Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; l
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hồ Chí Minh - vị cha già kính yêu của dân tộc – là nhân vật lịch sử vô cùng
vĩ đại Người không chỉ là sản phẩm của dân tộc Việt Nam, của giai cấp công nhân
Việt Nam, mà còn là sản phẩm của thời đại, của nhân loại tiến bộ Tư tưởng Hồ Chí
Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã
hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác- Lê
nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và
trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con
người Từ hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã khám phá các quy luật vận động xã
hội, đời sống văn hóa và cuộc đấu tranh của các dân tộc trong hoàn cảnh cụ thể của
các quốc gia và thời đại mới để khái quát thành lý luận, đem lý luận chỉ đạo thực
tiễn, qua kiểm nghiệm của thực tiễn để hoàn thiện, làm cho lý luận có giá trị khách
quan, tính cách mạng và khoa học Vì vậy, tư tuởng Hồ Chí Minh có ảnh hưởng lớn
Trang 2và sâu sắc tới cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng thế giới và ngày càng toả
sáng, chiếm lĩnh trái tim, khối óc của hàng triệu triệu con người
Tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc
với vấn đề giai cấp là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê nin trong điều kiện
lịch sử thực tiễn của Việt Nam Tư tưởng này là kim chỉ nam và có tác dụng to lớn
trong việc tập hợp lực lượng cách mạng ở Việt Nam nói riêng và các nước thuộc
địa nói chung, do đó đảm bảo thành công cách mạng Việt Nam
Bài viết của em xin “Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân
tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu, nhiệm vụ của cách
mạng Việt Nam.Và Đảng ta vận dụng quan điểm này trong thời kỳ đổi mới hiện
nay như thế nào?”
Bài viết gồm có 3 phần:
- Phần 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp
Trang 3- Phần 2: Quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc
và giai cấp về mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
- Phần 3: Sự vận dụng và phát triển tư tưởng của Hồ Chí Minh về mối quan
hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Phần I – Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp
1 Cơ sở lý luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sự vận dụng mà còn là sự phát triển một
cách sáng tạo học thuyết Mác- Lê nin Luận điểm về mối quan hệ giữa vấn đề dân
tộc và giai cấp là một trong những sáng tạo đó
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác- Ăng ghen đề cập đến vấn đề
dân tộc và vấn đề giai cấp như sau: cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở giai đoạn
đầu mang tính chất dân tộc, vì phong trào vô sản là phong trào độc lập của khối đại
Trang 4đa số, vì lợi ích của khối đại đa số Vì vậy, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản
chống lại giai cấp tư sản, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu
mang hình thức dân tộc.Như vậy, Mác- Ăng ghen đã thấy được mối quan hệ gắn bó
giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp.Hai ông không xem nhẹ vấn đề dân tộc Tuy
nhiên hai ông không đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc vì:
- Tại các nước này, mâu thuẫn cơ bản của xã hội là là mâu thuẫn giữa hai
giai cấp đối kháng: tư sản và vô sản
- Về cơ bản, ở châu Âu, vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng
tư sản
- Vào thời của Mác, hệ thông thuộc địa đã có, nhưng các cuộc đấu tranh
giành độc lập chưa phát triển mạnh
Do vật trong sự nghiệp giải phóng, hai ông nhấn mạnh đến giải phóng giai
cấp công nhân Mác- Ăng ghen viết: “Hãy xóa bỏ tình trạng người bóc lột người thì
tình trạng dân tộc này bóc lột dân tộc khác sẽ được xóa bỏ” và “Khi mà sự đối
Trang 5kháng giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các
dân tộc cũng đồng thời mất theo” Như vậy theo Mác-Ăng ghen, để giải quyết sự
đối kháng dân tộc, trước hết phải giải quyết đối kháng giai cấp, giải phóng giai cấp
là nhiệm vụ trung tâm, là điều kiện để giải phóng dân tộc Lê-nin từng nhận xét, đối
với Mác so với vấn đề giai cấp vô sản thì vấn đề dân tộc chỉ là vấn đề thứ yếu thôi
Đến thời đại của Lê-nin, khi chủ nghĩa đế quốc trở thành hệ thống thế giới, cách
mạng giải phóng dân tộc trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, Lê-nin mới
có cơ sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệ thống lý
luận Lê-nin cho rằng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chính quốc sẽ không giành
được thắng lợi, nếu nó không liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp
bức Từ đó Người cùng với Quốc tế cộng sản bổ sung khẩu hiệu nên trong tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn
kết lại” Sau khi Lê-nin mất, Ban lãnh đạo Quốc tế Cộng sản một thời gian dài đã
nhấn mạnh vấn đề giai cấp, coi nhẹ vấn đề dân tộc, vì vậy không mấy quan tâm đến
Trang 6chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc của các nước thuộc địa, thậm chí còn coi đó
là biểu hiện của chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, trái với chủ nghĩa quốc tế vô sản
Tóm lại, Mác-Ăng ghen, Lê-nin đã nên ra những quan điểm cơ bản về mối
quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu,
mục tiêu của cách mạng vô sản châu Âu, các ông vẫn tập trung nhiều hơn vào vấn
đề giai cấp, vẫn “đặt lên hàng đầu những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và
chung cho toàn thể giai cấp vô sản”
Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê nin trên nền tảng truyền thống yêu nước và nhân
ái của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh có quan điểm riêng, độc đáo về vấn đề dân
tộc và giai cấp Người cho rằng: phải kết hợp và giải quyết hài hòa vấn đề dân tộc
và vấn đề giai cấp, song phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết và trước hết Luận
điểm này của Người xuất phát từ thực tiễn của phương Đông và Việt Nam
Năm 1924, trong “Báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” Người cho rằng:
“Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử,
Trang 7nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu, mà châu Âu là gì?Đó chưa phải là toàn thể
nhân loại Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa
Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tài liệu mà Mác ở thời mình không có
được” Và Người đề nghị: “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó,
củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông” Ở phương Đông, “cuộc đấu tranh giai
cấp không giống như ở phương Tây, bởi vì xã hội Đông Dương, Ấn Độ hay Trung
Quốc, xét về mặt cấu trúc kinh tế không giống như xã hội phương Tây thời trung
cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở
đây…”
Đối với Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng Việt Nam là một nước thuộc địa
nửa phong kiến, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc và tay sai
nổi trội hơn mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ phong kiến, giữa tư sản
với vô sản Do đó, không phải giải quyết vấn đề giai cấp rồi mới giải quyết vấn đề
dân tộc như ở phương Tây Ngược lại chỉ có thể giải quyết vấn đề dân tộc mới giải
Trang 8phóng được giai cấp.Quyền lợi dân tộc và giai cấp là thống nhất, quyền lợi dân tộc
không còn, thì quyền lợi mỗi giai cấp, mỗi bộ phận trong dân tộc cũng không thể
thực hiện được Quan điểm này sau này thể hiện rõ ở Nghị quyết Hội nghị Trung
ương VIII, năm 1941 do Người chủ trì: “ Trong lúc này quyền lợi của bộ phận giai
cấp phải đặt dưới sự tồn vong sinh tử của quốc gia dân tộc Trong lúc này nếu
không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được tự do độc lập cho
dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu mà
quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”
Luận điểm về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp là một trong những sáng
tạo lớn của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lê nin
Trang 9Như chúng ta thấy, trước khi họ thuyết Mác-Lê nin được truyền bá vào Việt Nam thì các phong trào yêu nước của người Việt Nam chống thực dân Pháp liên
tục nổ ra, nhưng kết cục đều thất bại Nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho các
phong trào đó thất bại chính là do bế tắc về đường lối, mặc dù các bậc lãnh tụ của các phong trào yêu nước ấy đã dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp của mình, nhưng do học không nhận thức được xu thế của thời đại, nên không thấy được giai
cấp trung tâm của thời đại lúc này là giai cấp công nhân-giai cấp đại biểu cho một
phương thức sản xuất mới, mộ lực lượng tiến bộ xã hội Do đó, mục tiêu đi tới của
những phong trào ấy không phản ánh đúng xu thế vận động của lịch sử và thời đại,
nên không thể đem lại kết quả và triển vọng tốt đẹp cho sự phát triển của xã hội
Trang 10Nam là đã tìm ra con đường cứu nước, khai phá con đường giải phóng dân tộc và
các dân tộc bị áp bức trên thế giới.”
Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, qua khảo sát thực tế ở các nước
trên các châu lục Âu, Phi, Mỹ và ngay cả trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra
nhận xét: chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân là nguồn gốc của mọi sự đau khổ
của công nhân, nông dân lao động ở cả chính quốc cũng như ở thuộc địa Vì thế,
Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tham gia hoạt động đấu tranh trong phong trào giải
phóng các dân tộc bị áp bức, phong trào giải phóng giai cấp công nhân ở các nước
tư bản
Chính vì vậy mà Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến Cách mạng Tháng Mười Nga,
đến với V.I.Lê-nin như một tất yếu của lịch sử.Cách mạng Tháng Mười Nga thắng
lợi là một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng trong quá trình hoạt động tìm đường
cứu nước của Nguyễn Ái Quốc.Đặc biệt, sau khi đọc “Sơ thảo lần thứ nhất Luận
cương về dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ hơn
Trang 11con đường đúng đắn mà cách mạng Việt Nam sẽ trải qua Con đường phát triển tất
yếu của cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ
nghĩa Người chỉ rõ: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách
mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”
Trong quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã đấu
tranh và chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai
cấp, bền bỉ chống các quan điểm không đúng về vấn đề dân tộc và thuộc địa, đã
phát triển lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc
Phần II - Quan điểm của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và
giai cấp về mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
1 Những quan điểm chính của Người về vấn đề dân tộc
Hồ Chí Minh không bàn về dân tộc nói chung Xuất phát từ nhu cầu khách
quan của dân tộc Việt Nam, đặc điểm của thời đại, Người dành sự quan tâm đến
các thuộc địa
Trang 12Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại, Hồ Chí
Minh đã khẳng định phương hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh thời đại
mới là chủ nghĩa xã hội
- Độc lập dân tộc – nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa
Độc lập, tự do là khát vọng lớn nhất của các dân tộc thuộc địa Bác nói: “Tự
do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi hiểu”
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là một nền độc lập
thật sự, hoàn toàn, gắn với hòa bình, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước
Độc lập dân tộc, cuối cùng, phải đem lại cơm no áo ấm, hạnh phúc cho mọi người dân
- Chủ nghĩa yêu nước chân chính- Một động lực lớn của đất nước
Trang 13Cùng với sự lên án chủ nghĩa thực dân và cổ vũ các dân tộc thuộc địa vùng
dậy đấu tranh, Hồ Chí Minh khẳng định vai trò của tiềm năng dân tộc trong sự
nghiệp giải phóng
Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước chân chính của các
dân tộc thuộc địa.Đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi bất kỳ thế lực ngoại xâm
nào
2 Những quan điểm chính của Người về vấn đề giai cấp
Theo Mác và Lênin, giai cấp là những tập đoàn người to lớn, khác nhau về
địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau
về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa
nhận) đối với tư liệu sản xuất và phân công lao động, về vai trò của họ trong những
tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về
phần của cải ít hoặc nhiều mà họ được hưởng
Trang 14Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của
tập đoàn khác, do các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã
hội nhất định”
Theo Hồ Chí Minh,tất cả của cải vật chất, trong xã hội, đều do công nhân và
nông dân làm ra Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống
còn và phát triển Nhưng đa số người lao động thì suốt đời nghèo khó, mà thiểu số
người không lao động thì lại hưởng thụ thành quả lao động đó Đó là do một số ít người đã chiếm làm tư hữu những tư liệu sản xuất của xã hội Họ có tư liệu sản
xuất nhưng họ không làm lụng, họ bắt buộc người khác làm cho họ hưởng Do đó
mà có giai cấp Những người chiếm tư liệu sản xuất không làm mà hưởng, là giai
cấp bóc lột hay giai cấp tư sản Những người không sở hữu tư liệu sản xuất là giai
cấp vô sản, trong giai cấp đó, những người lao động mà không được hưởng giá trị
thặng dư và thành quả lao động là giai cấp bị bóc lột hay giai cấp công nhân
Trang 153 Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong tư tưởng của Người về mục
tiêu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
Tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc
với vấn đề giai cấp là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách mạng
Việt Nam, một trong những đóng góp sáng tạo và xuất sắc của Người vào kho tàng
lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Vấn đề dân tộc luôn gắn với vấn đề giai cấp, phụ thuộc vào vấn đề giai cấp,
và dân tộc bao giờ cũng do một giai cấp đại diện, quan hệ này là quan hệ lợi ích,
giai cấp phong kiến và tư sản đã từng đại diện cho dân tộc và giải quyết quan hệ lợi
ích giai cấp và lợi ích dân tộc nhưng không triệt để, còn nhiều mâu thuẫn ví dụ vua
quan Nhà Nguyễn đầu hàng Pháp, bảo vệ lợi ích của dòng tộc, Pháp đầu hàng
Đức,…
Tiếp nhận những quan điểm đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lê-nin về vấn đề
giai cấp và thuộc địa, Người cho rằng phải kết hợp và giải quyết hài hòa vấn đề dân
Trang 16tộc và vấn đề giai cấp, song phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, và trước hết vấn đề
dân tộc được giải quyết trên lập trường của giai cấp công nhân - điều đó phù hợp
với xu thế thời đại và lợi ích của các giai cấp và lực lượng tiến bộ trong dân tộc…
Tư tưởng biện chứng bày đã chỉ rõ mục tiêu và nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho nhân dân
a) Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau
Chúng kết hợp nhuần nhuyễn với nhau, sự kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề giai
cấp và vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minh thể hiện:
-Khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và quyền lãnh đạo duy
nhất của Đảng Cộng Sản trong quá trinh cách mạng Việt Nam
- Chủ trương đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công
nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách
mạng của kẻ thù
Trang 17- Thiết lập chính quyền nhà nước của dân, do dân và vì dân
- Gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội
b) Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết; độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội
Kẻ xâm lược thường tự cho dân tộc mình là siêu đẳng, có nghĩa vụ đi khai
hoá dân tộc khác, chúng tự cho mình cái quyền chém giết những dân tộc yếu hơn
để đàn áp, bóc lột, thoả mãn dã tâm của riêng chúng Chúng coi mình đứng trên tất
cả, cho sự bóc lột của mình là một sự ban phát ân huệ, và đi rêu rao rằng dân tộc
mình đang làm nghĩa vụ khai hoá cho một dân tộc khác hèn yếu hơn
Chính vì vậy, độc lập, tự do, hoà bình và thống nhất đất nước là khát vọng
cháy bỏng của người dân mất nước Bởi, mất nước là mất tất cả Sống trong cảnh
nước mất, nhà tan, mọi quyền lực nằm trong tay quân xâm lược và bọn tay sai thì
quyền sống của con người cũng bị đe doạ chứ nói gì đến quyền bình đẳng, tự do,
dân chủ của mọi người Nếu có, đó chỉ là thứ tự do cướp bóc, bắt bớ, giết hại và tù
Trang 18đày của quân xâm lược và bọn tay sai Chính vì vậy mà “Không có gì quý hơn độc
lập tự do”, một trong những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt
Nam đã trở thành chân lý của dân tộc Việt Nam và của cả nhân loại có lương tri
Theo Bác, tất cả các đân tộc phải được độc lập, tự do Đây là độc lập hoàn
toàn, độc lập thực sự trên tất cả các mật kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao và
toàn vẹn lãnh thổ Mọi vấn đề thuộc về chủ quyền dân tộc phải do chính Dân tộc đó
giải quyết, không cá sự can thiệp của nước ngoài Dân tộc độc lập trong tư tưởng
của Bác còn phải được thể hiện bằng sự ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân
Độc lập thật sự phải gắn với hoà bình thật sự “Nhân dân chúng tôi thành thật
mong muốn hoà bình…kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền
thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”
Khi đã giành được độc lập tự do thì phải bằng mọi giá để giành và bảo vệ
quyền ấy
Trang 19- Năm 1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêng đã dc các
nước Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ 1 thừa nhận, thay mặt
những người Việt Nam yêu nước, Người đã gửi tới Hội nghi Vec- xây bản yêu sách
gồm 8 điểm đòi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam Trong đó nổi lên hai
nội dung cơ bản:
+ Cho nhân dân Việt Nam được hưởng chế độ tự trị thuộc Pháp
+ Cho nhân dân Việt Nam được hưởng các quyền tự do dân chủ, như những
người Pháp và người nước ngoài được hưởng trên lãnh thổ Việt Nam
- Khi trả lời câu hỏi của nữ đồng chí Rôdơ, thư ký Đại hội lần thứ 18 của
Đảng Xã hội Pháp, họp ngày 29 tháng 12 năm 1920:Tại sao đồng chí lại bỏ phiếu
cho Quốc tế III? Hồ Chí Minh trả lời: “Rất giản đơn Tôi không hiểu chị nói thế
nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và nhiều điểm khác Nhưng tôi hiểu rõ một
điều: Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập