Trong ngôi nhà được bố trí ra làm hai phần theo chiều dọc :+ Phần để ngủ :vang bik cách mặt đất khoảng nửa mét, là phần chính của ngôi nhà, thường gọi là ''nhà thóc'' Vang hay.. + Phía
Trang 2• Thành viên:
• Nguyễn Thục Ân
• Lê Nguyễn Quỳnh Hoa
• Ngô Vũ Quỳnh Chi
• Đoàn Thị Ngọc Hiền
• Ngô Xuân Hà
• Lê Thị Mỹ Anh
Trang 3DÂN TỘC XTIÊNG ( Xa Ðiêng hay
Xa Chiêng )
- Dân số: 66.788 người (năm 1999)
- Ðịa bàn cư trú: Bốn huyện phía bắc tỉnh Bình
Dương, một phần ở Ðồng Nai, Tây Ninh.
- Ngôn ngữ: Thuộc nhóm Môn - Khmer
- Phong tục tập quán:
Người Xtiêng sinh sống từng làng nhỏ, mỗi làng
có tự 10-15 gia đình, vị trí mỗi làng cách nhau khá
xa Để đề phòng nạn cướp bóc, trộm cắp, giặc dã, mỗi làng đều có hàng rào bảo vệ kiên cố
Trang 4Trong ngôi nhà được bố trí ra làm hai phần theo chiều dọc :
+ Phần để ngủ :(vang bik) cách mặt đất khoảng nửa mét,
là phần chính của ngôi nhà, thường gọi là ''nhà thóc'' (Vang hay)
+ Phía dưới sàn : là sạp nhỏ, thường để dùng tiến hành
các nghi lễ tôn giáo đồng thời còn là nơi ngủ của khách nam giới ở lại qua đêm
+ Nhà nào cũng làm hiên vào cửa để hóng gió, gọi là sân chơi (dông gung) là nơi dùng để vui chơi giải trí và uống rượu trong dịp họp mặt bạn bè, người thân, cũng
là nơi giao lưu trao đổi kinh nghiệm làm ăn vào những quan hệ xã hội khác
Trang 5Nhà sàn Xtieng
Trang 7Trang phục của người Xtiêng cũng rất đơn giản.
• Đàn ông thường đóng khố, cởi trần, đàn bà mặc váy hoặc
áo, cũng có khi cởi trần Đặc biệt là vào mùa đông, đàn ông
cũng như đàn bà chỉ choàng vào người một tấm vải để chống rét
• Người Xtiêng để tóc dài, búi tóc phía sau gáy, sâu lỗ tai, đeo hoa tai bằng gỗ, hoặc bằng ngà voi, có tập quán xăm mặt, xăm mình với các đường nét hoa văn hình học đơn giản Không
phân biệt nam, nữ, già, trẻ, người nào cũng ưa thích đeo các loại vòng dài tới vú, có nhiều lớp
• Trẻ em dưới bốn tuổi thì đeo lục lạc ở hai chân Tục cưa
răng từ thời xa xưa đã đi vào quá khứ, ngày nay không mấy ai, nhất là lớp ngươi trẻ tuổi còn giữ tục này
Trang 8Khố nam, dân tộc Xtiêng ở Bình Phước
Trang 11Trang phục
dân tộc
Pà Thẻn
Trang 15Văn hoá:
• Họ rất yêu âm nhạc Nhạc cụ đặc trưng của họ
là bộ chiêng 6 cái, cồng, khèn bầu.
• Người Xtiêng cũng có nhiều ngày lễ trong năm, song lễ đâm trâu vẫn được coi là lễ lớn nhất thường được tổ chức những khi được mùa (thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở nên), lễ mừng chiến thắng kẻ thù, mừng được mùa bội thu, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái đã lớn khôn, trưởng thành
Trang 21Bộ cồng chiêng 6 cái
Khèn bầu
Trang 22Liên hoan nghệ thuật Hát then, Đàn tính toàn quốc lần thứ IV sẽ được tổ chức tại tỉnh Lạng
Sơn vào tháng 11/2011
Trang 23Do dân tộc Xtiêng Bù Lơ sống chủ yếu bằng nghề nông nên họ biết làm rẫy, làm ruộng nước và dùng trâu, bò kéo cày từ khá lâu Chính vì vậy mỗi năm đến mùa khô, đầu mùa mưa người XTiêng Bù Lơ lại tổ chức làm lễ cầu mưa theo từng bon (Wăng) Lễ cầu mưa là lễ hội rất quan trọng đối với họ.
Trang 24_ Lương thực chính trong các bữa ăn hàng ngày của người Xtiêng là gạo tẻ, gạo nếp sử dụng ít hơn Thức ăn gồm có cá, loại rau xanh, bầu, bí, tôm, cua, cá, thịt và những thứ săn bắn hái lượm trong rừng, ven sông suối
_ Từ lâu, người Xtiêng đã bỏ được tục ăn bóc Ngày nay, trong các bữa ăn ở nhà dã dùng bát đũa Khi cần mua bán các thứ nhu yếu phẩm, đã có chợ hoặc là thương lái đến trao đổi hàng hóa, dịch vụ Đồ uống truyền thống là nước lã, rượu cần, song rượu cần chỉ được dùng vào dịp lễ tết, hội hè cưới hỏi, tiệc vui
Trang 26• Tổ chức xã hội truyền thống:
• Làng là đơn vị xã hội cao nhất của người Xtiêng, nó có vị trí và tầm quan trọng phát huy sức mạnh nội lực của tính cộng đồng
• Giữa các gia đình có những quan hệ với nhau về dòng máu trực hệ, về quan hệ kinh
tế, mỗi một làng có người thủ lĩnh đứng đầu
để điều hành Những người này do các chủ gia đình lựa chọn bầu ra, có đủ uy tín và năng lực
Trang 27Dưới thủ lĩnh có hội đồng già làng bao gồm :
Thành phần các chủ gia đình quyền lực, thường quyết định những công việc hệ trọng, liên quan đến đời sống tinh thần, tính mạng, tài sản của cả làng.
_ Việc có chuyển làng đi nơi khác hay không, quyết định chiến tranh xung đột với làng khác, để bảo vệ làng mình, hay là hòa giải để giữ hòa bình giữa hai làng với nhau, thông thường thì giải quyết bằng
tình thân ái
_ Trước năm 1945 thì thường xuyên có những
cuộc đánh nhau, xung đột, tranh chấp địa giới đất đai, canh tác.
Trang 28Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng Nếu
chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá Những ché, nồi, dụng cụ "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả Có người mới chết, cả làng không
gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày
Những trường hợp chết bất bình thường phải cúng
quải tốn kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm
ngoài khu gia cư của làng và không được chôn vào
bãi mộ của làng
Trang 29• Thờ cúng: Người ta tin con người, con vật, cây cối cũng như muôn vật đều có siêu nhiên, tựa như
"hồn" "Thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa Thần lúa được
hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung
được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông
báo điều gì đó Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò,
số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ
lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan
trọng.
Trang 30Kinh tế :
•Nhóm Xtiêng Bù Đéc làm ruộng nước, dùng trâu
bò kéo cày Nhóm Xtiêng Bù Lơ ở vùng cao làm rẫy.
• Người Xtiêng là cư dân nông nghiệp, đời sống
chủ yếu dựa vào lúa gạo ruộng rẫy cung cấp Riêng có nhóm Bù Lô ở trên cao hoàn toàn làm rẫy, nhóm Bù Đek (Bù dêh) ở vùng thấp cấy ruộng nước và công cụ sản xuất vẫn còn hết sức thô sơ, gồm có rìu và dao (xà gạc) để khai phá, mở rộng diện tích canh tác, trồng trọt
Trang 31Nhưng khoảng đầu thế kỷ XX, nhờ giao lưu học hỏi kỹ thuật canh tác gieo trồng từ khâu mạ cấy đến tưới nước, làm cỏ, bỏ phân, đến khi thu hoạch, gặt hái, người Xtiêng đã áp dụng gần giống với cách thức của người Việt trong sản xuất nông nghiệp.
Phương tiện vận chuyển rất cơ động, có tính chất truyền thống, vẫn bằng các loại gùi, có nơi đứng
xe gỗ hai bánh có hai con bò kéo, phương tiện này hiện nay dùng khá phổ biến trong cộng đồng người Xtiêng.
Trang 32• Trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và
Mỹ, người Xtiêng đã đóng góp nhiều công sức cho cách mạng, là hậu phương đáng tin cậy cho cuộc kháng chiến đặc biệt là góp phần giúp đỡ, tạo điều kiện cho quân giải phóng tiến vào giải phóng hai tỉnh Phước Long
và Bình Long làm nên chiến thắng lịch sử của mùa xuân năm 1975
• Người Xtiêng rất tự hào về quê hương mình, cũng như ngày xưa trong kháng chiến, người Xtiêng rất tin yêu Đảng, tin yêu Bác Hồ
• Cho đến ngày nay, trong cuộc sống hòa bình, tiến tới
ấm no hạnh phúc, trong sự nghiệp xây dựng quê hương bảo vệ Tổ quốc, người Xtiêng vẫn một lòng đi theo Đảng, theo cách mạng
Trang 34CẢM ƠN THẦY
VÀ CÁC BẠN ĐÃ
LẮNG NGHE