1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hoạt động ngoại giao văn hóa của đảng và nhà nước tuef 1986

132 548 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triển vọng của Ngoại giao văn hoá Việt Nam Cùng với việc khẳng định những thành tựu đạt được của các hoạt động ngoại giao văn hoá của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009,

Trang 1

Trần thị thúy hà

Hoạt động ngoại giao văn hoá

của đảng và nhà n-ớc việt nam

từ năm 1986 đến năm 2009

LUậN VĂN THạC Sĩ LịCH Sử

Đại học quốc gia hà nội

Tr-ờng đại học khoa học xã hội Và nhân Văn

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

Tr-ờng đại học khoa học xã hội Và nhân Văn

********

Trần thị thuý hà

Hoạt động ngoại giao văn hoá

của đảng và nhà n-ớc việt nam

Trang 3

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ VÀ NGOẠI GIAO VĂN HOÁ 10

1.1 Văn hoá - giao lưu văn hoá – cốt lõi của ngoại giao văn hoá 10

Chương 2 THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HOÁ CỦA

ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2009

25

2.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động tới sự thay đổi quan điểm đối

ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam

25

2.2 Quan điểm chỉ đạo về ngoại giao của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ

năm 1986 đến năm 2009

33

2.2.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về ngoại giao văn

hoá từ năm 1986 đến năm 2009

33

2.2.2 Chủ trương của Bộ Ngoại giao về ngoại giao văn hoá 39

2.3 Thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hoá Việt Nam từ năm 1986 đến năm

2009

44

Trang 4

2.3.3 Tham gia các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ

thuật trong và ngoài nước

51

2.3.4 Kết hợp các hoạt động ngoại giao văn hóa với các hoạt động đối ngoại 55

2.3.5 Xây dựng thông điệp và thương hiệu quốc gia 56

2.3.7 Quan hệ với UNESCO và các thể chế hợp tác quốc tế khác về văn hóa 59

2.3.8 Quảng bá hình ảnh Việt Nam tới bạn bè quốc tế thông qua các hoạt

động du lịch

61

2.4 Dấu ấn Năm ngoại giao văn hoá 2009 64

Chương 3 NHẬN XÉT CHUNG VÀ CÁC KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 69

3.1 Một số thành tựu của hoạt động ngoại giao văn hoá 69

3.2 Một số hạn chế của hoạt động ngoại giao văn hoá 70

3.3 Một số kinh nghiệm chủ yếu đối với hoạt động Ngoại giao văn hoá 76

3.3.2 Xây dựng cơ chế, chính sách, định hướng phù hợp 78

3.3.3 Tăng cường công tác đào tạo cho đội ngũ cán bộ chuyên môn 79

3.3.4 Tăng cường chất lượng của các hoạt động ngoại giao văn hóa 81

3.3.5 Tiếp tục nâng cao hiệu quả của các hoạt động thông tin, tuyên truyền 83

3.3.6 Khai thác hiệu quả tiềm năng ngoại giao văn hoá đối với cộng đồng

người Việt Nam ở nước ngoài

85

3.3.7 Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động ngoại giao văn hóa 85

3.3.9 Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức cộng đồng về ngoại giao văn hoá

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ACCD Advisory Committee of Cultural Diplomacy

Ủy ban tư vấn về Ngoại giao văn hóa

ASEAN Association of South - East Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEM The Asia - Europe Meeting

Diễn đàn hợp tác Á-Âu

APEC Asia - Pacific Economic Co-operation

Diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương

BCHTW Ban Chấp hành Trung ương

BIE Bureau International Exhibiton

IFACCA The International Federation Arts Councils and Culture Agencies

Liên đoàn quốc tế các hội đồng nghệ thuật và quản lý văn hóa

FDI Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

ICCR The Indian Council for Cultural Relations

Hội đồng giao lưu văn hoá Ấn Độ

NBC National Broadcasting Company

Công ty phát thanh quốc gia

INCP International Network on Cultural Policy

Mạng lưới chính sách văn hóa quốc tế

NEP New Economic Policy

Chính sách kinh tế mới

ODA Official Development Assistance

Hỗ trợ phát triển chính thức

PGS.TSKH Phó giáo sư Tiến sĩ khoa học

UNESCO United nation educational, scientific and cultural

Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hợp Quốc

VOA Voice of America

Đài tiếng nói Hoa Kỳ

WTO World Trade Organization

Tổ chức thương mại thế giới

XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nếu tra cứu cụm từ “ngoại giao văn hoá” bằng công cụ tìm kiếm Google,

chúng ta sẽ có kết quả khoảng 12.800.000 đơn vị tài liệu liên quan Con số đó sẽ là 345.000 đối với cụm từ ngoại giao văn hoá bằng tiếng Anh (Cultural Diplomacy)

Có thể thấy rằng, trong thời đại ngày nay có rất nhiều mối quan tâm dành cho ngoại

giao văn hoá Quan tâm đến lĩnh vực này không chỉ riêng các chính phủ, mà còn

của cả cộng đồng, mỗi cá nhân trong xã hội Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó

Ngoại giao văn hóa là một trụ cột của nền ngoại giao hiện đại Việt Nam

trong bối cảnh mới Năm 2009, năm mà ngành ngoại giao xác định là Năm ngoại

giao văn hóa để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của công tác này Quán triệt tinh

thần đó, Việt Nam chủ trương sẽ phối hợp chặt chẽ ngoại giao nhà nước với đối ngoại của Đảng và ngoại giao nhân dân, đẩy mạnh nền ngoại giao toàn diện với việc triển khai chủ động, hài hòa, có trọng tâm, trọng điểm và gắn kết chặt chẽ các hoạt động ngoại giao

Năm 2006, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 25 đã thống nhất và đi vào triển khai đồng bộ chính sách ngoại giao Việt Nam dựa trên ba trụ cột chính là ngoại giao

chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa Trong đó, ngoại giao văn hóa

đóng vai trò là nền tảng tinh thần, biện pháp, nội dung và mục tiêu của chính sách đối ngoại Việt Nam, hỗ trợ cho ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế để tạo thành một tổng thể chính sách, phát huy tốt nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại Từ đó đến nay, công tác ngoại giao văn hoá đã đạt được một số kết quả quan trọng bước đầu, khẳng định vị trí và vai trò của mình trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Trong hai ngày 15 và 16 tháng 10 năm 2008, Hội thảo Quốc gia: “Ngoại

giao văn hóa vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế, phục vụ hòa bình, hội nhập và phát triển bền vững” đã được tổ chức tại Hà Nội Tại hội thảo này, nhiều ý

kiến nhất trí cho rằng, ngoại giao văn hoá là một hoạt động đối ngoại đặc thù, đã và

đang góp phần giới thiệu, tuyên truyền về đất nước, con người và văn hóa Việt

Trang 7

Nam, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại

Vị thế của Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều trong những năm gần đây

“Việt Nam đất nước an toàn và bình yên nhất” là lời của nhiếp ảnh gia người Nga

Sergei Kovalchuk trong cuốn album ảnh Cửa sổ nhìn vào Đông Dương gồm 150

bức ảnh được chọn từ hơn 10.000 bức ảnh về Việt Nam và Campuchia mới được phát hành Không phải không có căn cứ mà Việt Nam được lựa chọn là nơi tổ chức không ít những hội nghị cấp cao của khu vực và thế giới: Hội nghị thượng đỉnh

Cộng đồng Pháp ngữ (1997), Hội nghị cấp cao ASEAN 6 (12/1998), lễ kết nạp

Campuchia vào ASEAN (4/1999), Hội nghị ASEM 5 (10/2004), Hội nghị thượng

đỉnh APEC 14 (11/2006), và nhiều hội nghị của ASEAN (2010) khi Việt Nam đảm

nhận trọng trách chủ tịch ASEAN Qua đó, Việt Nam đã chứng tỏ cho bạn bè quốc tế biết đến Việt Nam, một đất nước hoà bình, đây là một thành công không

nhỏ của chính sách đối ngoại, trong đó có những đóng góp của ngoại giao văn hoá

Tuy nhiên, có thể thấy rằng ngoại giao văn hoá là một nội dung rất mới, không chỉ đối với các nhà hoạch định chính sách, mà còn đối với cả giới nghiên cứu, các nhà hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và đông đảo những người quan tâm

Ngoại giao văn hóa là gì? Hoạt động ngoại giao văn hóa của Việt Nam được thực hiện như thế nào trong thời gian qua? Làm thế nào để phát triển hơn nữa ngoại giao văn hóa, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế? v.v Đây

là những lý do chính để em chọn “Hoạt động Ngoại giao văn hoá của Đảng và

nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của mình

2 LÞch sö nghiên cứu vÊn đề

Ở Việt Nam, nhìn chung những công trình của các nhà nghiên cứu về ngoại giao Việt Nam có một số lượng không nhỏ, nhưng lại chủ yếu đề cập đến ngoại giao nói chung hoặc ngoại giao kinh tế, ngoại giao chính trị Số các công trình về ngoại

giao văn hoá còn khiêm tốn Trong số đó phải kể đến cuốn “Đối thoại liên văn hóa

giữa Việt Nam và phương Tây” của tác giả Hữu Ngọc Một số bài viết, bài phát biểu

Trang 8

của các nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu ngoại giao, nghiên cứu văn hoá trình bày

trong Hội thảo quốc gia: “Ngoại giao văn hóa vì một bản sắc Việt Nam trên trường

quốc tế, phục vụ hòa bình, hội nhập và phát triển bền vững” được tổ chức trung

tuần tháng 10 năm 2008, tại Hà Nội Bên cạnh đó là một số bài của tác giả Vũ Dương Huân được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu quốc tế những năm gần đây Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu, có ý nghĩa gợi mở cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn sau này

Bên cạnh đó còn có các công trình khác viết về ngoại giao Việt Nam trong các thời kỳ Các công trình này đã tập trung chủ yếu về chính sách và các hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong những khoảng thời gian tương ứng Tuy nhiên ngoại giao Việt Nam thời kỳ chiến tranh chủ yếu là vấn đề quân sự, chính trị; đến thời hoà bình thì hàm lượng kinh tế đã tăng lên trong các hoạt động đối ngoại, hợp tác Đây

đó trong các công trình này cũng đã đề cập đến những quan điểm của ngoại giao Việt Nam về văn hoá dân tộc, về phong cách tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, tầm

quan trọng của giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế

Gần đây nhất, năm 2009, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành cuốn

Ngoại giao và công tác ngoại giao của Vũ Dương Huân trình bày những nội dung

liên quan đến ngoại giao và công tác ngoại giao, trong đó dành 1 chương nói về

ngoại giao văn hoá

Như vậy, ngoại giao văn hoá vẫn còn là một đề tài mới cần được tiếp tục nghiên cứu trong tương lai

Ở nước ngoài, mặc dù còn nhiều quan điểm khác nhau nhưng trong thực tiễn ngoại giao của mình mỗi quốc gia đều đã thực thi những hoạt động mang tính chất ngoại giao văn hoá dưới nhiều hình thức, với nội dung phong phú Ngoại giao văn hoá cũng đã là chủ đề nghiên cứu của nhiều học giả, trong số đó phải kể đến những

bài viết liên quan đến Ngoại giao văn hoá của CAC (Center for Art and Culture,

thành lập năm 2003 thuộc Central European University), ICD (Institute for Cultural

Diplomacy - thành lập năm 1999, trụ sở tại Berlin), hay cuốn Ngoại giao văn hoá

của Lý Trí (Trung Quốc)… Tổ chức CAC được thành lập nhằm mục đích khuyến khích các nghiên cứu, phát triển các môn học thuộc lĩnh vực nghệ thuật, văn hoá,

Trang 9

ngoại giao văn hoá còn IDC là một tổ chức quốc tế hoạt động với mục đích góp phần xây dựng và phát triển hoà bình thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trao đổi văn hoá quốc tế, nhấn mạnh đến các nghiên cứu về ngoại giao văn hoá

Ngoài ra, một số bài viết về ngoại giao văn hoá như: Cultural Diplomacy -

The Linchpin of Public Diplomacy của Uỷ ban tư vấn về ngoại giao văn hoá Mỹ

(2005); Globalization and Cultural Diplomacy của Harvey B Feigen Baum (CAC); hay Modern Diplomacy của Jovan Kurbalija Malta

Tựu chung lại, các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã khẳng định vị trí, vai trò cũng như tầm quan trọng của ngoại giao văn hoá trong chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia trong đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực

hoá

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

* Mục đích chính của luận văn là đánh giá hoạt động ngoại giao văn hoá của

Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 1986-2009, qua

đó làm nổi bật tầm quan trọng của ngoại giao văn hoá trong sự nghiệp đổi mới, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

* Nhiệm vụ:

Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn đề ra một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:

(1) Làm rõ khái niệm ngoại giao văn hoá thông qua việc giới thiệu các quan

điểm và thực tiễn ngoại giao văn hoá của một số quốc gia trên thế giới

(2) Trình bày một cách hệ thống các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về ngoại giao văn hoá từ năm 1986 đến năm 2009 và những hoạt động tiêu biểu thực hiện chủ trương này trong thực tế

(3) Đánh giá những thành tựu, hạn chế của hoạt động ngoại giao văn hoá từ năm 1986 đến năm 2009 và đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cường hơn nữa hoạt động ngoại giao văn hoá trong thời gian tới

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về ngoại giao văn hoá và

các hoạt động ngoại giao văn hoá trong thực tiễn giai đoạn 1986 - 2009

- Thời gian nghiên cứu từ năm 1986 khi đường lối Đổi mới được chính thức thông qua tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ VI của Đảng và kết thúc vào năm

2009 là năm được xác định là Năm ngoại giao văn hoá của Việt Nam

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

* Nguồn tài liệu: gồm các nhóm sau

- Nhóm tài liệu thứ nhất: các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (12/1986), VII (6/1991), VIII (6/1996), IX (4/2001),

X (4/2006); Văn kiện của Đảng và Nhà nước về ngoại giao văn hoá, những nghị quyết của các Hội nghị ngành Ngoại giao Việt Nam

- Nhóm tài liệu thứ hai: các bài phát biểu, các tuyên bố của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà ngoại giao

- Nhóm tài liệu thứ ba: những cuốn hồi ký của các nhà hoạt động ngoại giao Việt Nam trong các thời kỳ

- Nhóm tài liệu thứ tư: các sách chuyên khảo, các bài tạp chí, các bài báo về ngoại giao văn hoá

- Nhóm tài liệu thứ năm là các bài viết trên các Website của chính phủ như: www.cpv.org.vn, www.mofa.gov.vn,

* Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử - lôgíc có kết hợp với phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh Các phương pháp trên được vận dụng phù hợp với từng nội dung của luận văn

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống những kiến thức cơ bản về ngoại giao văn hoá

- Hệ thống hoá những quan điểm ngoại giao văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam qua từng giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2009 - qua đó làm rõ sự thay đổi nhận thức của Đảng về ngoại giao văn hoá và vai trò của ngoại giao văn hoá

Trang 11

- Khái quát hoạt động ngoại giao văn hoá của Đảng và Nhà nước, thông qua việc đánh giá thành tựu, hạn chế, thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm của hoạt động này

- Sưu tập kinh nghiệm hoạt động ngoại giao văn hoá của một số nước trong khu vực và thế giới

7 Về kết cấu luận văn

- Tên đề tài:

“Hoạt động Ngoại giao văn hoá của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ năm

1986 đến năm 2009”

- Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham

khảo, phụ lục, luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1 Khái quát về văn hoá và ngoại giao văn hoá

Chương 1 trình bày những khái niệm liên quan đến ngoại giao văn hoá, trong

đó có khái niệm văn hoá, ngoại giao và nhất là ngoại giao văn hoá để có một cách nhìn khái quát về ngoại giao văn hoá nói chung và ngoại giao văn hoá Việt Nam nói riêng Từ đó khẳng định tầm quan trọng của ngoại giao văn hoá trong chính sách đối ngoại của quốc gia bên cạnh ngoại giao kinh tế và ngoại giao chính trị

Chương 2 Thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hoá của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009

Chương 2 tập trung tìm hiểu quan điểm, chủ trương, chính sách ngoại giao văn hoá của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009 và phân tích thực tiễn hoạt động ngoại giao văn hoá Việt Nam trong giai đoạn này, đặc biệt là

những thành công của Năm ngoại giao văn hoá 2009

Chương 3 Triển vọng của Ngoại giao văn hoá Việt Nam

Cùng với việc khẳng định những thành tựu đạt được của các hoạt động ngoại giao văn hoá của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009, chương 3 còn đánh giá những hạn chế cũng như nguyên nhân tồn tại của các hoạt động này, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động ngoại giao văn hoá trong thời gian tới

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HOÁ VÀ NGOẠI GIAO VĂN HOÁ

Ngoại giao văn hoá trước hết liên quan tới hai yếu tố ngoại giao và văn hoá

Vì vậy, để có thể định hình được một khái niệm về ngoại giao văn hoá cần tìm hiểu những khái niệm văn hoá, ngoại giao, và các khái niệm khác có liên quan

1.1 Văn hoá - giao lưu văn hoá - cốt lõi của ngoại giao văn hoá

1.1.1 Văn hoá

Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo ra, có từ thuở bình minh của xã

hội loài người

Ở phương Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống từ rất sớm Quẻ Bi của Chu Dịch viết Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ - xem dáng vẻ con người, lấy đó

mà giáo hoá thiên hạ Người sử dụng từ văn hoá sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm

77-6 Tr.CN) thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hoá con người - văn trị giáo hoá Văn hoá ở đây được dùng để đối lập với vũ lực

Ở phương Tây, trong tiếng Anh văn hoá là culture, trong tiếng Đức là kultur, trong tiếng Nga là kultura Những chữ này có chung gốc Latinh là chữ cultus animi

là trồng trọt tinh thần Vậy chữ cultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thích

ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục, đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ phát triển những giá trị nhân văn và có những phẩm chất tốt đẹp

Thế kỷ XIX, nhà nhân loại học E.B.Taylor định nghĩa, văn hoá là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội

Cho tới nay, đã có trên dưới 500 định nghĩa khác nhau về văn hoá, tuỳ theo từng góc độ mà người ta quan tâm hoặc muốn nhấn mạnh

Theo một số học giả người Mỹ, “Văn hoá là tấm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”

Nêru, nhà hoạt động xã hội và nhà văn hoá lớn của Ấn Độ đã từng nói: “Văn hoá là khả năng hiểu biết lẫn nhau, làm cho mình hiểu người khác và người khác hiểu mình” [28: tr.55]

Trang 13

Viện sĩ Likhachốp nói “văn hoá là biết lắng nghe” [28: tr.55], nghĩa là tôn trọng ý kiến, quan điểm của nhau, tôn trọng những khác biệt, không áp đặt, không

tự lấy mình làm chuẩn để đánh giá văn hoá của dân tộc khác

Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày như ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh

đó là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ững những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [43: tr.431]

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hoá là nói tới một lĩnh vực

vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên

mà có liên quan đến con người trong quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hoá với nghĩa bao quát

và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [66: tr.21-22]

PGS Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hoá mang tính chất thao tác luận (theo ông các định nghĩa trước mang tính tinh thần luận): “Không có cái vật gì là văn hoá cả và ngược lại bất kỳ vật gì cũng có cái mặt văn hoá Văn hoá là một quan

hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của mỗi tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ” [66: tr.22]

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cũng đã đưa ra một định nghĩa văn hoá như sau:

“Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [66: tr.22]

Trang 14

GS.TSKH Vũ Minh Giang khẳng định: “Văn hoá là tất cả những sáng tạo hữu thức của một cộng đồng người vì mục đích tồn tại và phát triển” [18] Theo đó, những thứ do con người tạo ra không vì mục đích tồn tại và phát triển của nhân loại như: bom nguyên tử, chất hoá học điôxin không được xem là văn hoá

Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” Theo đó, văn hoá không phải là một lĩnh vực riêng biệt Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra Văn hoá là chìa khóa của mọi sự phát triển Đây chính là cách hiểu phổ biến nhất về văn hoá được nêu ra bởi UNESCO [66: tr.23]

Đầu thế kỷ XXI, nhận thức này được UNESCO khẳng định lại trong Tuyên

bố toàn cầu về Đa dạng văn hoá (11/2001): “Văn hoá là một tổng hợp các đặc điểm tinh thần, thể chất, tri thức và

tình cảm đặc trưng cho một xã

hội cho một nhóm xã hội, bao

hàm không chỉ nghệ thuật và

văn hoá mà còn cả lối sống,

cách thức chung sống với nhau,

các hệ thống giá trị, truyền

thống và tín ngưỡng Những đặc

trưng của các yếu tố cấu thành

đó giúp ta phân biệt được một xã

hội (hoặc một nhóm xã hội) với

các xã hội (hoặc nhóm xã hội)

Con người

Hình 1.1 Các tác nhân tạo nên văn hoá

(Nguồn: [18])

Trang 15

hoá là con người Văn hoá của mỗi vùng miền, mỗi quốc gia lãnh thổ lại được quy định bởi môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và điều kiện lịch sử Hay, các yếu

tố tạo thành văn hoá gồm: con người - chủ thể sáng tạo ra văn hoá, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và điều kiện lịch sử

Nền văn hoá dân tộc quy định cách ứng xử của một dân tộc với bên trong (các yếu tố nội sinh) và với bên ngoài (các yếu tố ngoại sinh) Bằng quá trình giao thoa và tiếp biến văn hoá, mỗi dân tộc cố tận dụng những thành tựu của dân tộc khác để làm giàu thêm nền văn hoá của mình, đồng thời phải lo ứng phó với họ trên các mặt trận quân sự, ngoại giao Do vậy, dấu ấn của nền văn hoá xuất hiện trên mọi mặt của đời sống cộng đồng, trong đó có lối ứng xử với bên ngoài, nói bao quát hơn là đường lối đối ngoại của quốc gia đó

Do vị trí địa lý của mình, Việt Nam có một vị thế địa - văn hoá, địa - chính trị khá đặc biệt Vị thế ấy tạo điều kiện cho văn hoá Việt Nam đón nhận nhiều nền văn hoá khác nhau Có thể đó là nền văn hoá đến từ lục địa Trung Hoa, có thể đó là nền văn hóa đến từ Ấn Độ, nhưng cũng có khi đó là nền văn hoá đến từ phương Tây Tuy vậy, nét đặc biệt của văn hoá Việt Nam là “sự không chối từ” - chữ dùng của J.Frây Hay đó chính là sự cởi mở trong việc tiếp nhận văn hoá nước ngoài, tiếp thu tinh hoa của mọi nền văn hoá làm giàu cho văn hoá của mình

Thiên nhiên Việt Nam là điểm xuất phát của văn hoá Việt Nam Văn hoá là

sự thích nghi và biến đổi tự nhiên Thiên nhiên đặt ra trước con người những thử thách Văn hóa là sản phẩm của con người, là sự phản ứng, là sự trả lời trước những thách đố của tự nhiên Cũng từ vị trí địa lý này, những thách đố đến từ lịch sử, thách

đố của môi trường xã hội cũng khiến hình thành văn hoá ứng xử của con người Việt Nam trong suốt diễn trình văn hoá dân tộc (ứng xử với thiên nhiên, ứng xử với con người, với xã hội, với những thách đố lịch sử ) Văn hoá gắn liền với phát triển Ở một góc độ nhất định, văn hoá có liên quan chặt chẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội Đối với mỗi cá nhân nói riêng, mỗi cộng đồng nói chung, hay rộng hơn đó là đối với mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, đặc trưng văn hoá được biểu hiện qua “ứng xử” của họ trong các hoạt động kinh tế, xã hội bên trong và bên ngoài, hay đối nội và đối ngoại

Trang 16

1.1.2 Giao lưu văn hoá

Giao lưu văn hoá là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người, một quy luật vận động và phát triển của các dân tộc và của các nền văn hoá Giao lưu văn hoá phản ánh sự học hỏi và tiếp nhận lẫn nhau giữa các dân tộc, giữa các quốc gia

về thế giới quan, hệ tư tưởng, phong tục, tập quán, tôn giáo, đạo đức, đặc biệt là những thành tựu về trí tuệ, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kinh nghiệm quản lý đất nước

Giao lưu còn là đặc điểm vận động của văn hoá Đó là quá trình trao đổi những giá trị giữa những cộng đồng người có văn hoá khác nhau do tiếp xúc trực tiếp, tự nguyện hay cưỡng bức gây ra những biến đổi nhiều hay ít trong quá trình phát triển của các nền văn hoá

Giao lưu văn hoá có cơ sở là trao đổi kinh tế, ngoài ra còn có những hoạt động trao đổi phi kinh tế như trao đổi vật phẩm, tặng phẩm tôn giáo , quan hệ hôn nhân, quan hệ ngoại giao Nói cách khác, giao lưu và tiếp biến văn hoá là sự tiếp nhận văn hoá nước ngoài bởi dân tộc chủ thể Quá trình này luôn diễn ra, luôn đặt mỗi tộc người phải xử lý tốt quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh Hai yếu tố này có khả năng chuyển hoá cho nhau và rất khó tách biệt trong một thực thể văn hoá

Giao lưu văn hoá nhằm nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc, góp phần vào quá trình hội nhập quốc tế và qua đó thúc đẩy sự phát triển của đất nước và là yếu tố cơ bản để gìn giữ hoà bình thế giới Ngoài ra, giao lưu văn hoá còn giúp một nền văn hoá có thể khẳng định được mình trong môi trường văn hoá chung và tiếp thu những tinh hoa từ nền văn hoá khác

Như vậy, giao lưu văn hoá là nhu cầu tự nhiên của loài người, quy luật tất yếu của đời sống, nhưng cũng là một thách thức trong bối cảnh toàn cầu hoá

Giữa các hoạt động ngoại giao và bản sắc văn hóa dân tộc có mối liên quan chặt chẽ Nói cách khác, ngoại giao cũng là một phần của văn hoá Chính sách đối ngoại của mỗi dân tộc ít nhiều đều chịu ảnh hưởng và sự chi phối bởi chính nền văn

Trang 17

hóa của dân tộc đó Trong quá trình phát triển, mỗi nền văn hóa đều tiếp xúc, giao lưu và đối thoại với nhiều nền văn hóa khác nhau Giao lưu nhằm tăng cường nâng cao sự hiểu biết và nhận thức về những giá trị chung của toàn nhân loại và tôn trọng

sự khác biệt của từng dân tộc Đồng thời tạo cơ hội cho các nền văn hóa hợp tác cùng chung sống hòa bình vì sự phát triển bền vững Quá trình tiếp xúc, giao lưu và đối thoại văn hóa, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng nhờ đó được phong phú, sáng tạo hơn Chính sự đa dạng của các nền văn hóa đã làm nảy sinh nhu cầu giao lưu và đối thoại văn hóa Ngày nay, không một dân tộc trên thế giới nào tồn tại tách biệt

mà không có sự giao lưu văn hoá với các dân tộc khác Sự giao lưu văn hoá là nhu cầu nội tại của sự phát triển văn hoá Một nền văn hoá không có sự giao lưu thì sẽ

xơ cứng, mất sức sống, dần dần tàn lụi và chủ nhân của nó sớm muộn cũng sẽ biến khỏi vũ đài lịch sử Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa mở ra những cơ hội mới cho các cộng đồng hiểu nhau và cho chính mỗi cộng đồng hiểu rõ mình Do vậy sự tương tác giữa các nền văn hóa là một thuộc tính và là tiền đề cho sự phát triển xã hội Văn hoá chính là nền tảng, mục tiêu và nội dung của hoạt động ngoại giao nói riêng hay của đời sống quan hệ quốc tế nói chung

1.1.3 Ngoại giao

Chính sách của một quốc gia gồm chính sách đối nội và chính sách đối ngoại, trong đó chính sách đối ngoại là tổng thể mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc, biện pháp, phương pháp, phương tiện cơ bản mà quốc gia theo đuổi trong quan hệ với các quốc gia, chủ thể khác trên trường quốc tế, nhằm phục vụ lợi ích quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Chính sách đối ngoại là sự tiếp tục của chính sách đối nội và mang tính giai cấp sâu sắc Ngoại giao chính là phương tiện quan trọng nhất thể hiện mục tiêu của chính sách đối ngoại

Ngoại giao (diplomacy) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp diploma Mặc dù đã

xuất hiện từ lâu, song khái niệm ngoại giao đến nay được hiểu khá khác nhau

Trước hết, nhà ngoại giao, nhà báo người Anh, Nilcolson cho rằng: “Trong ngôn ngữ nói, từ ngoại giao được sử dụng để ám chỉ nhiều nội dung rất khác nhau

Nó được hiểu là quan hệ đối ngoại Trong các trường hợp khác lại ngụ ý là đàm phán Từ đó cũng được sử dụng để nói đến cơ quan ở nước ngoài của Bộ Ngoại

Trang 18

giao Cuối cùng, từ đó còn có nghĩa là khả năng đặc biệt khôn khéo trong đàm phán quốc tế và với nghĩa xấu là xảo quyệt trong thương lượng” [28: tr.16]

Quan điểm trên chia sẻ nhiều điểm chung với khái niệm ngoại giao được trình bày trong từ điển Oxford: “Ngoại giao là việc tiến hành quan hệ quốc tế bằng cách đàm phán, là phương pháp mà các đại sứ, công sứ sử dụng để điều chỉnh và tiến hành các quan hệ đó, là công tác hoặc nghệ thuật của nhà ngoại giao” [23: tr.16]

Ở Pháp, người ta định nghĩa: “Ngoại giao là hoạt động chính trị liên quan đến các mối quan hệ giữa các quốc gia: đại diện quyền lợi của một chính phủ ở nước ngoài, quản lý công việc quốc tế, hướng dẫn và tiến hành đàm phán giữa các quốc gia” [28: tr.17]

Theo những nghiên cứu ở Liên Xô trước đây và Nga hiện nay: “Ngoại giao

là hoạt động chính thức của người đứng đầu nhà nước, chính phủ và của các cơ quan chuyên trách về quan hệ đối ngoại, nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của chính sách đối ngoại của quốc gia, cũng như nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia ở nước ngoài” [28: tr.17]

Một giáo sư Trung Quốc cũng đã nêu khái niệm ngoại giao như sau: Một hành vi chính thức của quốc gia thông qua phương pháp hoà bình, cơ quan đại diện, các đại diện chính thức, qua trao đổi đàm phán và các phương thức hoà bình khác thực hiện chủ quyền đối với bên ngoài để xử lý quan hệ đối ngoại của quốc gia và tham gia công việc quốc tế; ngoại giao là biện pháp quan trọng thực hiện mục tiêu đối ngoại quốc gia, đồng thời cũng là con đường quan trọng thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau

Như vậy, theo các học giả phương Tây, ngoại giao vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, họ chú ý khía cạnh nghệ thuật hơn là góc độ khoa học Họ thường nhấn mạnh vai trò, tài năng cá nhân của các nhà ngoại giao, các nhà đàm phán

Ở Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Ngoại giao là một ngành khoa học mang tính tổng hợp, một nghệ thuật của các khả năng, là hoạt động của các cơ quan làm công tác đối ngoại và các đại diện có thẩm quyền, thực hiện các nhiệm vụ chính sách đối ngoại của nhà nước nhằm bảo vệ các quyền lợi và lợi

Trang 19

ích của nước mình, của các cơ quan, tổ chức và công dân mình ở nước ngoài, góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế chung bằng con đường đàm phán và các hình thức hoà bình khác Trước kia, ngoại giao là công việc của các bộ trưởng ngoại giao Trong những thập kỷ gần đây, các vị đứng đầu quốc gia, đứng đầu chính phủ cũng làm công việc ngoại giao thông qua những cuộc gặp thượng đỉnh, những chuyến thăm chính thức, viếng thăm làm việc và đàm phán cấp cao Ngoại giao còn được tiến hành trong các hội nghị và gặp gỡ ngoại giao; chuẩn bị và ký các điều ước quốc tế hoặc các văn kiện ngoại giao khác gồm hai bên hay nhiều bên, tham gia hoạt động của các tổ chức quốc tế và các cơ quan của tổ chức này ” [28: tr.21]

Như vậy có thể thấy, ngoại giao là một phạm trù rộng, được hình thành do nhiều yếu tố: ở phạm vi rộng đó là truyền thống văn hoá dân tộc, hẹp hơn đó là truyền thống gia đình, môi trường giáo dục và hoạt động nhận thức của mỗi người

Ở đây, trong những yếu tố tác động có một yếu tố đặc biệt quan trọng đó là văn hoá

Hoạt động ngoại giao của một đất nước là tiếng nói của cả một quốc gia dân tộc thông qua hoạt động không chỉ của một cá nhân đơn lẻ, mà còn là hoạt động cả một tập thể, một cộng đồng, và kế đó là hoạt động của chính quốc gia dân tộc ấy Bởi vậy, để hình thành một phong cách ngoại giao của một dân tộc thì không thể phủ nhận yếu tố văn hoá truyền thống của chính dân tộc ấy Truyền thống văn hoá, bản sắc văn hoá, những phẩm chất đã thẩm thấu trong mỗi cá nhân, mỗi con người - những chủ thể của chính nền văn hoá đó Có thể thấy rằng, các hoạt động ngoại giao

và văn hoá đã có một mối liên hệ hữu cơ tự nhiên với nhau

1.2 Ngoại giao văn hoá

1.2.1 Khái niệm ngoại giao văn hoá

Ngoại giao văn hoá (cultural diplomacy) là một thành tố của sức mạnh mềm - quyền lực mềm (soft power) - một thuật ngữ hiện đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới Cụm từ soft power được giáo sư Joseph Nye của Đại học Harvard đề cập đến lần đầu tiên trong cuốn Bound to Lead: The changing nature of American

power xuất bản năm 1990 Sau đó, ông tiếp tục phát triển thuật ngữ này trong cuốn Soft power: The means to success in world politics

Trang 20

Nên hiểu như thế nào về sức mạnh mềm? Tại sao nói văn hoá là một thành tố

của sức mạnh mềm?

Sức mạnh mềm được hiểu là khả năng đạt được những gì mình muốn thông qua hợp tác và sức hút tạo ra với đối phương Nó đối lập với sức mạnh cứng (hard power) - sử dụng sức mạnh quân sự để cưỡng chế, và gây ảnh hưởng với bên ngoài Sức mạnh mềm là một quyền lực vô hình, ảnh hưởng đến ý thức công chúng và dư luận quốc tế

Sức mạnh mềm gồm bốn yếu tố: sức hội tụ và hấp dẫn của nền văn hoá dân tộc; ảnh hưởng của chế độ xã hội, ý thức hệ, quan niệm giá trị, phương thức phát triển của nhà nước; sự kiểm soát và ảnh hưởng của quốc gia trên các mặt quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng thể chế quốc tế; sự hấp dẫn của hình tượng quốc gia (quốc gia đó có thông qua phương thức như đối thoại dân chủ, giao lưu rộng rãi, tôn trọng cảm nhận của các nước khác, chú ý đến lợi ích chung hay không?)

Thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày nay, các quốc gia rất chú trọng đến sức mạnh mềm của mình để đem lại hiệu quả cao trên mọi lĩnh vực Một trong những thành tố tạo nên sức mạnh mềm đó chính là sức mạnh của giá trị văn hoá truyền thống, bản sắc của mỗi quốc gia Văn hoá, đó chính là tài sản vô giá mà mỗi dân tộc có được trong quá trình xây dựng, bảo vệ, gìn giữ và phát huy lâu dài

Ngoại giao văn hoá đã tồn tại từ lâu trong lịch sử ngoại giao thế giới cũng như ngoại giao Việt Nam Phong cách ngoại giao của mỗi quốc gia đều hàm chứa những giá trị văn hoá của chính mỗi quốc gia đó Sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt, ngoại giao văn hoá được quan tâm nhiều hơn, là một trong những nét đặc trưng

của ngoại giao thế kỷ XXI, ngoại giao trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, Việt Nam

cũng không nằm ngoài xu thế đó

Sau đây là một số quan niệm về ngoại giao văn hoá của các học giả nước ngoài

Ngoại giao văn hóa là hình thức ngoại giao kiểu mới lấy riêng văn hóa làm

nội dung Hoạt động của ngoại giao văn hóa là hoạt động ngoại giao của quốc gia

có chủ quyền lấy việc bảo vệ lợi ích văn hóa nước mình cùng việc thực hiện mục

Trang 21

tiêu chiến lược quốc gia làm mục đích, tiến hành dưới sự chỉ đạo của chính sách văn hóa nhất định và dựa vào thủ đoạn văn hóa.[9: tr179-180]

Ngoại giao văn hóa là sự giao lưu về tư tưởng, thông tin, nghệ thuật và các hình thức văn hóa khác được tiến hành nhằm thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia và dân tộc.[9: tr.179-180]

Ngoại giao văn hóa là sự đầu tư mang tính lâu dài được tiến hành nhằm thúc đẩy quan hệ giữa chúng ta với nhân dân các nước khác… để thúc đẩy hiểu biết hai bên, để nhân dân các nước khác hiểu biết tốt hơn về lợi ích và chính sách quốc gia của chúng ta [9: tr179-180]

Ngoại giao văn hóa có thể hiểu là việc sử dụng các giá trị văn hóa, hình thức văn hóa, lợi thế văn hóa để thúc đẩy quan hệ với các quốc gia khác Đồng thời, sử dụng nội dung ngoại giao, quan hệ ngoại giao để tôn vinh giá trị văn hóa dân tộc; giao lưu, trao đổi để các quốc gia, các dân tộc ngày càng hiểu biết và tôn trọng các giá trị văn hóa và bản sắc của nhau

Trong một công trình xuất bản gần đây nhất nói về Ngoại giao và công tác

đối ngoại, PGS.TS Vũ Dương Huân đưa ra khái niệm: “Ngoại giao văn hoá hay

tuyên truyền văn hoá đối ngoại là một bộ phận trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, là tổng hợp các hoạt động thông tin tuyên truyền, quảng bá văn hoá Việt Nam; trao đổi, giao lưu, hợp tác về văn hoá hoặc có nội dung văn hoá nhằm hỗ trợ giao lưu kinh tế, chính trị, nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới, phục vụ công tác phát triển nền văn hoá dân tộc, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội, quá trình hội nhập quốc tế và thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Như vậy, ngoại giao văn hoá là lĩnh vực đặc biệt của hoạt động ngoại giao, liên quan đến việc sử dụng văn hoá như là đối tượng và phương tiện nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại của quốc gia, tạo hình ảnh tốt đẹp của đất nước, quảng bá văn hoá và ngôn ngữ quốc gia” ở nước ngoài” [28: tr.310-311] Đây

là quan niệm chung nhất về ngoại giao văn hoá

Ngoại giao văn hoá đi liền với văn hoá ngoại giao Văn hoá ngoại giao không phải là một loại hình văn hoá riêng biệt của ngành ngoại giao, đối ngoại mà là sự

Trang 22

biểu hiện, biểu lộ các giá trị văn hoá Việt Nam đã thấm sâu vào tư tưởng, trí tuệ, phong cách của các tổ chức, cá nhân làm công tác ngoại giao, cả ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân [31: tr.46]

Ngoại giao văn hoá không phải lúc nào cũng dễ dàng thành công Nó đòi hỏi một trình độ cao của những người có trách nhiệm về ngoại giao văn hoá Nói một cách khác, ngoại giao văn hoá chỉ có thể thành công trên cơ sở của một trình độ cao

về văn hoá

1.2.2 Nội hàm của ngoại giao văn hóa

Nội hàm của ngoại giao văn hoá gồm 5 vấn đề, được ví như 5 cánh hoa đào:

Thứ nhất, ngoại giao văn hoá góp phần mở đường cho các hoạt động ngoại

giao chính trị và kinh tế Ngoại giao văn hoá là phương thức tiếp cận giúp các đối tác trên cơ sở tạo dựng sự cảm thông, nâng cao sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau nhằm xây dựng một môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển

Thứ hai, ngoại giao văn hoá tham mưu, đồng hành và giải quyết những khó

khăn Khi quan hệ chính trị và kinh tế gặp trở ngại, ngoại giao văn hoá có thể góp phần tháo gỡ những rào cản đó Vì vậy, ngoại giao văn hoá chính là cầu nối, là chất xúc tác thúc đẩy quan hệ chính trị và kinh tế của Việt Nam với bạn bè quốc tế

Thứ ba, ngoại giao văn hoá góp phần quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam

tươi đẹp, con người Việt Nam mến khách, nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc Ngoại giao văn hoá hướng tới việc nâng cao sự hiểu biết đúng đắn, thu hút thiện cảm và sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, chống lại những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ an ninh quốc gia Bên cạnh đó, các hoạt động quảng bá cũng góp phần khơi dậy và phát triển tinh thần tự hào dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước, từ đó khuyến khích việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc

Thứ tư, ngoại giao văn hoá thúc đẩy quá trình tiếp thu có chọn lọc tinh hoa

văn hoá, tư tưởng nhân văn, giá trị đạo đức, tri thức, khoa học tiên tiến trên thế giới

để làm phong phú hơn, hiện đại hơn, giàu đẹp hơn nền văn hoá dân tộc Bên cạnh

đó, ngoại giao văn hoá góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, tiến tới

Trang 23

định hướng phát triển cho một nền văn hoá mới XHCN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Thứ năm, ngoại giao văn hoá đóng vai trò khá quan trọng trong quá trình vận

động UNESCO công nhận các giá trị văn hoá thế giới Những di sản văn hoá dân tộc sẽ được bạn bè quốc tế biết đến nhiều hơn qua sự công nhận của UNESCO Trong thời gian qua, hoạt động vận động UNESCO công nhận những giá trị văn hoá vật thể cũng như phi vật thể của dân tộc đạt được những kết quả đáng mừng

1.2.3 Vai trò của ngoại giao văn hoá

Vai trò chính trị

Ngoại giao văn hóa là một công cụ quan trọng để tăng cường hiểu biết lẫn nhau, là chất “keo dính” làm bền chặt quan hệ chính trị giữa các nước Vai trò chính trị của ngoại giao văn hóa thể hiện xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam từ việc tranh thủ sự ủng hộ của thế giới đối với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc (thời kỳ 1945-1975), góp phần “phá băng”, “mở đường” cho việc bình thường hóa quan hệ với các nước và hội nhập quốc tế (1945-1986 và 1986-1995) đến việc đưa các quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu như hiện nay

Ngoại giao văn hóa Việt Nam ngày nay có 3 chức năng chính trị chủ yếu là: củng cố quan hệ chính trị tốt đẹp với các nước đối tác, từ đó góp phần vào hòa bình,

ổn định và nâng cao vị thế của đất nước; quảng bá đất nước Việt Nam tươi đẹp, giàu tiềm năng phát triển, con người Việt Nam thân thiện, mến khách, từ đó tranh thủ thiện cảm của thế giới đối với Việt Nam và đấu tranh chống lại những âm mưu chống phá của các lực lượng cơ hội chính trị và xây dựng nhịp cầu kết nối kiều bào

ta ở nước ngoài hướng về quê hương đất nước và đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển đất nước, từ đó xây dựng vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc và cô lập các phần tử cực đoan trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài

Hình thức thể hiện của ngoại giao văn hóa với tư cách là một công cụ chính trị hữu hiệu rất đa dạng, linh hoạt Trước đây đó có thể là hành động đối xử nhân đạo của Bác Hồ đối với tù binh Pháp, hành động Hồ Chủ tịch viết thư gửi 66 vị đứng đầu các nước trên thế giới kêu gọi ủng hộ sự nghiệp đấu tranh của Việt Nam

vì hòa bình và công lý năm 1966, sự kiện bộ phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm được

Trang 24

giải của Hội đồng Hòa bình thế giới năm 1973 v.v… Ngày nay, đó là việc lồng ghép các hoạt động văn hóa trong các chuyến thăm cấp cao (ví dụ việc cử đoàn nhã nhạc sang biểu diễn tại hoàng gia Nhật Bản v.v…), tổ chức các ngày văn hóa, các hoạt động giao lưu văn hóa Việt Nam tại các nước, là những chính sách nhân văn tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào ta ở nước ngoài sinh sống và làm việc tại quê nhà bất kể họ làm việc cho chế độ nào trước đây

Vai trò kinh tế

Ngoại giao văn hóa có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế bởi lẽ trước hết bản thân văn hóa cũng là một ngành công nghiệp quan trọng Nhiều quốc gia như Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc v.v… đã thu lợi hàng tỷ đô

la nhờ việc khai thác các sản phẩm văn hóa được quảng bá Việc quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam cũng góp phần thúc đẩy đầu tư nước ngoài và phát triển du lịch Bên cạnh đó, ngoại giao văn hóa còn có những đóng góp khác tuy thầm lặng nhưng không kém phần hiệu quả cho sự phát triển của đất nước Đó là thông qua các mối quan hệ chính trị bền chặt với các đối tác quan trọng mà ngoại giao văn hóa góp phần tạo dựng, nhiều cơ hội hợp tác kinh tế có thể mở ra giữa ta với các đối tác đó Hơn nữa, quảng bá phải gắn liền với hấp thu Ngoại giao văn hóa

là một quá trình hai chiều: vừa quảng bá văn hóa của quốc gia vừa hấp thu những tinh hoa văn hóa từ bên ngoài Việc hấp thu những tinh hoa văn hóa từ bên ngoài (ví

dụ khoa học công nghệ, ý tưởng- bí quyết phát triển v.v…) góp phần hết sức quan trọng vào quá trình CNH-HĐH đất nước, đây là một nhu cầu rất lớn bởi lẽ công nghiệp hóa không đơn giản chỉ là việc tập trung phát triển công nghiệp; hiện đại hóa không đơn giản chỉ là hiện đại hóa nền kinh tế, mà còn là quá trình thay đổi, cải biến những nội dung lạc hậu trong hệ thống kinh tế-chính trị-xã hội theo hướng hiện đại, hiệu quả, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và bắt kịp được những bước tiến mới của thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Đương nhiên, quá trình này đòi hỏi sự tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa từ bên ngoài mà ngoại giao văn hóa có thể góp phần tiếp nhận

Vai trò làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 25

Với đặc tính của văn hóa là luôn tiếp biến, việc triển khai ngoại giao văn hóa

có thể có 2 tác dụng chủ yếu sau đây

Một là, ngoại giao văn hóa có điều kiện phát hiện, phát huy và phát triển các

giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, mà nhiều giá trị trước đây còn là những “tài sản ẩn” (hidden assets) nhưng có điều kiện “thăng hoa” trong quá trình giao lưu với các

nền văn hóa khác Việc ngoại giao văn hóa vận động thế giới công nhận những giá

trị/tài sản văn hóa đấy thành di sản văn hóa thế giới càng tạo điều kiện tôn vinh, giữ gìn tài sản văn hóa dân tộc Qua đó, ngoại giao văn hóa đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh tế của tài sản văn hóa cho đất nước và cho cộng đồng địa phương liên quan

Hai là, ngoại giao văn hóa phối hợp với các cơ quan văn hóa liên quan trong

nước đóng vai trò là “bộ lọc”, “bánh lái” tạo định hướng phát triển cho nền văn hóa Việt Nam Nếu để cho quá trình tiếp biến văn hóa diễn ra tự nhiên mà không có sự định hướng thì sẽ dẫn đến nguy cơ lai căng, xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc Do

đó, là nhân tố góp phần đưa văn hóa Việt Nam ra thế giới và đưa văn hóa thế giới vào Việt Nam, ngành ngoại giao có thể phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan tạo định hướng cho sự phát triển của văn hóa Việt, thúc đẩy quá trình đào thải những điểm chưa hay của văn hóa Việt và tiếp thu những tinh hoa văn hóa tiên tiến

từ bên ngoài, tránh hay hạn chế những xung đột văn hoá có thể tồn tại Nhìn thấy những điểm tốt đáng học tập nhưng cùng với quá trình giao lưu văn hoá, sức đề kháng không đủ cho chúng ta loại trừ những ảnh hưởng từ mặt trái Bởi vậy, trong khi giao lưu, đón nhận các nền văn hoá chúng ta cũng phải nhìn nhận chính xác những mặt trái của nó Thời đại thông tin mạng cho ta những điều kiện thuận lợi để cập nhật, để phát triển nhưng đồng thời cũng là mối đe doạ đối với người sử dụng

nó nhất là giới trẻ Để giao lưu, học tập, chắt lọc những giá trị văn hoá nhân loại, đồng nghĩa với bảo lưu và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, cần có sự phối kết hợp nhịp nhàng của các công cụ quyền lực nhà nước với cá nhân mỗi người trong cộng đồng ấy để văn hoá thực sự là một thế mạnh của dân tộc trong quá trình hội nhập

Trang 26

Như vậy, trong đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc

tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển, ngoại giao văn hóa đóng vai trò hết sức quan trọng cả trên khía cạnh chính trị, kinh tế và giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam Ngoại giao văn hóa đã và đang trở thành một cột trụ hữu hiệu của ngoại giao Việt Nam hiện đại song hành cùng ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế trong mối quan hệ qua lại hữu cơ Trong đó, ngoại giao văn hóa tạo nền tảng tinh thần, chất “keo dính” làm bền chặt quan hệ chính trị và kinh tế, đồng thời có lúc đóng vai trò “phá băng”, “mở đường” cho ngoại giao chính trị và kinh tế Ngoại giao kinh tế tạo cơ sở vật chất để củng cố và làm sâu sắc ngoại giao văn hóa và chính trị Ba cột trụ này tạo ra sức mạnh cộng hưởng cho ngoại giao Việt Nam, góp phần tạo dựng

và phát triển các mối quan hệ đối ngoại theo hướng ổn định, bền vững và hiệu quả, phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, CNH-HĐH đất

nước

Tiểu kết chương 1

Như vậy, ngoại giao văn hóa không chỉ đơn thuần là những buổi trình diễn nghệ thuật dân tộc ở nước ngoài Ngoại giao văn hóa là sự tập hợp của tinh hoa văn hóa quốc gia kết hợp với truyền thống đối ngoại dân tộc, là tập hợp sức mạnh của sự đồng thuận của toàn dân tộc để tạo nên những đột phá trong quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế

Ngoại giao văn hóa đóng một vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế và là một trong những trụ cột ngoại giao của một quốc gia

Mặc dù còn nhiều tranh luận, nhưng nhìn chung, có thể khẳng định rằng: ngoại giao văn hóa cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế là 3 trụ cột của ngoại giao Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Thời kỳ đổi mới, nội hàm của ngoại giao văn hóa bao gồm 5 vấn đề chính là: mở đường cho các hoạt động ngoại giao; tham mưu và đồng hành giải quyết khó khăn; quảng bá đất nước; vận động UNESCO công nhận các giá trị thế giới và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân

loại Năm vấn đề này được ví như 5 cánh hoa đào - biểu tượng của Năm ngoại giao

văn hoá 2009

Trang 27

Chương 2

THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HOÁ CỦA ĐẢNG

VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2009

Từ giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, hầu hết các nước XHCN, từ Liên Xô đến các nước XHCN Đông Âu, từ Trung Quốc đến Việt Nam và Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đều tiến hành công cuộc cải cách dưới những tên gọi khác nhau Liên Xô

và các nước Đông Âu thì đi vào cải tổ Trung Quốc thực hiện cải cách và mở cửa Việt Nam và Lào tiến hành công cuộc đổi mới

Cải tổ - cải cách - đổi mới dù có những điểm khác nhau nhưng đều có một điểm chung, đó là sự cần thiết tất yếu phải thay đổi và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh quốc tế và trong nước nhằm thoát khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng và xây dựng thành công CNXH

Hiện thực khách quan là yếu tố tạo nên tính tất yếu của đổi mới và tính chủ động, sáng tạo cũng như nỗ lực đầy trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới Những yếu tố bên trong và bên ngoài đã tác động không nhỏ tới sự thay đổi tư duy, quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc đổi mới cả chính sách đối nội và đối ngoại, đặc biệt là chính sách đối ngoại

2.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động tới sự thay đổi trong quan

điểm đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam

2.1.1 Bối cảnh quốc tế

2.1.1.1 Cách mạng khoa học - công nghệ và sự hình thành xã hội thông tin

Cách mạng khoa học nửa sau thế kỷ XX đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử khoa học công nghệ với trình độ phát triển mới của nghiên cứu cơ bản, lý thuyết, sự rút ngắn khoảng cách thời gian từ nghiên cứu tới ứng dụng, đẩy nhanh sự gắn kết giữa khoa học với sản xuất và dịch vụ trong xã hội hiện đại

Trang 28

Cuộc cách mạng mới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ không chỉ đem lại hình ảnh, diện mạo mới của khoa học mà còn tác động sâu sắc tới những biến đổi kinh tế, chính trị, văn hoá và tổ chức đời sống xã hội Đây thực sự là một trong những xu thế lớn của thế giới đương đại Động lực của cuộc cách mạng này được tạo nên do sự vận động nội tại của khoa học, từ sự thúc đẩy của nhu cầu kinh tế và đời sống, từ các chính sách khoa học của các quốc gia với 5 trọng điểm: một là cách

mạng tin học, gắn liền với viễn thông, hình thành mạng lưới toàn cầu; hai là cách mạng sinh học với những thành quả kỳ diệu về gen và men, đặc biệt là thành quả về sinh sản vô tính; ba là cách mạng năng lượng với nhiều dạng năng lượng mới ngày

càng phát triển, sự xuất hiện nhu cầu và khả năng sử dụng năng lượng vào mục đích

hoà bình, phục vụ mục đích con người; bốn là cách mạng tự động hoá từng phần và

toàn bộ, đặc biệt là các loại rôbốt đa năng; năm là cách mạng chế tạo vật liệu mới

Ngoài 5 lĩnh vực trên, khoa học còn đạt được những thành tựu lớn lao khác như khoa học về con người, nhất là những khám phá về bộ não người, khoa học về biển, khoa học vũ trụ…Từ thế kỷ XIX, C.Mác đã dự báo rồi sẽ diễn ra cuộc gặp gỡ của mọi ngành khoa học trong một khoa học phức hợp, tổng hợp chung, khoa học nghiên cứu về con người đang dần trở thành hiện thực, đến đây cách mạng khoa học

và kỹ thuật đã chuyển sang cách mạng khoa học công nghệ Cuộc cách mạng mới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin và hình thành nền văn minh tin học trong xã hội thông tin cho thấy hàng loạt vấn đề đặt ra của phát triển bền vững và hiện đại hóa, đòi hỏi các nước, các chính phủ phải thích ứng và đáp ứng thông qua những phản ứng linh hoạt của mình bằng chính sách và cơ chế Cách mạng khoa học và công nghệ tạo nên những tác động không nhỏ:

Trước hết, một đòi hỏi bức xúc đặt ra là phải nhân đạo hoá, nhân văn hoá

trong việc ứng dụng các thành quả khoa học - công nghệ và văn minh phối hợp những nỗ lực tự phát triển của từng quốc gia - dân tộc với sự phát triển chung của

cả cộng đồng quốc tế, cùng phối hợp và cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc giải quyết những vấn đề sống còn của tất cả các dân tộc: hoà bình, an ninh, an toàn trong cuộc sống và công bằng, bình đẳng trong phát triển

Trang 29

Thứ hai, do hàm lượng trí tuệ gia tăng, kết tinh ngày càng nhiều trong sản

phẩm hàng hoá nên sản xuất và tiêu dùng không chỉ mang tính chất kinh tế mà còn

có sắc thái văn hoá nữa Tiến bộ xã hội ngày càng chú trọng nhiều hơn tới các thước

đo đánh giá về đạo đức và văn hoá, không chỉ trong lối sống và hành vi ứng xử của

cá nhân và cộng đồng mà còn trong hoạt động kinh doanh, trong cách thức tổ chức, quản lý đời sống xã hội, gìn giữ và bảo vệ môi trường tự nhiên sinh thái cùng với môi trường xã hội - nhân văn

Thứ ba, cách mạng trong khoa học và công nghệ cùng với sự hình thành xã

hội thông tin và kinh tế tri thức đòi hỏi giáo dục và đào tạo phải đổi mới và hiện đại hoá một cách căn bản Quan niệm mới về giáo dục và mục tiêu đào tạo liên quan trực tiếp tới chủ thể và đối tượng giáo dục, tác động vào sự đổi mới các thiết chế, phương thức và phương pháp giáo dục, đồng thời đòi hỏi cả sự thay đổi tư duy quản

lý giáo dục, tâm lý và ý thức xã hội về giáo dục Con người phải chủ động hình thành nhu cầu sống, định hướng các giá trị của cuộc sống và lối sống theo hình ảnh của một xã hội lao động, xã hội học tập Một xã hội có nền giáo dục phát triển không chỉ chăm lo nâng cao mặt bằng dân trí nói chung, mà còn tập trung phát triển nhân tài, với chiến lược hiền tài, chính sách trọng dụng nhân tài của nhà nước Cuộc cạnh tranh và vượt trước trong phát triển giữa các nước trong khu vực và trên thế giới trở thành cuộc tranh đua để bứt phá trong giáo dục - đào tạo

2.1.1.2 Toàn cầu hoá kinh tế gắn liền với quá trình tiếp xúc, giao lưu, đối

thoại giữa các nền văn hoá - một xu thế khách quan và phổ biến

Nửa sau thế kỷ XX, nhất là trong vài thập kỷ gần đây, mối quan tâm và bàn

luận về toàn cầu hoá ngày càng trở nên sâu rộng và phổ biến, lôi cuốn sự chú ý theo

dõi của nhiều đối tượng, từ các học giả nghiên cứu, các chính khách, các doanh nhân đến các tổ chức quốc tế, các lực lượng xã hội Mối quan tâm này là tất yếu và

tự nhiên bởi toàn cầu hoá ngày càng diễn ra như một cơn lốc, một thực tế kinh tế, chính trị Toàn cầu hoá là một quá trình nhiều mặt (kinh tế, chính trị, văn hoá, môi trường, xã hội), một xu thế lớn trong đời sống thế giới đương đại, tác động hàng ngày, hàng giờ giây đến mọi mặt hoạt động và các mối quan hệ giữa các quốc gia – dân tộc, đến toàn bộ cuộc sống con người trên hành tinh

Trang 30

Lịch sử toàn cầu hoá bắt đầu từ quốc tế hoá sản xuất, những biến đổi mạnh

mẽ của phân công lao động, chuyên môn hoá lao động được thúc đẩy bởi những cải

biến cách mạng công cụ - yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất, bởi mở rộng thị

trường, sự tăng lên không ngừng của hoạt động thương mại Nguồn xung lực mạnh

mẽ thúc đẩy toàn cầu hoá là khoa học - kỹ thuật - công nghệ Khuôn khổ của một nền kinh tế toàn cầu là một xu thế lớn của thế giới, nó chứa đựng các cơ hội đồng thời cũng là thách thức quan trọng nhất đối với mọi quốc gia Mỗi quốc gia dân tộc phải đón kịp, không bỏ lỡ cơ hội phát triển bằng cách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và ra sức tận dụng thành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

Trong cuốn The world is flat: a brief history of the twenty-first century, Thomas L Friedman đã gióng lên hồi chuông cảnh báo rằng: Toàn cầu hoá 3.0 thực

chất đang ở vào giai đoạn tăng tốc, nó làm cho thế giới chuyển từ cỡ nhỏ xuống cỡ siêu nhỏ và đồng thời san phẳng thế giới Chúng ta đang sống trong một thế giới phẳng!

Toàn cầu hoá còn được xem xét từ những biến đổi văn hoá, đặc biệt là văn hoá tinh thần và đời sống văn hoá tinh thần Diễn biến của quá trình này vừa có mặt thống nhất vừa có mâu thuẫn với vô số những sự khác biệt, bao hàm cả những xung đột, rõ nhất là vấn đề hệ tư tưởng, ý thức dân tộc, truyền thống và bản sắc văn hoá giữa các chủ thể khi thực hiện mở cửa hội nhập trong bối cảnh thế giới hiện nay

Trong thế giới ngày nay, yêu cầu phát triển bền vững được đặt ra đối với mọi quốc gia dân tộc Điều đó đòi hỏi phải giải quyết hài hoà các mối quan hệ tự nhiên -

xã hội và chú trọng ngày càng nhiều hơn tới thước đo văn hoá trong phát triển Văn hoá trở thành mục tiêu và động lực của phát triển và tiến bộ xã hội

Tác nhân toàn cầu hoá nhìn dưới góc độ văn hoá thể hiện qua hai vấn đề:

Một là toàn cầu hoá gắn liền với mở cửa, hội nhập, do đó cũng gắn liền với

quá trình tiếp xúc - giao lưu, đối thoại giữa các nền văn hoá của các dân tộc, thuộc các khu vực khác nhau, làm phong phú, sống động đời sống văn hoá Văn hoá, thông qua đó tham dự vào phát triển, đồng thời chi phối, định hướng sự phát triển

ấy

Trang 31

Hai là, để quá trình tiếp xúc - giao lưu - đối thoại giữa các nền văn hoá trong

thế giới toàn cầu có thể diễn ra một cách văn hoá, nghĩa là tự nhiên, lành mạnh, hướng tới tiến bộ phát triển thì các bên tham gia chương trình này cần xác lập và tuân thủ những nguyên tắc chuẩn mực, đó là tôn trọng sự khác biệt thuộc truyền thống, bản sắc của nhau, đoàn kết và hợp tác trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, dân chủ và bình đẳng trong đối thoại văn hoá

Mở cửa, hội nhập với thế giới toàn cầu, việc chuẩn bị tiềm lực và trữ năng văn hoá, thường xuyên chăm lo bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc là vấn đề mang tầm chiến lược chính trị chứ không đơn thuần là vấn đề hoạt động văn hoá

2.1.1.3 Cuộc khủng hoảng của CNXH

Cuộc khủng hoảng của CNXH bắt nguồn trực tiếp từ những yếu tố trong nhận thức lý luận, trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, trong tổ chức bộ máy và thể chế cũng như trong chính sách và cơ chế thực hiện Cuộc khủng hoảng trong những năm 1970-1980, sai lầm là ở chỗ đã áp dụng phương thức mệnh lệnh hành chính tập trung quan liêu chỉ thiên về ý chí chủ quan và quyền lực nhà nước để xây dựng CNXH theo kiểu áp đặt, đi ngay tới chủ nghĩa cộng sản không tính đến chế ước của hoàn cảnh lịch sử nước Nga lạc hậu, không chú trọng thực hiện lợi ích của người lao động Nhận thức được những sai lầm ấy, Lênin và Đảng Bônsêvích Nga quyết tâm thực hiện cải cách thông qua NEP từ mùa xuân năm 1921 Với NEP, sự hồi sinh nhanh chóng nước Nga đã chứng minh tính đúng đắn của sự thay đổi, chuyển sang mô hình quá độ gián tiếp phù hợp với phát triển rút ngắn (bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN)

Sau này vì xa rời những tư tưởng ấy, CNXH lại rơi vào khủng hoảng, không phải chỉ ở một nước mà là cả hệ thống do cùng áp dụng nhất loạt như nhau mô hình kiểu Xôviết Khi chấm dứt NEP một cách vội vã để quay về mô hình tập trung quan liêu, những năm 60 của thế kỷ trước với cải cách không thành và cuối cùng là cải tổ

từ Đại hội XXVII (1986) nhưng càng cải tổ càng lún sâu vào khủng hoảng trầm trọng và dẫn đến kết cục lịch sử là Liên Xô tan rã và Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo

Trang 32

Từ thực tiễn lịch sử này, cho chúng ta thấy: khủng hoảng là bình thường và không có ngoại lệ đối với bất kỳ một chế độ xã hội nào, trong bất kỳ thời gian nào; khủng hoảng không phải là một định mệnh và hoàn toàn có khả năng sửa chữa, khắc phục; khủng hoảng không tất yếu dẫn tới đổ vỡ, cải tổ, cải cách, đổi mới cũng vậy bởi chân lý là cụ thể nên cách mạng phải sáng tạo, sự sáng tạo nào cũng có những chuẩn mực chi phối và những thước đo đánh giá của nó

Cuộc khủng hoảng của CNXH và vấn đề thời đại là nhân tố tác động trực tiếp tới nhận thức và quyết sách đổi mới của Đảng ta - một đảng luôn trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc, với nguyên tắc của chủ nghĩa quốc

tế vô sản, luôn luôn coi chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng

tư tưởng, là kim chỉ nam hành động của cách mạng, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân và dân tộc mình

2.1.2 Bối cảnh trong nước

2.1.2.1 Cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, xây dựng và

phát triển đất nước với những hậu quả chiến tranh và những khó khăn, phức tạp

Mười năm trước đổi mới (1975-1985) là khoảng thời gian của những biến đổi phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới quyết sách của Đại hội VI Trong đó tình hình trong nước có những điểm đáng lưu ý:

- Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới - cả nước cùng thực hiện một nhiệm vụ chiến lược, xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN

- Do đánh giá sai về tiềm năng của đất nước cộng với tư tưởng chủ quan, duy

ý chí, nên đã mắc phải một số sai lầm trong cải tạo và xây dựng CNXH dẫn đến sự mất lòng tin của nhân dân, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội bất ổn

- Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin được Đảng ta khẳng định là nền tảng tư tưởng của Đảng, là kim chỉ nam hành động của cách mạng Việt Nam

- Độc lập dân tộc và CNXH là định hướng tư tưởng, chính trị không thay đổi của sự nghiệp cách mạng, được thể hiện nhất quán và toàn diện trong mọi nhiệm vụ,

Trang 33

chương trình, kế hoạch hành động của toàn Đảng toàn dân với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ gây nên những mất mát, hy sinh cho mỗi người, mỗi gia đình Việt Nam Những hậu quả xã hội kéo theo không

dễ nhận ra ngay, càng không dễ dàng khắc phục Nguồn viện trợ không hoàn lại của quốc tế cho Việt Nam giảm dần và không còn Mỹ tiến hành chính sách thù địch, bao vây, cấm vận, đặt nước ta vào tình thế bị cô lập Thêm vào đó là những hoạt động phá hoại, những âm mưu bạo loạn và lật đổ, những kích động gây chia rẽ và hận thù dân tộc với sự tiếp sức của các thế lực phản động bên ngoài

Những khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội nước ta khi bước vào đổi mới được Đảng ta nêu rõ tại Đại hội VI: sản xuất có tăng nhưng chậm, hiệu quả sản xuất

và đầu tư thấp, tài nguyên khai thác và sử dụng lãng phí, lưu thông không thông suốt, phân phối rối ren, mất cân đối trong nền kinh tế chậm được thu hẹp có mặt còn gay gắt hơn, quan hệ sản xuất XHCN chậm được củng cố, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, hiện tượng tiêu cực trong xã hội

Thực trạng đó là hệ quả từ những khiếm khuyết, sai lầm của Đảng trên nhiều lĩnh vực lãnh đạo, quản lý, điều hành từ trung ương đến địa phương Những sai lầm

và khuyết điểm đó bắt nguồn từ khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và

công tác cán bộ của Đảng Theo Đảng, đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân

Như vậy, bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta ở vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng, tất yếu và bức xúc phải đổi mới để ra khỏi khủng hoảng, xác lập ổn định và hướng tới phát triển

2.1.2.2 Những đột phá lớn dẫn tới đổi mới và làm chín muồi nhận thức và

quyết sách đổi mới của Đảng

Tư tưởng đổi mới và hành động đổi mới xuất hiện ở nước ta từ những năm

80 thế kỷ XX hình thành từ thực tiễn, bằng kinh nghịêm của quần chúng, sự sáng tạo của quần chúng, trên cơ sở đó Đảng phân tích, khái quát thành lý luận, đề ra đường lối và quyết sách hành động, trải qua tìm tòi, thử nghiệm, thận trọng và kịp thời Đại hội VI là một dấu mốc lịch sử gắn liền với những bước đi có tính đột phá trước đó:

Trang 34

Bước đột phá đầu tiên là Hội nghị trung ương sáu khoá IV (8/1979) với chủ

trương làm cho sản xuất bung ra, với tư tưởng giải phóng lực lượng sản xuất, kết

hợp kế hoạch với thị trường - mầm mống của bươc chuyển sang sản xuất hàng hoá, kinh tế hàng hoá, sự cần thiết, tất yếu của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

Bước đột phá thứ hai với quyết định của Hội nghị trung ương tám khoá V

(6/1985), chủ trương xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá do thị trường điều tiết Hình thành tư tưởng về hạch toán kinh doanh XHCN, thừa nhận sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị

Bước đột phá thứ ba với quyết định của Hội nghị Bộ chính trị khoá V

(8/1986) đưa ra những kết luận khẳng định sản xuất hàng hóa, kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, thực hiện quy luật giá trị, cơ chế thị trường – cơ sở dẫn tới văn kiện đổi mới ở Đại hội VI

Nhờ những bước đột phá này, Đảng ta có cơ sở thực tiễn và lý luận để xác định đổi mới là một chiến lược phát triển, một thời cơ lớn, đồng thời cũng là thách thức lớn trên con đường phát triển Tổng hợp các đột phá đó là một đột phá lớn hơn

về tầm vóc tư tưởng: đổi mới tư duy lý luận về CNXH là khâu đột phá của mọi đột phá ở nước ta

Các nhân tố tác động trong nước, cũng như các nhân tố quốc tế không chỉ tác động tới sự khởi đầu của đổi mới mà còn tiếp tục thâm nhập, ảnh hưởng sâu sắc tới tiến trình đổi mới trong 20 năm qua và trong những thập kỷ tiếp theo của thế kỷ XXI

Những thay đổi của tình hình thế giới, quan hệ quốc tế, những đặc điểm mới của ngoại giao thời kỳ sau chiến tranh lạnh đặt ra cho ngoại giao thế kỷ XXI những vấn đề mới vừa có mặt thuận lợi, song cũng vừa có mặt khó khăn thách thức Tuy nhiên đặt ra những vấn đề cho ngoại giao Việt Nam không phải chỉ có những nhân

tố trên, mà còn những nhân tố khác Đó là yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, mà trọng tâm của giai đoạn hiện nay là CNH-HĐH đất nước; những thành công và hạn chế của hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong 20 năm đổi mới; dự báo tình hình thế giới và khu vực trong những thập niên tới.v.v Bởi vậy, đối ngoại phải tiếp tục đổi mới tư duy về quốc tế, chính sách đối ngoại và ngoại giao Cho tới nay,

Trang 35

nhận thức của chúng ta về thế giới, về chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam

đã có những điều chỉnh tương đối cơ bản và khá toàn diện Những thay đổi trên được thể hiện trong những văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới, khẳng định tư duy sáng tạo của Đảng ta Đó là Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị (tháng 7/1986), Văn kiện Đại hội VI (tháng 12/1986), Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (tháng 5/1988), Đại hội VII (tháng 6/1991), Nghị quyết Trung ương 3, khoá VII (tháng 6/1992), Văn kiện Đại hội VIII (tháng 6/1996), Nghị quyết Trung ương 4, khoá VIII (tháng 12/1997), Văn kiện Đại hội IX (tháng 4/2001), Nghị quyết 07 của

Bộ Chính trị (tháng 11 năm 2001), Nghị quyết Trung ương 8, khoá IX (tháng 7/2003) và Nghị quyết Đại hội X (4/2006)…

2.2 Quan điểm chỉ đạo về ngoại giao và văn hoá của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009:

2.2.1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về ngoại giao văn

hoá từ năm 1986 đến năm 2009

2.2.1.1 Đại hội VI - bước đột phá trong tư duy đối ngoại

Nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực đối ngoại là ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệ đặc biệt giữa 3 nước Đông Dương, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng XHCN, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH [16: tr.97]

Hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta phải phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, làm thất bại cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, tiếp tục làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với Campuchia và Lào Chúng ta cần tranh thủ những điều kiện thuận lợi mới về hợp tác kinh tế và khoa học, kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi việc phân công và hợp tác trong Hội đồng tương trợ kinh tế, đồng thời tranh thủ mở rộng quan hệ với các nước khác [16: tr.97]

Trang 36

Trong các hoạt động đối ngoại đặc biệt chú ý đến những nội dung:

- Tăng cường đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn luôn là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta… không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác về mọi mặt vì lợi ích của hai nước, đồng thời tăng cường sự phối hợp với Liên Xô và với các nước XHCN anh em khác trong cuộc đấu tranh vì hoà bình và cách mạng trên thế giới…

- Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa 3 nước Đông Dương, đoàn kết và tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ tổ quốc là quy luật sống còn và phát triển của cả 3 dân tộc anh em

- Tiếp tục tăng cường quan hệ hữu nghị và sự hợp tác với các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế: Balan, Bungari, Cuba, Cộng hoà dân chủ Đức, Hungari, Mông Cổ, Rumani, Tiệp Khắc Chúng ta mở rộng quan hệ với các nước XHCN anh em khác: Anbani, Triều Tiên…

- Đảng ta tích cực góp phần vào việc tăng cường đoàn kết phong trào trên cơ

sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, tăng cường sự hợp tác giữa các đảng anh em trong cuộc đấu tranh vì mục tiêu chung là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH

- Chúng ta ủng hộ một cách triệt để và nhất quán và triệt để phong trào đấu tranh giải phóng và độc lập dân tộc, lên án chính sách của các giới đế quốc, trước hết là đế quốc Mỹ tiến hành chống phá hòng xoá bỏ thành quả cách mạng của các nước trẻ tuổi

- Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình và hữu nghị

- Nhà nước ta chủ trương tăng cường và mở rộng quan hệ hữu nghị với Thuỵ Điển, Phần Lan, Pháp và Ôxtrâylia, Nhật Bản và với các nước phương Tây khác trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi

Một trong những nội dung quan trọng của công tác đối ngoại đó là chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài: Tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài xây dựng khối đoàn kết cộng đồng, vừa hoà nhập vào

Trang 37

xã hội sở tại, vừa liên hệ mật thiết gắn bó với quê hương, góp phần ngày càng nhiều vào công cuộc xây dựng đất nước [16: tr.276]

Như vậy, sau khi hoà bình lập lại được 10 năm, trong xu thế thời đại, những một trong những vấn đề trọng tâm trong công tác ngoại giao đó chính là việc tạo môi trường hoà bình cùng phát triển, hợp tác chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế với các đối tác cơ bản là Liên Xô, các nước XHCN và mối quan hệ giữa 3 nước trên bán đảo Đông Dương

2.2.1.2 Đại hội VII - đặt nền móng cho quan điểm của Đảng về ngoại giao

văn hoá

Trong nội dung phần thứ hai Những phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong

5 năm 1991-1995, Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành trung ương (khoá VI) tại

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII nêu rõ phương châm chỉ đạo đối với hoạt

động đối ngoại là tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi, mở rộng và tăng cường

quan hệ quốc tế về chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật trên nguyên tắc

tôn trọng độc lập chủ quyền, cùng có lợi, bảo vệ sản xuất, kinh tế và an ninh quốc gia, gìn giữ và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc [16:

tr.328]

Như vậy, khác với đại hội VI, đại hội VII đã đưa văn hoá vào nội dung công tác đối ngoại bên cạnh yếu tố kinh tế và chính trị Ở đó, hợp tác trên lĩnh vực văn hoá là để giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc Nhiệm vụ đối ngoại bao trùm … là giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị

và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng CNXH và bảo

vệ tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… Chúng ta chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình [16: tr.351]

Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn

là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập

và phát triển [16: tr.404] Đối tác của Việt Nam không chỉ hạn chế trong khối các

Trang 38

nước XHCN mà mở rộng ra cả các nước tư bản, các nước phát triển, đang phát triển

… không phân biệt chế độ chính trị - xã hội

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) cũng khẳng định: Tiếp tục xây

dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa Việt Nam, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại [16: tr.346]

Đại hội giữa nhiệm kỳ khoá VII, bổ sung thêm nội dung: chăm lo xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… Phát triển văn hoá dân tộc đi đôi với mở rộng giao lưu văn hoá với nước ngoài, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới [16: tr.454-455]

2.2.1.3 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng - dấu mốc quan

trọng về chính sách văn hoá trong thời kỳ đổi mới

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đánh một dấu mốc quan trọng với chính sách về ngoại giao văn hoá với sự ban hành của Nghị quyết Trung

ương V Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc

dân tộc được coi là văn kiện chuyên đề văn hóa đầu tiên của Đảng, sau Đề cương về

văn hóa Việt Nam, đây là một Nghị quyết đã trúng ý Đảng, hợp lòng dân Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII đã xác định chủ trương lớn của chúng ta là xây dựng

và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Về nhiệm vụ văn hoá

đối ngoại hay ngoại giao văn hoá, Nghị quyết nhấn mạnh: Làm tốt việc giới thiệu

văn hoá đất nước và con người Việt Nam với thế giới; tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài Phổ biến những kinh nghiệm tốt xây dựng và phát triển văn hoá của các nước Ngăn ngừa sự thâm nhập các sản phẩm văn hoá phản động, đồi truỵ Giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết tình hình nước nhà, thu nhận thông tin và sản phẩm văn hoá từ trong nước ra, nêu cao lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn bản sắc, truyền thống dân tộc, phát huy trí tuệ, tài năng sáng tạo, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước [9: tr.67-

68]

Nghị quyết đã đề cập đến giải pháp xây dựng, ban hành các chính sách cụ thể

về hợp tác quốc tế trong quan hệ với các tổ chức quốc tế và các quốc gia ở khu vực, những nhóm nước cụ thể Đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ về văn hoá

Trang 39

(Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, cá nhân) nhằm tiếp thu được nhiều tinh hoa, kinh nghiệm của nước ngoài, ngăn ngừa những tác động tiêu cực [9: tr.77]

Nếu như chính sách về văn hoá là một trong những điểm nổi bật của Đại hội

Đảng VIII, thì chính sách đối ngoại tiếp tục thực hiện nhiệm vụ là củng cố môi

trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, CNH - HĐH đất nước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới

vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội [16: tr.636]

Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy

xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển [16: tr.702] Đối với người Việt Nam ở nước ngoài - một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta chủ trương bảo hộ quyền lợi chính đáng, giúp đỡ nâng cao ý thức cộng đồng, tăng cường đoàn kết tương trợ, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc; tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào về thăm quê hương, giúp đỡ gia đình, đóng góp ngày càng nhiều hơn vào sự nghiệp xây dựng đất nước thông qua việc hợp tác với các ngành, các địa phương trong nước trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hoá nghệ thuật…[16: tr.706]

Đường lối văn hóa của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII tiếp tục được khẳng định lại trong Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X; nêu rõ sự cần thiết làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đất nước và khẳng định sự cần thiết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế của đất nước trên các lĩnh vực, trong đó có văn hóa

2.2.1.4 Quan điểm “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các

nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” của Đại hội IX (2001)

Mở rộng giao lưu văn hoá, thể thao quốc tế, đầu tư thích đáng cho việc truyền bá ở trong nước các giá trị văn hoá của loài người và giới thiệu đất nước, văn hoá, con người Việt Nam với thế giới [17: tr.162-163] là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng toàn dân Trong nội dung về định hướng phát triển văn hoá, văn kiện Đại

Trang 40

hội Đảng lần thứ IX viết: Phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; bảo tồn và tôn tạo các

di sản văn hoá vật thể và phi vật thể làm nền tảng cho sự giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng, giữa các vùng trong cả nước và giao lưu văn hoá với bên ngoài [17: tr.230]

Về đối ngoại, Việt Nam Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng

mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là

đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập

và phát triển [17: tr.94] Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của Nhà nước,

hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động ngoại giao nhân dân [17: tr.96]

2.2.1.5 Đại hội X khẳng định “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các

nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X xác định chính sách ngoại giao văn hóa là: Mở rộng giao lưu văn hoá, thông tin với thế giới [17: tr.450-451] Đẩy mạnh việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh Bồi dưỡng các tài năng văn học khuyến khích sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật tiêu biểu có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật Không chỉ đề ra các định hướng về văn hoá, mà Đảng ta còn chỉ ra những chính sách, những định hướng rất cụ thể về giao lưu văn hoá Đó chính là những cơ sở quan trọng cho việc thực hiện ngoại giao văn hoá

- Đẩy mạnh công tác văn hoá - thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước

- Chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại vững vàng về chính trị, có trình độ ngoại ngữ và năng lực nghiệp vụ cao, có đạo đức và phẩm chất tốt

Về quan hệ đối ngoại, chúng ta thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế… Chúng ta chủ trương đưa các quan

hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, đồng thời phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên thế giới và các tổ chức

Ngày đăng: 29/12/2015, 17:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Các tác nhân tạo nên văn hoá - hoạt động ngoại giao văn hóa của đảng và nhà nước tuef 1986
Hình 1.1. Các tác nhân tạo nên văn hoá (Trang 14)
Hình  ảnh  về  một  Việt  Nam  thân  thiện - hoạt động ngoại giao văn hóa của đảng và nhà nước tuef 1986
nh ảnh về một Việt Nam thân thiện (Trang 76)
Hình 1. . Đất nước Nhật Bản tươi đẹp - hoạt động ngoại giao văn hóa của đảng và nhà nước tuef 1986
Hình 1. Đất nước Nhật Bản tươi đẹp (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w