách chân thực, sinh động, hấp dẫn qua hai thiphẩm

Trang 20

- Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu:

+ Giai điệu về thời đại được nhà thơ Chính Hữu khai thác từ hiện thực của cuộc chiến đấuđầy khó khăn gian khổ, hi sinh của người lính trong buổi đầu kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược Hệ thống hình ảnh trong bài thơ từ hiện thực đó đi vào tác phẩm không hề

tô vẽ Cũng nhờ vậy mà vẻ đẹp đồng chíđược tỏa sáng

+ Đồng chí- họ là những người lính nông dân từ những vùng quê nghèo khó hội tụ về thànhđồng chíđồng đội, đồng chíhướng, đồng nhiệm vụ cầm súng bảo vệ độc lập, tự do cho dântộc Buổi đầu xa lạ để rồi thành “tri kỉ”, thành “đồng chí”, “thương nhau tay nắm lấy bàntay” vượt lên tất cả

+ Họ cùng chung cuộc sống gian nan, thiếu thốn: “sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”, “áorách”,”quần vá”, “miệng cười buốt giá”, “chân không giầy”, “rừng hoang sương muối”.+ Gian nan, thiếu thốn, hi sinh nhưng lí tưởng của người lính vô cùng cao đẹp Đó là lítưởng chiến đấu bảo vệ đất nước Vẻ đẹp chân thực nhưng cũng rất hào hoa của người línhđược nhà thơ thể hiện bằng hình ảnh nghệ thuật đầy sáng tạo: “Đầu súng trăng treo” Bútpháp lãng mạn bay bổng ở hình ảnh kết thúc của bài thơ để lại ấn tượng, dư ba trong tâmhồn người đọc

=> Hình ảnh người lính thể hiện lên chân thực, giản dị, gắn bó keo sơn trong mọi hoàncảnh Vất vả, gian nan nhưng họ vẫn lạc quan, vẫn tin ở thắng lợi cuối cùng Bài thơ Đồngchí trở thành biểu tượng cho thơ ca kháng chiến chống Pháp

- Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

+ Giai điệu về thời đại được nhà thơ khai thác từ hiện thực những chiếc xe không kính vàngười chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm kháng chiến chống

Mỹ Giặc Mĩ bắn phá miền Bắc ác liệt với âm mưu hủy diệt, chặn đứng con đường huyếtmạch nối liền hai miền Nam - Bắc Dưới mưa bom bão đạn của kẻ thù, những chiếc xe vậntải tiếp sức cho tiền tuyến đã bị biến dạng: không kính, không đèn, không mui… Songchẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi, những chiếc xe vẫn ngày đêm băng qua bom đạn tiếnthẳng ra mặt trận, đã trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng, phản ánh đúng tínhchất khốc liệt của cuộc chiến Hình ảnh thơ trần trụi nhưng lại là hình ảnh độc đáo, đầysáng tạo của nhà thơ Nhờ đó mà bài thơ đã được lưu truyền rộng rãi trong công chúng,được nhiều người ưa thích

+ Song cái giai điệu về thời đại mà nhà thơ Phạm Tiến Duật muốn ca hát, đó là vẻ đẹp hìnhtượng người chiến sĩ lái xe Với tư thế ung dung, tinh thần lạc quan, yêu đời, thái độ coi

Trang 21

thường hiểm nguy, thử thách, trẻ trung hồn nhiên, ấm áp tinh thần đồng đội, ý chí quyếttâm giải phóng miền Nam của người lính trẻ, nhà thơ đã tạc nên chân dung người lính - tuổitrẻ Việt Nam thời chống Mĩ: bất khuất, kiên cường, kiêu hùng và lãng mạn.

=> Bài thơ vừa mang thanh khí của thời đại, vừa mang tầm vóc lịch sử Đó là tiếng nói củacuộc sống hiện thực hào hùng, oanh liệt thời chống Mĩ Nó là biểu tượng anh hùng tuyệtvời về người lính Trường Sơn Bài thơ góp phần làm sống mãi hình ảnh thế hệ thanh niênthời đại Hồ Chí Minh gian khổ mà oanh liệt, “Vang tự hào giữa thế kỉ hai mươi” (Tố Hữu)KB

* Đánh giá khái quát:

- Hai bài thơ là hai giai điệu minh chứng cho thực tế lịch sử; là bài ca ca ngợi về người línhgiúp thế hệ sau thấy được thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ gian khổ,

hi sinh nhưng rất anh hùng

- Bằng tài năng, tâm huyết và sự sáng tạo, Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đã góp mặt vàothơ ca kháng chiến hai thi phẩm - hai bài ca sống mãi với thời gian làm rung động lòngngười Vẻ đẹp của nó đã chứng minh cho nhận định của Ra-xum Ga-đa-tôp là hoàn toànđúng đắn: “hát đúng giai điệu về thời đại của mình” và “miêu tả một cách trung thực bằnghình ảnh hấp dẫn, không một chút giả tạo”

      Phát hiện và phân tích giá trị của các biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau:

“Cái  cò sung chát đào chua

câu ca mẹ hát gió đưa về trời

ta đi trọn kiếp con ngườicũng không đi hết mấy lời mẹ ru

Trang 22

Bao giờ cho đến mùa thutrái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằmbao giờ cho đến tháng năm

mẹ ta trải chiếu ta nằm đếm sao”

        (Trích: Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,  Nguyễn Duy)

áo lên tận cổ, nhìn người đối diện, nghĩ thầm: “Tại sao mình lại phải hi sinh thanh củi để sưởi

ấm cho con heo béo ị và giàu có kia?” Người đàn ông giàu có lui lại một chút, nhẩm tính:

“Thanh củi trong tay, phải khó nhọc lắm mới kiếm được, tại sao ta phải chia sẻ nó với tên khố rách áo ôm lười biếng đó?” Ánh lửa bùng lên một lần cuối, soi rõ khuôn mặt người da đen đang đanh lại, lộ ra những nét hằn thù: "Không, ta không cho phép mình dùng thanh củi này

sưởi ấm những gã da trắng!” Chỉ còn lại người cuối cùng trong nhóm Nhìn những người

khác trầm ngâm trong im lặng, anh ta tự nhủ: “Mình sẽ cho thanh củi, nếu có ai đó ném phần của họ vào đống lửa trước”.

Cứ thế, đêm xuống dần Sáu con người nhìn nhau căng thẳng, tay nắm chặt những khúc củi Đống lửa chỉ còn than đỏ rồi lụi tắt Sáng hôm sau, khi những người cứu hộ tới nơi, cả sáu đều đã chết cóng

Câu 3:

Trong bài “Tiếng nói văn nghệ”, Nguyễn Đình Thi có viết:

"Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được Ta sẽ dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi , và đọc lại bài thơ Tất cả tâm hồn chúng ta đọc…”

Em hiểu ý kiến trên như thế nào ?

Hãy chứng tỏ rằng bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu là “Một bài thơ hay” như thế?

HƯỚNG DẪN CHẤM

Câu        Nội dung cần đạt

1 Phát hiện và phân tích giá trị của các biện pháp tu từ

- Phép ẩn dụ: Hình ảnh cái cò, sung chát, đào chua- những sự vật quen thuộc trong đờisống, trong ca dao xưa -  tượng trưng cho người phụ nữ, người mẹ  và bao nỗi gian truânvất vả của cuộc đời

- Phép nhân hoá: hồng, bưởi đánh đu - Sự vật trở nên sinh động, gần gũi; thể hiện niềm

Trang 23

yêu thích tự hào của tuổi thơ.

- Nói quá: Ta đi trọn kiếp con người/ cũng không đi hết mấy lời mẹ ru: nhấn mạnh tình

mẹ thật bao la, sâu sắc Trải qua trọn kiếp con người cũng không sao thấu hiểu hết tấmlòng của mẹ qua những lời ru

- Đánh giá khái quát: Việc sử dụng những biện pháp tu từ trên giúp cảm xúc của nhânvật trữ tình được bộc bạch, dãi bày Người đọc vừa cảm nhận được hình ảnh người mẹtần tảo yêu thương vừa hiểu tình cảm thương nhớ, kính yêu, sự hàm ơn, tiếc nuối khônnguôi của nhà thơ

 

2

I Yêu cầu về kĩ năng: Hiểu được yêu cầu của đề ra Tạo lập được một văn

bản nghị luận xã hội có bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, lời văn trong sáng,

có cảm xúc và giọng điệu riêng Trình bày đúng chính tả và ngữ pháp

II Yêu cầu kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau,

nhưng cần đạt những nội dung sau:

A.Mở bài: Giới thiệu và trích dẫn vấn đề nghị luận 0,25 B.Thân bài:

1 Từ câu chuyện Lạnh, thí sinh rút ra những vấn đề cần nghị luận:

- Con người sống ích kỉ, không chia sẻ với người khác, tâm hồn sẽ trở nên

- Khẳng định câu chuyện ẩn chứa thông điệp sâu sắc, đúng đắn:

- Con người không muốn chia sẻ với người khác có nhiều lí do: Sự phân biệt 0,5

Trang 24

chủng tộc, tôn giáo, đẳng cấp xã hội, tính toán hơn thiệt nhưng tất cả đều bắt

nguồn từ lối sống ích kỉ, chỉ nghĩ đến bản thân mình

- Sự ích kỉ khiến tâm hồn con người mất đi niềm đồng cảm khiến họ không

thể chia sẻ, hi sinh, giúp đỡ người khác Chính vì thế, con người sống gần

nhau mà vẫn cô độc, giá lạnh, tàn nhẫn

0,5

- Sự ích kỉ dẫn đến những hậu quả khôn lường với người khác và với chính

mình vì quay lưng với người khác là đánh mất đi cơ hội nhận được sự chia

sẻ, giúp đỡ của chính mình trong những hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn

* Thí sinh lấy dẫn chứng từ câu chuyện và trong cuộc sống để làm sáng tỏ

vấn đề đang bàn luận

0,5

3 Bàn bạc mở rộng:

- Trong cuộc sống, có nhiều tấm lòng biết chia sẻ, yêu thương nhưng cũng

có không ít kẻ sống ích kỉ, vô cảm, tàn nhẫn cần bị phê phán

0,5

- Rút ra bài học: Đừng sống lạnh lùng, ích kỉ; bỏ qua những khác biệt, mở

rộng tấm lòng yêu thương, chia sẻ để cuộc sống con người trở nên gần gũi,

Từ thuở thơ ca xuất hiện mang đến hơi thở ấm áp cho hành tinh xanh xanh

những đại dương và điệp trùng những cánh rừng tươi thắm của chúng ta , có thểnói chưa bao giờ tổng kết được những định nghĩa về thơ Có người cho thơ là "

tơ lơ mơ" , "thơ là sự tuôn trào bột phát những tình cảm mãnh liệt" , thậm chí

"thơ là một cái gì mà người ta không định nghĩa được" Phải chăng vì thế mà

thơ thuộc một cõi huyền nhiệm , mông lung xa vời vợi ? Không , thơ ca chính bắt nguồn từ những lần ta vô tình mở lướt qua một bài thơ rồi ta nhận thấy như

có mình trong đó Và phải chăng thơ ở đây như trong ý kiến của Nguyễn Đình Thi " mỗi bài thơ hay không bao bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được

ta sẽ dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi , và đọc lại bài thơ tất cả tâm hồn chúng ta đọc không phải chỉ có tri thức cho đến 1 câu thơ kia người đọc nghe thì thầm mãi trong lòng , mắt không rời khỏi trang giấy " Bài thơ khiến cho tôi mắt không rời trang giấy , tim như hòa cùng nhịp thở của ngày ấy - những năm tháng kháng chiến chống Pháp ác liệt trong hơi thở và xúc cảm từ "Đồng chí" của Chính Hữu

B.Thân bài 

1 Nhận xét chung về bài thơ

Một chút chân thành, một chút lãng mạn, một chút âm vang mà Chính Hữu đã

Trang 25

gieo vào lòng người những cảm xúc khó quên Bài thơ " Đồng chí" với nhịp điệu trầm lắng mà như ấm áp, tươi vui; với ngôn ngữ bình dị dường như đã trở thành những vần thơ của niềm tin yêu, sự hy vọng, lòng cảm thông sâu sắc của một nhà thơ cách mạngBài thơ được sáng tác vào năm 1948, sau chiến dịch ViệtBắc năm 1947, đánh dấu sự xuất hiện cuả một nhà thơ mới trong thời kháng chiến chống thực dân Pháp Bài thơ lúc đầu dán ở báo tường đơn vị, sau in vào báo Sự thật, rồi được chép vào sổ tay các cán bộ, chiến sĩ, được phổ nhạc, trở thành tải sản chung của mọi người.

2.Phân tích sâu bài thơ

1 Hai câu thơ đầu cấu trúc song hành, đối xứng làm hiện lên hai "gương mặt" người chiến sĩ rất trẻ, như đang tâm sự cùng nhau Giọng điệu tâm tình của một tình bạn thân thiết:

"Quê hương anh nước mặn, đồng chua,

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá"

Quê hương anh và làng tôi đều nghèo khổ, là nơi "nước mặn, đồng chua", là xứ

sở "đất cày lên sỏi đá" Mượn tục ngữ, thành ngữ để nói về làng quê, nơi chôn nhau cắt rốn thân yêu của mình, Chính Hữu đã làm cho lời thơ bình dị, chất thơ mộc mạc, đáng yêu như tâm hồn người trai cày ra trận đánh giặc Sự đồng cảnh,đồng cảm và hiểu nhau là cơ sở, là cái gốc làm nên tình bạn, tình đồng chí sau này

2 Năm câu thơ tiếp theo nói lên một quá trình thương mến: từ "đôi người xa lạ"rồi "thành đôi tri kỉ", về sau kết thành "đồng chí" Câu thơ biến hóa, 7, 8 từ rồi rút lại, nén xuống 2 từ, cảm xúc vần thơ như dồn tụ lại, nén chặt lại Những ngày đầu đứng dưới lá quân kì: "Anh với tôi đôi người xa lạ - Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau" Đôi bạn gắn bó với nhau bằng bao kỉ niệm đẹp:

"Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!"

"Súng bên súng" là cách nói hàm súc, hình tượng: cùng chung lí tưởng chiến đấu; "anh với tôi" cùng ra trận đánh giặc để bảo vệ đất nước quê hương, vì độc lập, tự do và sự sống còn của dân tộc "Đầu sát bên đầu" là hình ảnh diễn tả ý hợp tâm đầu của đôi bạn tâm giao Câu thơ "Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ" là câu thơ hay và cảm động, đầy ắp kỉ niệm một thời gian khổ Chia ngọt sẻ bùi mới "thành đôi tri kỉ" "Đôi tri kỉ" là đôi bạn rất thân, biết bạn như biết mình Bạn chiến đấu thành tri kỉ, về sau trở thành đồng chí ! Câu thơ 7, 8 từ đột ngột rút ngắn lại hai từ "đồng chí !" diễn tả niềm tự hào xúc động ngân nga mãi trong lòng Xúc động khi nghĩ về một tình bạn đẹp Tự hào về mối tình đồng chícao cả thiêng liêng, cùng chung lí tưởng chiến đấu của những người binh nhì vốn là những trai cày giàu lòng yêu nước ra trận đánh giặc Các từ ngữ được sử dụng làm vị ngữ trong vần thơ: bên, sát, chung, thành - đã thể hiện sự gắn bó thiết tha của tình tri kỉ, tình đồng chí Cái tấm chăn mỏng mà ấm áp tình tri kỉ, tình đồng chí ấy mãi mãi là kỉ niệm đẹp của người lính, không bao giờ có thể quên:

"Ôi núi thẳm rừng sâu

Trung đội cũ về đâu

Biết chăng chiều mưa mau

Nơi đây chăn giá ngắt

Nhớ cái rét ban đầu

Trang 26

Thấm mối tình Việt Bắc "

("Chiều mưa đường số 5" - Thâm Tâm)

3 Ba câu thơ tiếp theo nói lên hai người đồng chí cùng chung một nỗi nhớ: nhớ ruộng nương, nhớ bạn thân cày, nhớ gian nhà, nhớ giếng nước, gốc đa Hình ảnh nào cũng thắm thiết một tình quê vơi đầy:

"Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay,

Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính"

Giếng nước gốc đa là hình ảnh thân thương của làng quê được nói nhiều trong

ca dao xưa: "Cây đa cũ, bến đò xưa Gốc đa, giếng nước, sân đình ", được Chính Hữu vận dụng, đưa vào thơ rất đậm đà, nói ít mà gợi nhiều, thấm thía Gian nhà, giếng nước, gốc đa được nhân hóa, đang đêm ngày dõi theo bóng hình anh trai cày ra trận ? Hay "người ra lính" vẫn đêm ngày ôm ấp hình bóng quê hương ? Có cả 2 nỗi nhớ ở cả hai phía chân trời Tình yêu quê hương đã góp phần hình thành tình đồng chí, làm nên sức mạnh tinh thần để người lính vượt qua mọi thử thách gian lao, ác liệt thời máu lửa Cũng nói về nỗi nhớ ấy, trong bài thơ "Bao giờ trở lại", Hoàng Trung Thông viết:

"Bấm tay tính buổi anh đi,

Mẹ thường vẫn nhắc: biết khi nào về ?

Lúa xanh xanh ngắt chân đê,

Anh đi là để giữ quê quán mình

Cây đa bến nước sân đình,

Lời thề nhớ buổi mít tinh lên đường

Hoa cau thơm ngát đầu nương,

Anh đi là giữ tình thương dạt dào

( ) Anh đi chín đợi mười chờ,

Tin thường thắng trận, bao giờ về anh ?"

4 Bảy câu thơ tiếp theo ngồn ngộn những chi tiết rất thực phản ánh hiện thực kháng chiến buổi đầu Sau 80 năm bị thực dân Pháp thống trị, nhân dân ta đã quật khởi đứng lên giành lại non sông Rồi với gậy tầm vông, với giáo mác, nhân dân ta phải chống lại xe tăng, đại bác của giặc Pháp xâm lược Những ngày đầu kháng chiến, quân và dân ta trải qua muôn vàn khó khăn: thiếu vũ khí,thiếu quân trang, thiếu lương thực, thuốc men, Người lính ra trận "áo vải chânkhông đi lùng giặc đánh", áo quần rách tả tơi, ốm đau bệnh tật, sốt rét rừng,

"Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi":

"Anh với tôi biết từng cơn ớn lanh,

Sốt run người vừng trán ướt mồ hồi

áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày "

Chữ "biết" trong đoạn thơ này nghĩa là nếm trải, cùng chung chịu gian nan thử thách Các chữ: "anh với tôi", "áo anh quần tôi" xuất hiện trong đoạn thơ như một sự kết dính, gắn bó keo sơn tình đồng chí thắm thiết cao đẹp Câu thơ 4 tiếng cấu trúc tương phản: "Miệng cười buốt giá" thể hiện sâu sắc tinh thần lạc quan của hai chiến sĩ, hai đồng chí Đoạn thơ được viết dưới hình thức liệt kê, cảm xúc từ dồn nén bỗng ào lên: "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" Tình thương đồng đội được biểu hiện bằng cử chỉ thân thiết, yêu thương: "tay nắm

Trang 27

lấy bàn tay" Anh nắm lấy tay tôi, tôi nắm lấy bàn tay anh, để động viên nhau, truyền cho nhau tình thương và sức mạnh, để vượt qua mọi thử thách, "đi tới và làm nên thắng trận".

Đến cuối bài thơ , tim ta như ngừng lại trước tình cảm cao đẹp của những ngườichiến sĩ , ta mới hiểu thêm biết bao điều về chiến tranh Chiến tranh không hề bilụy , không hề đau thương bởi những nhà thơ - người chiến sĩ như Chính Hữu

đã khắc họa rõ nét những điều thật đẹp mà không nơi nào có ngoài những chiến trường , những mặt trận ác liệt

Phần cuối bài thơ ghi lại cảnh hai người chiến sĩ - hai đồng chí trong chiến đấu

Họ cùng "đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới" Cảnh tượng chiến trường là "rừng hoang sương muối", một đêm đông vô cùng lạnh lẽo hoang vu giữa núi rừng chiến khu Trong gian khổ ác liệt, trong căng thẳng "chờ giặc tới", hai chiến sĩ vẫn "đứng cạnh bên nhau", vào sinh ra tử có nhau Đó là một đêm trăng trên chiến khu Một tứ thơ đẹp bất ngờ xuất hiện:

"Đầu súng trăng treo"

Người chiến sĩ trên đường ra trận thì "ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan" Người lính đi phục kích giặc giữa một đêm đông "rừng hoang sương muối" thì

có "đầu súng trăng treo" Cảnh vừa thực vừa mộng Về khuya trăng tà, trăng lơ lửng trên không như đang treo vào đầu súng Vầng trăng là biểu tượng cho vẻ đẹp đất nước thanh bình Súng mang ý nghĩa cuộc chiến đấu gian khổ hi sinh

"Đầu súng trăng treo" là một hình ảnh thơ mộng, nói lên trong chiến đấu gian khổ, anh bộ đội vẫn yêu đời, tình đồng chí thêm keo sơn gắn bó, họ cùng mơ ước một ngày mai đất nước thanh bình Hình ảnh "Đầu súng trăng treo" là một sáng tạo thi ca mang vẻ đẹp lãng mạn của thơ ca kháng chiến, đã được Chính Hữu lấy nó đặt tên cho tập thơ - đóa hoa đầu mùa của mình Trăng Việt Bắc, trăng giữa núi ngàn chiến khu, trăng trên bầu trời, trăng tỏa trong màn sương

mờ huyền ảo Mượn trăng để tả cái vắng lặng của chiến trường, để tô đậm cái tưthế trầm tĩnh "chờ giặc tới" Mọi gian nan căng thẳng của trận đánh sẽ diễn ra đang nhường chỗ cho vẻ đẹp huyền diệu, thơ mộng của vầng trăng, và chính đó cũng là vẻ đẹp cao cả thiêng liêng của tình đồng chí, tình chiến đấu

Bài thơ "Đồng chí" vừa mang vẻ đẹp giản dị, bình dị khi nói về đời sống vật chất của người chiến sĩ, lại vừa mang vẻ đẹp cao cả, thiêng liêng, thơ mộng khi nói về đời sống tâm hồn, về tình đồng chí của các anh - người lính binh nhì buổiđầu kháng chiến

Ngôn ngữ thơ hàm súc, mộc mạc như tiếng nói của người lính trong tâm sự, tâmtình Tục ngữ, thành ngữ, ca dao được Chính Hữu vận dụng rất linh hoạt, tạo nên chất thơ dung dị, hồn nhiên, đậm đà Sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực và màu sắc lãng mạn chung đúc nên hồn thơ chiến sĩ

C Kết bài 

Ý kiến về thơ của Nguyễn Đình Thi quả thật xác đáng cho ta suy nghĩ và nghiềnngẫm Thơ đâu phải quả bóng bay xa vời vợi nằm ngoài tầm bắt , Thơ ca luôn nồng nàn ấm áp hơi thở cuộc đời và mang dấu ấn sáng tạo nghệ thuật của ngườicầm bút Thơ là dòng sông soi bóng cuộc đời và len vào tâm hồn con người những mạch ngầm cảm xúc dạt dào chảy mãi không thôi "Đồng chí " là một bài thơ như thế , Chính Hữu đã biết cách thổi vào thơ ca một cái gì đó man mác , nhẹ dịu với những vần thơ kháng chiến mở ra cánh hoa thơm ngát tô điểmcho dòng thơ văn cách mạng Tôi yêu những vần thơ ấy bởi tôi đã nhận ra đượchương vị của cuộc đời , " chất người " ủ kín bên trong và tôi sẽ đọc đi ,đọc

Trang 28

lại rồi lại dừng lại để chiêm nghiệm Thật đáng yêu biết bao những vần thơ

- Nguyễn Dữ người huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

- Ông là học trò giỏi của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

- Sống trong cảnh chế độ phong kiến mục nát, “dông bão nổ trăm miền”, xã hội là cái

“vực thẳm đời nhân loại” chỉ thấy “bóng tối đùn ra trận gió đen”, nên sau khi đỗ hương cống,Nguyễn Dữ chỉ làm quan một năm rồi lui về ở ẩn Đó là hình thức bày tỏ thái độ chán nản trước thời cuộc của một trí thức tâm huyết nhưng sinh ra không gặp thời

2 Tác phẩm:

a “Truyền kì mạn lục”:

- Là ghi chép tản mạn về những điều kì lạ vẫn được lưu truyền

- Viết bằng chữ Hán, được xem là “Thiên cổ kì bút” ( áng văn hay ngàn đời )

- Gồm 20 truyện, đề tài phong phú - Nhân vật:

+ Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát sống cuộc sống yên bình, hạnh phúc, nhưng lại bị những thế lực tàn bạo và lễ giáo phong kiến nghiệt ngã đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, bi thương, bất hạnh vì oan khuất

+ Hoặc một kiểu nhân vật khác, những trí thức tâm huyết với cuộc đời nhưng bất mãn với thờicuộc, không chịu trói mình trong vòng danh lợi,sống ẩn dật để giữ được cốt cách thanh cao

mẹ già và nuôi con nhỏ.Để dỗ con, tối tối, nàng thường chỉ bóng mình trên tường mà bảo đó làcha nó.Khi Trương Sinh về, lúc đó mẹ già đã mất, đứa con bấy giờ đang tập nói, ngây thơ kể với chàng về người đêm đêm vẫn đến nhà chàng Sẵn có tính hay ghen, nay thêm hiểu lầm, Trương Sinh mắng nhiếc đuổi vợ đi Phẫn uất, Vũ Nương chạy ra bến Hoàng Giang tự vẫn Khi Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của vợ thì đã muộn,chàng lập đàn giải oan cho nàng

II Đọc – hiểu văn bản:

1 Nhân vật Vũ Nương:

Trang 29

* Trước hết Vũ Nương là người phụ nữ thuỷ chung, son sắc trong tình nghĩa vợ chồng:

-Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đa nghi, nên nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa” Nàng luôn giữ cho tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui.Nàng là một người vợ hiền thục, khôn khéo, nết na đúng mực! -Hạnh phúc êm ấm tưởng bền lâu, không ngờ đấtnước xảy ra binh biến, Trương Sinh phải đầu quân ra trận ở biên ải xaxôi Buổi tiễn chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng nhữnglời tình nghĩa, đằm thắm, thiết tha: “ Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dámmongđược đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo hai chữ bình yên, thế

là đủ rồi” Ước mong của nàng thật bình dị, lời lẽ ấy, chứng tỏ nàng luôn coi trọng hạnh phúc gia đình mà xem thường mọi côngdanh phù phiếm Nàng cảm thông trước những nỗi vất vả gian lao mà chồng sẽ phảichịu đựng: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường.Giặc cuồng còn lẩnlút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá

kì,khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng” Qua lời nói dịu dàng,nàng cũng bộc lộ nỗi khắc khoải nhớ chồng của mình: “Nhìn trăng soi thành cũ, lạisửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâmtình, thương người đất thú! Dù có thư tínnghìn hàng,cũng sợ không có cánh hồngbay bổng” Đúng là lời nói, cách nói của một người

vợ hết mực thùy mị, dịudàng Trái tim ấy giàu lòng yêu thương, biết chịu đựng những thử thách, biếtđợi chờ để yên lòng người đi xa, thật đáng trân trọng biết bao!

-Khi xa chồng,VũNương ngày ngày đợi chờ, ngóng trông đến thổn thức “Giữ trọn tấm uhlòng thủychung, son sắt”, “tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liêu tường hoa chưahề bén gót” Nỗi nhớ thương dài theo năm tháng “Mỗi khi thấy bướm lượn đầyvườn,mây che kín núi,thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”.Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngàyphải đối mặt với nỗi cô đơn vò võ Tâm trạngnhớ thương đau buồn ấy của VũNương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạcxưa nay:

“Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trờiTrời thăm thẳm xa vời khôn thấuNỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”

(Chinh phụ ngâm_Đoàn Thị Điểm)

=> Thể hiện tâmtrạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của Vũ Nương, vừa cangợi tấmlòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của nàng.

-Khi hạnh phúc giađình có nguy cơ tan vỡ: Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn Khi người chồng trútcơn ghen bóng gió lên đầu, Vũ Nương đã ra sức thanh minh, phân trần Nàng đãviệnđến cảthân phận và tấm lòng củamình đểthuyết phục chồng “Thiếp vốn conkẻkhó được nươngtựa nhà giàu cáchbiệt ba năm giữ gìn một tiết ” Những lời nói nhún nhường tha thiết đó chothấy thái độ trân trọng chồng, trântrọng gia đình nhà chồng, niềm tha thiết gìn giữ gia đình nhất mực của VũNương

Trang 30

-Rồi những năm tháng sống ở chốn làng mây cung nước sungsướng nàng vẫn không nguôi nỗithương nhớ chồng con Vừa gặp lại Phan Lang, nghe Lang kể về tình cảnh gia đình nàng đãứa nước mắt xót thương Mặc dù đã nặnglời thề sống chết với Linh Phi nhưng nàng vẫn tìm cách trở về với chồng controng giây lát để nói lời đa tạ tấm lòng chồng Rõ ràng trong trái tim ngườiphụ nữ ấy, không bợn chút thù hận, chỉ có sự yêu thương và lòng vị tha

* Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo vớimẹ chồng, một người mẹ hiền đầy tình yêu thươngcon.

-Trong banămchồng đi chiến trận, một mình nàng vừa làm con vừa làm cha vừa làm mẹ để chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con thơ

-Với mẹ chồng, nàng là một cô con dâu hiếu thảo.Chồng xa nhà, nàng đã thay chồng phụng dưỡng mẹ chu đáo Khi bà ốm nàng đã thuốc thang lễ bái thần phật và lấy những lời khôn khéođể khuyên răn để bà vơi bớt nỗi nhớthương con Đến khi bà mất, nàng đã hết lời thương xót, ma chay tế lễ cẩn trọnghệt như với cha mẹ đẻ của mình Cái tình ấy quả có thể cảm thấu

cả trời đất cho nên trước lúc chết người mẹ già ấy đã trăng trối những lời yêu thương,

độngviên, trân trọng con dâu “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức giốngdòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ lòng con như con đãchẳng phụ mẹ"

- con thơ nànghết sức yêu thương, chăm chút Sau khi xa chồng đầy tuần, nàng sinh bé Đản, mộtmình gánh vác cả giang sơn nhà chồng nhưng chưa khi nào nàng chểnh mảng việccon cái Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản cũng xuấtphát từ tấm lòng của người mẹ : để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tìnhcảm của người cha

=> Nguyễn Dữ đãdành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng qua từng trang truyện, từ đókhắc họa thành công hình tượng người phụ nữ với đầy đủ phẩm chất tốt đẹp.

* Là nạn nhân củachiến tranh phi nghĩa:

- Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm không chỉ là nạn nhân củachế độ phụ quyền phong kiến

mà còn là nạn nhân của chiến tranh phong kiến , củacuộc nội chiến huynh đệ tương tàn Nàng lấy Trương Sinh, cuộc sống hạnh phúcuộc sống vợ chồng kéo dài chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính để lại mìnhVũ Nương với mẹ già và đứa con còn chưa ra đời Suốt ba năm, nàng phải gánh váctrọng trách gia đình, thay chồng phụng dưỡng mẹ già, chăm sóc con thơ, trong nỗi nhớ chồng triền miên theo năm tháng - Chiến tranh đã làm xa cách, tạo điều kiện cho sự hiểu lầmtrở thành nguyên nhân gây bất hạnh Đó cũng là ngòi nổ cho thói hay ghen, đanghi của Trương Sinh nảy nở, phát triển, dẫn đến cái chết oan uổng của VũNương

* Đỉnh điểm của bi kịch là khi gia đình tan vỡ, bản thân phải tìm đến cái chết.

- Là người vợ thuỷ chung nhưng nàng lại bị chồng nghi oan vàđối xử bất công, tàn nhẫn

- Nghe lời ngây thơ của con trẻ Trương sinhđã nghi oan chovợ, mắng nhiếc, đánh đuổi nàng đi bất chấp lời van xin khóc lóc của nàng và lời biện bạch của hàng xóm

Trang 31

- Vũ Nương đau đớn vô cùng vì tiết giá của mình bị nghi kị,bôi bẩn bởi chính người chồng mà mình yêu thương

- Bế tắc, Vũ Nương đã phải tìm đến cái chết để giải nỗi oanức, thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ, oan nghiệt

* Cái kết thúctưởng là có hậu hoá ra cũng chỉ đậm tô thêm tính chất bi kịch trong thân phậnVũ Nương.

+ Có thể coi đây là một kết thúc có hậu, thể hiện niềm mơước của tác giả về một kết thúc tốt lành cho người lương thiện, niềm khát khaomột cuộc sống công bằng nới cái thiện cái đẹp sẽ chiến thắng cái xấu, cái ác

+ Nhưng sâu xa, cái kết thúc ấy không hề làm giảm đi tínhchất bi kịch của tác phẩm Vũ Nương hiện về uy nghi, rực rỡ nhưng đó chỉ là sựhiển linh trong thoáng chốc, là ảo ảnh ngắn ngủi và xa xôi Sau giây phút đónàng vẫn phải về chốn làng mây cung nước, vợ chồng con cái vẫn âm dương đôingả Hạnh phúc lớn nhất đời người đàn bà ấy là được sum họp bên chồng bên concuối cùng vẫn không đạt được Sự trở về trong thoáng chốc và lời từ biệt củanàng đã

hé ra cái sự thực cay đắng là cái nhân gian đầy oan nghiệt, khổ đau nàykhông có chốn dung thân cho người phụ nữ vì thế mà “Thiếp chẳng thể trở lạichốn nhân gian được nữa”

=>Tuy có nhữngphẩm chất tâm hồn đáng quý nhưng Vũ Nương đã phải chịu một số phận cay đắng,oan nghiệt Nghịch lí ấy tự nó đã là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bấtcông phi lí đương thời chà đạp lên hạnh phúc của con người

=> Xây dựng hìnhtượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý củangười phụ nữ, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho số phận bấthạnh của họvà cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chàđạp, rẻ rúng con người đặc biệt là người phụ nữ Có lẽ chưa cần nhiều, chỉ cầnkhai thác chân dung Vũ Nương

đã đủ thấy chiều sâu hiện thực và nhân đạo củangòi bút Nguyễn Dữ

*Những lí do nào đã dẫn đến bi kịch oan khuất mà Vũ Nương phải chịu?

-Gây nên nỗi oan nghiệt trong cuộc đời Vũ Nương trước hếtlà lời nói ngây thơ của con trẻ nhưng sau đó là là tính ghen tuông của ngườichồng đa nghi vũ phu Lời con trẻ thì ngây thơ

vô tội nhưng lòng ghen tuông của người lớn thì cố vin theo đểhăt hủi, ruồng rẫy cho hả dạ (Trực tiếp)

-Nhưng nói cho cùng Trương Sinh phũ phàng với vợ là do bảntính anh ta vốn vậy và còn vì đằng sau anh ta có sự hậu thuẫn của cả mọt chế độnam quyền trọng nam khinh nữ Lễ giáo phong kiến hà khắc cho người đàn ôngquyền hành vô độ với gia đình mình đặc biệt là với người phụ nữ cho nên không phảingẫu nhiên Hồ Xuân Hương đã so sánh phụ nữ với chiếc bánh trôi nước “rắn nátmặc dầu tay kẻ nặn” bởi lẽ trong xã hội nam quyền ấy thì đàn ông quả thực làthượng đế có thể "nặn" ra hình dáng cuộc đời của người phụ nữ TrươngSinh đã là một tội nhân bức tử Vũ Nương nhưng cuối cùng y vẫn vô can ngay cảkhi nỗi oan khiên cuả Vũ Nương đã được làm sáng tỏ (Gián tiếp)

-Ngoài ra cũng còn phải tính đến nhân tố khác cấu thành bikịch Vũ Nương đó là chiến tranh phong kiến, chính chiến tranh phong kiến đã gâynên cảnh sinh li và sau đó góp phần tạo nên cảnh tử biệt Nếu không có cảnhchiến tranh loạn li thì sẽ không xảy ra tình huống chia cách đểrồi dẫn đến bikịch oan khuất trên.(Gián tiếp)

-Liên hệ với thời điểm ra đời của tác phẩm là thế kỉ XVIkhi chiến tranh phi nghĩa giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh - Mạc, Lê - Trịnhkéo dài liên miên gây nên bao thảm cảnh sẽ thấy ý nghĩa hiện thực và hàm ý tốcáo của tác phẩm rất sâu sắc

Trang 32

2 Các chi tiết kì ảo:

a Những chi tiết kì ảo:

- Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa

- Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi yến vàgặp, trò chuyện với Vũ Nương, được trở về dương thế

- Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan chonàng ở bến Hoàng Giang

b Ý nghĩa:

- Tăng sức hấp dẫn bằng sự li kì và trí tượng tượng phongphú

- Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, mộtngười dù đã ở thế giới khác,vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổtiên, khao khát được phục hồi danh dự

- Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngànđời của nhân dân ta về sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oankhuất, cuối cùng sẽ được minh oan

- Khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với sự bi thảmcủa người phụ nữ trong xã hội phong kiến

3 Ý nghĩa chi tiếtcái bóng:

a Cách kể chuyện:

- Cái bóng là một chi tiết đặc sắc, là một sáng tạo nghệthuật độc đáo làm cho câu

chuyện hấp dẫn hơn so với truyện cổ tích

- Cái bóng là đầu mối, điểm nút của câu chuyện Thắt nút lànó, mà mở nút cũng

là nó

b Góp phần thểhiện tính cách nhân vật:

- Bé Đản ngây thơ

- Trương Sinh hồ đồ, đa nghi

- Vũ Nương yêu thương chồng con

c Cái bóng góp phầntố cáo xã hội phong kiến xung tàn, khiến hạnh phúc của người phụ

2.Nghệ thuật:

Tác phẩm là một áng văn hay, thành công về nghệ thuật xâydựng truyện, miêu tả nhân vật, kếthợp tự sự với trữ tình

********************************

1.VŨ NƯƠNG - CUỘC SỐNG VÀ CÁI CHẾT

a.VŨ NƯƠNG, BI KỊCH SỐNG KHÔNG ĐƯỢC LỰA CHỌN

Câu chuyện bắt đầu từ cuộc hôn nhân của Vũ Thị Thiết, “người con gái quê ở Nam Xương, tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp Trong làng, có chàng Trương Sinh, mến vì dung hạnh, xin với mẹ đem trăm lạng vàng cưới về”

Như vậy là hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh (cũng như bao nhiêu cặp vợ chồng khác trong xã hội phong kiến) là không xuất phát từ tình yêu Với Vũ Nương, nàng đã được/bị cha

mẹ gả bán Chớ trách nàng ham giàu, cũng đừng trách nàng sống dựa dẫm, bởi “cha mẹ đặt

Trang 33

đâu con ngồi đấy”, nàng làm gì được có ý kiến, lại càng không được quyết định việc hôn nhân của mình.

Đó là bi kịch đầu tiên của đời Vũ Nương mà chế độ phong kiến Việt Nam vốn lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống, với tôn ti trật tự nghiêm ngặt đã tước mất quyền được chọn chồng của người phụ nữ

Dù hôn nhân không phải trên cơ sở tình yêu, người chồng Trương Sinh đã “không có học” lại

“có tính đa nghi”, nhưng là người “thùy mị, nết na”, ắt nàng hiểu được bổn phận làm dâu, làm

vợ, nên đã giữ gìn khuôn phép để không từng lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa

Phụ nữ ngày xưa sống theo bổn phận Vũ Nương đã cố gắng hết sức để làm tròn bổn phận đó.Bổn phận hàng đầu của người con (mà dâu cũng là con), đó là hiếu thảo Hoàn cảnh đã thử thách và minh chứng lòng hiếu của nàng Chồng đi lính, Vũ Nương dẫu một mình nuôi con nhỏ nhưng đã hết lòng khuyên lơn, chăm sóc, thuốc thang, phụng dưỡng mẹ chồng khi bà ấy đau yếu; và khi mẹ chồng mất, nàng hết lời thương xót, ma chay tế lễ chu đáo như đối với cha

mẹ đẻ của mình Mẹ chồng chứng kiến và trời xanh kia chứng giám cho lòng hiếu của nàng Chừng đó đã đủ cho nàng thành gương sáng của đạo hiếu

Bổn phận hàng đầu của người vợ là chung thủy, tiết hạnh Hoàn cảnh đã thử thách và minh chứng lòng chung thủy, tiết hạnh của nàng Chồng nàng đi lính gần 3 năm Nàng đang ở tuổi xuân, vợ chồng “sum họp chưa thỏa tình chăn gối”, khi chàng Trương ra đi nàng đang mang thai sắp ngày sinh nở, những ngày vắng chồng hẳn vô cùng khao khát tình chồng vợ Nhưng nàng đã “giữ gìn một tiết”, “ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”

Không chỉ sống tròn bổn phận, mà nàng còn thực sự yêu thương chồng Ngay trong buổi tiễn đưa chồng, dù chàng Trương chưa xa, mới chỉ sắp xa mà nàng đã nói những lời tràn đầy yêu thương, nhung nhớ khiến cho “mọi người đều ứa hai hàng lệ” Trong những đêm xa chồng, cuộc sống của nàng và con thơ cô quạnh, nỗi nhớ càng đốt cháy tâm can, “nàng thường hay đùa với con, trỏ bóng mình trên vách mà bảo là cha Đản” Chỉ là để trả lời câu hỏi ngây thơ của con, cũng để cho vơi nỗi nhớ, chứ đâu phải nàng sống ảo như ai đó đã phê phán nàng Trò trỏ bóng trên vách này, xưa kia các nhà dùng đèn đầu (khi chưa có điện) vẫn thường làm Nàng làm sao lường trước được hậu quả giáng xuống nàng và gia đình bé nhỏ của nàng do trò đùa đó Chỉ có chúng ta, người đời sau, được đọc câu chuyện về nàng mới biết trò đùa đó đã lànguyên nhân gián tiếp đẩy nàng đến chỗ chết

Chúng ta đều biết nàng tự giết cuộc đời mình, nàng tự chọn cái chết Và đó là thứ đầu tiên và

có lẽ duy nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của mình nàng được tự chọn

Đành rằng, cái chết đó, có lẽ khiến nhiều người thương cảm (nhân dân đã lập miếu thờ nàng, ông vua thi sĩ Lê Thánh Tông khi qua đây đã làm thơ viếng nàng), và có người chê trách, thậmchí phê phán nàng ích kỷ, vô cảm

Khác với truyện cổ tích Vợ chàng Trương, khi bị chồng la mắng, đánh và đuổi đi, Vũ Nương chạy một mạch ra bến Hoàng Giang gieo mình xuống sông tự vẫn; ở Chuyện người con gái Nam Xương, Nguyễn Dữ đã để cho nàng nói mấy lời đau buồn có ý nghĩa từ biệt, tắm gội chay sạch rồi mới ra bến Hoàng Giang Như vậy là nàng đến với cái chết không phải do nóng giận mất khôn mà đó là sự lựa chọn của nàng sau khi đã suy nghĩ kỹ

Bởi, nàng đã không có lựa chọn nào khác

Nàng thanh minh bằng những lời tha thiết, Trương Sinh đã không tin “Họ hàng, làng xóm bênh vực, biện bạch cho nàng cũng chẳng ăn thua gì cả” Mẹ chồng, người hiểu và biết ơn

Trang 34

nàng thì đã chết Con trai nàng, đau đớn thay, sự thật thà và ngây thơ của nó lại chính là

nguyên do gây nên cơn ghen mà bất cứ người đàn ông xa nhà nào cũng có thể mắc phải chứ không chỉ Trương Sinh Đáng tiếc là “nàng đã hỏi chuyện do ai nói thì Trương Sinh đã giấu không kể lời con nói, chỉ lấy chuyện bóng gió mắng nhiếc nàng”

Nàng nương tựa chàng Trương, như lời nàng nói lúc từ biệt là vì thú vui nghi gia nghi thất Nàng coi trọng con người Trương Sinh nên dặn chàng tránh mũi tên hòn đạn, cũng không mong mang hai chữ phong hầu mặc áo gấm trở về, mà chỉ cần hai chữ bình yên Vậy mà, giờ đây, ngay ngày đầu chàng Trương trở về, nàng thấy cuộc hôn nhân mà nàng đã cố gắng đến mức cao nhất để gìn giữ đã tan vỡ, không còn cách cứu vãn Chồng nàng đã mắng chửi và đánh rồi đuổi nàng đi Nàng đi đâu? Không thể trở về nhà cha mẹ bởi thời xưa quan niệm con gái đã lấy chồng bị chồng đuổi mà trở về là mang tiếng nhục cho gia đình Nàng bị chồng cho

là thất tiết, đó là tội lớn nhất của người đàn bà, người làm vợ Thanh danh của nàng đã không còn Vũ Nương đành lựa chọn, một sự lựa chọn đau đớn, đó là nàng phải chết để bày tỏ nỗi oan khiên, để minh chứng sự trong sạch của mình

Bản năng con người là ham sống Hẳn Vũ Nương đã rất tha thiết với cuộc sống Nàng đang ở tuổi thanh xuân, lại càng không muốn chết Khi lựa chọn chết chứ không tiếp tục sống trong

sự nghi ngờ, phải mang tiếng là thất tiết, chứng tỏ nàng coi danh dự, phẩm giá cao hơn cả sự sống Vì danh dự nàng hy sinh sự sống mà mỗi người chỉ có được một lần

Câu chuyện cổ tích Vợ chàng Trương kết thúc ngay khi cuộc sống của nàng kết thúc Nhưng với Chuyện người con gái Nam Xương, nhà văn Nguyễn Dữ đã sáng tạo tiếp Ứng với lời nguyền, Vũ Nương khi gieo mình xuống dòng Hoàng Giang đã không bị làm mồi cho cá tôm

mà đã được Linh Phi - vợ vua Nam Hải cứu đưa vào động, thành cung nữ

Phần sáng tạo có tính hoang đường ấy ngoài việc tăng hấp dẫn cho câu chuyện, còn chuyển tảiđược ý đồ của nhà văn về cái gọi là kết thúc có hậu Dẫu sao thì nàng đã được minh oan, không chỉ riêng chàng Trương thấu nỗi oan của vợ, mà quan trọng hơn là mọi người cũng biết được điều đó qua việc Trương Sinh lập đàn tràng suốt ba ngày ba đêm bên bến Hoàng Giang.Thực ra đó là một lý do quan trọng để nàng còn tiếp tục “sống” ở dưới thủy cung Nỗi oan chưa được giải, nàng chưa “chết” được Cho nên khi gặp Phan Lang, nàng nhắn gửi với chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng Oan được giải, nàng bấy giờ mới thanh thản sang cõi khác.Việc Vũ Nương phải chết giữa tuổi thanh xuân mà nguyên nhân từ chuyện ghen tuông, từ bi kịch gia đình thực ra thời nào cũng có Song với Chuyện người con gái Nam Xương và truyện nữa trong Truyền kỳ mạn lục là Người nghĩa phụ ở Khoái Châu, câu chuyện kể về nàng Nhị Khanh bị chồng gá bạc nhục nhã tìm đến cái chết để giải thoát, Nguyễn Dữ muốn gióng lên hồi chuông cảnh báo về thân phận con người, đặc biệt là người phụ nữ thời ông sống phải chịunhiều bất công, phải chịu sự nghiệt ngã của số phận

Đành rằng cuộc sống là không có chữ “nếu”, nhưng nếu như Vũ Thị Thiết và Nhị Khanh đượcchồng tôn trọng, lắng nghe thì số phận của họ đã khác Xã hội phong kiến đã cho người chồng

có quyền đánh chửi vợ hay lấy vợ mình gá bạc mà không cần hỏi ý kiến đã chứng tỏ xã hội bấtbình đẳng nghiêm trọng Còn bất bình đẳng, bất công thì còn nhiều phụ nữ hoặc phải âm thầm chịu đựng, hoặc đẩy họ đến bế tắc cùng đường đành phải chọn cái chết bi thảm

Có lẽ vì thế mà trên con đường đến với xã hội văn minh, thế kỷ XXI rồi, cách thời Nguyễn Dữsống 300 năm mà thế giới mới đây vẫn lấy ngày 25/11 làm Ngày chống bạo lực với phụ nữ

Vì thế nên đền thờ Vũ Nương bên bến Hoàng Giang vẫn nghi ngút tỏa khói hương và câu chuyện về người thiếu phụ Nam Xương vẫn còn nhiều ý nghĩa

*********************************************************

Đề bài: Cảm nhận chi tiết chiếc bóng trên vách trong tác phẩm “Chuyện người con gái NamXương” của tác giả Nguyễn Dữ

Bài làm

Trang 35

Chiếc bóng trên vách trong truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” của tác giả Nguyễn

Dữ là một chi tiết đặc sắc, gần như mọi tình huống truyện đều xoay quanh chi tiết này Lần đầu cái bóng xuất hiện gián tiếp qua lời kể của bé Đản trong chuyến đi thăm mộ bà nôi cùng với Trương Sinh, cái bóng đã nhóm lửa cho ngọn lửa ghen tuông bùng cháy dữ dội trong người chàng Lần thứ hai cái bóng xuất hiện qua lời nói và tình huống cụ thể của đứa con khi

Vũ nương đã chết Giấu chi tiết này xuống phần mở nút thắt cho tác phẩm, tác giả đã gây bất ngờ, bàng hoàng cho người đọc cũng như khiến truyện hấp dẫn và cuốn hút hơn, đồng thời nó làm nổi bật tính cách con người Trương sinh Chi tiết ấy xảy ra khi Vũ Nương đã chết, sự đã rồi, mâu thuẫn được đẩy lên đỉnh điểm và chính lúc này Trương Sinh đã lộ hết bản chất vũ phu, độc đoán, gia trưởng của mình Cái bóng còn thể hiện sự cô độc, buồn tủi của người vợ trẻ xa chồng, người mẹ yêu thương con, mong con có một tuổi thơ êm ấm và rồi cũng vừa cho

ta thấy vẻ đẹp tâm hồn của nàng Nó thể hiện một khát khao sum họp sau nhiều năm xa cách, đau thương hơn đó lại là một trò đùa trong thương nhớ, một lời nói dối đầy thiện chí và bất ngờ thành nỗi oan muôn thuở Dù chiếc bóng gây nên kì oan cho nàng nhưng rồi cũng chính cái bóng ấy đã giải oan, thanh minh sự trong trắng đức hạnh của người con gái kia, ngoài ra nócòn ẩn dụ cho số phận mong manh trong xã hội phong kiến Từ đó chiếc bóng trên vách là mộtbài học cho những người đàn ông có tính ghen tuông bóng gió và khi nhận ra thì đã quá muộn màng, đồng thời nó cũng là thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm cho người đọc là phải biết tinyêu, vị tha đừng để cái bóng ghen tuông làm mờ lí trí! Chính vì vậy, tác phẩm ấy đã được đánh giá là một áng thiên cổ kì bút quả là không sai!

***************************************************

CHỊ EM THÚY KIỀU

Phân tích đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”

Khi khẳng định giá trị của “Truyện Kiều”, nhà thơ Chế Lan Viên đã từng ca ngợi: “Nguyễn

Du viết Kiều đất nước hóa thành văn” Có thể nói, Đoạn Trường Tân Thanh với những dòng lục bát tuyệt diệu là niềm tự hào cho nền văn chương Việt Nam Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Du, những phong cảnh tuyệt vời trong thiên nhiên, cỏ cây, những bức tranh tâm trạng đã hiện ra tạo thành một thế giới thơ đầy quyến rũ Bằng tấm lòng và sự nâng niu, trân trọng, mến yêu nhân vật chân thành, ông đã để lại cho đời những rung cảm nghệ thuật trước cái đẹp thật sâu sắc.Đến với đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”, một lần nữa

ta hiểu thêm về nghệ thuật miêu tả của Tố Như thần tình ra sao và trái tim Nguyễn chan chứa yêu thương biết nhường nào!

“Đầu lòng hai ả tố nga,

………

Tường đông ong bướm đi về mặc ai”

Song song với nghệ thuật tả cảnh, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đã đạt dến trình độ điêu luyện và là một thành công đặc biệt ở Truyện Kiều Tuy sử dụng bút pháp ước lệ mà vẫn giúp người đọc hình dung rõ bức chân dung tuyệt mĩ của hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều, để lại một ấn tượng khó phai trong lòng mỗi chúng ta

Trang 36

Đoạn trích có kết cấu chặt chẽ như một truyện ngắn cổ điển Mở đầu là bốn câu giới thiệu chung về hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều.

“Đầu lòng hai ả tố nga

………

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”

Hai cô con gái đầu lòng của ông bà Vương viên ngoại đi vào trang thơ của Nguyễn Du đều xinh đẹp, tươi tắn cả hai, hệt như những nàng “tố nga” Lời giới thiệu chng về hai chị em

đã khắc họa vẻ thanh cao, trong trắng từ hình dáng bên ngoài cho đến tam hồn bên trong Thứ bậc trong gia đình cũng đã được Nguyễn Du thể hiên qua lời giới thiệu khá giản

dị: “Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân” Đặc biệt, ông chú trọng gây ấn tượng ở tinh thần,

cốt cách của hai Kiều: cốt cách thanh tao, duyên dáng như mai và tâm hồn, phẩm hạnh trắng trong, thuần khiết như tuyết Hình ảnh ẩn dụ nằm trong phép tiểu đối không chỉ đặc

tả được cái thần của bức tranh thiếu nữ: cả hai đều trinh trắng, sáng trong mà còn khơi gợi xúc cảm thẩm mỹ cho người đọc về vẻ kiều diễm của hai chị em Hai người họ với những

vẻ đẹp không hoàn toàn như nhau mà là mỗi người đẹp theo một vẻ nhưng đều là những vẻđẹp hoàn mỹ Từ vóc dáng cho đến tâm hồn, Thúy Kiều và Thúy Vân đều đạt đến mức vẹn

toàn thật là tuyệt đối như tác giả đã nhận định: “mười phân vẹn mười” Điều ấy cho thấy ý thức lí tưởng hóa cao độ của nhà thơ bởi lẽ ở đời mấy ai được “mười phân vẹn mười” Câu

thơ không chỉ nhằm thống báo vẻ đẹp hoàn thiện của Thúy Vân, Thúy Kiều mà còn chất chứa niềm ngưỡng mộ trước cái đẹp rất riêng của mỗi người

Những ước lệ của văn chương cổ đi vào câu chữ của Nguyễn Du với biết bao tình cảm mến

yêu, trân trọng Lời khen chia đều cho cả hai, nét bút muốn đặc tả “mỗi người một vẻ”

Chính vì thế mà liền sau đó, thi sĩ tập trung khắc họa từng người Đầu tiên, chân dung Thúy Vân hiện ra với bốn câu thơ

“Vân xem trang trọng khác vời,

………

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

Chỉ vẻn vẹn bốn dòng thơ, Nguyễn Du đã thể hiện thật tài hoa vẻ đẹp tươi tắn, trẻ trung củamột cô gái đang độ trăng tròn Ở Vân cũng khẳng định ngay từ câu thơ đầu cái điểm hơn

người: vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang nhưng cũng là sự “trang trọng khác vời”. Để rồi, sau đó là sự cụ thể hóa ở khuôn mặt tròn đầy, ngời sáng như vầng trăng đêm

rằm, đôi lông mày cân đối, sắc nét như con ngài Hiện diện trên khuôn mặt tươi sáng ấy là

nụ cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong trẻo như ngọc Hay là phải chăng “ngọc

thốt” ở đây là để chỉ những lời nói của nàng quý giá và đáng trân trọng như ngọc ngà? Một

từ “thốt” thôi mà có thể giúp ta nhận ra vẻ dịu dàng , hiền thục hiếm thấy của Thúy Vân

Thật là tài tình! Không những thế, nàng còn sở hữu cả một mái tóc đen óng, nhẹ hơn mây

và làn da mịn màng, trắng hơn cả tuyết Quả là một vẻ đẹp hoàn hảo, cao sang, quý phái! Sắc đẹp của Thúy Vân sánh ngang với những nét kiều diễm, sáng trong của trăng hoa, ngọcvàng, mây tuyết,…, những báu vật tinh khôi, trong trẻo của đất trời Chỉ thoáng nhìn hình dáng, thoáng nghe Vân chuyện trò, chũng ta cũng dễ dàng cảm nhận được tất cả sự dịu dàng, đoan trang của một cô gái khuê các Có lẽ, Nguyễn Du cũng đã rất có dụng ý khi sử

dụng những tính từ chỉ độ tròn đầy, viên mãn để miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân: “đầy đặn”,

“nở nang” Một vẻ đẹp căng tròn của tuổi trẻ! Về mặt này, con mắt nhìn của Nguyễn Du

Trang 37

cũng thật “tinh đời”! Dựng lên hình ảnh của Thúy Vân với một vẻ đẹp phúc hậu, quý phái khiến thiên nhiên, tạo vật cũng phải “thua”, “nhường”, nhà thơ đã giúp ta nhận ra đấy là một vẻ đẹp có được sự hòa hợp, êm đềm với thế giới chung quanh Thêm vào đó là giọng thơ nhẹ nhàng, êm dịu nên Thúy Vân là hiện thân của cuộc đời yên ả, ấm êm Từ những thông điệp nghệ thuật trên, phải chăng đó là dự cảm về một cuộc sống bình lặng, suôn sẻ, hạnh phúc trong tương lai?

Nếu Nguyễn Du dành đôi nét tài hoa cho Thúy Vân thì với Thúy Kiều, tác giả dùng hết tâm lực để có những nét vẽ thần kì, công phu hơn

“Kiều càng sắc sảo, mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn”

Câu chuyển tiếp cho ta thấy từ sắc đến tài, Kiều hơn hẳn Thúy Vân, đó không phải là cái đẹp hiền lành, phúc hậu mà trái lại vừa sắc sảo, lộng lẫy, vừa mặn mà, duyên dáng, yêu kiều Thì ra, Thúy Vân đã sắc nước hương trời, Thúy Kiều còn rực rỡ hơn thế nữa Bằng thủ pháp đòn bẩy, Nguyễn Du đã mượn vẻ đẹp của Thúy Vân làm nền để nêu bật vẻ đẹp, tài năng của Thúy Kiều, giúp người đọc hình dung rõ hơn về bức chân dung của nàng bằngcái nhìn của riêng mình Thực tế, đến Thúy Kiều, ta thấy Nguyễn Du rất ít tả mà chỉ gợi Ông lại thêm một lần nữa chứng tỏ cốt cách nghệ thuật của một nghệ sĩ bậc thầy Bởi, nếu bây giờ nhà thơ cũng lặp lại trình tự tả y hệt như tả Thúy Vân thì hóa ra quá đỗi vụng về

Đặc biệt, sức gợi của vẻ đẹp Thúy Kiều toát lên từ đôi mắt: “Làn thu thủy, nét xuân

sơn”. Nguyễn Du dường như chỉ nói về đôi mắt của nàng Đôi mắt trong, sáng ngời, gợi

tình như sóng nước mùa thu và đôi mày cong cong mềm mại, thanh tú như dáng núi mùa xuân Cách miêu tả khiến khi đọc lên, ta như thấy có ánh sáng và làn sóng xao động bên trong Chỉ vậy thôi mà bao ẩn ý Đôi mắt nhìn đời, nhìn người sâu thẳm Đôi mắt dạt dào,

ẩn chứa bao tình cảm lai láng: biết yêu thương, căm hận, nhức nhối, sẻ chia,… Đôi mắt thể hiện một đời sống nội tâm phong phú Đôi mắt “tinh đời” chứ không như đôi mắt đẹp mà

vô hồn, vô cảm của Thúy Vân Thì ra, cụ Nguyễn Du cố tình bỏ sót đôi mắt nàng Vân là vì

lẽ đó Một lần nữa, ta lại thấy nhà thơ sử dụng tối đa nghệ thuật ẩn dụ và tiểu đối trong thơ

cổ điển cũng với ý nghĩa tượng trưng để tô đậm, tạo ấn tượng về nhan sắc của Kiều nhưng không gây rườm rà, phức tạp mà trái lại giá trị diễn đạt vẫn hay và tự nhiên Nhan sắc nàng

tuyệt mĩ đến nỗi: “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” Thêm một lần nữa thiên

nhiên được sử dụng để nói về vẻ đẹp của người thiếu nữ Thiên nhiên vốn là vẻ đẹp vĩnh

cửu vậy mà cũng phải “ghen”, “hờn” trước một nàng Kiều “sắc sảo mặn mà”. Hoa không

tươi thắm bằng dung nhan của nàng, liễu kém phần tươi non so với sức sống, tuổi trẻ mơn mởn của Kiều Nguyễn Du đã sử dụng biện pháp nhân hóa để thổi linh hồn vào câu thơ làm

ý thơ thêm phần sống động và trước mắt ta hiện ra một náng Kiều trẻ trung với tuổi xuân tràn đầy như hoa vừa đang độ nở, liễu đến kì xanh tươi Mà cũng vì thế mà ta càng thấp

thỏm hơn khi nghĩ tới tương lai của đời Kiều Liệu với vẻ đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” ấy, Kiều sẽ phải sống thế nào trong bể đời vốn “Thiên địa phong trần, hồng nhan đa

Trang 38

chữ Tố Như lại trăn trở bấy nhiêu Như vậy đó, chỉ mới mươi câu Kiều mà đã giúp ta thấu hiểu tấm lòng ưu ái sâu sắc, bao la của nhà thơ nhân đạo Nguyễn Du: ông yêu thương, nâng niu tất cả Có điều, với Thúy Kiều là cả một sự yêu thương, nâng niu đầy băn khoăn,

lo lắng so với Thúy Vân Thật vậy, trong Truyện Kiều, có lúc Nguyễn Du đã để sư bà Tam Hợp đạo cô đoán định tương lai bất ổn của Kiều qua lời thơ:

“Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,

Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.

Lại mang lấy một chữ tình,

Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.

Vậy nên những chốn thong dong,

Ở không yên chỗ, ngồi không vững vàng”

Chuyện thế thái, nhân tình cũng thật sâu sắc trong cách nhìn, cách cảm của Nguyễn Du Miêu tả Thúy Kiều, Nguyễn Du còn đề cao trí tuệ và tài năng của nàng, cho thấy rằng Kiềukhông phải chỉ có nhan sắc tuyệt trần mà còn là người con gái vốn có thiên tư thông minh bẩm sinh và rất mực tài hoa

“Thông minh vốn sẵn tính trời,

………

Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”

Tài năng của Kiều đã đạt tới mức lí tưởng Làm thơ, vẽ tranh, ca ngâm, âm nhac, mọi thứ Kiều đều tỏ ra thành thạo Đặc biệt, nàng rất sành chơi Hồ cầm Nguyễn Du một lần nữa lại

rất công phu khi dành cho Kiều các chữ: “vốn sẵn tính trời”, “đủ mùi”, “làu bậc”, “ăn đứt” gợi lên sự hoàn mỹ của nàng Tài năng của Thúy Kiều qua cách khắc họa của Nguyễn

Du họa chăng chỉ có thể so sánh với tài thơ vè xuất sắc của cung nữ tròn tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều

“Câu cẩm tú đàn anh họ Lý,

Nét đan thanh bậc chị chàng Vương”

Quả là “Sắc đành đòi một tài đành họa hai”! Lại thêm một lần nữa ta hiểu tại sao Nguyễn

Du không miêu tả cái tài của Thúy vân Tạo hóa đã dành cả cho Thúy Kiều, để rồi lại tỏ ra

đố kị mà đan tâm chơi trò nhỏ nhen

“Lạ gì bỉ sắc tư phong,

Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”

Câu chữ, lời thơ chất chứa sự ngợi ca, ngưỡng mộ mà nỗi băn khoăn, lo lắng cứ xốn xang trên mỗi từ ngữ của Tố Như Có lúc ông đã phải thốt lên rằng:

“Có tài mà cậy chi tài,

Chữ tài liền với chữ tai một vần”

Nhưng làm sao khác được, “Thiên bạc mệnh” ai oán đã vận vào Kiều mất rồi Trái tim yêu

thương mênh mông của Nguyễn Du cũng chẳng thể nào bảo vệ được Kiều trước vòng xoáynghiệt ngã của định mệnh

Trang 39

Đoạn trích khép lại trong bốn câu miêu tả cuộc sống phong lưu, khuôn phép trong đức hạnh, mẫu mực của hai chị em Kiều.

“Phong lưu rất mực hồng quần,

………

Tường đông ong bướm đi về mặc ai”

Vẻ đẹp chung của hai chị em được đúc kết lại trong cuộc sống nhung lụa, phú quý Hai cô gái họ Vương đang ở vào giai đoạn đẹp nhất, thơ mộng nhất của đời người, đó là tuổi dậy thì vô tư, trong trắng Đã đến tuổi cài trâm nhưng hai thiếu nữ không hề quan tâm đến

những chuyện “ong bướm”, tâm hồn như băng tuyết, họ đang sống trong cảnh êm đềm của

một gia đình gia phong, nề nếp Một lần nữa, Nguyễn Du khẳng định lại nếp sống phong

lưu, đài các của hai chị em Kiều. “Êm đềm”, “mặc ai” là phong thái cao giá của người đẹp

chứ nào phải sự vô cảm trước những rạo rực của tuổi trẻ Chữ dùng của Nguyễn Du tinh tế lắm chứ đâu phải buông lơi hờ hững, vô tình!

Chỉ với hai mươi bốn câu thơ lục bát, chúng ta cũng đủ thấy tài năng, sáng tạo bậc thầy củađại thi hào dân tộc Nguyễn Du Ngòi bút của ông linh hoạt vô cùng, khi vẽ chi tiết, khi chỉ lướt qua; khi tả, khi gợi, kết hợp nhuần nhuyễn tính ước lệ của sách vở và cách nói dân gian; vừa làm nghệ thuật, vừa gởi gắm tâm tư, tình cảm Để người đời yêu mến Tố Như và nhân vật của ông khi đến với Truyên Kiều, đều cảm nhận được một ẩn ý sâu sắc: ẩn sau bức chân dung mĩ nữ là tiếng lòng chan chứa yêu thương của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du

*************************************

Nghệ thuật tả người qua hai bức chân dung chị em Thúy Kiều

Nói về Truyện Kiều, không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Chế Lan Viên đã viết: “Khi

Nguyễn Du viết Kiều đất nước hoá thành văn”.  Quả thật, mặc dù xuất phát từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng nếu Kim Vân Kiều không để lại dấu ấn gì trong văn học Trung quốc thì Truyện Kiều của Nguyễn Du lại là một tác phẩm lớn trong văn học thế giới.      

Điều gì đã làm nên giá trị và sức sống của Truyện Kiều ? Có rất nhiều yếu tố tạo nên thiêntài Nguyễn Du Nhưng nét bút đặc sắc của Nguyễn Du trong nghệ thuật tả người thì không

ai có thể phủ nhận được Ông đã sáng tạo ra những chi tiết, ngôn ngữ, tâm lý nhân vật…tạo nên một thế giới nhân vật phong phú Chân dung chị em Thuý Kiều là một điển hình.Với ngòi bút thiên tài, đoạn trích Chị em Thuý Kiều đã ca ngợi vẻ đẹp của hai chị em ThúyKiều và Thúy Vân, những trang tuyệt sắc giai nhân tiêu biểu trong dòng văn học trung đại

Đó là một vẻ đẹp toàn mĩ trong tính ước lệ của văn chương:

“Mai cốt cách, tuyết tinh thần,       

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.”       

Câu thơ hiện lên hình ảnh hai cô gái vóc dáng mảnh dẻ, yểu điệu như cành  mai, tâm hồntrắng trong như tuyết Nhịp thơ 3/3 tách câu thơ thành hai tiểu đối tạo âm điệu nhịp nhàng,nhấn mạnh vẻ đẹp hài hoà cân đối của hai chị em Một vẻ đẹp đã đến độ hoàn hảo Mượncác yếu tố thiên nhiên để lột tả vẻ đẹp từ ngoại hình đến tâm hồn “mười phân vẹnmười”. Cái tài của Nguyễn Du là ở chỗ “mỗi người một vẻ” Quả thật, trong tác phẩm cũng

Trang 40

như trong đời thực, không ai hoàn toàn giống ai, chính điều ấy đã tạo nên cái diện mạo vàtính cách riêng của từng nhân vật.

       Đây là vẻ đẹp của Thuý Vân:       

          “Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

          Hoa cười ngọc thốt đoan trang,       

          Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.”

          Hình ảnh ước lệ, nhưng người đọc có thể hình dung một Thúy Vân xinh đẹp, thuỳ

mị, đoan trang với khuôn mặt phúc hậu, tươi thắm như trăng rằm, nụ cười rạng rỡ như hoahàm tiếu, giọng nói dịu dàng, trong trẻo như tiếng ngọc Nhà thơ ca ngợi mái tóc của ThúyVân óng mượt đến mây cũng phải thua, làn da trắng ngần mà tuyết cũng phải nhường Tạohoá đã ban cho nàng một sắc đẹp mà biết bao phụ nữ hằng ao ước ! Một vẻ đẹp đầy chấtước lệ, khuôn sáo của văn học trung đại “mặt hoa da phấn”, “mắt phượng mày ngài” Tạohoá phải nhường bước, chịu thua trước sắc đẹp của nàng Biện pháp nhân hoá “mây thua,tuyết nhường” kết hợp với từ ngữ gợi tả “đầy đặn, nở nang” vừa diễn tả vẻ đẹp của nàngvừa gợi lên sự tròn đầy viên mãn Nhịp điệu thơ nhẹ nhàng hài hòa, như nét đan thanh củamột cô gái thùy mị, nết na chừng như dự báo một cuộc sống yên vui, tốt đẹp của nàngtrong tương lai Hạnh phúc dang rộng cánh tay chờ đợi những bước chân nhịp nhàng, khoathai của nàng trong tương lai.      

          Nếu Thúy Vân là vẻ đẹp của bức tranh tố nữ, thì Thúy Kiếu là vẻ đẹp của ngườingọc hiện diện giữa trần đời đầy sắc sảo, mặn mà Hoàn tất bức chân dung Thúy Vân, nhàthơ mới từ tốn, hình như có chút hoang mang bối rối khi họa nên bức chân dung ThúyKiều Nếu chỉ với 4 câu thơ, chân dung Thúy Vân đã hoàn thiện thì khi tả Kiều, nhà thơ đãkhẳng định:

          “Kiều càng sắc sảo mặn mà,

          So bề tài sắc lại là phần hơn.”

          Có người nói, nhà thơ dùng Thúy Vân làm nền để tôn lên vẻ đẹp của Thúy Kiềutrong nghệ thuật “tả khách hình chủ” Lẽ nào trái tim nhân hậu của Nguyễn Du có thể làmtổn thương một vẻ đẹp hoa nhường nguyệt thẹn như Thúy Vân ư ? Chẳng phải đức hạnh và

vẻ đẹp của Thúy Vân đã được thừa nhận, ca ngợi đó sao ? Ngòi bút nhân văn như Nguyễn

Du, chắc chắn ông rất trân trọng và yêu thương nhân vật của mình Ông yêu thương, nângniu tất cả những tài hoa trác tuyệt ấy Có điều đối với Thuý Vân là sự yêu thương, nâng niutrân trọng, còn đối với Thuý Kiều là sự đồng cảm, yêu thương, ưu tư cho một số kiếp conngười:

         “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,

          Hoa ghen thua thắm,liễu hờn kém xanh.”

          Từ “càng” vừa là sự chuyển tiếp vừa diễn tả một mức độ thái quá, một điều gì đáng

lo ngại Nỗi băn khoăn lo lắng ấy không kềm chế được nên câu trước thì khoan thai hàohứng“Làn thu thủy, nét xuân sơn”. Câu thơ ngắt ra thành 2 dòng để nhấn mạnh, để điểm tô

vẻ đẹp tuyệt vời ấy mà sao nghe như có gì uất nghẹn Nguyễn Du đã sáng tạo trong miêu tảnhân vật Chỉ một nét thần, nhà thơ không chỉ miêu tả ánh mắt, nét mày mà còn lột tả tâm

Ngày đăng: 21/04/2023, 23:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w