1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) cơ sở lý THUYẾT về HIỆU QUẢ KINH tế và CÔNG BẰNG xã hội THỰC TIỄN QUAN điểm GIỮA HIỆU QUẢ KINH tế và CÔNG BẰNG xã hội KHÔNG mâu THUẪN của VIỆT NAM HIỆN NAY

26 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội: thực tiễn quan điểm giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội không mâu thuẫn của Việt Nam hiện nay
Tác giả Đỗ Hữu Quân, Phạm Hồng Cường, Trần Quốc Huy, Hoàng Ngân Giang, Lê Trung Sao, Chu Thái Ngọc Tú, Nguyễn Nam Tiến, Lê Quốc Toại, Nguyễn Hải Yến
Chuyên ngành Kinh tế Quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 82,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân phối thu nhập từ người giàu sang người nghèo là cần thiết và nó không ảnh hưởng tới tính hiệu quả của nền kinh tế...11 CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN QUAN ĐIỂM GIỮA HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CÔNG BẰ

Trang 1

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 2

1.1 Hiệu quả kinh tế 2

1.1.1 Khái niệm 2

1.1.2 Phân loại 3

1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 4

1.2 Công bằng xã hội 5

1.2.1 Khái niệm 5

1.2.2 Một số hình thức thể hiện sự công bằng trong xã hội 6

CHƯƠNG 2: NHỮNG QUAN ĐIỂM GIỮA HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI KHÔNG MÂU THUẪN 7

2.1 Quan điểm của Harry Oshima 7

2.2 Tăng thu nhập cho người nghèo sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển nhanh 8

2.3 Phân phối thu nhập công bằng sẽ kích thích sự phát triển làm mạnh 8

2.4 Thu nhập thấp và mức sống thấp của người nghèo sẽ làm trực tiếp hoặc gián tiếp chậm tiến trình phát triển chung 10

2.5 Phân phối thu nhập từ người giàu sang người nghèo là cần thiết và nó không ảnh hưởng tới tính hiệu quả của nền kinh tế 11

CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN QUAN ĐIỂM GIỮA HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI KHÔNG MÂU THUẪN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 14

3.1 Quan điểm của Đảng 14

3.2 Những thành tự đạt được trong quá trình phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội 15

3.3 Giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả kinh tế gắn với công bằng xã hội 19

KẾT LUẬN 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM

Trang 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ

HỘI 1.1 Hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là hiệu quả xét về mặt kinh tế, được so sánh, tính toán dựatrên giá trị và được đo bằng tiền Hiệu quả kinh tế mô tả mối quan hệ lợi ích kinh tế

mà chủ thể nhận được và chi phí bỏ ra để nhận được lợi ích kinh tế đó, biểu hiện củalợi ích và chi phí kinh tế phụ thuộc vào chủ thể và mục tiêu mà chủ thể đặt ra Hiệuquả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữakết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàngđầu của các nhà quản lý cả ở tầm vĩ mô và vi mô Bởi vì, đây chính là tiêu chuẩn, làthước đo để đánh giá hiệu suất của vốn đầu tư, đánh giá khả năng phát triển sản xuấtcủa một tổ chức kinh tế Phân tích hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của các cơ sở sản xuất, của một ngành và rộng hơn là của toàn xã hội cho biết:

cơ sở, ngành và xã hội đã sử dụng nguồn lực như thế nào; kết quả đạt được ra sao;

từ đó có những biện pháp sử dụng các nguồn lực tốt hơn và đạt hiệu quả kinh tế caohơn Trong kinh tế thị trường, phân tích hiệu quả kinh tế của các đơn vị hay toàn bộnền kinh tế để đánh giá được mức sinh lời của vốn; thấy được lợi nhuận và lợi nhuận

Trang 4

ròng thu được; đánh giá được tổng thu nhập quốc dân, thu nhập của các tầng lớpdân cư; đánh giá mức sống và chất lượng cuộc sống của nhân dân trong những điềukiện và thời gian cụ thể.

1.1.2 Phân loại

Hiệu quả kinh tế bao gồm: Hiệu quả phân bổ và hiệu quả sản xuất.

Hiệu quả phân bổ là trạng thái của nền kinh tế trong đó sản xuất phù hợp với

nhu cầu của người tiêu dùng; cụ thể là, mọi hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất chođến thời điểm mà đơn vị cuối cùng cung cấp lợi ích biên cho người tiêu dùng bằng vớichi phí sản xuất biên Bởi vì nguồn lực sản xuất khan hiếm, các nguồn lực phải đượcphân bổ cho các ngành công nghiệp khác nhau chỉ với số lượng phù hợp, nếu khôngquá nhiều hoặc quá ít sản lượng được sản xuất

Hiệu quả phân bổ xảy ra khi có sự phân phối hàng hóa và dịch vụ tối ưu, có xétđến sở thích của người tiêu dùng Khi giá cả bằng chi phí sản xuất biên, thì hiệu quảphân bổ ở mức sản lượng Điều này là do sự phân phối tối ưu đạt được khi mức thỏadụng biên của hàng hóa bằng với chi phí biên Giá mà người tiêu dùng sẵn sàng trảbằng với mức thỏa dụng cận biên của người tiêu dùng

Trang 5

Hiệu quả sản xuất xảy ra khi các đơn vị hàng hóa đang được cung cấp với tổng

chi phí trung bình thấp nhất có thể

Nhìn vào sơ đồ PPC dưới đây Điểm X thể hiện sự kém hiệu quả trong Năngsuất Điều này là do đầu ra không tối ưu và vẫn còn tài nguyên chưa sử dụng Trongkhi đó, Điểm Y cho thấy hiệu quả sản xuất, vì đây là sản lượng tối đa có thể đạt đượcthông qua việc sử dụng tất cả các nguồn lực

1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Do có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nên tở trên phương diện

lý thuyết cũng như thực thế có nhiều cách biểu hiện cụ thể và khác nhau Có thể sửdụng hai công thức sau để đánh giá hiệu quả kinh tế

Thứ nhất, tính theo chi phí tài chính

H=Q G × 100

C TC

Trang 6

Trong đó: H là hiệu quả kinh tế

Trong đó: H là hiệu quả kinh tế

C TTlà chi phí kinh doanh thực tế

C PD Là chi phí kinh doanh phải đạtCông thức này được sử dụng nhiều trong phân tích, đánh giá tính hiệu quả củatoàn bộ hoạt động kinh doanh cũng như kinh tế

1.2 Công bằng xã hội

1.2.1 Khái niệm

Khái niệm về công bằng xã hội có thể tùy thuộc và góc độ nhìn nhận và tiêu thứcxem xét mà mỗi cá nhân có thể có những quan điểm khác nhau Thông thường quanniệm về công bằng xã hội thường được đề cập chủ yếu từ hai góc độ: Góc độ kinh tếhọc và góc độ khoa học về phát triển

Trên góc độ kinh tế học, xuất phát từ việc chia sẻ lợi ích hay chi phí, công bằngđược tiếp cận theo hai cách là công bằng dọc và công bằng ngang:

Thứ nhất: bằng cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế học Công bằng ngang được

hiểu là sự đối xử như nhau với những người có tình trạng ban đầu như nhau Theoquan điểm này, nếu hai người có nhận có tình trạng ban đầu như nhau (được xem xéttheo một số tiêu thức nào đó như thu nhập, hoàn cảnh gia đình, tôn giáo, dân tộc )thì không được phân biệt đối xử trong việc chia sẻ chi phí và lợi ích

Công bằng dọc là sự đối xử không giống nhau với những người có tình trạng ban

đầu khác nhau nhằm khắc phục những khác biệt sẵn có Theo cách hiểu này, cầnphân biệt giữa chia sẻ chi phí và chia sẻ lợi ích giữa những người có tình trạng ban

Trang 7

đầu khác nhau: Ví dụ, trong dịch vụ y tế, việc chăm sóc, chữa trị như nhau đối với các

cá nhân có tình trạng bệnh tật như nhau là đảm bảo công bằng ngang trong việc chia

sẻ lợi ích; còn công bằng ngang trong chia sẻ chi phí đòi hỏi sự đóng góp như nhauđối với những người có điều kiện kinh tế như nhau Với công bằng dọc, các bệnhnhân có tình trạng bệnh tật khác nhau cần được hưởng lợi ích từ việc chữa bệnh khácnhau, biểu hiện bằng sự chữa trị với các phác đồ điều trị khác nhau và các cá nhân cóđiều kiện kinh tế khác nhau thì đóng góp cũng phải khác nhau

Thứ hai: là tiếp cận trên góc độ khoa học về phát triển có thể hiểu như sau.

Công bằng nghĩa là cá nhân cần có cơ hội như nhau để theo đuổi cuộc sống mà họ đãlựa chọn và phải tránh được những kết cục xấu trong giáo dục, y tế, mức tiêu dùnghay tham gia các hoạt động xã hội Như vậy công bằng được định nghĩa theo hainguyên tắc cơ bản đó là cơ hội bình đẳng và tránh sự bần cùng của kết cục

Mặc dù có sự khác biệt trong tiếp cận nhưng giữa các khái niệm công bằng cómối liên hệ chặt chẽ với nhau Cụ thể, hai cá nhân có năng lực như nhau được bìnhđẳng trong tiếp cận cơ hội, không tính đến những sự khác biệt về hoàn cảnh địnhtrước, họ có thể đạt được những kết quả như mong muốn trong cuộc sống nếu như

bỏ ra công sức như nhau Như vậy, nếu đảm bảo nguyên tắc thứ nhất cơ hội bìnhđẳng thì cũng có nghĩa hai cá nhân này đang được đối xử theo nguyên tắc công bằngngang Ngoài ra, nếu nguyên tắc thứ hai - tránh sự bần cùng không mong muốn vềcác kết cục trong cuộc sống - được đảm bảo nghĩa là cần tạo ra những điều kiện riêngbiệt cho các cá nhân (vì một lý do nào đó mà không thể tận dụng được các cơ hội) đểđạt được các thành tựu của cuộc sống, thì điều đó hàm ý công bằng dọc đã đượcthực hiện

Do đó, để thực hiện CBXH, không đơn thuần là đảm bảo cá nhân được bìnhđẳng trong tiếp cận cơ hội, giúp họ tránh rơi vào tình trạng bần cùng hóa do khôngtận dụng được cơ hội trong cuộc sống, mà còn phải đảm bảo phân chia lợi ích, chi phígiữa các cá nhân một cách bình đẳng Thị trường nếu có thực hiện được công bằngthì cũng chỉ có thể tập trung vào công bằng ngang Vì vậy, về cơ bản công bằng dọcchỉ có thể được thực hiện tốt thông qua các chính sách can thiệp của chính phủ

Trang 8

1.2.2 Một số hình thức thể hiện sự công bằng trong xã hội

Trả công hoặc hưởng thụ trực tiếp theo số lượng và chất lượng cống hiến

Tạo khả năng tiếp cận bình đẳng các cơ hội và các nguồn lực phát triển

Tạo khả năng tiếp cận và mức độ hưởng thụ bình đăng những phúc lợi côngcộng - dịch vụ xã hội cơ bản

CHƯƠNG 2: NHỮNG QUAN ĐIỂM GIỮA HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CÔNG

BẰNG XÃ HỘI KHÔNG MÂU THUẪN 2.1 Quan điểm của Harry Oshima

H.oshima là nhà kinh tế học Nhật Bản, dựa vào những luận điểm của Ricardo vềmối quan hệ giữa khu vực nông nghiệp và công nghiệp, ông đã đi sâu nghiên cứu mốiquan hệ này trong điều kiện một nền nông nghiệp lúa nước có tính thời vụ cao Trongtác phẩm Tăng trưởng kinh tế ở Châu á gió mùa, H.oshima đã đưa ra một mô hìnhtăng trưởng mới gắn liền với giải quyết vấn đề công bằng xã hội

Theo H.oshima, do nền nông nghiệp có tính thời vụ cao có lúc thiếu lao động, lại

có lúc thừa lao động Do đó trong thời kỳ đầu có thể tăng năng suất lao động bằngcách giảm tình trạng thiếu việc làm trong luc nông nhàn Giải pháp cơ bản để giảmtình trạng thiếu việc làm là tăng vụ, đa dạng hoá cơ cấu cây trồng, phát triển chănnuôi, trồng cây công nghiệp và cây lâm nghiệp Vì có việc làm nhiều hơn, nên thunhập của nông dân cũng sẽ được tăng lên, giảm bớt sự bất bình đẳng trong thu nhậpgiữa nông thôn và thành thị Khi thu nhập tăng lên nông dân bắt đầu có tích luỹ và cóthể tăng đầu tư cho sản xuất, nhờ vậy nông nghiệp được tăng trưởng nhanh hơn.Đồng thời nhà nước phải có chính sách hỗ trợ nông nghiệp về cơ sở hạ tầng như thuỷlợi, giao thông, điện để nông nghiệp phát triển nhanh hơn

Tiếp theo, do nông nghiệp đã được phát triển ở mức độ nhất định có thể chophép đa dạng hóa ngành nghề ở nông thôn ngoài các hoạt động nông nghiệp, cáchoạt động chế biến lương thực thực phẩm, thủ công mỹ nghệ cũng ngày càng đượcphát triển Điều này đòi hỏi có sự hoạt động đồng bộ từ sản xuất, vận chuyển tiêu

Trang 9

thụ, đến các hoạt động dịch vụ hỗ trợ như tín dụng, cung cấp nguyên liệu, công cụsản xuất cho công nghiệp.

Như vậy, phát triển nông nghiệp đã tạo điều kiện mở rộng thị trường cho côngnghiệp, do đó thúc đẩy mở rộng sản xuất công nghiệp và thúc đẩy dịch vụ phát triển.Điều đó tạo nên sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và cácngành dịch vụ Quá trình như vậy diễn ra trong một thời gian dài cho đến khi khảnăng tăng việc làm vượt quá tốc độ tăng lao động, làm cho lao động bắt đầu khanhiếm, tiền công lao động thực tế tăng lên, và điều này sẽ làm giảm bớt sự bất bìnhđẳng trong phân phối thu nhập Sau đó, cùng với quá trình phát triển công nghiệp,tiền lương trong nông nghiệp cũng dần dần được tăng lên Khi đó xuất hiện xu hướng

sử dụng máy móc thay thế lao động chân tay, vì lúc này sử dụng máy móc rẻ hơn.Trong điều kiện đó, có thể chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp ở thànhphố, trong khi đó ở nông thôn sản xuất lương thực vẫn tiếp tục tăng Khi các ngànhcông nghiệp phát triển, có thể tìm được thị trường xuất khẩu mạnh mẽ, sẽ tăng sứchút lao động mạnh hơn nữa Điều này dẫn đến cầu về lao động vượt quá cung về laođộng Do đó, ở nông thôn đạt đến mức đủ việc làm, tiền công cũng tăng lên, như vậy,theo H.Oshima, tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo vấn đề công bằng xã hội Và khi côngbằng xã hội đạt đến mức độ nào đó lại là tiền đề thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hơnnữa

2.2 Tăng thu nhập cho người nghèo sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển nhanh.

Khi người lao động có một mức thu nhập ổn định, nhu cầu của họ đối với cácmặt hàng nhu yếu phẩm sẽ ngày càng cao hơn, từ đó đòi hỏi các doanh nghiệp phảitối ưu hóa việc sản xuất của mình Khi đó, các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu đổimới, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, kinh doanh; tìm thị trường mới chonguyên liệu đầu vào, nghiên cứu mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ngoài các thịtrường truyền thống Điều này sẽ giúp cho quốc gia tiến tới đạt hiệu quả kinh tếnhanh hơn Mặt khác, với một thu nhập ổn định, người nghèo không còn phải lo lắng

về những nhu cầu cơ bản nữa, thay vào đó họ có thể tập trung hơn vào việc nâng caovốn con người thông qua việc cải thiện trình độ giáo dục và bổ sung các kỹ năng cần

Trang 10

thiết Lúc này, lực lượng lao động sẽ có được một sự bổ sung đáng kể cả về chất vàlượng, đóng vai trò nòng cốt để thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đạt hiệu quả kinh tế.Nói tóm lại, việc tăng thu nhập cho người nghèo, tức là đảm bảo công bằng xãhội không những không làm chậm đi quá trình đạt hiệu quả kinh tế mà thay vào đócòn là một biện pháp để thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn.

2.3 Phân phối thu nhập công bằng sẽ kích thích sự phát triển làm mạnh

Một sự phân phối thu nhập công bằng hơn và giảm được mức độ nghèo đói củadân chúng sẽ kích thích sự phát triển lành mạnh, tạo tâm lý và khuyến khích vật chất

để mở rộng sự tham gia của quần chúng vào quá trình phát triển

Trong một môi trường có sự phân phối thu nhập công bằng hơn sẽ có tác độngngoại ứng tích cực đối với người dân Đầu tiên, sự phân phối thu nhập công bằng hơnhay khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp sẽ tạo tâm lý tích cực, tự tin hơn vào khảnăng lao động của tầng lớp có thu nhập thấp Từ đó kích thích tính sáng tạo, chăm chỉcủa người lao động để chính bản thân mình có thể thu hẹp khoảng cách ấy Tâm lýnày hình thành ở tất cả mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp lao động phổthông góp phần lớn vào sự tăng trưởng và phát triển của cả nền kinh tế

Tương tự như vậy, khi mức độ đói nghèo của người dân giảm xuống, người dân

sẽ có thể đáp ứng được nhu cầu của bản thân một cách đầy đủ hơn, lượng cầu vàlượng cung sản phẩm trong nước đều tương ứng tăng lên góp phần giúp nền kinh tếphát triển Sau khi đã đáp ứng được nhu cầu cơ bản, người dân sẽ có khả năng đểkích thích sự phát triển lành mạnh, đẩy mạnh tham gia vào thị trường lao động trongnước, đầu tư vào vốn con người hay các việc làm có ích cho bản thân và xã hội, giảmbớt các tệ nạn, từ bỏ các công việc trái phép, trái pháp luật như buôn lậu, cờ bạc, …Một nền kinh tế như thế chắc chắn sẽ có sự phát triển nhanh và bền vững

Ngược lại, chênh lệch mức thu nhập quá lớn và nghèo đói phổ biến sẽ là mộtcản trở lớn về vật chất và tâm lý đối với tiến bộ kinh tế Một nền kinh tế có mức độchênh lệch thu nhập lớn và đói nghèo tràn lan sẽ tạo ra ngoại ứng tiêu cực đè nặngtâm lý của những người lao động có thu nhập thấp, tác động tiêu cực làm họ giảmnăng suất lao động của bản thân sẽ nhiều hơn so với việc cố gắng nỗ lực để thu hẹp

Trang 11

khoảng cách giàu nghèo, đơn giản bởi vì đối với phần lớn trong số họ khoảng cáchđấy là quá xa và không sự nỗ lực nào có thể bù đắp nổi Bên cạnh đó, khi có quánhiều người dân lâm vào cảnh nghèo đói, họ sẽ không có đủ tư liệu sản xuất để nuôisống bản thân và gia đình một cách đầy đủ Họ cũng không có khả năng để đầu tưvào vốn con người, và do vậy các thế hệ sau của họ cũng rất khó khăn để có thể pháttriển và thoát khỏi cảnh đói nghèo, làm cho nền kinh tế bị trì trệ trong cả ngắn hạn vàdài hạn Trong cuộc sống khó khăn ấy, việc bị dụ dỗ, lừa đảo trở nên dễ dàng hơn baogiờ hết.

Ví dụ như vụ việc người Việt Nam trở thành nạn nhân của các nhóm tội phạmbuôn người ở Campuchia gần đây Các nạn nhân của vụ việc này phần lớn xuất thân

từ nông thôn ở một số tỉnh như Quảng Bình, Thanh Hóa, học vị chỉ dừng lại ở mứcphổ thông hoặc thấp hơn Chính sự nghèo đói và thiếu hiểu biết của người lao động

đã biến họ trở thành những đối tượng dễ bị lừa bởi các tổ chức buôn người, xuấtkhẩu lao động bất hợp pháp với lời dụ dỗ “việc nhẹ lương cao” Tính đến đầu tháng9/2022, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các cơ quan chức năng trong nước vàCampuchia đưa về nước an toàn hơn 600 công dân bị lừa, môi giới lao động bất hợppháp tại Campuchia Con số thực tế có thể lớn hơn rất nhiều, ảnh hưởng tiêu cực đếnnền kinh tế của cả 2 nước Việt Nam và Campuchia

2.4 Thu nhập thấp và mức sống thấp của người nghèo sẽ làm trực tiếp hoặc gián tiếp chậm tiến trình phát triển chung

Cốt lõi của công bằng xã hội là công bằng về cơ hội phát triển với hệ giá trị vềbình đẳng, tự do và dân chủ Công bằng xã hội thường gắn liền với bình đẳng xã hộitrước hết là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Ở Việt Nam nhóm người nghèo thunhập thấp không có cơ hội tiếp cận được các dịch vụ y tế, xã hội, giáo dục

Người nghèo có nhu cầu chăm sóc sức khỏe cao nhưng khả năng tiếp cận và sửdụng dịch vụ y tế khi mắc bệnh lại thấp hơn các nhóm đối tượng khác Một cuộc điềutra của Bộ Y tế cho thấy, tỷ lệ ốm đau ở nhóm hộ nghèo thường cao gấp 2 lần so vớinhóm hộ giàu, và tình trạng sức khỏe của nhóm 20% hộ gia đình có mức sống thấpnhất (nhóm nghèo) kém hơn rất nhiều so với nhóm khá và nhóm giàu, nhưng do chi

Trang 12

phí khám chữa bệnh quá cao so với thu nhập của họ nên nhu cầu về chăm sóc sứckhỏe không được bảo đảm, kể cả những lúc đau yếu, bệnh tật Người nghèo có nguy

cơ bị bệnh cao nhưng thực tế sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh lại rất thấp do nguồnthu nhập ít ỏi, đường sá xa xôi, điều kiện đi lại khó khăn Những người sống càng xathành phố thì chi phí cho đi lại càng lớn, và cuộc hành trình đến bệnh viện càng khókhăn, phức tạp Bệnh tật, ốm đau thực sự trở thành gánh nặng kinh tế trong cuộcsống nhất là với người nghèo nên họ ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế chấtlượng cao Đặc biệt tiếp cận y tế là điều kiện quan trọng để đảm bảo sức khỏe và chấtlượng sống cho trẻ em Trẻ em cần được chăm sóc y tế kịp thời để tranh những hệlụy về sau

Giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng của phát triển nguồn lực conngười, có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động Một số nghiên cứu cho thấybất bình đẳng thu nhập càng cao càng có thể khiến trẻ em các gia đình có thu nhậpthấp không có cơ hội phát huy hết tiềm năng của chúng Mức sống thấp cho thunhập, nghèo đói là nguyên nhân trực tiếp cản trở cơ hội tiếp cận giáo dục của trẻ em.Thống kê chỉ ra: Tỷ lệ dân số 5 tuổi trở lên ở nhóm nghèo nhất chưa bao giờ đếntrường gấp gần 11,5 lần so với nhóm giàu nhất (16.2% và là 1.4%) Nhóm có thu nhậpthấp có tỷ lệ đi học thấp hơn tỷ lệ trung bình của cả nước đối với cả bậc trung học cơ

sở và trung học phổ thông: 84% đối với giáo dục trung học cơ sở và 48% đối với giáodục trung học phổ thông (năm 20069 ) Tình trạng này không chỉ giảm khả năng dịchchuyển xã hội mà còn giảm tốc độ phát triển của toàn bộ nền kinh tế Bất bình đẳnggây ra sự ganh tị, bất hạnh và xung đột xã hội Bất bình đẳng kinh tế càng tăng thìcàng làm giảm bình đẳng cơ hội cho thế hệ sau, tạo nên một vòng luẩn quẩn

Nhưng người ngheo trong các bưa ăn thương không đam bao năng lương, dânđên thiêu chât dinh dưỡng va suy dinh dưỡng Trong hoan canh ngheo đoi thi ngươingheo, hô ngheo, luôn phai vât lôn vơi cuôc sông đê mưu sinh, biêu hiên rât ro latrong bưa ăn Thông thương 3/4 hoăc 4/5 thu nhâp cua ho co đươc chi cho lươngthưc, thưc phâm, nhưng bưa ăn cua ho rât đơn điêu, chu yêu la ngu côc, săn khoai,rau măm Nếu như trong bữa ăn của họ có được môt it thit, ca thì được xem la thưcphâm cao câp nhưng rât it khi ho co đươc Vơi điêu kiên ăn uông như vây, đa sô

Trang 13

ngươi ngheo đêu bi thiêu dinh dưỡng, năng lương, sưc lưc bi suy kiêt, kêt qua laođông giam sut, kha năng chông bênh tât kem, sư phat triên vê thê lưc, tri lưc, nhât latre em bi suy giam, thiêu nhưng điêu kiên cơ ban trong hoc tâp Ngoai viêc lo ăn,ngươi ngheo it co điêu kiên vươn lên đê đat đươc nhưng yêu câu khac, đăc biêt lanhu câu hương thu văn hoa tinh thân, hoăc nhưng nhu câu nay bi căt giam tơi mưctôi đa hoăc hâu như không co.

Như vậy, đảm bảo công bằng xã hội sẽ tăng cơ hội cho người nghèo tiếp nhậnđược y tế , giáo dục Phát triển thể chất con người cũng là cơ sở quan trọng để tăngcường năng lực tiếp thu kiến thức Sức khỏe tốt, tuổi thọ cao cho thấy mức độ cảithiện chất lượng cuộc sống của con người.Đảm bảo công bằng xã hội không nhữngkhông làm chậm quá trình phát triển kinh tế mà bên cạnh đó trực tiếp tạo cơ hội chonhóm thu nhập thấp nâng cao chất lượng cuộc sống , đẩy nhanh quá trình phát triểnchung

2.5 Phân phối thu nhập từ người giàu sang người nghèo là cần thiết và nó không ảnh hưởng tới tính hiệu quả của nền kinh tế

Thực tế không có gì để chứng tỏ những người giàu ở các nước đang phát triển

có xu hướng tiết kiệm phần lớn thu nhập của bản thân để đầu tư vào nền kinh tế.Ngược lại, những người giàu có ở các nước đang phát triển thường sử dụng mộtphần lớn thu nhập để tiêu dùng hàng hóa xa xỉ hay đầu tư vào vàng, ngoại tệ, đấtđai - những loại đầu tư không đóng góp gì cho tăng trưởng sản xuất của nền kinh

tế Chính vì vậy, phân phối lại thu nhập từ người giàu sang người nghèo là cần thiết

và nó không ảnh hưởng tới tính hiệu quả của nền kinh tế

Có thể thấy, Khi lướt Facebook hay tiktok hoặc bất kỳ nền tảng xã hội nào thìchúng ta có thể dễ dàng bắt gặp những bài viết, những video về những người nổitiếng sẵn sàng chi ra số tiền lớn để sở hữu được những món đồ xa xỉ từ những chiếcbát ăn uống 5-10 triệu đồng, những chiếc túi giá trị hàng trăm triệu đồng đến nhữngsiêu xe, biệt thự hàng tỷ đồng Tuy nhiên đây chỉ là bề nổi của tảng băng chìm Theotính toán của Công ty nghiên cứu thị trường Statista, dung lượng thị trường hàng xa

xỉ tại Việt Nam đạt khoảng 976 triệu USD trong năm 2021 và thị trường này dự kiến

Ngày đăng: 07/12/2022, 09:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w