24 CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ THỰC HIỆN VAI TRÕ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ VHTT&DL TỈNH CAO BẰNG TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA LỄ HỘI PHÁO HOA HUYỆN QUẢNG UYÊN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HUYỆN QUẢNG UYÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HUYỆN QUẢNG UYÊN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ
ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Thị Vân Chi
Hà Nội, 2014
Trang 3Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi đến quý thầy cô ở Khoa Khoa học Quản
lý và các thầy cô trong Tổ bộ môn Lý luận và phương pháp quản lý đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường
Xin gửi lời cảm ơn tới Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Tỉnh Cao Bằng, Phòng Nghiệp vụ văn hóa Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Tỉnh Cao Bằng, phòng Văn hóa – Thông tin huyện Quảng Uyên đã nhiệt tình cung cấp thông tin, tài liệu để tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên trong suốt thời gian tác giả thực hiện luận văn
Đặc biệt tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn PGS.TS Đinh Thị Vân Chi, phó hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tác giả hoàn thành khóa luận
Kính chúc các thầy cô, quý cơ quan, gia đình và bạn bè mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Lục Thị Minh Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Mẫu khảo sát 6
6 Câu hỏi nghiên cứu 6
7 Giả thuyết nghiên cứu 6
8 Phương pháp nghiên cứu 7
9 Kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÕ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ VHTT&DL TỈNH CAO BẰNG TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG 9
1.1 Một số khái niệm chính 9
1.1.1 Quản lý 9
1.1.2 Quản lý nhà nước 11
1.1.3 Văn hóa 13
1.1.4 Quản lý nhà nước về văn hóa 16
1.2 Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống 21
1.2.1 Bảo tồn và phát huy 21
1.2.2 Lễ hội và lễ hội truyền thống 24
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ THỰC HIỆN VAI TRÕ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ VHTT&DL TỈNH CAO BẰNG TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA LỄ HỘI PHÁO HOA HUYỆN QUẢNG UYÊN 31
2.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên xã hội của tỉnh Cao Bằng và Sở VHTT&DL tỉnh Cao Bằng 31
2.1.1.Giới thiệu về điều kiện tự nhiên xã hội của tỉnh Cao Bằng 31
Trang 52.1.2 Giới thiệu về Sở VHTT&DL tỉnh Cao Bằng 33
2.2 Lễ hội Pháo hoa truyền thống huyện Quảng Uyên 35
2.2.1 Vài nét về lễ hội Pháo hoa truyền thống 35
2.2.2 Nội dung, công tác tổ chức lễ hội Pháo hoa 38
2.3 Vai trò quản lý Nhà nước của Sở VHTT&DL tỉnh Cao Bằng 44
2.3.1 Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quản lý về lễ hội, các chính sách đối với việc tổ chức lễ hội 45
2.3.2 Vai trò chỉ đạo, điều hành, hỗ trợ 46
2.3.3 Sở VHTT&DL giữ vai trò nòng cốt trong việc giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống trên địa bàn tỉnh 47
2.4 Vai trò quản lý của Sở VHTT&DL đối với lễ hội Pháo hoa truyền thống 48
2.4.1 Vai trò trong quản lý lễ hội 48
2.4.2 Vai trò của Sở VHTT&DL trong tổ chức phục dựng lễ hội 51
2.4.3 Vai trò trong bảo tồn có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc trong lễ hội 54
2.4.5 Vai trò trong việc phối hợp với các đơn vị liên quan 60
2.5 Đánh giá kết quả thực hiện vai trò của Sở VHTT &DL trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên 62
2.5.1 Những thành tựu đạt được 62
2.5.2 Những hạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên 70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÕ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ VHTT&DL TỈNH CAO BẰNG TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG LỄ HỘI PHÁO HOA HUYỆN QUẢNG UYÊN 75
3.1 Nguyên nhân hạn chế của Sở VHTT&DL trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên 75
3.1.1 Nguyên nhân khách quan 75
3.1.2 Nguyên nhân chủ quan 76
Trang 63.2 Các thách thức trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội Pháo
hoa truyền thống 77
3.3 Phương hướng chung bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống 78
3.3.1 Phát huy vai trò của người dân và cộng đồng 79
3.3.2 Tiếp tục hoàn thiện và phổ biến hệ thống văn bản quy pháp về di tích và lễ hội 80
3.3.3 Quản lý, tổ chức và khai thác lễ hội, phát triển du lịch lễ hội, có chính sách đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học về lễ hội 80
3.3.4 Nhận thức đúng đắn vấn đề xây dựng mô hình lễ hội 81
3.3.5 Thống kê, khảo sát, đánh giá các lễ hội 82
3.3.6 Về chính sách đầu tư tài chính 82
3.4 Giải pháp nhằm nâng cao vai trò quản lý nhà nước của Sở VHTT&DL trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng 83
3.4.1 Nhóm giải pháp về chính sách pháp luật 83
3.4.2 Nhóm giải pháp về tổ chức 84
3.4.3 Nhóm giải pháp về tuyên truyền giáo dục 88
KẾT LUẬN 93
KHUYẾN NGHỊ 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Sở VHTT&DL Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống QLNN về văn hóa 20
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Sở VHTT&DL tỉnh Cao Bằng 33
DANH MỤC BẢNG, BIỂU Biểu đồ 2.1: Đánh giá giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội Pháo hoa Quảng Uyên 48
Biểu đồ 2.2: Đánh giá về việc huy động nguồn lực tham gia lễ hội 49
Biểu đồ 2.3: Đánh giá về việc ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực trong lễ hội 50
Biểu đồ 2.4: Đánh giá về việc khôi phục những nghi thức truyền thống 52
Biểu đồ 2.5: Đánh giá về việc phục dựng phần lễ trọng thể, tổ chức phần hội vui tươi lành mạnh 53
Biểu đồ 2.6: Đánh giá về hình thức tuyên truyền lễ hội Pháo hoa 57
Bảng 2.1: Đánh giá nội dung tổ chức của lễ hội Pháo hoa 54
Bảng 2.2: Việc giới thiệu lễ hội đến với người dân 56
Bảng 2.3: Đánh giá kết quả tuyên truyền về văn bản pháp luật và thực hiện nếp sống văn hóa trong lễ hội của Sở VHTT&DL 59
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Cơ sở thực tiễn
Lễ hội truyền thống là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần, bắt nguồn
và phát triển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, sự giao lưu tiếp biến văn hóa của cộng đồng Lễ hội truyền thống chứa đựng tất cả những khát vọng những ước muốn tâm linh vừa linh thiêng, vừa trần tục của cộng đồng dân cư trong những hoàn cảnh cụ thể Đây là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc, được lưu truyền qua hàng nghìn năm lịch sử
Muốn nghiên cứu văn hóa truyền thống, lẽ đương nhiên là phải tìm đến lễ hội, đặc biệt là lễ hội truyền thống Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống của dân tộc là một hoạt động đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Muốn bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cần phải nhận diện, đánh giá mọi giá trị văn hóa truyền thống mà
lễ hội truyền thống là một phương tiện tiêu biểu, tồn tại trong những vùng văn hóa
cụ thể
Kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể của các dân tộc ở Cao Bằng đa dạng
và phong phú, thể hiện qua những lễ hội văn hoá đặc sắc Nhìn chung các lễ hội đều mang tính nhân văn sâu sắc hướng tới cái thiện, đó là cầu phúc, cầu lộc, cầu mùa, trừ tà, mong muốn cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp Lễ hội Pháo hoa là một trong những lễ hội lớn và quy mô trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, qua lễ hội các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc được khơi dậy, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào Lễ hội Pháo hoa thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn và du khách thập phương tới dự Phần lễ đơn giản, phần hội lại hết sức náo nhiệt, sôi động Lễ hội Pháo hoa được tổ chức theo nghi lễ truyền thống và có nhiều trò chơi dân gian với những giá trị lịch sử văn hoá đặc sắc, đã góp phần làm nên hình thức sinh hoạt văn hoá lành mạnh, đồng thời là dịp để cho các đồng bào dân tộc có dịp được trổ tài, được khoe sức và đặc biệt là gửi đến một thông điệp mang ý nghĩa rất nhân văn
Tuy nhiên, trong những năm gần đây những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của lễ hội Pháo hoa truyền thống đang dần dần bị biến dạng, bị mai một, mất đi phần nào nét riêng vốn có của lễ hội Việc xuất hiện ngày càng nhiều hoạt động
Trang 10ngoài luồng, phi văn hóa, những hình ảnh phản cảm như xóc đĩa, tổ tôm, mê tín dị đoan đã ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh của lễ hội Nhiều người đến với lễ hội chỉ để thỏa chí tò mò, đi chơi hội cho vui, chứ không hề biết lễ hội này có nguồn gốc như thế nào, thờ vị thần gì, có các trò chơi ra làm sao, phần lễ bao gồm những
gì Đặc biệt các bạn trẻ dần như đã quên mất giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của lễ hội Bởi vậy, cần đánh giá đúng thực trạng vai trò của Sở Văn hóa Thể thao
và Du lịch (VHTT&DL), cơ quan quản lý lễ hội đã đưa ra những chính sách, cách thức tổ chức quản lý như thế nào Từ đó có các giải pháp để nâng cao hơn nữa vai trò của Sở, nhằm bảo tồn và phát huy hơn nữa giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội Pháo hoa trong sự phát triển toàn diện đất nước Đây là nhiệm vụ quan trọng, có
ý nghĩa khoa học và thực tiễn hiện nay
1.2 Cơ sở lý luận
Xây dựng và phát triển văn hóa luôn được Đảng, Nhà nước ta xác định là một
bộ phận cấu thành quan trọng trong sự nghiệp cách mạng Tại đại hội lần thứ VII,
Đảng ta đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực và là mục tiêu
của sự phát triển kinh tế xã hội” Tư tưởng này tiếp tục được khẳng định ở các kỳ
đại hội VIII, IX, qua đó ta khẳng định được vai trò quan trọng của văn hóa trong đời sống con người
Nhận thức rõ điều đó, Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã
khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở
hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa với phát triển du lịch và hoạt động thông tin nhằm truyền
bá sâu rộng các giá trị văn hóa truyền thống trong công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ” (Báo cáo chính trị tại Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ XI)
Việc kế thừa văn hóa truyền thống là cần thiết, song ở nhiều nơi lại thiếu chọn lọc, thiếu tính phê phán và có xu hướng làm méo mó đi Vấn đề đáng quan tâm hơn
cả là làm sao tổ chức tốt lễ hội, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của đồng bào các dân tộc, làm thế nào để gìn giữ những tinh hoa văn hóa của lễ hội truyền thống
và xóa bỏ được những hủ tục lạc hậu, phát huy được yếu tố tích cực của lễ hội trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, bảo vệ an ninh, bảo vệ môi trường
Trang 11Do đó, cơ quan tổ chức, quản lý lễ hội có vai trò vô cùng quan trọng trong bảo tồn kế thừa và phát huy giá trị của lễ hội truyền thống Tìm hiểu về thực trạng
và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Sở VHTT&DL tỉnh Cao Bằng trong việc bảo tồn vào phát huy giá trị văn hóa truyền thống là một vấn đề cấp bách, bảo đảm cho lễ hội truyền thống ngày càng thực sự là nhu cầu đời sống xã hội, sáng tạo và làm phong phú hơn những mô hình mới phù hợp với thời kỳ hội nhập Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc là một trong những nhiệm
vụ quan trọng trong thời kỳ hội nhập
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: Nâng cao vai trò của Sở VHTT và DL trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của tỉnh Cao Bằng (Nghiên cứu trường hợp lễ hội Pháo hoa, huyện Quảng Uyên) làm luận văn tốt nghiệp, với mong muốn bài luận văn này sẽ góp phần tìm ra
được hướng đi mới, cho công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong những năm tới
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu về lễ hội
Nghiên cứu về lễ hội không phải là một đề tài mới Từ trước tới nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Có thể tập hợp và phân loại thành các nhóm sau:
- Nhóm công trình nghiên cứu theo khuynh hướng miêu tả, tường thuật lại từng lễ hội cụ thể:
Nổi trội nhất và có số lượng công trình nhiều nhất như các công trình của tác
giả Thạch Phương - Lê Trung Vũ, xuất bản năm 1995 có tựa đề: 60 lễ hội truyền
thống của người Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội; Nguyễn Chí Bền (
trưởng ban tuyển chọn) xuất bản sách: Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb
Văn hóa Dân tộc và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, năm 2000…Các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu dừng ở việc miêu tả và giải nghĩa các lễ hội
- Nhóm công trình nghiên cứu lễ hội theo khuynh hướng bình diện tổng thể: Tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng này là GS Đinh Gia Khánh với các
công trình ý nghĩa xã hội và văn hóa của hội lễ dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội[14] và Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội[15];
Trang 12Một trong những công trình khác đánh giá tương đối đầy đủ về thực trạng lễ hội truyền thống Việt Nam là đề tài khoa học cấp Bộ Văn hóa – Thông tin của các
tác giả Nguyễn Thu Linh và Phan Văn Tú về Quản lý lễ hội cổ truyền: thực trạng
và giải pháp [18] Nhóm nghiên cứu nhận xét: “Con người các thế hệ đã biết và hiểu về lịch sử- văn hóa dân tộc, địa phương mình qua các trải nghiệm hội hè Rất nhiều trò chơi, trò diễn dân gian có giá trị tìm lại được môi trường phục sinh và tôn tạo Hàng loạt các nghề thủ công – mỹ nghệ, ẩm thực truyền thống…được củng cố
và phát triển tạo ra những cơ hội việc làm và thu nhập cho không ít lao động, góp phần bảo vệ di sản công nghệ dân gian đang có cơ trở thành hàng hóa có giá trị trong xã hội hiện đại” [18,tr.44]
Công trình nghiên cứu của tác giả Đoàn Minh Châu, công trình của ông vốn
là một luận án TS chuyên ngành lịch sử văn hóa và nghệ thuật, khoa học lịch sử bảo
vệ năm 2002 tại Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam Năm 2010 luận án của ông
được in thành sách với nhan đề Cấu trúc lễ hội đương đại, mục tiêu của ông là
nghiên cứu cấu trúc lễ hội đương đại, cấu trúc lễ hội truyền thống với ông chỉ là đối tượng để so sánh
2.2 Tổng quan lịch sử nghiên cứu về lễ hội Pháo hoa, huyện Quảng Uyên
Thời gian qua, đã có nhiều nhà nghiên cứu trung ương và địa phương nghiên cứu, tìm hiểu, làm rõ về các lễ hội trên địa bàn tỉnh Cao Bằng Tiêu biểu như công
trình nghiên cứu của tác giả Chương Hồng Chiến (chủ nhiệm), với đề tài “Phục
dựng Lễ hội nàng Hai xã Kim Đồng, huyện Thạch An” do Sở VHTT&DL thực hiện,
2009; Tác giả Phùng Chí Kiên ( chủ biên), với đề tài “Phục dựng lễ hội chùa Trùng
phúc huyện Hạ Lang, Thị trấn Hạ Lang” do Bảo tàng tỉnh Cao Bằng thực hiện,
2012… Song chủ yếu những công trình nghiên cứu, những bài viết mới chỉ dừng lại
ở giới thiệu hoặc miêu tả dưới góc độ đơn lẻ từng lễ hội hoặc tập trung vào một số
lễ hội tiêu biểu của tỉnh Đền Vua Lê ( Hòa An), lễ hội đền Kỳ Sầm…Chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu một cách cặn kẽ và đưa ra được hướng giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội một cách triệt để
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống lễ hội nói chung và
lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên nói riêng đã được đề cập nhiều trên các sách báo, tạp chí, có nhiều bài viết về lễ hội nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Tiêu biểu là bài viết: “Lễ hội truyền thống tiêu biểu tỉnh Cao Bằng”; “Lễ
Trang 13hội Cao Bằng cần gìn giữ ” của Hoàng Kim Tuyến - Trưởng phòng nghiệp vụ văn
hóa Sở VHTT&DL Cao Bằng; bài tham luận “Thực trạng hoạt động của lễ hội các
dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng” hay bài viết “Lễ hội ở Cao Bằng” của Hà Văn
Hiển Giám đốc Sở VHTT&DL; PGS.TS Hồ Sĩ Vịnh với bài viết:“Cao Bằng: Lễ
hội Pháo hoa Quảng Uyên” Song chủ yếu các bài viết mới quan tâm tới thực
trạng của lễ hội, còn về vai trò của cơ quan quản lý nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống lễ hội đang dừng lại ở mức độ rất hạn chế
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa của Bộ VHTT &DL,
Sở VHTT&DL tỉnh Cao Bằng đã phối hợp với Ủy ban Nhân dân (UBND) huyện
Quảng Uyên thực hiện Dự án “Bảo tồn và phục dựng lễ hội Pháo hoa truyền thống
tại thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng” năm 2008 Nhìn
chung công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo cứu, thống kê giới thiệu sơ lược về lễ hội, chưa đề cập một cách có hệ thống về vai trò của cơ quản lý
lễ hội và chưa đưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm bảo tồn và phát huy lễ hội trong giai đoạn hiện nay
Chính sự thiếu vắng những nội dung trên đã gợi mở cho tác giả thực hiện đề
tài: “Nâng cao vai trò của Sở VHTT&DL trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị
văn hóa truyền thống của tỉnh Cao Bằng ( Nghiên cứu trường hợp lễ hội Pháo hoa, huyện Quảng Uyên)” Hy vọng rằng công trình này sẽ góp một phần nhỏ vào việc đánh
giá đúng thực trạng của lễ hội Pháo hoa, phân tích vai trò của Sở VHTT&DL tỉnh Cao Bằng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Sở VHTT&DL trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa quản lý lễ hội trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vai trò của Sở VHTT&DL Cao Bằng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, trên cơ sở đó
đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Sở VHTT&DL trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Làm rõ các khái niệm, nghiên cứu sự hình thành và phát triển của lễ hội Pháo hoa;
Trang 14+ Đánh giá thực trạng của lễ hội, những hoạt động của Sở VHTT&DL tỉnh Cao Bằng trong công tác quản lý lễ hội và các nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống;
+ Phân tích vai trò của Sở VHTT&DL trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên;
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng vai trò của Sở VHTT&DL trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
4 Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Sở VHTT&DL Cao Bằng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, cụ thể là nghiên cứu trường hợp lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Giới hạn về không gian: Thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
+ Giới hạn về thời gian: Nghiên cứu lễ hội cả truyền thống và hiện đại, trong
đó thời gian hiện đại giới hạn trong khoảng từ năm 2007 đến nay ( Mốc thời gian
thực hiện dự án “Bảo tồn và phục dựng lễ hội Pháo hoa truyền thống tại thị trấn
Quảng Uyên, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng”)
5 Mẫu khảo sát
- Nghiên cứu trường hợp lễ hội Pháo hoa, huyện Quảng Uyên
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng vai trò của Sở VHTT&DL trong việc bảo tồn vào phát huy giá trị văn hóa truyền thống lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên là như thế nào?
- Những giải pháp nào giúp nâng cao vai trò của Sở VHTT&DL trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Trong những năm qua Sở VHTT&DL đã thực hiện khá tốt vai trò quản lý văn hóa đối với lễ hội Pháo hoa truyền thống, cụ thể: trong việc quản lý lễ hội, tổ chức phục dựng lễ hội, bảo tồn lễ hội, vận động tuyên truyền giáo dục cộng đồng, phối hợp với các đơn vị liên quan Nhìn chung lễ hội được diễn ra thành công theo đúng kế hoạch của ban tổ chức lễ hội đề ra, thể hiện trang nghiêm, trọng thể, an toàn, tiết kiệm
Trang 15- Các giải pháp được đề xuất như sau: Hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ kinh phí, chính sách hỗ trợ về mặt chuyện môn đối với việc tổ chức và quản lý lễ hội; Xây dựng quy chế tổ chức lễ hội phù hợp với nội dung, tính chất của lễ hội; Quán triệt quan điểm, phương hướng trong nhận thức của lãnh đạo Sở, lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể; Kiện toàn bộ máy tổ chức và cơ cấu nhân sự quản lý về văn hóa; Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra sử lý sai phạm trong công tác tổ chức và quản lý lễ hội; Đổi mới nội dung và tăng cường hình thức tuyên truyền về văn bản pháp luật, về thực hiện nếp sống văn hóa trong lễ hội, về giá trị di tích của lễ hội; Tăng cường công tác đào tạo cán bộ quản lý văn hóa; Tăng cường sự hợp tác, phối kết hợp giữa các cơ quan chức năng
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà Nước về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn sử dụng kết quả nghiên cứu của dự
án “Bảo tồn và phục dựng lễ hội Pháo hoa truyền thống tại thị trấn Quảng Uyên,
huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng năm 2008” Luận văn dựa trên quan điểm duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử: Khi nghiên cứu về các giá trị, thực trạng của lễ hội tác giả đã đặt lễ hội trong sự vận động và phát triển của chính lễ hội Nghiên cứu lễ hội trong quá trình lịch sử, hiện đại và dự báo cho tương lai, tác giả đã dựa trên quá trình vận động của xã hội
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: + Phương pháp thực địa và thu thập tài liệu: Đây là phương pháp dùng để khảo sát thực tế, áp dụng việc nghiên cứu lý luận gắn liền với thực tiễn bổ sung cho
lý luận ngày càng hoàn chỉnh hơn Quá trình thực địa giúp cho tác giả sưu tầm và thu thập tài liệu được phong phú thêm Đây là phương pháp quan trọng giúp tác giả tiếp cận được thông tin một cách chính xác, thiết lập được số liệu cho việc hoàn thiện đề tài
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Với phương pháp này tác giả đã sử dụng
“Bảng khảo sát đánh giá về công tác tổ chức và quản lý lễ hội Pháo hoa” và mẫu
khảo sát là 150 du khách tham gia lễ hội Nhờ phương pháp này mà tác giả nắm được phần nào tâm tư, nguyện vọng của người dân địa phương cũng như nhu cầu của khách về việc tổ chức cũng như quản lý lễ hội
Trang 16+ Phương pháp phân tích số liệu: Việc phân tích các thông tin và số liệu của “
Bảng khảo sát đánh giá về công tác tổ chức và quản lý lễ hội Pháo hoa” mà tác giả
đã thu thập được trong quá trình điều tra xã hội học được tác giả tiến hành một cách
hệ thống Kết quả nghiên cứu của phương pháp này mang lại cơ sở khoa học cho việc thực hiện các mục tiêu dự báo, các chương trình phát triển, các chiến lược và giải pháp nhằm phát huy và gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài mà tác giả đang thực hiện
+ Phương pháp nghiên cứu logic lịch sử: Phương pháp này giúp tác giả đi sâu, tái dựng được không khí lịch sử, tâm lý, tình cảm của người dân đối với lễ hội Với phương pháp này tác giả đã xem xét và trình bày quá trình phát triển của lễ hội Pháo hoa theo một trình tự liên tục về thời gian, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của
lễ hội đối với môi trường xung quanh Tác giả đã tái hiện lại không khí, các sự kiện lịch sử của lễ hội một cách phong phú, đa dạng nhưng vẫn đảm bảo được tính khách quan và tính xác thực trong việc tái hiện lịch sử
9 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về vai trò quản lý nhà nước của Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch Tỉnh Cao Bằng trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống
Chương 2: Kết quả thực hiện vai trò quản lý nhà nước của Sở VHTT&DL trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống lễ hội Pháo hoa huyện Quảng Uyên
Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò quản lý nhà nước của Sở VHTT&DL Tỉnh Cao Bằng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống
Trang 17CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÕ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA
SỞ VHTT&DL TỈNH CAO BẰNG TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT
HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG 1.1 Một số khái niệm chính
1.1.1 Quản lý
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau:
F.W Taylor (1856-1915), một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa
học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “ quản lý theo khoa học”, tiếp cận quản
lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật đã cho rằng: Quản lý là hoàn thành công việc của
mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.[40]
Henry Fayol (1841-1925), ông là một nhà quản lý và lý thuyết gia về quản trị, là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận – hiện đại tới nay, ông quan niệm
rằng: Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức,
phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra.[40]
Harold Koontz, Cyri O’donnell và Heinz Weihrich thì lại cho rằng:
“ Quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự hoạt động nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [12, tr.33]
Ngoài ra còn có rất nhiều quan điểm khác nhau của các tác giả về quản lý như:
Từ điển Tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học định nghĩa:“Quản lý là trông coi,
giữ gìn theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [29,tr.772]
Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước của Học viện hành chính quốc gia
chỉ rõ: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi
hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích
đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý” [10, tr.8]
Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”[40, tr15]
Trang 18Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn thì: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến chuyển của môi trường” [31, tr.43]
Một cách tổng quát, quản lý là quá trình “tổ chức và điều khiển các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định”, đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao động
Dưới góc độ chính trị: quản lý được hiểu là hành chính, là cai trị; nhưng dưới góc
độ xã hội: quản lý là điều khiển, là chỉ huy Dù dưới góc độ nào đi chăng nữa, quản
lý vẫn phải dựa trên những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý
Quản lý là một lĩnh vực rộng, đa dạng, phức tạp và luôn biến đổi cùng với sự thay đổi của những điều kiện kinh tế xã hội ở những giai đoạn nhất định Cùng với
đó là sự phát triển của khoa học công nghệ và khả năng ứng dụng vào quản lý làm xuất hiện các trường phái mới Do vị thế, chỗ đứng, lập trường của các nhà tư tưởng quản lý không giống nhau do vậy có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý
Xuất phát từ nhiều quan niệm khác nhau về định nghĩa quản lý, quan niệm
của tác giả về quản lý như sau: “Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của
con người, trong đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý bằng các công
cụ và phương pháp khác nhau, theo những quy trình khác nhau, nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động khác nhau của môi trường”
+ Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý Chủ thể luôn là cá nhân hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định
+ Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau
+ Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội
+ Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định
do chủ thể quản lý định trước Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp thích hợp
Trang 19Quản lý ra đời chính là nhằm đến hiệu quả lớn hơn, năng suất cao hơn trong công việc Thực chất của quản lý con người trong tổ chức nhằm đạt mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất
1.1.2 Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước ( QLNN) xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là quản lý công việc của nhà nước Nội hàm của QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị , trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch
sử Ngày nay, QLNN xét về mặt chức năng bao gồm các hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính ( chấp hành và điều hành) của Chính phủ và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp
Trong hệ thống xã hội , tồn tại rất nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: Đảng Cộng Sản Việt Nam; Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, các
tổ chức xã hội khác và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…trong hoạt động quản lý của các chủ thể khác nhau đó thì QLNN có những điểm khác biệt
Theo nghĩa rộng: QLNN là hoạt động có tổ chức bằng pháp luật của bộ máy nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của công dân, mọi tổ chức xã hội và phát triển xã hội theo những mục tiêu đã định QLNN không phải là quản lý
xã hội của bất cứ chủ thể nào, mà quản lý của một chủ thể đặc biệt với quyền lực công Biểu hiện của nó trước hết ở những tác động có ý thức vào quá trình phát triển xã hội, vào nhận thức của con người
Theo nghĩa hẹp: QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước Hoạt động đó được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức, được thực hiện trên cơ
sở những mục tiêu đã định trên các mặt của đời sống xã hội và để thi hành pháp luật, chủ yếu được giao cho các cơ quan hành chính và bộ máy trực thuộc Nhưng trong một phạm vi và mức độ nhất định, một số tổ chức xã hội cũng tham gia thực hiện hoạt động QLNN khi được nhà nước trao quyền
Với khái niệm vừa nêu trên, hoạt động QLNN được giới hạn trong hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan hành pháp là chủ yếu Một số nhà khoa học quản lý lại cho rằng: QLNN là sự tác động của tổ chức, điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, được tiến hành một cách liên tục, dựa trên cơ
sở khoa học, thông qua bộ máy nhà nước và các công cụ quyền lực của nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu, kế hoạch được dự kiến trước, đảm bảo quá trình phát triển của xã hội
Trang 20* Đối tượng QLNN:
Là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước, QLNN ra đời với tính chất là hoạt động quản lý xã hội, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Cụ thể, là toàn bộ dân cư và các tổ chức trong phạm vi tác động quyền lực nhà nước
* Nội dung của QLNN bao gồm
- Mục đích của QLNN là mục đích hoạt động chung của các cơ quan nhà nước Mục đích chung của hoạt động QLNN của tất cả các cơ quan nhà nước là thống nhất Mỗi cơ quan nhà nước có mục đích hoạt động riêng được quy định trong pháp luật
- Nhiệm vụ của QLNN là đích cụ thể cần đạt được với những nội dung cụ thể được vạch ra tương ứng với quản lý các ngành, lĩnh vực cụ thể, các đối tượng cụ thể Để đạt được mục đích quản lý, phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau ở nhiều cấp độ khác nhau Nhiệm vụ quản lý của các cơ quan nhà nước có thể phân loại thành những nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên được qui định trong văn bản pháp luật, và nhiệm vụ mang tính tạm thời, không cơ bản, chỉ tồn tại trong từng giai đoạn thời điểm nào đó
- Các mục đích và nhiệm vụ quản lý đạt được là nhờ các chức năng quản lý, tức là các loại hoạt động quản lý cơ bản Vì vậy, chức năng quản lý là phương tiện thực hiện nhiệm vụ quản lý Mỗi cơ quan nhà nước tham gia thực hiện các chức năng của nhà nước ở phạm vi khác nhau, nên không thể sắp xếp các cơ quan nhà nước theo số lượng các chức năng của nhà nước QLNN có các chức năng chung cơ bản sau: Chức năng dự báo; Chức năng kế hoạch hóa; Chức năng tổ chức, điều chỉnh, lãnh đạo; Chức năng điều hành; Chức năng điều hòa – phối hợp, kiểm tra, thống kê
Trang 21* Công cụ QLNN
Nhà nước thực hiện chức năng QLNN bằng chính sách và pháp luật Chính sách pháp luật được hiểu là những nguyên tắc thực hiện tư tưởng chủ đạo của nhà nước về chủ trương, đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước
Quan điểm của tác giả về QLNN như sau: “QLNN là sự tác động của các
chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật, tới các đối tượng quản
lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước”
Bằng chính sách và pháp luật nhà nước trao quyền cho các tổ chức hoặc cá
nhân để họ tiến hành hoạt động quản lý Điểm khác nhau cơ bản giữa QLNN và các hình thức quản lý khác là tính quyền lực nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước khi cần Có thể hiểu rằng QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Trong hoạt động quản lý nhà nước, vấn đề kết hợp các yếu tố của hoạt động quản lý là rất phức tạp, đòi hỏi các nhà quản lý phải có năng lực cao với sự hỗ trợ của các phương tiện công nghệ hiện đại
1.1.3 Văn hóa
Có rất nhiều các tổ chức, các quốc gia và các chuyên gia nghiên cứu về văn hoá đưa ra các khái niệm về văn hoá Hiện nay, chưa có một khái niệm nào về văn hoá được thống nhất tuyệt đối Có thể đưa ra một số quan niệm, khái niệm và định
nghĩa về văn hoá như sau:
Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô (1982) để bắt đầu thập kỷ văn hoá
UNESCO Đã thống nhất đưa ra một khái niệm về văn hoá như sau: “Trong ý nghĩa
rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ
và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “ Văn hóa
nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó
Trang 22chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.”
Cựu Tổng Giám đốc UNESCO GS Federico Mayor đưa ra định nghĩa: " Văn
hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng địinh bản sắc riêng của mình"
Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau:
Hồ Chí Minh cho rằng: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống,
loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con
người sáng tạo và phát minh ra Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người
Phạm Văn Đồng cho rằng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng
phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994 Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa:
nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ- tổng hợp
các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn
Trang 23hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền
cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”;
còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký
hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”…
Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng Mỗi định nghĩa
đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa Quan
điểm của tác giả về văn hóa như sau: Văn hóa là sản phẩm của con người được tạo
ra trong qua trình lao động ( từ lao động trí óc đến lao động chân tay), được chi phối bởi môi trường (môi tự nhiên và xã hội) xung quanh và tính cách của từng tộc người Nhờ có văn hóa mà con người trở nên khác biệt so với các loài động vật khác; và do được chi phối bởi môi trường xung quanh và tính cách tộc người nên văn hóa ở mỗi tộc người sẽ có những đặc trưng riêng Với cách hiểu này cùng với
những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn
Nhìn chung, mọi định nghĩa đều thống nhất văn hoá có các đặc điểm sau:
+ Thứ nhất, văn hoá là sáng tạo của con người, thuộc về con người, những gì không do con người làm nên không thuộc về khái niệm văn hoá Từ đó, văn hoá là đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí căn bản phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên Văn hoá xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, nên văn hoá
cũng là kết quả của sự thích nghi ấy
+ Thứ hai, sự thích nghi này là sự thích nghi có ý thức và chủ động nên nó không phải là sự thích nghi máy móc mà thường là sự thích nghi có sáng tạo, phù
hợp với giá trị chân - thiện - mỹ
+ Thứ ba, văn hoá bao gồm cả những sản phẩm vật chất và tinh thần, chứ
không chỉ riêng tinh thần mà thôi
+ Thứ tư, văn hoá không chỉ có nghĩa chỉ là văn học nghệ thuật như thông thường người ta hay nói Văn học nghệ thuật chỉ là bộ phận cao nhất trong lĩnh vực
văn hoá mà thôi
Trang 24Trên cơ sở phân tích các quan niệm trên có thể kết luận: Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người,
và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do
con người tạo ra
1.1.4 Quản lý nhà nước về văn hóa
QLNN về văn hóa là: hoạt động của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực hành
pháp nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam [10,tr 448] Hay nói một
cách khác, QLNN về văn hóa là quản lý các hoạt động văn hóa bằng chính sách và
Các chính sách về quản lý và phát triển văn hóa hiện nay có thể kể đến: Sáng tạo các giá trị văn hóa; Bảo tồn, phát huy tài sản văn hóa; Phát triển văn hóa cơ sở; Giao lưu văn hóa quốc tế; Hiện đại hóa kỹ thuật và phương thức sản xuất, phân phối sản phẩm văn hóa; Đào tạo, phát triển đội ngũ tri thức, văn nghệ sỹ; Đảm bảo ngân sách, điều kiện pháp lý cho phát triển văn hóa; Nâng cao tính tự quản và phân cấp quản lý văn hóa…
Chính sách văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong công tác QLNN về văn hóa song chính sách văn hóa không thể thay thế pháp luật Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật về văn hóa nhằm phát huy tác dụng của văn hóa tới sự hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần của con người
Trang 25- Hoạt động tổ chức thực hiện của bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa
Các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về văn hóa là Chính phủ; Bộ VHTT&DL; UBND là cơ quan hành chính ở địa phương thực hiện chức năng QLNN về văn hóa trong địa phương của mình theo quy định của pháp luật
Hoạt động này bao gồm các công việc như đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; xây dựng và chỉ đạo quy hoạch, kế hoạch; ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy; hướng dẫn, tuyên truyền; thẩm định; cấp giấy phép, chứng nhận…Đây là những hoạt động trên thực tế để thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về văn hóa theo mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra
Ngoài ra hoạt động đầu tư tài chính cho văn hóa cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Trong đầu tư tài chính cho văn hóa, xuất phát từ vấn đề quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực nên nhà nước chú trọng đầu tư ngân sách cho giáo dục
- Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực văn hóa Đây là một hoạt động có vai trò quan trọng của công tác QLNN về văn hóa,
sự tác động trực tiếp của cơ quan kiểm duyệt và thanh tra có vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì văn hóa có mối quan hệ trực tiếp với chính trị, nó có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Trong xu hướng xã hội hóa văn hóa hiện nay, các tác động tiêu cực nảy sinh ngày càng nhiều, vì vậy hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý cần phải được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch phối hợp tổ chức hoạt động một cách chặt chẽ với các bộ, nghành khác Như vậy mới có khả năng thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ mà công tác QLNN về văn hóa đã đề ra
hỗ trợ về mặt chính sách đối với việc quản lý lễ hội truyền thống của các cơ quan chuyên môn cấp dưới
Trang 26+ Bộ VHTT&DL là cơ quan chuyên môn của Chính phủ, tham mưu cho Chính phủ ban hành các chính sách quản lý về văn hóa, trình Chính phủ các dự án, pháp lệnh về tổ chức hoạt động và quản lý văn hóa, quyết định quy hoạch, kế hoạch xây dựng và phát triển văn hóa Ban hành các nghị định, chế tài quản lý, quyết định các chính sách, đầu tư, tài trợ, hợp tác với nước ngoài về việc tổ chức hoạt động phát triển văn hóa
- Tại địa phương: UBND tỉnh là cơ quan chịu trách nhiệm chỉ đạo, điều hành, QLNN đối với hoạt động văn hóa trên địa bàn tỉnh UBND tỉnh ban hành các chính sách đối với việc tổ chức và quản lý lễ hội trong địa bàn toàn tỉnh trên cơ sở chính sách chung của cơ quan quản lý cấp trên là Chính Phủ và Bộ VHTT&DL, đồng thời phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương
+ Sở VHTT&DL là cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu cho UBND ban hành các văn bản, quy phạm pháp luật về quản lý lễ hội, các chính sách đối với việc tổ chức lễ hội, thực hiện chức năng xử lý vi phạm theo thẩm quyền và chỉ đạo về mặt chuyên môn cho các cơ quan cấp dưới về quản
lý lễ hội Đồng thời là cơ quan thực hiện sự quản lý ngành của Bộ VHT&DL
* Công cụ QLNN về văn hóa
+ Chính phủ tiến hành quản lý văn hóa bằng chính sách và pháp luật Chính sách pháp luật được hiểu là những nguyên tắc thực hiện tư tưởng chủ đạo của nhà nước về chủ trương, đường lối, phương hướng xây dựng và phát triển phù hợp với mục tiêu phát triển chung của đất nước Song song với việc tiến hành các chính sách
để quản lý văn hóa, Chính phủ ban hành hệ thống các văn bản pháp luật nhằm phát huy tác dụng đối với việc hình thành nhân cách, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của con người, chế ước những ảnh hưởng tiêu cực, loại bỏ những hủ tục lạc hậu Quản lý văn hóa bằng pháp luật là một yêu cầu mang tính tất yếu khách quan Cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, rộng mở cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Quản lý lễ hội
là một lĩnh vực cụ thể trong ngành văn hóa
Đây là phương thức quan trọng nhất đối với quản lý văn hóa vì nhà nước nào cũng có quan điểm của mình đối với văn hóa, đây là công cụ đắc lực để đảm bảo cho các hoạt động văn hóa theo đúng với quan điểm đó Hoạt động văn hóa có một phạm vi rất rộng liên quan đến nhiều ngành và địa phương Quản lý bằng pháp luật có phạm vi điều chỉnh lớn, tính cưỡng chế cao
Trang 27* Phương thức QLNN về văn hóa của Chính phủ:
+ Chính phủ hỗ trợ ngân sách để thúc đẩy hoạt động văn hóa: Phương thức này thể hiện thái độ của nhà nước đối với văn hóa Bất kể nước giàu hay nghèo đều
hỗ trợ tài chính cho hoạt động văn hóa Trong lịch sử phát triển của loài người văn hóa luôn là một lĩnh vực hỗ trợ của nhà nước và xã hội
+ Chính phủ đầu tư cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa: Muốn xây dựng sự nghiệp văn hóa, cần phải đặc biệt quan tâm trú trọng đến đội ngũ những người làm công tác văn hóa Đây là lực lượng mang tính quyết định cho việc tổ chức, hướng dẫn, triển khai thực hiện các hoạt động văn hóa Trong giai đoạn hiện nay, đầu tư cho đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng cán bộ văn hóa tại địa phương là một điều hết sức quan trọng và cần thiết
+ Chính phủ tiến hành kiểm tra và giám sát các hoạt động văn hóa để đảm bảo cho các hoạt động văn hóa tuân thủ pháp luật, quy định của nhà nước Nhà nước có hệ thống kiểm tra và giám sát các hoạt động văn hóa từ trung ương đến địa phương Hoạt động văn hóa đa dạng, chính vì vậy để làm tốt công tác này phải có sự phối hợp giữa các tổ chức nhà nước và đoàn thể, vận động nhân dân cùng tham gia
Trang 28Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống QLNN về văn hóa
Trong đó: : Chỉ đạo, điều hành trực tiếp
:Chỉ đạo về mặt chuyên môn Hoạt động QLNN về văn hóa được phân công theo chức năng và nhiệm vụ nhất định Trong đó việc ban hành luật để điều chỉnh quản lý đối với các lĩnh vực văn hóa trong đó có lễ hội thuộc về Chính Phủ Việc thực hiện chức năng quản lý về
Quốc hội
Chính Phủ
UBND CẤP TỈNH
BỘ VHTT&DL HĐVH
cấp nhà nước HĐND TỈNH
UBND CẤP
XÃ
SỞ VHTT&DL
PHÕNG VĂN HÓA THÔNG TIN
HĐVH cấp xã
HĐVH cấp tỉnh
HĐVH cấp huyện
UBND CẤP HUYỆN
Trang 29mặt chuyên môn, hướng dẫn chuyên môn thuộc chức năng của các cơ quan chuyên môn quản lý về văn hóa từ trung ương tới địa phương theo thẩm quyền Thực hiện chức năng QLNN cụ thể là ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành các cơ quan hành chính có thẩm quyền chung ở địa phương là UBND các cấp Còn HĐND các cấp là cơ quan thông quan các chủ trương, chính sách của UBND cùng cấp về tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống Việc phân công chức năng quản lý lễ hội cụ thể giữa các cơ quan là cơ sở cho hoạt động quản lý diễn ra đúng mục tiêu và tránh hiện tượng chồng chéo trong quản lý
Tóm lại, QLNN đối với hoạt động văn hóa được hiểu là quá trình sử dụng các công cụ quản lý ( chính sách, pháp luật, các nghị định, chế tài, tổ chức bộ máy vận hành và các nguồn lực) để kiểm soát, can thiệp vào các hoạt động của lễ hội bằng các phương thức tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm duy trì việc thực hiện hệ thống chính sách, hệ thống các văn bản pháp quy, chế tài của nhà nước đã ban hành Quản lý lễ hội là một quá trình thực hiện 4 công đoạn: xác định nội dung
và phương thức tổ chức; xây dựng kế hoạch; tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực hiện, tổng kết, đúc kết kinh nghiệm
Cơ sở pháp lý của việc thực thi công tác QLNN về lễ hội truyền thống là dựa trên hệ thống các chính sách và pháp luật hiện hành của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Luật pháp và các văn bản mang tính pháp lý nêu trên đã thể hiện
rõ mục tiêu quản lý nhà nước đối với hoạt động lễ hội truyền thống là duy trì và thực hiện nghiêm minh các điều khoản đã được ghi trong luật và các văn bản liên quan
Theo quy định hiện hành, Sở VHTT&DL chịu trách nhiệm cấp phép, kiểm tra, giám sát hoạt động lễ hội, đồng thời phối hợp cùng các cơ quan chức năng như: công an, quản lý thị trường, giao thông, y tế…xử lý sai phạm trong lễ hội Việc chịu trách nhiệm QLNN nói chung thuộc chính quyền sở tại, nhưng được phân chia trách nhiệm cụ thể cho đơn vị chức năng thuộc cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
Do đó, công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm tùy từng vụ việc mà có những
cơ quan chức năng chịu trách nhiệm giải quyết
1.2 Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống
1.2.1 Bảo tồn và phát huy
- Bảo tồn là “hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống
cấp hoặc phá hoại” hay nói cách khác “bảo tồn có nghĩa là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự xuống cấp của kết cấu đó” [20]
Trang 30Ashworth, một học giả có uy tín hiện nay đã tổng kết từ thực tế bảo tồn di sản ở nhiều nước trên thế giới thành ba quan điểm và tương ứng với nó là ba mô hình bảo tồn
di sản: Bảo tồn y nguyên, bảo tồn trên cơ sở kế thừa, bảo tồn - phát triển
Như vậy, bảo tồn là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành,
ý nghĩa của di sản văn hóa nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài về vật chất cho di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội
Bảo tồn văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự phát triển văn hóa, mà trong một chừng mực nào đó còn là cơ sở cho sự phát triển văn hóa theo đúng hướng Bản thân quá trình phát triển văn hóa có sự đào thải yếu tố văn hóa lỗi thời, lạc hậu, không phù hợp với hiện thực khách quan Sẽ là sai lầm khi coi bảo tồn văn hóa triệt tiêu sự phát triển văn hóa và ngược lại phát triển văn hóa sẽ triệt tiêu bảo tồn văn hóa
Bảo tồn và phát triển văn hóa có thể được coi là thúc đẩy nhau; bảo tồn văn hóa giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa Bên cạnh đó, thông qua phát triển văn hóa, con người nhận thức và thực hiện hoạt động bảo tồn văn hóa nhằm thể hiện bản sắc riêng của mình Cũng bởi tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa mà trong quá trình phát triển chứa đựng sự đánh giá, xác lập vị thế của yếu
tố văn hóa mới dựa trên nền tảng giá trị đã được bảo tồn
- Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏa
tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp [20]
Cách thức phát huy của mỗi di sản, mỗi thời điểm có khác nhau, điều đó tùy thuộc vào văn hóa của mỗi vùng, vào nhận thức của từng người Nhưng tất cả các hoạt động này đều phải dựa vào giá trị sẵn có của di sản, làm tôn vinh vẻ đẹp và phát triển các giá trị văn hóa đó Hình thức chủ đạo của phát huy là quảng bá hình ảnh của di sản trên mọi phương diện nhằm khai thác, thu hút khách đến tham quan, đầu tư Trong công tác phát huy , vấn đề đặt ra là tuyên truyền , giáo dục trong cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ hiểu biết về lễ hội truyền thống với những giá trị văn hóa của nó Đây chính là cây cầu để chúng ta đưa lễ hội truyền thống về với cộng đồng Cộng đồng chính là môi trường không chỉ sản sinh ra lễ hội, mà còn là nơi tốt nhất bảo tồn, làm giàu thêm, phát huy nó trong đời sống xã hội
Trang 31Như vậy, phát huy chính là việc khai thác, sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả Phát huy giá trị di sản văn hóa là một hoạt động có tính liên ngành, có tiêu chí chung, mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội, cho việc phát triển du lịch bền vững và góp phần quan trọng trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời là nhịp cầu nối với bạn bè năm châu
Từ hai khái niệm trên, quan điểm của tác giả về bảo tồn và phát huy giá trị
văn hóa truyền thống như sau: Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống là
việc bảo vệ, gìn giữ những nét riêng, coi trọng tính đặc thù, độc đáo gắn với truyền thống của mỗi vùng, miền Các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc được chọn lọc, loại bỏ dần các yếu tố lạc hậu, xây dựng thêm các tiêu chí văn hóa mới phù hợp với thời đại, để nó có thể tiếp tục song hành cùng xu hướng đi lên của cuộc sống
- Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy: Bảo tồn và phát huy luôn gắn liền
với nhau như một cặp phạm trù trong việc xây dựng và phát triển văn hóa Bởi lẽ, văn hóa là cái thể hiện sức sống của dân tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chỉ bảo tồn mà tồn tại, không đem ra sử dụng thì không phát huy được giá trị ẩn chứa trong di sản, rồi thời gian sẽ làm di sản phai mờ và nhanh chóng bị chìm vào quên lãng Chỉ khi giá trị các di sản được phát huy thì mới có cơ sở, có căn cứ
và làm điều kiện để bảo tồn di sản Do vậy, phát huy sẽ tạo ra hướng tiếp nhận, ảnh hưởng mới làm cho các giá trị văn hóa không bị lãng quên mà còn lan rộng và giữ vững được bản sắc của mình Bảo tồn là căn bản, làm cơ sở cho sáng tạo, phục vụ phát huy và ngược lại phát huy giúp cho bảo tồn di sản văn hóa được tốt hơn, tỏa
sáng hơn
Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nên được coi là một hoạt động khoa học, đòi hỏi những kiến thức chuyên sâu, sự phối hợp liên ngành và phải tuân thủ những nguyên tắc cao nhất của bảo tồn là giữ được tính nguyên gốc của di sản gắn với những điều kiện lịch sử, kinh tế – xã hội cụ thể của từng thời kỳ
Trên nguyên tắc đó khi giải quyết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa cần có sự hiểu biết đầy đủ về nội dung chứa đựng trong di sản, cũng như các thuộc tính của di sản văn hóa đó Đồng thời đánh giá toàn diện, từ
đó có sự lựa chọn hình thức bảo tồn cho phù hợp Trong trường hợp nào cần ưu tiên cho sự phát triển, còn khi nào lại phải chọn phương án bảo tồn Mặt khác, cần nâng cao nhận thức coi di sản văn hóa không những là cội rễ của bản sắc văn hóa, mà việc bảo tồn và phát huy nó là giải pháp để xây dựng bản sắc văn hóa của dân tộc
Trang 321.2.2 Lễ hội và lễ hội truyền thống
- Lễ hội
Trong các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội được xem là một loại hình di sản tiêu biểu, vừa là sinh hoạt văn hóa cộng đồng, vừa là một hình thức trình
diễn dân gian hàm chứa các giá trị lịch sử, nghệ thuật Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu
đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về lễ hội Cho đến nay khái niệm lễ hội vẫn còn chưa thống nhất và có nhiều cách định nghĩa khác nhau, tựu trung lại trên thực
tế đã xuất hiện một số ý kiến sau đây:
Có quan niệm chia tách lễ và hội thành hai thành tố khác nhau trong cấu trúc
lễ hội dựa trên thực tế có những sinh hoạt văn hóa dân gian có lễ mà không có hội
hoặc ngược lại Theo tác giả Bùi Thiết thì “ Lễ là các hoạt động đạt tới trình độ
nghi lễ, hội là các nghi lễ đạt trình độ cao hơn, trong đó có các hoạt động văn hóa truyền thống” [30];
Theo tác giả Nguyễn Quang Lê, thì bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm hai
hệ thống đan quện và giao thoa với nhau:
Hệ thống lễ: Bao gồm các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm đồ lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc Thông qua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là các thần thánh, do chính con người tưởng tượng ra và họ cầu mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương lai cuộc sống tốt đẹp của mình
Hệ thống hội: Bao gồm các trò vui, trò diễn và các kiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và ca múa dân gian, chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước, song đôi khi chưa thể tách ra khỏi việc thờ cúng.[19,tr.5-9]
PGS.TS Ngô Đức Thịnh quan niệm:“Lễ hội là một hình thức diễn xướng tâm
linh và diễn giải”
Tính tổng thể của lễ hội không phải là thực thể “chia đôi” như người ta
quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ, tín ngưỡng nào đó ( thường là tôn thờ một vị thần linh - lịch sử hay một thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đấy nảy sinh và tích hợp các hiện tượng văn hóa phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội cho nên trong một lễ hội phần lễ là phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp[32,tr.37]
Trang 33Khác với quan điểm trên, nhà nghiên cứu Thu Linh cho rằng:
“Lễ ( cuộc lễ) phản ảnh những sự kiện đặc biệt, về mặt hình thức lễ trong các
dịp này trở thành hệ thống những nghi thức có tính chất phổ biến được quy định một các nghiêm ngặt nhiều khi đạt đến trình độ “cải diễn hóa” cùng với không khí trang nghiêm đóng vai trò chủ đạo Đây chính là điểm giao thoa giữa lễ với hội, và
có lẽ cũng vì vậy người ta thường nhập hai từ lễ hội”.[18, tr.27]
Tác giả Trần Bình Minh cho rằng: “Lễ và hội hòa quện, xoắn xít với nhau để
cùng nhau biểu thị một giá trị nào đó của một cộng đồng Trong lễ cũng có hội và trong hội cũng có lễ ”[21,tr120]
Như vậy, các nhà nghiên cứu đều thống nhất hai thành tố cấu trúc nên lễ hội (phần lễ là nghi thức lễ, là mặt thứ nhất: tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng, linh thiêng; phần hội tức là hội hè, là mặt thứ hai: vật chất, văn hóa nghệ thuật, đời thường)
Bên cạnh những quan điểm chia tách lễ và hội thành hai thành tố khác nhau còn có những quan điểm khác về lễ hội:
Trong cuốn “ Lễ hội cổ truyền”, tác giả Phan Đăng Nhật cho rằng: “ Lễ hội
là pho lịch sử khổng lồ ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tín ngưỡng, văn hóa nghệ thuật và cả sự kiện xã hội-lịch sử quan trọng của dân tộc và lễ hội còn là bảo tàng sống về các mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Việt”
Nguyễn Minh Tuệ tác giả của cuốn “ Địa lý du lịch” cho rằng: “ Lễ hội là
một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc là để giải quyết những âu lo những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được ”
Từ những định nghĩa trên, quan điểm của tác giả như sau:
“ Lễ là hệ thống các hành vi, nghi thức nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện;
Hội là tập hợp các trò diễn, các cuộc vui chơi, giải trí tại một thời điểm nhất định, có đông người tham gia, là một hiện tượng của đời sống văn hóa hằng ngày,
là một phần của đời sống cá nhân và cả cộng đồng;
Trang 34Lễ hội là một hệ thống sản phẩm của xã hội quá khứ, được truyền lại tới ngày nay và nó được người dân, cộng đồng tiếp nhận và thực hành trong đời sống sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng”
Lễ hội xuất hiện khi loài người đã sống trong xã hội có tổ chức ( tức là khi
đã hình thành nền văn minh nông nghiệp) Nói cách khác, lễ hội chỉ xuất hiện khi con người có tư duy trừu tượng, mà khởi đầu là những tín ngưỡng sơ khai Hội có trước lễ, vì đời thường có trước đời thiêng Không nhất thiết có hội là có lễ và ngược lại
Không nên đối lập hoàn toàn giữa lễ với hội, nhưng cũng không nên đồng nhất khái niệm, nội hàm của chúng Phần lễ nói chung mang tính giáo điều bất biến, nhưng phần hội lại sinh động và thích nghi với thời gian, không gian Lễ hội không phải là mê tín dị đoan mà là cách ứng xử thông minh khôn ngoan của con người với những sức mạnh vô hình hay hữu hình mà họ không lý giải được Lễ hội trở thành hiện tượng văn hóa tổng hợp, thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tâm lý, vật chất của con người Trong lễ hội người ta thấy sự trang nghiêm, kính cẩn, mực thước của các nghi lễ và nghi thức khá chặt chẽ; đồng thời lại có những trò diễn, trò chơi dân gian hết sức vui nhộn Vì vậy, lễ hội là hoạt động văn hóa xã hội không thể thiếu của con người, ở mọi thời đại, mọi dân tộc
- Lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Trong Hán Việt từ điển Bách Khoa, tác giả Đào Duy Anh đã định nghĩa truyền thống như
sau :“Thống có nghĩa là đường mối, đầu gốc; còn truyền là trao lại, trao cho và chúng
luôn đi liền với nhau mang ý nghĩa đời nọ truyền cho đời kia”.[1, tr 30]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về lễ hội truyền thống, tùy thuộc vào các tác giả tiếp cận ở khía cạnh nào theo phương thức nào Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu văn hóa đều cho rằng lễ hội truyền thống là hình thái văn hóa có tính chất hai mặt trong một chỉnh thể thống nhất Mặc dù vậy, khi đứng ở góc độ quản lý văn hóa để tiếp cận và tìm hiểu về lễ hội thì tất cả các yếu tố của lễ hội sẽ được quan tâm để nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân gian của dân tộc
Lễ hội truyền thống là một sản phẩm và biểu hiện của một nền văn hóa Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa nông nghiệp.Vậy lễ hội truyền thống Việt Nam là
Trang 35lễ hội nông nghiệp Cội nguồn sâu xa nhất là tín ngưỡng phồn thực trong nông nghiệp của dân tộc Việt Nam luôn cầu mong mưa thuận gió hòa cho vạn vật sinh sôi nảy nở
Theo PGS.TS Trần Quốc Vượng thì lễ hội nông nghiệp không chỉ bao hàm những lễ hội gắn một cách trực tiếp với nghề nông mà ta có thể gọi là nghi thức hay nghi lễ nông nghiệp
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn “Lễ hội truyền thống là một loại sinh hoạt văn
hóa tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường Đó còn là một sinh hoạt có quy mô lớn
về tầm vóc và có sức cuốn hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội…” [22]
Lễ hội truyền thống chính là dịp để con người giao lưu, cộng cảm và trao truyền những đạo lý, tình cảm, mỹ tục và khát vọng cao đẹp, còn là cầu nối giữa hiện tại và quá khứ, củng cố tinh thần cố kết dân tộc và tình yêu quê hương đất nước cùng niềm tự hào về gốc gác của mình
Như vậy, có thể nói lễ hội truyền thống là nơi hội tụ, là mảnh đất màu mỡ để cho văn hóa truyền thống phát triển Những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc được lưu giữ, bảo tồn và phát huy thông qua lễ hội
- Phân loại lễ hội
Muốn nghiên cứu bất kỳ một loại hình văn hóa nào cũng đều phải phân loại chúng Việc nghiên cứu lễ hội ở nước ta đã trải qua một quá trình lâu dài và đạt được nhiều thành quả Song cho đến nay, việc phân loại lễ hội còn có nhiều ý kiến khác nhau tùy thuộc vào từng chuyên ngành khoa học và phân loại theo những tiêu chí khác nhau:
+ Phân loại theo mục đích tổ chức
Khi phân loại lễ hội theo mục đích tổ chức thì cách thức tổ chức lễ hội cũng
có nhiều sự khác nhau dựa trên sự phân tích, ý nghĩa và cuội nguồn của lễ hội Thường người ta chia lễ hội làm 5 loại: Lễ hội nông nghiệp, lễ hội phồn thực giao duyên, lễ hội văn nghệ, lễ hội thi tài, lễ hội lịch sử
+ Phân loại theo thời gian hình thành và phát triển của lễ hội
Theo thời gian hình thành và phát triển người ta chia thành hai loại: Lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại
Trang 36Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Lễ hội là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng dân tộc
Lễ hội hiện đại: Được hình thành trong khoảng thời gian cách mạng tháng
8-1945 đến nay Chủ yếu gắn liền với nhân vật và sự kiện lịch sử (Ngày quốc khánh 2-9, ngày 30-4 giải phóng miền nam…)
+ Phân loại theo tính chất lễ hội
Lễ hội dân gian : Là những lễ hội mà chủ thể là do dân chúng tham gia tổ chức
và hưởng thụ, khai thác triệt để các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian làm nền tảng cho hoạt động hội Có lễ hội dân gian truyền thống và lễ hội dân gian hiện đại
Lễ hội lịch sử cách mạng: Là lễ hội mới ra đời sau tháng Tám năm 1945, do chính quyền các cấp và nhân dân tham gia tổ chức Nội dung lễ hội liên quan đến các nhân vật tiền bối cách mạng của Đảng và các sự kiện lịch sử trên chặng đường hoạt động cách mạng từ khi thành lập Đảng tới nay ( lễ hội tưởng niệm chị Võ Thị Sáu ở Côn Đảo, )
Lễ hội tôn giáo: Lễ hội tôn giáo do các chức sắc, tổ chức tôn giáo đứng ra chủ trì, huy động các tín đồ tham gia đáp ứng nhu cầu tinh thần và đời sống tâm linh của tín đồ Lễ hội tôn giáo liên quan đến sự tích về các nhân vật do tôn giáo đó thờ phụng ( lễ hội Phật đản, lễ hội La Vang…)
Lễ hội du nhập từ nước ngoài: Là những lễ hội của nước ngoài, do người nước ngoài hoặc người Việt Nam tổ chức trong thời gian từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 trở lại đây Ví dụ: lễ hội Noen, lễ hội của người Thái, người Mông, người Dao ở Tây Bắc Việt Nam, lễ hội ngày tình yêu (Valentin’s Day), lễ hội hóa trang (Halowen)
Lễ hội văn hóa du lịch: Lễ hội văn hóa du lịch được một địa phương hay một đơn vị tổ chức liên kết một số địa phương nhằm mục đích quảng bá du lịch, thu hút
du khách Ví dụ: Lễ hội du lịch carnaval Hạ Long (Quảng Ninh), festival biển Bà Rịa - Vũng Tàu, festival hoa Đà Lạt (Lâm Đồng), festival cà phê (Đắc Lắc)
Lễ hội văn hóa du lịch cũng như lễ hội lịch sử cách mạng khi được tổ chức thường xuyên, định hình những thành tố cốt lõi, được quần chúng, nhân dân đồng tình hưởng ứng, tự giác huy động công sức, tiền của tham gia thì nó trở thành lễ hội dân gian hiện đại
Trang 37- Phân loại theo phạm vi, quy mô
Lễ hội cấp quốc gia: Lễ hội Đền Hùng…
Lễ hội cấp tỉnh: Lễ hội truyền thống Cố đô Hoa Lư ( Ninh Bình), lễ hội Chùa Hương ( Hà Tây), hội Lim ( Bắc Ninh)…
Lễ hội cấp huyện: Hội chùa Keo ( Hà Tây), hội Pháo hoa ( Quảng Uyên)…
Lễ hội cấp xã: Đây là loại lễ hội chiếm số lượng lớn nhất với các hình thức
tổ chức phong phú, mang đậm nét truyền thống của cộng đồng làng quê Việt Nam
Như vậy, việc phân loại lễ hội tùy thuộc vào cách tiếp cận và tiêu chí đưa ra của mỗi nhà nghiên cứu
Theo số liệu thống kê của Cục Văn hóa cơ sở ( Bộ VHTTDL), tính đến tháng
6-2008, nước ta có 7.966 lễ hội, phân loại như sau: 7.039 lễ hội dân gian, chiếm 88,36%;
332 lễ hội lịch sử cách mạng, chiếm 4,16%; 544 lễ hội tôn giáo, chiếm 6,82%; 10 lễ hội
du nhập từ nước ngoài vào, chiếm 0,12%; 40 lễ hội khác, chiếm 0,50%
Lễ hội đã và đang trở thành nhu cầu văn hóa của các tầng lớp nhân dân, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, nhân văn, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thiết thực xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
và trên cả nước
- Ý nghĩa của lễ hội truyền thống
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Hình tượng các vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người Đó là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc Lễ hội truyền thống là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc
Lễ hội truyền thống xưa thường được mở vào mùa xuân và mùa thu Nhưng hiện nay, chủ yếu chỉ tập trung vào mùa xuân Do một thời kỳ khá dài chưa nhận thức thấu đáo về ý nghĩa thiêng liêng của lễ hội, nên lễ hội truyền thống ít được tổ chức và ở nhiều địa phương lễ hội đã đi vào quên lãng Cho tới khi Pháp lệnh Bảo
vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh (số 14/LCT-HĐNN được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 31.3.1984 và công bố ngày 4.4.1984) thì
Trang 38lễ hội truyền thống mới được phục hồi Thông thường mỗi lễ hội đều có 2 phần: Lễ
và hội Lễ hội xưa được cha ông ta tiến hành rất bài bản về phần lễ nên thường kéo dài ngày được thể hiện rất rõ qua các nghi thức Còn lễ hội hiện nay có quy mô về mặt tổ chức, nhưng lại bị giới hạn về thời gian và sự "điều chỉnh" của người tổ chức, quản lý nên tính chất lễ đã có phần giảm bớt, gọn, nhẹ, đơn giản hơn về mặt tâm linh
Lễ hội truyền thống chứng tỏ tính cố kết của cộng đồng, là minh chứng cho nét đẹp văn hoá ngàn đời của ông cha ta Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng Lễ hội truyền thống ở nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân
* Kết luận Chương 1
Ở chương 1, tác tập trung giải thích các khái niệm Lễ hội truyền thống với
tư cách là di sản văn hóa, là kho tàng văn hóa dân tộc đã có giá trị to lớn trong đời sống xã hội hiện đại Mặc dù trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình hội nhập quốc tế, quá trình toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu nhưng lễ hội truyền thống với giá trị văn hóa, giá trị nhân văn to lớn vẫn là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Lễ hội truyền thống đã có vai trò to lớn trong việc cố kết cộng đồng tạo nền tảng vững chắc của tinh thần đoàn kết toàn dân, hướng con người tới giá trị đạo đức giá trị nhân văn, vươn tới các giá trị chân – thiện – mỹ, giúp con người giải tỏa căng thẳng mệt mỏi, bế tắc trong cuộc sống ngày thường Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu vai trò QLNN của Sở VHTT&DL đối với hoạt động lễ hội trên địa bàn tỉnh Cao Bằng làm nền tảng cho nghiên cứu vấn đề ở các chương tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ THỰC HIỆN VAI TRÕ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA SỞ VHTT&DL TỈNH CAO BẰNG TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA LỄ HỘI PHÁO
HOA HUYỆN QUẢNG UYÊN 2.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên xã hội của tỉnh Cao Bằng và Sở VHTT&DL tỉnh Cao Bằng
2.1.1.Giới thiệu về điều kiện tự nhiên xã hội của tỉnh Cao Bằng
- Đặc điểm Lịch sử
Cao Bằng nằm ở phía Đông Bắc của tổ quốc, có vị trí quan trọng trong chiến lược phòng thủ đất nước Nhân dân Cao Bằng rất tự hào về mảnh đất của mình, bởi nơi đây là cái nôi của cách mạng Việt Nam, nơi Bác Hồ dừng chân đầu tiên sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước trở về tổ quốc để lãnh đạo phong trào cách mạng
trong nước Đây cũng chính là “căn cứ địa cách mạng” trong suốt cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp Những địa danh như hang Pác Bó, lán Khuổi Nặm, khu rừng Trần Hưng Đạo, Phai Khắt – Nà Ngần, mãi mãi đi vào lịch sử, gắn liền với các sự kiện, những chiến công của cách mạng Việt Nam
- Khí hậu
Khí hậu Cao Bằng mang tính nhiệt đới gió mùa lục địa núi cao và có đặc trưng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc Có tiểu vùng có khí hậu á nhiệt đới Đặc điểm này đã tạo cho Cao Bằng những lợi thế để hình thành các vùng sản xuất cây con phong phú đa dạng, trong đó có những cây đặc sản như
Trang 40hạt dẻ, hồng không hạt, đậu tương có hàm lượng đạm cao, thuốc lá, chè đắng mà nhiều nơi khác không có điều kiện phát triển
- Đặc điểm xã hội
Tỉnh Cao Bằng bao gồm 1 thành phố và 12 huyện, với 189 xã, phường, thị trấn, 2465 làng, xóm tổ dân phố Tháng 10 năm 2010 thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III Ngày 26 tháng 9 năm 2012 thị xã Cao Bằng được nâng cấp lên thành phố Cao Bằng
Theo điều tra dân số ngày 01/10/2009 dân số toàn tỉnh là 507.183 người, mật
độ dân số khoảng 75 người/km2 Tỉnh Cao Bằng có khoảng 21 dân tộc sinh sống và chủ yếu là: Tày(43%), Nùng (32%), Dao (10,6%), Mông (6,8%), Kinh (4,2%) Dân
số Cao Bằng tương đối trẻ Số người trong độ tuổi lao động khoảng 324,1 nghìn người ( chiếm 63% dân số) Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm khoảng 17%, lực lượng lao động tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm trên 85%, trong khi lĩnh vực dịch vụ chỉ chiếm khoảng 4% dân số
Hệ thống giao thông còn nhiều hạn chế về cả chất và lượng Hệ thống giao thông duy nhất chỉ có đường bộ, gồm 4 tuyến quốc lộ (3, 4A, 34 và 4C) với chiều dài
360 km và các tuyến tỉnh lộ, đường giao thông liên huyện, liên xã Quốc lộ 3 và quốc
lộ 4A là hai tuyến giao thông quan trọng nhất cho việc mở rộng giao lưu giữa tỉnh với bên ngoài Bên cạnh đó, từ tháng 12/2003, tuyến vận tải quốc tế từ Cao Bằng sang Long Châu ( Trung Quốc) đã được khai thông Trong tương lai gần, Cao Bằng sẽ phát triển đường sắt và đường không để phá thế độc đáo
Hệ thống thông tin liên lạc mạng viễn thông phát triển đồng bộ, hiện đại Các dịch vụ viễn thông được mở rộng và phát triển với nhiều loại hình như điện thoại cố định, điện thoại di động, fax, internet Đến năm 2005, 100% xã, phường, thị trấn đã
có điện thoại; 12/12 huyện, thành phố được phủ sóng di động Toàn tỉnh có 194 điểm phục vụ bưu chính, bán kính phục vụ 3,3,km/điểm
Hệ thống cung cấp điện ngoài nguồn điện nhận từ lưới quốc gia, Cao Bằng
đã đầu tư xây dựng các nhà máy thủy điện: Thoong Gót, Nà Tẩu, Suối Củn và Nà Lòa với tổng công suất gần 10MW Đến năm 2007, mạng lưới điện đã đến 12 huyện, 1 thành phố Tổng số hộ có điện đạt 75%
Hệ thống cấp nước: Toàn tỉnh đã xây dựng và đưa vào sử dụng 7 công trình cấp nước sinh hoạt tại 7/13 huyện thị xã với tổng công suất hơn 14 nghìn m3/ ngày đêm Tình trạng thiếu nước sinh hoạt ở nhiều vùng núi cao, đặc biệt ở các khu vực núi đã đang dần được khắc phục Ngoài ra, hệ thống thủy lợi đã được đầu tư xây