1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Lịch sử mỹ thuật việt nam sau 1975

19 812 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử mỹ thuật Việt Nam sau 1975
Trường học Đại học Mỹ thuật Hà Nội
Chuyên ngành Mỹ thuật
Thể loại Báo cáo học tập
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỸ THUẬT VIỆT NAM TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY I Bối cảnh lịch sử mỹ thuật sau 1975 Với Đại thắng mùa Xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi Đây lâ một trong những.

Trang 1

MỸ THUẬT VIỆT NAM TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY

Trang 2

I Bối cảnh lịch sử mỹ thuật sau 1975:

Với Đại thắng mùa Xuân 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi Đây lâ một trong những chiến thắng lịch sử oanh liệt nhất, lẫy lừng nhất của dân tộc Việt Nam Chúng ta đã đánh bại đế quốc Mỹ

- một đế quốc có thế lực kinh tế, quân sự hùng mạnh vào bậc nhất thế giới Một

kỷ nguyên phát triển rực rỡ của cách mạng Việt Nam đã được mở ra: Kỷ nguyên

cả nước độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội

Nền mỹ thuật của thời kỳ xây dựng đất nước (1975-1986) là một quá trình khó khăn nhưng nền mỹ thuật thời kỳ này đã để lại cho đất nước những tác phẩm nghệ thật đầy tính sáng tạo Nói chung để nói nên được cảm xúc thời kỳ này thì chung ta phải hiểu được nền kinh tế của đất nước thì mới biết được nền mỹ thuật thời gian này

Đất nước sau ngày giải phóng, cả nước đang còn khó khăn về kinh tế, Vì vậy mà rất nhiều người do đã quen sáng tác theo ngôn ngữ mỹ thuật hiện đại trở nên rụt

rè trước hoàn cảnh xã hội đổi thay Trong suốt thời gian này (1975-1986), mỗi năm có không hơn 20 cuộc triển lãm tập thể và khuynh hướng sáng tác chủ yếu

là theo các đề tài kháng chiến, lao động sản xuất tại các hợp tác xã, nhà máy, các cuộc cải tạo xã hội Ngôn ngữ thể hiện không còn đa dạng mà chủ yếu là hiện thực, ấn tượng hay tượng trưng; chưa có ai dám sáng tác theo khuynh hướng trừu tượng Trong suốt một khoảng thời gian dài, không hề có một cuộc triển lãm cá nhân nào mà chỉ có các cuộc triển lãm chung do Hội Mỹ thuật thành phố hay Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức theo mỗi năm hay các cuộc triển lãm toàn quốc 5 năm một lần

Việc Đảng và Nhà nước ban hành chính sách Đổi mới, kinh tế mở và văn hóa

mở là một sự giải phóng sức lao động sáng tạo toàn diện cho con người Hoạt động văn hóa nghệ thuật cũng cho thấy bước đầu có sự bùng nổ, phát triển nhiều mặt: Mục tiêu đào tạo, lực lượng nghệ sĩ, các chuyên ngành, đề tài, chất lượng, ngôn ngữ nghệ thuật, phạm vi và ý thức sáng tạo Trong khoảng thời gian từ

1988 đến nay, cả nước bước vào giai đoạn kinh tế thị trường và từng bước vận hành theo quy luật của nó Giai đoạn này cho thấy kinh tế thị trường là chiến trường Nó thể hiện sự cạnh tranh, mở rộng về nhiều mặt: Trong đó cũng đã hình thành thị trường văn hóa nghệ thuật đa dạng, bao gồm cả thị trường tranh tượng

mỹ thuật, sự mở rộng hệ thống các gallery,… Các cuộc giao lưu, triển lãm mỹ thuật giữa nội địa và quốc tế gia tăng kèm theo sự bộc phát về tư duy, xu hướng, ngôn ngữ biểu đạt nghệ thuật

1 Nghệ thuật kiến trúc:

1.1 Kiến trúc cung đình:

Kiến trúc cung điện – dinh thự là kiến trúc tiêu biểu và điển hình của các triều đại phong kiến Việt Nam Lý do bởi loại hình kiến trúc này huy động tập trung cao độ tài lực của cả nước hoặc ít nhất là địa phương nơi xây dựng cung điện – dinh thự

Trang 3

Nói đến nghệ thuật cổ trong xã hội phong kiến, hầu hết mọi người đều nghĩ tới đầu tiên là kiến trúc cung điện và dinh thự của triều đình và các tầng lớp quan lại, quý tộc Điều này cũng dễ hiểu bởi loại hình kiến trúc này được xây dựng quy mô, hoành tráng tập trung những tài năng thiết kế giỏi nhất thời kỳ bấy giờ

Khi một ông vua lên ngôi hay một triều đại mới được sáng lập theo sau đó bao giờ cũng là quyết định lập kinh đô và xây dựng những công trình kiến trúc cung điện – dinh thự

để tỏ rõ quyền lực của triều đại, uy thế của cá nhân

Thời kỳ dựng nước, các vua Hùng nhà nước Văn Lang ở Phong Châu ( Phú Thọ) nhưng do thời gian đã xa hàng mấy chục thế kỷ do vậy tư liệu, sách vở ghi lại vết tích kiến trúc nghệ thuật cung điện giai đoạn này không có gì đáng kể và cũng không đủ căn cứ để mô tả

Sau hàng nghìn năm Bắc thuộc đến thời nhà Đinh khởi nghiệp ở Ninh Bình, tiếp nối là nhà Tiền Lê Nhưng đến nay, kiến trúc cung đình nhà Đinh và Tiền Lê có diện mạo thế nào vẫn còn nhiều luồng ý kiến khác nhau

Năm 2010, Lý Công Uẩn lên ngôi lấy hiệu là Lý Thái Tổ, mở ra triều đại nhà Lý

và quyết định rời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội) Những quần thể cung điện thời nhà Lý thường được bố trí theo trục đối xứng, căn bằng ngay ngắn để đảm bảo tính chất tôn nghiêm của quyền lực triều đình nhà nước phong kiến Mặt bằng kiến trúc đơn giản: chữ nhất (-) hay chữ nhị (=), có hành lang, có gác kết hợp chặt chẽ với vườn hoa, mặt nước và cây cỏ thiên nhiên Vật liệu xây dựng chủ yếu được huy động từ các nguồn vật tư trong nước hoặc ngay

Trang 4

tại địa phương: ngoài gỗ quý cũng dùng cả gạch, ngói, đá…Tuy nhiên kết cấu gỗ truyền thống với những hàng cột chịu lực thì ít khi thay đổi trong các công trình Những công trình xây dựng sau thường trang trí, thiết bị nội thất, ngoại thất tinh

vi, cầu kỳ và tráng lệ hơn Quy mô, kích thước của những công trình kiến trúc này cũng bề thế hơn Tại một số cung điện tiêu biểu thời nhà Lý, các bộ phận cấu tạo công trình như cột, đầu cột, diềm mái, vì kéo cùng với thềm bậc tam cấp, gạch tráng men xanh, vàng, ngói ống, lưu li được khắc “Long, ly, quy, phượng” hoặc “Tứ quý”…tạo nên một hình thức kiến trúc cung điện lầu son, gác tía, lộng lẫy uy nghi Đáng tiếc là năm 1214, loạn lạc do các phe phái phong kiến trong nước chống đối lẫn nhau khiến kiến trúc cung điện dinh thự nhà Lý bị tàn phá, hủy hoại nghiêm trọng

Nhà Trần nối ngôi nhà Lý đã phải đầu tư xây dựng mới và sửa sang lại Hoàng cung tại Thăng Long Kiến trúc nhà Trần so với nhà Lý có nét độc đáo riêng: công trình xây trên các bệ cao, đa số là hai tầng có gác, thậm trí có công trình có tới 3-4 tầng Tầng dưới được gọi là “điện”, tầng trên được gọi là “các” và

thường có hành lang bao quanh Các công trình được nối với với nhau và nối với các cửa Hoàng thành Do thể chế các vua nhà Trần hầu hết truyền ngôi lại cho con từ khi còn sống để lui về làm Thái thượng hoàng, do đó trong kiến trúc cung điện Hoàng thành Thăng Long thời Trần cùng tồn tại hai hệ thống cung: cung Vua và cung Thái thượng hoàng hoặc cung Thái tử

Trang 5

Về kiến trúc cung điện nhà Trần, sách Văn hiến thông khảo có viết: Vua ở trên điện cao 4 tầng, xung quanh có nhiều cung điện, tất cả những cung điện đều sơn màu đỏ, cột có chạm rồng, phượng thần tiên…

Khi nhà Trần suy yếu, Hồ Quý Ly rời đô vào Vĩnh Lộc ( Thanh Hóa) tuy nhiên các cung điện lầu gác của nhà Hồ qua thời gian và chiến tranh đã bị quân Minh tàn phá, hủy hoại nên không còn tồn tại, tư liệu ghi chép quá ít nên không xác định được hình ảnh cụ thể Trải qua nhiều biến cố lịch sử khác cho đến năm

1802, sau khi cách mạng Tây Sơn bị thất bại – Nguễn Ánh lập triều Nguyễn và đóng đô ở Phú Xuân (Huế) đã tập trung nguồn nhân lực và vật lực lớn để xây dựng Hoàng cung trong kinh đô Huế

Cung điện dinh thự dưới thời nhà Nguyễn được xây dựng trong Đại nội Huế vẫn được bố cục xây dựng theo kiểu truyền thống triều đình phong kiến Á Đông, khởi công từ thời Gia Long (1802-1819), phát triển nhất vào thời Minh Mạng (1820-1840) và các vua Nguyễn tiếp sau đó tu bổ và mở mang thêm những công trình mới

Kiến trúc cung đình dinh thự Huế được chia thành ba loại Loại thứ nhất là kiến trúc dùng làm nơi thiết triều và cử hành lễ nghi: Ngọ Môn, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh,…Loại hai là nơi của Vua và hoàng thất: Điện Càn Thanh, điện Khôn Thái, điện Kiến Trung, điện Diên Thọ…Và loại cuối cùng các công sở - công quán: Điện Văn Minh, điện Võ Hiển, Đông các phủ nội vụ, Thái y viện…

Trang 6

Cùng với 3 loại kiến trúc nêu trên, trong các thư tịch còn nói tới đền miếu thờ tự

và kiến trúc vui chơi giải trí tại Huế Riêng những công trình loại này cũng có tới trên 100 công trình lớn nhỏ Những công trình kiến trúc tại Huế nói chung có phong cách hài hòa, khiêm tốn và chừng mực của kiến trúc dân gian Việt Nam, không quá đồ sộ, nguy nga, lộng lẫy như kiến trúc của triều đình phong kiến nhà Minh

Trải qua hơn 100 năm với nhiều biến động lịch sử và tác động của thiên nhiên, trên 80% cung điện và dinh thự nhà Nguyễn đã bị hủy hoại Hiện chỉ còn lại cửa Ngọ Môn, điện Thái Hòa, cung Diên Thọ…cùng Thế Miếu, Hiểm Lâm các và một số kiến trúc nhỏ Tuy nhiên trong điều kiện xã hội nửa phong kiến, nửa thuộc địa sau này, trào lưu kiến trúc và kỹ thuật xây dựng phương Tây đã xâm nhập vào nước ta và có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các đô thị lớn Kiến trúc cung đình Huế vì thế cũng có sự lai tạp Á, Âu

Từ sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, kiến trúc Việt nam phát triển khá mạnh mẽ với sự ra đời của nhiều đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư, làng xóm mới trong đó có những công trình kiến trúc lớn và có giá trị cao về nghệ thuật

Với xu thế hiện đại mới nhấn mạnh phương cách biểu hiện hình thái kiến trúc bằng những giải pháp công nghệ hiện đại Trong thời kỳ này với khả năng biểu hiện của các kỹ thuật mới nhất trong lĩnh vực kết cấu thép, kính, bê tông…được tận dụng triệt để tạo ra những bộ mặt kiến trúc hoàn toàn mới mang tính ấn tượng mạnh Với lối kiến trúc từ cận đến ngày nay tập trung chủ yếu ở những mảng lớn như thiết kế nội thất, thiết kế kiến trúc, thiết kế quy hoạch đô thị, thiết

kế môi trường và quy hoạch vùng

Mỗi dân tộc đều có riêng những cách thể hiện nền văn hóa riêng của mình Và điều đó thể hiện qua chính kiến trúc

1.2 Kiến trúc tôn giáo.

Ngôi nhà chính là cái tổ ấm bảo vệ con người trước những khắc nghiệt của thiên nhiên và là yếu tố đảm bảo cho một cuộc sống định cư ổn định Vì thế đối với người Việt chúng ta ngôi nhà là tất cả : trong nhiều tình huống đôi khi nhà được đồng nhất với gia đình (ví dụ : cả nhà cùng quây quần bên bếp lửa ), đôi lúc nhà lại được dùng để chỉ vợ hoặc chồng (ví dụ : nhà em đi làm đến tối mới về ), có lúc lại được mở rộng nghĩa để chỉ những khái niệm khác như nhà nước, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và đặc biệt hầu như tất cả các không gian kiến trúc của người Việt đều xuất phát từ chữ "nhà" : nhà ga, nhà thương, nhà máy, nhà hàng, nhà tưởng niệm , và các công trình tôn giáo tín ngưỡng cũng không ngoại

lệ : nơi thờ Phật thì gọi là nhà chùa, nơi thờ Chúa thì gọi là nhà thờ, và đó là một

Trang 7

nét rất đặc trưng của kiến trúc truyền thống dân tộc : công trình kiến trúc trước hết phải là một cái nhà

Những nét đơn sơ mộc mạc của ngôi nhà dân gian Việt Nam đã được kết tinh lại bằng một thứ ngôn ngữ kiến trúc trau chuốt mượt mà hơn, đó chính là ngôi đình làng, nơi được xem là trung tâm hay tiểu triều đình của cộng đồng làng xã, và cũng vì lẽ đó mà kiến trúc đình làng đã được nhiều nhà nghiên cứu xem là hình ảnh tiêu biểu nhất của kiến trúc truyền thống Việt Nam Phải chăng những chiếc mái với đầu đao cong vút lên của những ngôi đình làng tiêu biểu như đình Đình Bảng, đình Chu Quyến, đình Tây Đằng chính là hình ảnh của những ngôi nhà mái cong hình thuyền đã được khắc họa trên trống đồng Đông Sơn? Vâng! Đó chính là sự thể hiện rõ nét nhất về việc bảo lưu, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, những mái nhà hình thuyền bằng những vật liệu thô sơ tranh tre mái lá xa xưa đã được chuyển tải một cách tài tình thành những mái ngói với những đầu đao cong vút rất đặc trưng và độc đáo của kiến trúc truyền thống dân tộc

Phật giáo khi vào nước ta từ khoảng đầu công nguyên cũng đã mất một thời gian khá lâu để tìm được chỗ đứng ổn định trong văn hóa tín ngưỡng người Việt, và mãi cho đến thời Lý, Trần từ thế kỷ thứ XI trở đi thì đạo Phật mới thật sự được phổ biến và phát triển một cách mạnh mẽ Song hành với đạo Phật thì ngôi chùa cũng đã có những bước phát triển theo hướng "Việt hóa" để dần trở thành một hình ảnh quen thuộc trong tâm thức người Việt Phật giáo xuất phát từ Ấn độ với những kiến trúc bằng gạch đá, kiến trúc chính là những ngôi tháp thờ Phật – Stupa hình quả chuông hay hay hình cái bát úp khi qua đến Trung Quốc (nhánh Phật giáo đại thừa) đã biến đổi thành những bảo tháp nhiều tầng mái (là sự kết hợp giữa kiến trúc tháp và kiến trúc vọng lâu của Trung Quốc), và khi sang đến Việt Nam thì kiến trúc tháp chỉ còn là thành phần phụ, thành phần chính là ngôi

Trang 8

chùa bằng gỗ với không gian thờ Phật bên trong theo đúng mô hình thờ cúng của tín ngưỡng dân gian Việt Nam

Ở Ấn Độ hay Trung Quốc thì kiến trúc Phật giáo nổi tiếng nhờ ngôi tháp, còn ở Việt Nam là nhờ ngôi chùa, mà hình thức bên ngoài của nó là sự mô phỏng lại hình dáng ngôi nhà Việt hay ngôi đình làng Phỏng theo ngôi nhà truyền thống

ba gian mà người ta đã tạo nên những ngôi chùa với những đặc điểm quen thuộc với những đường nét kiến trúc tinh tế hơn,

cũng là chiếc mái với đầu đao cong vút lên (tiêu biểu nhất là chùa Tây Phương), cũng là những bộ cửa bức bàn, những tỉ lệ tầm thước hài hòa và những gam màu sắc trang nhã lúc nào cũng hòa mình vào thiên nhiên, lấy kiến trúc tô điểm cho thiên nhiên, và lấy thiên nhiên để làm đẹp cho công trình Những hình ảnh này dần càng trở nên quen thuộc đến mức đôi khi nhìn thấy những kiến trúc với chiếc mái ngói đầu đao cong lên thì nhiều người lại liên tưởng ngay đến kiến trúc ngôi chùa mà không hề biết rằng nó được phỏng theo kiến trúc ngôi đình làng hay kết tinh từ những ngôi nhà dân gian truyền thống, và đó cũng chính là quá trình "Việt hóa" của ngôi chùa Việt

Muộn hơn Phật giáo, đạo Thiên Chúa mới vào Việt Nam từ thế kỷ XVII nhưng

đã nhanh chóng có được một chỗ đứng vững chắc trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt Do thời gian tiếp cận chưa lâu nên kiến trúc nhà thờ Công giáo vẫn đang trong giai đoạn tìm kiếm và định hình để hình thành riêng một phong cách kiến trúc nhà thờ theo kiểu người Việt Trong thời gian đầu, nhà thờ Công giáo chỉ là những ngôi nhà nguyện đơn sơ và phần lớn dựa vào kiến trúc bản địa thời

Trang 9

bấy giờ để thực hành tôn giáo, ví dụ như nhà nguyện trong khuôn viên nhà thờ lớn Hà Nội chỉ là một ngôi nhà đơn sơ theo kiến trúc thời Nguyễn, hay ngôi nhà nguyện cổ trong Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn, hay một số nhà nguyện ở các địa phương khác cũng theo hình thức kiến trúc tương tự, thậm chí có những nơi chỉ được dựng tạm bằng tranh, tre, nứa, lá Cho đến thế kỷ XIX, khi người Pháp đặt chân vào Việt Nam, thì họ đã áp đặt kiểu kiến trúc Roman và Gothic vào kiến trúc nhà thờ, và tiêu biểu cho kiểu kiến trúc này là nhà thờ Đức Bà tại TpHCM

và nhà thờ lớn tại Hà Nội

Đây là hình thức kiến trúc đã được hình thành và phát triển tại châu Âu trong các thế kỷ trước, và cũng khá dể dàng nhận biết kiểu kiến trúc này qua hình thức cuốn cung nguyên và cung gãy, và phạm vi áp dụng chủ yếu là trong các nhà thờ Công giáo Do đây là kiểu kiến trúc được người Pháp áp đặt trong quá trình khai thác thuộc địa tại Việt Nam, và mặc dù trong quá trình triển khai thì người Pháp cũng đã cải biến ít nhiều bằng cách đưa một số chi tiết trang trí của người Việt vào, chẳng hạn như những chi tiết trang trí theo nghệ thuật dân gian truyền thống Việt Nam trong khu vực cung thánh của nhà thờ lớn Hà Nội, hay hệ thống mái ngói kiểu phương đông của nhà thờ Cửa Bắc, hay các chi tiết kiến trúc Việt, Hoa trong nhà thờ Cha Tam với mục đích "Việt hóa" một phần nhưng vẫn chưa tạo được một kiểu kiến trúc tôn giáo thật sự thân thuộc với người Việt Trong suốt quá trình phát triển, người Kitô hữu Việt Nam vẫn luôn mong muốn tìm ra cho mình một hình thức kiến trúc riêng, một không gian thờ phụng Thiên Chúa riêng theo kiểu của người Việt Có lẽ những trăn trở đó của những người Kitô hữu đã được Thiên Chúa quan phòng và Người đã thánh hóa những ước mong

đó, ban ơn trên soi sáng để Cha Phê rô Trần Lục, mà mọi người vẫn quen gọi là

Trang 10

Cha Sáu, tạo ra một đóa hoa tuyệt tác trong lịch sử nhà thờ Công giáo Việt Nam,

đó chính là nhà thờ Phát Diệm – một ngôi nhà thờ theo phong cách thuần Việt,

từ những không gian đóng mở theo phong cách tạo cảnh của kiến trúc phương Đông, cho đến các hình dáng, kiểu thức kiến trúc, các chi tiết trang trí đều hòa quyện vào nhau trong cùng một phong cách kiến trúc truyền thống dân tộc mà vẫn không hề làm giảm đi sự linh thiêng huyền diệu của một ngôi thánh đường

Và điều này cũng hoàn toàn phù hợp với tinh thần "Các nguyên tắc thích nghi phụng vụ của công đồng chung Vaticano II" trong việc chọn lựa các hình thức, kiểu mẫu kiến trúc địa phương để áp dụng vào việc xây cất nhà thờ Chính vì vậy mà linh mục Trần Văn Khả đã phải thốt lên : "Nhà thờ chính tòa Phát Diệm, một công trình thích nghi phụng vụ về phương diện nghệ thuật đi trước công đồng chung Vaticano II", đơn giản là vì nhà thờ Phát Diệm được hoàn thành trước công đồng chung Vaticano II đến gần 70 năm

Hơn nữa ngày xưa kiến trúc Roman và Gothic ra đời dựa trên quan điểm Thiên Chúa là đấng tối cao và ngài ngự ở trên cao, chính vì vậy kiến trúc nhà thờ đều tập trung làm cho cao vút lên với mục đích là để cây thập tự giá và tượng Chúa càng cao càng tốt nên kiến trúc Gothic đã ra đời để đáp ứng nhu cầu đó Còn quan điểm ngày hôm nay lại cho rằng Thiên Chúa ở giữa chúng ta nên những truyền thống kiến trúc luôn hướng tới sự hòa hợp thân thiện như kiến trúc Việt Nam chúng ta sẽ rất dễ dàng lột tả được tư duy này và đây cũng là một điểm lợi thế để chúng ta tiếp tục trên con đường định hình một phong cách kiến trúc nhà

Ngày đăng: 01/10/2022, 13:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

chùa bằng gỗ với không gian thờ Phật bên trong theo đúng mơ hình thờ cúng của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. - Lịch sử mỹ thuật việt nam sau 1975
ch ùa bằng gỗ với không gian thờ Phật bên trong theo đúng mơ hình thờ cúng của tín ngưỡng dân gian Việt Nam (Trang 8)
Đây là hình thức kiến trúc đã được hình thành và phát triển tại châu Âu trong các thế kỷ trước, và cũng khá dể dàng nhận biết kiểu kiến trúc này qua hình thức cuốn cung nguyên và cung gãy, và phạm vi áp dụng chủ yếu là trong các nhà thờ Công giáo - Lịch sử mỹ thuật việt nam sau 1975
y là hình thức kiến trúc đã được hình thành và phát triển tại châu Âu trong các thế kỷ trước, và cũng khá dể dàng nhận biết kiểu kiến trúc này qua hình thức cuốn cung nguyên và cung gãy, và phạm vi áp dụng chủ yếu là trong các nhà thờ Công giáo (Trang 9)
Sơn mài đã khẳng định được đây là một chất liệu tạo hình được tạo trên nhiều trải nghiệm khác nhau - Lịch sử mỹ thuật việt nam sau 1975
n mài đã khẳng định được đây là một chất liệu tạo hình được tạo trên nhiều trải nghiệm khác nhau (Trang 15)
Sự hình thành loại chất liệu sứ với các kỹ thuật sản xuất và trang trí hiện đại. Sản phẩm sứ của nhà máy sứ Hải Dương đã được dùng rộng rãi trong nước và  xuất khẩu đi nhiều nước, như Liên Xô, Cu Ba, Ba Lan, Mông Cổ… - Lịch sử mỹ thuật việt nam sau 1975
h ình thành loại chất liệu sứ với các kỹ thuật sản xuất và trang trí hiện đại. Sản phẩm sứ của nhà máy sứ Hải Dương đã được dùng rộng rãi trong nước và xuất khẩu đi nhiều nước, như Liên Xô, Cu Ba, Ba Lan, Mông Cổ… (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w