Khái niệm Theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, Sáng chế patent là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Phần lý thuyết: BẰNG SÁNG CHẾ
Giáo viên hướng dẫn Thực hiện Lớp tín chỉ
: : :
Lữ Thị Thu Trang Nhóm 6 – Strangers TMA408.2
Hà Nội, ngày 12 tháng 09 năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Phần lý thuyết: BẰNG SÁNG CHẾ
Thành viên thực hiện:
1 Phạm Thị Khánh Ngân – MSV: 1611110427
2 Mai Thị Phương Thảo – MSV: 1611110535
3 Vũ Minh Dương – MSV: 1518110181
4 Nguyễn Thu Hương – MSV: 1511110345
5 Nông Văn Chương – MSV: 1510120070
6 Phạm Anh Thư – MSV: 1515510122
7 Lê Quyết – MSV:
8 Bùi Đức Hiệp – MSV: 1511110278
9 Phùng Thị Mai Hương – MSV: 1511110347
Trang 3MỤC LỤC
I Các vấn đề chung về Sở hữu trí tuệ 3
1 Khái niệm Sở hữu trí tuệ 3
2 Tầm quan trọng của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ 3
3 Đặc điểm và đối tượng quyền sở hữu trí tuệ 3
II Các vấn đề cơ bản về bằng sáng chế 4
1 Khái niệm 4
2 Hệ thống Luật pháp Bảo hộ Sở hữu Công nghiệp về Sáng chế 5
3 Đặc điểm của sáng chế 5
4 Đối tượng bảo hộ của bằng sáng chế 5
5 Điều kiện cấp bằng sáng chế 6
6 Các yêu cầu pháp lý về bảo hộ sáng chế 7
7 Nộp đơn đăng ký sáng chế 10
8 Yêu cầu liên quan đến đơn đăng kí sáng chế 12
9 Thời hạn bảo hộ của sáng chế 12
10 Các trường hợp ngoại lệ khi sử dụng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ mà không bị xâm phạm 12
11 Những Nguyên tắc cơ bản liên quan đến việc đăng kí Bằng Độc quyền sáng chế 13
Trang 4PHẦN LÝ THUYẾT
I CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1. Khái niệm Sở hữu trí tuệ
- Trí tuệ là khả năng nhận thức lí tính đạt đến một trình độ nhất định
- Theo WIPO, sở hữu trí tuệ là các quyền hợp pháp xuất phát từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật
2. Tầm quan trọng của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ
Các nước có luật pháp bảo hộ sở hữu trí tuệ vì nhai lý do chính Thứ nhất là đưa
ra khái niệm luật định về quyền nhân thân và quyền về tài sản của những người sáng tạo trong hoạt động sáng tạo của họ và các quyền của công chúng được tiếp cận những sáng tạo đó Thứ hai là để thúc đẩy hoạt động sáng tạo, như biện pháp có chủ đích trong chính sách của Chính Phủ Và phổ biến cũng như áp dụng các kết quả của hoạt động sáng tạo và khuyến khích kinh doanh lành mạnh góp phần vào sự phát triển kinh
tế và xã hội
Nói chung, luật sở hữu trí tuệ nhằm bảo vệ người sáng tạo và những nhà sản xuất hàng hóa và dịch vụ trí tuệ khác bằng cách trao cho họ những quyền bị khống chế về thời hạn để kiểm soát việc sử dụng các sản phẩm đó Những quyền này không áp dụng cho các vật thể vật chất cụ thể mà sáng tạo có thể mang chứa trong nó hay áp dụng, thực hiện trên nó mà chỉ áp dụng cho chính kết quả của sáng tạo trí tuệ
3. Đặc điểm và đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
a, Đặc điểm
Cho dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đều
có một số đặc điểm sau đây:
Đối tượng được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ
Đó là tác giả của tác phẩm, tác giả của sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, kiểu dáng công nghiệp; chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan, chủ
sở hữu quyền sở hữu công nghiệp và một số chủ thể khác theo quy định của pháp luật (Điều 13, Điều 37 đến Điều 43, Điều 121)
Trang 5 Cách thức bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là áp dụng các biện pháp khác nhau để
xử lí hành vi xâm phạm tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm
Chủ thể áp dụng biện pháp bảo vệ có thể là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc các cơ quan nhà nước khác Các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ cũng như pháp luật Việt Nam đều cho phép chủ thể quyền sở hữu trí tuệ tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình
Theo quy định của pháp luật nước ta, thẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thuộc về: Toà án, thanh tra, quản lí thị trường, hải quan, công an, uỷ ban nhân dân các cấp (Điều 200 Luật sở hữu trí tuệ)
Mục đích của bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ; ngăn chặn, chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
b, Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
Theo điều 3 luật sở hữu trí tuệ năm 2005, đối tượng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:
1 Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá
2 Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
3 Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống
II CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẰNG SÁNG CHẾ
1. Khái niệm
Theo quy định tại Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ, Sáng chế (patent) là giải
pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Các giải pháp này có tính mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế xã hội
Thí dụ:
Trang 6 Sáng chế của Edison đối với chiếc bóng đèn hay máy hát đầu tiên vào đầu thế kỷ 20
Sáng chế của Von Neuman đối với chiếc máy tính cá nhân đầu tiên trên thế giới
Những sáng chế này đã nâng cấp trình độ kỹ thuật thế giới và là những bước đột phá trong công nghệ, mở ra kỷ nguyên mới cho loài người
Bằng sáng chế hay bằng độc quyền sáng chế là một chứng nhận các đặc quyền dành cho nhà sáng chế hoặc chủ sở hữu sáng chế bởi một quốc gia trong một thời hạn nhất định, đổi lấy việc nội dung của sáng chế được công bố rộng rãi ra công chúng Quy trình để cấp bằng sáng chế, các điều kiện để cấp bằng và đặc quyền cũng như thời hạn của đặc quyền thay đổi giữa các quốc gia, theo luật pháp của từng quốc gia và các thỏa thuận quốc tế
2. Hệ thống Luật pháp Bảo hộ Sở hữu Công nghiệp về Sáng chế
a) Pháp luật Việt Nam
Luật sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009
Bộ Luật Dân sự 2015 – Phần SHTT
Bộ Luật Hình sự 1999 (sửa đổi năm 2008) – Phần Tội phạm SHTT
Luật Chuyển giao Công nghệ 2006
Nghị định số 103/2006/NĐ-CP về sở hữu công nghiệp (đã được sửa đổi, bổ sung)
Nghị định số 105/2006/NĐ-CP về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT
b) Pháp luật Quốc tế
Hiệp định thương mại về Quyền Sở hữu Trí tuệ TRIPS 1994
Hiệp ước về Luật Chứng nhận Phát minh, Sáng chế (PLT) (WIPO thông qua vào năm 2005)
Hiệp định hợp tác về bằng phát minh sáng chế (PCT) 1966
3. Đặc điểm của sáng chế
Về bản chất, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế là quyền của chủ sở hữu sáng chế được độc quyền khai thác sáng chế của họ và ngăn cản người khác sử dụng sáng chế có tính năng tương tự trong một thời gian nhất định và trên một lãnh thổ nhất định
Việc công nhận danh hiệu sáng chế được thực hiện thông qua cấp bằng Bản thân việc cấp bằng bảo hộ dựa trên nguyên tắc có đi có lại: chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích phải mô tả đầy đủ sáng chế, giải pháp hữu ích của mình để thế giới có kiến thức áp dụng sau khi hết thời hạn bảo hộ Ngược lại, cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích được độc quyền
Trang 7khai thác các đối tượng này một thời gian để có một khoản lợi nhuận từ việc sáng tạo
4. Đối tượng bảo hộ của bằng sáng chế
Theo Điểm b Điều 25.3 Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ thì Giải pháp kỹ thuật - đối tượng được bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế - được hiểu là tập hợp cần và đủ các thông tin về cách thức kỹ thuật và/hoặc phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết một nhiệm vụ (một vấn đề) xác định Giải pháp kỹ thuật có thể thuộc một trong các dạng sau đây:
Sản phẩm dưới dạng vật thể (dụng cụ, máy móc, thiết bị, linh kiện, mạch điện ) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về kết cấu, sản phẩm đó có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của con người; hoặc sản phẩm dưới dạng chất thể (vật liệu, chất liệu, thực phẩm, dược phẩm ) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định một sản phẩm nhân tạo được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm) về sự hiện diện, tỉ lệ
và trạng thái của các phần tử, có chức năng (công dụng) như một phương tiện nhằm đáp ứng một nhu cầu nhất định của con người; hoặc sản phẩm dưới dạng vật liệu sinh học (gen, thực vật/động vật biến đổi gen ) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin về một sản phẩm chứa thông tin di truyền bị biến đổi dưới tác động của con người, có khả năng tự tái tạo
Quy trình (quy trình công nghệ; phương pháp chẩn đoán, dự báo, kiểm tra, xử lý ) được thể hiện bằng một tập hợp các thông tin xác định cách thức tiến hành một quá trình, một công việc cụ thể được đặc trưng bởi các dấu hiệu (đặc điểm)
về trình tự, điều kiện, thành phần tham gia, biện pháp, phương tiện thực hiện các thao tác nhằm đạt được một mục đích nhất định
Theo Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ, các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế
Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;
Cách thức thể hiện thông tin;
Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;
Giống thực vật, giống động vật;
Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;
Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật
5. Điều kiện cấp bằng sáng chế
Theo Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ, sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng
độc quyền sáng chế nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: có tính mới; có trình độ sáng tạo; và có khả năng áp dụng công nghiệp
Trang 8 Thứ nhất, tính mới có nghĩa là không trùng với những giải pháp kĩ thuật đã nộp đơn hoặc được bảo hộ; chưa bị bộc lộ công khai ngoài ý muốn của chủ thể, dưới hình thức sử dụng hoặc mô tả tới mức một người trung bình trong lĩnh vực tương ứng có thể thực hiện được giải pháp đó Thời điểm xác định tính mới là ngày ưu tiên (đó là ngày nộp đơn hợp lệ, hoặc ngày ưu tiên theo Công ước Paris
Thứ hai, sáng tạo được hiểu là kết quả của một ý tưởng (có thể bắt nguồn từ những sáng chế khác), nhưng không nảy sinh một cách hiển nhiên từ trình độ
kỹ thuật hiện tại đối với một người có kỹ năng thông thường (trình độ trung bình) trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng Những gì mà một người có trình độ trung bình ở cùng ngành kỹ thuật tương ứng có thể tự tìm ra được mà không cần phải có bản mô tả sáng chế của người yêu cầu nộp đơn được coi như "hiển nhiên" Sau nữa, đây phải là một sự sáng tạo có trình độ, nghĩa là phải có sự khác biệt cơ bản giữa trình độ kỹ thuật vào ngày ưu tiên và sáng chế được yêu cầu bảo hộ (phải nêu được ví dụ về tính sáng tạo) Việc đánh giá trình độ sáng tạo của giải pháp kĩ thuật nêu trong Đơn được thực hiện bằng cách đánh giá yêu cầu bảo hộ để đưa ra kết luận: dấu hiệu cơ bản khác biệt có bị coi là đã bộc lộ vào ngày ưu tiên hay không, và có bị coi là có tính hiển nhiên hay không
Thứ ba, sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định Để thoả mãn các điều kiện này, các thông tin về bản chất của giải pháp cùng với các chỉ dẫn
về điều kiện kỹ thuật cần thiết phải được trình bày một cách rõ ràng đầy đủ đến mức cho phép người có trình độ hiểu biết trung 126 bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể tạo ra, sản xuất ra và có thể sử dụng, khai thác giải pháp đó nhiều lần với kết quả như nhau và giống với kết quả nêu trong đơn
6. Các yêu cầu pháp lý về bảo hộ sáng chế
a) Tính mới
Tính mới là một trong số những yêu cầu quan trọng nhất để được bảo hộ sáng chế Tính mới là trung tâm của hệ thống sáng chế Một sáng chế phải có tính mới Nói cách khác, sáng chế phải chưa được người khác biết đến hoặc sử dụng Hầu hết quốc gia đều quy định sáng chế phải mới tại thời điểm nộp đơn, trong khi một số quốc gia
Trang 9khác, như Hoa Kỳ, lại quy định sáng chế phải mới tại thời điểm được tạo ra Một sáng chế hoặc việc công bố trước sáng chế tương tự sẽ làm mất tính mới của sáng chế (ngăn cản sáng chế được cấp bằng độc quyền hoặc khiến cho bằng độc quyền bị hủy bỏ sau đó) Về cơ bản, nếu sáng chế không mới thì sẽ không được bảo hộ Tuy tính mới là điều kiện quyết định đến khả năng bảo hộ của sáng chế, nhưng tiêu chuẩn về tính mới lại khác nhau giữa các quốc gia Cần lưu ý rằng tính mới không cần phải là cái gì to tát
mà ngay cả những thứ nhỏ cũng bé cũng có thể mới và hữu ích Nhiều quốc gia yêu cầu “tính mới tuyệt đối” Yêu cầu này được hiểu là sáng chế phải có “tính mới trên toàn cầu” theo nghĩa rằng sự bộc lộ liên quan đến sáng chế ở bất kỳ nơi nào trên thế giới đều có thể tạo thành giải pháp kỹ thuật đã biết hợp lệ để bác bỏ đơn đăng ký sáng chế Hơn nữa, hành vi của tác giả sáng chế cũng có thể tạo thành giải pháp kỹ thuật đã biết Do đó, người nộp đơn phải nộp đơn đăng ký sáng chế trước khi bộc lộ công khai sáng chế Ở hầu hết các quốc gia, việc bộc lộ kết quả nghiên cứu có tính mới và hữu ích (nếu việc bộc lộ chứa sáng chế) có thể làm giảm cơ hội được cấp bằng độc quyền đối với sáng chế có trong đơn được nộp sau đó Ở các quốc gia khác, như Hoa Kỳ, người nộp đơn có thể thỏa mãn yêu cầu về tính mới nếu nộp đơn đăng ký sáng chế trong thời gian (ân hạn) 01 năm kể từ thời điểm bộc lộ công khai sáng chế hoặc từ lần chào bán sáng chế đầu tiên Ân hạn là một thời hạn mà trong thời gian đó việc bộc lộ công khai sáng chế bởi tác giả sáng chế sẽ không làm cho sáng chế trở thành giải pháp
kỹ thuật đã biết để bác bỏ đơn (ở Hoa Kỳ, thời gian ân hạn là 01 năm) Tất nhiên, do tác giả sáng chế có thể bộc lộ công khai sáng chế của mình và sau đó nộp đơn hợp lệ tại quốc gia áp dụng thời gian ân hạn, điều đó không có nghĩa là đơn đó cũng hợp lệ tại các quốc gia khác mà không áp dụng thời gian ân hạn
b) Tính hữu ích/khả năng áp dụng công nghiệp
Để được bảo hộ, sáng chế phải có tính hữu ích Sáng chế sẽ không được bảo hộ nếu không thực hiện được chức năng nhất định Căn nguyên của yêu cầu về tính hữu ích được giải thích là để bảo đảm cho xã hội nhận được lợi ích tích cực trước khi trao độc quyền cho người nộp đơn hay tác giả sáng chế Thông thường, tính hữu ích chỉ yêu cầu rằng sáng chế phải thể hiện được các chức năng được mô tả và đạt được kết quả có lợi tối thiểu Một số hệ thống pháp luật quy định người nộp đơn đăng ký sáng chế phải chỉ ra sáng chế đáp ứng yêu cầu về khả năng áp dụng công nghiệp - một khái niệm tương tự như tính hữu ích nêu trên Trong một số trường hợp, yêu cầu về khả
Trang 10năng áp dụng công nghiệp có thể được đáp ứng bằng việc lập yêu cầu bảo hộ theo một mẫu cụ thể
c) Tính không hiển nhiên/trình độ sáng tạo
Yêu cầu thứ ba để bảo hộ sáng chế là tính không hiển nhiên Ở một số quốc gia, yêu cầu này được gọi là “trình độ sáng tạo” Yêu cầu này đòi hỏi sáng chế phải không hiển nhiên đối với người có trình độ trung bình “trong lĩnh vực” (lĩnh vực khoa học/kỹ thuật của sáng chế) Về cơ bản, tính hiển nhiên có nghĩa là một sản phẩm hay quy trình
sẽ không được bảo hộ sáng chế nếu người bất kỳ có trình độ kỹ thuật trung bình trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật có liên quan có thể kết hợp các thông tin đã biết lại với nhau và đạt được kết quả tương tự Thời điểm để xác định tính không hiển nhiên và trình độ sáng tạo là khác nhau giữa các hệ thống pháp luật, nhưng nhìn chung thường
là tại thời điểm nộp đơn hoặc thời điểm tạo ra sáng chế đó Tính không hiển nhiên khác so với tính mới ở chỗ một sáng chế có thể là hiển nhiên ngay cả khi nó không được bộc lộ một cách chi tiết trong giải pháp kỹ thuật Nói cách khác, thẩm định viên sáng chế có thể coi sáng chế đó là hiển nhiên khi kết hợp một số tài liệu đã được công
bố mà mỗi tài liệu đó chứa một nội dung của sáng chế ngay cả khi sáng chế đó có tính mới (ví dụ, không có trước trong bất kỳ tài liệu kỹ thuật đối chứng nào) Mục đích của yêu cầu về tính không hiển nhiên cũng giống như tính mới là bằng độc quyền chỉ được cấp nếu sáng chế thể hiện sự tiến bộ đáng kể so với giải pháp kỹ thuật đã biết
Khi xác định xem sáng chế có tính hiển nhiên hay không, thẩm định viên sáng chế cần xem xét 3 yếu tố:
i Phạm vi và nội dung của tài liệu kỹ thuật đối chứng;
ii Sự khác nhau giữa tình trạng kỹ thuật và yêu cầu bảo hộ sáng chế;
iii Mức độ hiểu biết của người có trình độ kỹ thuật trung bình trong lĩnh vực
đó
Khi thẩm định phạm vi và nội dung của tài liệu kỹ thuật đối chứng, thẩm định viên trước tiên phải tra cứu các giải pháp kỹ thuật đã biết trong cùng lĩnh vực của sáng chế Nghĩa là thẩm định viên thường không tra cứu trong các lĩnh vực khác không liên quan đến nội dung của sáng chế Việc xác định các điểm khác nhau giữa giải pháp kỹ thuật đã biết và sáng chế được yêu cầu bảo hộ đòi hỏi phải so sánh kỹ lưỡng chúng để tìm ra các điểm giống và khác nhau một cách chính xác
Nếu thẩm định viên thấy rằng tài liệu kỹ thuật đối chứng đã bộc lộ hoàn toàn sáng chế của người nộp đơn (như được yêu cầu bảo hộ) thì coi như sáng chế đó không