1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thao luan hon nhan gia dinh lan 1+2

18 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 108,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn học Luật Hôn nhân và gia đình Buổi thảo luận thứ nhất và thứ hai KẾT HÔN HỦY KẾT HÔN TÁI PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ VI.1.Tóm lược các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành và nêu một số vướng mắt trong thực tiễn áp dụng. Điều kiện kết hôn được hiểu là: những quy định có tính chất bắt buộc do nhà nước ban hành trong các văn bản pháp luật và nam nữ phải tuân theo những quy định trước khi kết hôn  Những điều kiện kết hôn bao gồm: độ tuổi, sự tự nguyện, nhận thức Độ tuổi: Theo điểm a, khoản 1, điều 8 thì: + Nam từ đủ 20 tuổi trở lên + Nữ từ đủ 18 tuổi trở lên Có thể thấy rằng, Luật hiện hành đã quy định rất chặt chẽ theo hướng tăng nhằm phù hợp với một số luật có liên quan. Đây được xem là độ tuổi tối thiếu để là cơ sở để nam, nữ kết hôn mà không được thấp hơn độ tuổi này. Sở dĩ, nêu ra độ tuổi trên nhằm mục đích phù hợp với sự phát triễn của con người và đất nước  Thứ nhất: ở độ tuổi này nam, nữ sẽ đạt tới chỉ số phát triển tâm sinh lý ổ định, cả thể chất và tinh thần, họ có thể chịu trách nhiệm về những việc mình làm trước gia đình và pháp luật ( Luật Hình sự, Luật Dân sự,..) nêu ra rất rõ. Nếu chưa đủ tuồi mà đăng ký kết hôn sẽ chịu một số chế tài của pháp luật.  Thứ hai: họ có thể tự chủ về kinh tế, làm chủ một số quan hệ xã hội nhất định do tự mình xác lập, thực hiện; khi phát sinh những quan hệ xã hội khác sau khi kết hôn họ cũng tự mình giải quyết ( lo cho già đình, bố mẹ, con cái,...)  Cuối cùng: Luật Hôn nhân gia đình có kế thừa những quy định trước đó vừa cụ thể và sửa sai cho những tranh chấp không đáng xảy ra trước đó có phát sinh.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Giảng viên:

Môn học: Luật Hôn nhân và gia đình

Buổi thảo luận thứ nhất và thứ hai:

KẾT HÔN- HỦY KẾT HÔN TÁI PHÁP LUẬT- GIẢI QUYẾT HẬU QUẢ

VIỆC SỐNG CHUNG NHƯ VỢ CHỒNG

Trang 2

STT HỌ VÀ TÊN MSSV

2 Trần Thị Ngọc Huyền 2153801014093

3 Nguyễn Đình Trung Kiên 2153801014100

8 Nguyễn Trương Minh Khuê 2153801014109

9 Phan Ngọc Trúc Lam 2153801014113

Trang 3

MỤC LỤC

I Lý thuyết 1

1.Tóm lược các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành và nêu một số vướng mắt trong thực tiễn áp dụng 1

2 Xác định người đang có vợ, có chồng Cho ví dụ về các trường hợp người chưa đăng kí kết hôn cũng được xác định “đang có vợ, có chồng” theo quy định của pháp luật 3

3 Xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn 4

4 Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật Phân tích các trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên cơ sở pháp lý 4

5 Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau mà không ĐKKH và hậu quả pháp lý của việc chung sống với nhau như vợ chồng Phân tích các trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng đồng thời vi phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân sự , hành chính , hình sự có thể được xác định 6

II.Tình huống 7

1 Từ góc độ pháp lý, hãy cho biết quan điểm của anh, chị về pháp luật áp dụng

và đường lối giải quyết yêu cầu của bà Anh theo tình huống trên 7

2 Theo các anh(chị) Tòa án giải quyết vụ việc trên như thế nào? Tại sao? 8

3 Anh, chị hãy cho biết Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Hội phụ nữ như thế nào cho phù hợp với tinh thần của pháp luật 8

4 Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu (hủy việc kết hôn giữa ông Ngon và

bà Mùi) của bà Bông như thế nào? Vì sao? 11

5 Từ góc độ pháp lý , anh chị hãy phân tích và lý giải đường hướng xử của Tòa

án thẩm quyền trước yêu cầu của anh Tâm 12

III.Đọc bản án, quyết định và trình bày quan điểm 13

Tóm tắt bản án số 04/2019/HNGĐ-ST về “Hủy kết hôn trái pháp luật, giải quyết

Trang 4

Danh mục từ viết tắt

Trang 5

I Lý thuyết

1.Tóm lược các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành và nêu một số vướng mắt trong thực tiễn áp dụng.

- Điều kiện kết hôn được hiểu là: những quy định có tính chất bắt buộc do nhà nước ban hành trong các văn bản pháp luật và nam nữ phải tuân theo những quy định trước khi kết hôn

 Những điều kiện kết hôn bao gồm: độ tuổi, sự tự nguyện, nhận thức

- Độ tuổi: Theo điểm a, khoản 1, điều 8 thì:

+ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên

+ Nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

Có thể thấy rằng, Luật hiện hành đã quy định rất chặt chẽ theo hướng tăng nhằm phù hợp với một số luật có liên quan Đây được xem là độ tuổi tối thiếu để là

cơ sở để nam, nữ kết hôn mà không được thấp hơn độ tuổi này Sở dĩ, nêu ra độ tuổi trên nhằm mục đích phù hợp với sự phát triễn của con người và đất nước

 Thứ nhất: ở độ tuổi này nam, nữ sẽ đạt tới chỉ số phát triển tâm sinh lý

ổ định, cả thể chất và tinh thần, họ có thể chịu trách nhiệm về những việc mình làm trước gia đình và pháp luật ( Luật Hình sự, Luật Dân sự, ) nêu ra rất rõ Nếu chưa đủ tuồi mà đăng ký kết hôn sẽ chịu một số chế tài của pháp luật

 Thứ hai: họ có thể tự chủ về kinh tế, làm chủ một số quan hệ xã hội nhất định do tự mình xác lập, thực hiện; khi phát sinh những quan hệ xã hội khác sau khi kết hôn họ cũng tự mình giải quyết ( lo cho già đình, bố mẹ, con cái, )

 Cuối cùng: Luật Hôn nhân gia đình có kế thừa những quy định trước

đó vừa cụ thể và sửa sai cho những tranh chấp không đáng xảy ra trước đó có phát sinh

- Ý chí: theo điểm b, khoản 1, điều 8 thì kết hôn là do nam và nữ tự nguyện vời nhau

Mục đích của nhà làm luật nêu ra để thể hiện sự công bằng và sự trách nhiệm khi đã đủ tuổi thực hiện và gánh chịu những gì mình gây ra, họ cùng tự nguyện sống chung để xây dựng gia đình riêng cho mình, nhất trí trong việc thiết lập hôn nhân, hoàn thành các thủ tục đăng ký kết hôn trước pháp luật Việc này còn có ý nghĩa:

+ Thứ nhất: hôn nhân chỉ có thể đạt được mục đích khi đó là hôn nhân tự nguyện, cùng xây dựng gia đình, ấm no, bền vững

+ Thứ hai; nhằm xó bỏ những tàn tích ủa hôn nhân phong kiến lạc hậu Cha mẹ quyết định hôn nhân của con cái, sống với người mà mình không có tình cảm, đó là mầm móng tan vỡ gia đình, nhưng do xã hội tiến bộ nên nhận thức

Trang 6

của con người có phần thiết thực hơn phù hợp với hoàn cảnh kinh tế- xã hội trong giai đoạn hiện nay

- Nhận thức: theo điểm c, khoản 1, điều 8 thì nam, nữ kết hôn phải là người không mất năng lực hành vi dân sự Theo đó, Luật quy định như thế nhằm tạo sự công bằng, bình đẳng Họ phải làm chủ hành vi của mình mới xác lập được những quan hệ khác như: chăm sóc cha mẹ, nuôi dưỡng con cái, Mặt khác, nó đảm bảo rằng sự phát triển lành mạnh của con trẻ, góp phần giảm bớt gánh nặng cho gia đình

và xã hội

- Ngoài những điều kiện kết hôn thì Luật còn cấm kết hôn trong các trường hợp sau đây: kết hôn giả tạo, tảo hôn; cưỡng ép, lừa dối kết hôn; hoặc sống chung với vợ chồng với người có cùng dòng máu trực hệ, quy định rất rõ trong điểm a,b,c,d khoảng 2, điều 5 của luật này; không thừa nhận hôn nhân đồng giới ( khoản

2, điều 8)

- Những vướng mắt của điều kiện kết hôn trong thực tiễn:

+ Độ tuổi, sự tự nguyện: mặc dù quy định của pháp luật như thế, nhưng thực

tế nạn tảo hôn, cưỡng ép, lừa dối kết hôn, còn xảy ra rất nhiều, chủ yếu tập trung

ở nông thôn hay miền núi, dân tộc ít người còn mang nặng hủ tục xưa Cưới vợ cho con khi còn rất nhỏ

Họ tổ chức đám cưới tại thôn, xóm và không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và mặc nhiên công nhận là vợ chồng, mang trong đó nhiều rủi ro về các quan hệ xã hội sau đó phát sinh Tỉ lệ mang thai và có con sớm, khôngf đảm bảo sức khỏe cho mẹ và bé,

+ Kết hôn với những người có cùng dòng máu trực hệ, hay trong phạm vi ba đời: nó không đạt tỉ lệ cao ở những nơi dân tộc thiểu số, tình trạng kết hôn cận huyết xảy ra thường xuyên và mang rất nhiều hệ lụy

+ Năng lực hành vi dân sự : luật này quy định không được kết hôn với những người bị NLHVDS Điều 22 BLDS 2015 thì người bị mất NLHVDS khi được tòa

án tuyên bố, trong thực tế thì một số người chưa được tòa án tuyên bố nhưng bị tâm thần, rối loạn nhận thức, sau này khi giả quyết quan hệ nhân thân rất khó và tòa án

sẽ xử hôn nhân trái pháp luật 1

1Những vướng mắt của điều kiện kết hôn trong thực tiễn:

https://trangtinphapluat.com/blog/bai-viet-hay/hon-nhan-va-gia-dinh/quy-dinh-ve-ket-hon-trong-luat-hon-nhan-gia-dinh/

2

Trang 7

2 Xác định người đang có vợ, có chồng Cho ví dụ về các trường hợp người chưa đăng kí kết hôn cũng được xác định “đang có vợ, có chồng” theo quy định của pháp luật.

- Người đang có vợ, có chồng là những người thuộc các trường hợp được qui định tại khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTP:

“4 “Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật

về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày

03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.”

- Ví dụ về các trường hợp người chưa đăng kí kết hôn cũng được xác định

“đang có vợ, có chồng” theo quy định của pháp luật:

i)Trường hợp Quan hệ hôn nhân ở miền Bắc xác lập trước ngày 13/01/1960

và quan hệ hôn nhân ở miền Nam xác lập trước ngày 25/03/1977:

+ Ở miền Nam, ông A và bà B đã đăng kí kết hôn vào năm 1940 và được công nhận là vợ chồng hợp pháp Năm 1951, ông có việc và buộc phải di chuyển ra miền Bắc Khi ra Bắc, vì một số vấn đề mà ông A không được về lại Nam Năm

1956, ông có quen bà Q và có nảy sinh tình cảm nam nữ với bà Q Năm 1957, ông

A và bà Q quyết định sống chung và ở chung với nhau như vợ chồng Vì ông A và

bà Q đã sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 13/01/1960 nên vẫn được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp Trong trường hợp này, ông A sẽ có hai người vợ hợp pháp là bà B và bà Q

ii)Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987:

+ Năm 1980, ông K và bà Q gặp nhau khi đang đi dạo biển, họ trao đổi thông tin liên lạc và bắt đầu tán tỉnh nhau từ đó Ngày 19/06/1981, ông K và bà Q chính thức quen nhau Ngày 19/06/1982, họ quyết định dọn về sống chung với nhau như

vợ chồng và vì một số lí do mà qua ngày 03/01/1987 họ chưa thể đăng kí kết hôn Việc ông bà sống chung với nhau như vợ chồng đều được gia đình và bạn bè hai bên biết đến Tuy nhiên, căn cứ theo Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của

Trang 8

Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì ông K

và bà Q vẫn sẽ được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp

3 Xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn.

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì:

“Việc kết hôn phải được đăng kí và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch Việc kết hôn không được đăng

kí theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”

- Cơ quan có thẩm quyền đăng ký đăng kí kết hôn được quy định tại khoản 1

Điều 17 Luật Hộ tịch 2014 như sau: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn ” Và nơi cư trú của công dân

được quy định tại Điều 11 Luật Cư trú 2020

4 Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật Phân tích các trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên cơ sở pháp lý

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì về nguyên tắc, Tòa án

có quyền hủy kết hôn trái pháp luật tuy nhiên, xuất phát từ thực tế quan hệ giữa các bên sau khi kết hôn và những thay đổi trong tình cảm và tình trạng hôn nhân của các bên nên giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật phải tùy từng hoàn cảnh, mức độ vi phạm điều kiện kết hôn và tùy vào quan hệ tình cảm của các cặp kết hôn

mà Tòa án ra quyết định hủy hay không hủy việc kết hôn

Theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì xử lý yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật theo hai hướng: Hủy kết hôn hoặc công nhận quan hệ

vợ chồng

* Hủy kết hôn

Khi có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, nếu sau khi xác minh có căn cứ để hủy việc kết hôn (tức là các bên không đủ điều kiện kết hôn) và đến thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, các bên vẫn không đủ điều kiện để kết hôn thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn đó

Quyết định của Tòa án về việc hủy kết shoon trái pháp luật phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng kí kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch Đồng thời quyết định hủy kết hôn được gửi cho hai bên kết hôn trái pháp luật, cho các nhân,

cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

* Công nhận quan hệ vợ chồng:

Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà hai bên kết hôn đã đủ điều kiện để kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và hai bên có yêu cầu công nhận hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó Có hai cơ sở để Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân trong trường hợp này

4

Trang 9

-Thứ nhất, các bên đã đủ điều kiện kết hôn

Đối với cơ sở này thì việc xác nhận điều kiện kết hôn của hai bên tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn có ý nghĩa quyết định Nếu một trong hai bên kết hôn không đủ tuổi hoặc hai bên chưa đủ tuổi thì vào thời điểm này họ đã đủ tuổi kết hôn Đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật do bị cưỡng ép hoặc bị lừa dối thì Tòa án phải xác minh được rằng tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu ủy kết hôn trái pháp luật, cả hai bên đều thật sự muốn chung sống với nhau

-Thứ hai, cả hai bên đều yêu cầu công nhận hôn nhân

Một trong những cơ sở để Tòa án công nhận hôn nhân trong trường hợp kết hôn trái pháp luật là cả hai bên kết hôn yêu cầu Tòa án công nhận hôn nhân của họ hai bên thể hiện nguyện vọng công khai trước Tòa án Trong trường hợp Tòa án công nhận hôn nhân của họ thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên kết hôn đủ điều kiện kết hôn theo quy định

Trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên cơ sở pháp lý

Căn cứ quy định nêu trên, việc công nhận quan hệ vợ chồng khi kết hôn trái luật được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình như sau:

“Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan

hệ hôn nhân đó Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.”

Như vậy, có thể thấy, khi Tòa án giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái luật, nếu nam, nữ có đủ điều kiện sau đây thì vẫn được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó:

- Cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định

- Hai bên kết hôn yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân

Cụ thể như sau:

2.1 Kết hôn vi phạm về tuổi

Theo quy định điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình, điều kiện về tuổi để nam, nữ được đăng ký kết hôn là:

Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

Trang 10

Trong đó, việc xác định “đủ” căn cứ theo ngày, tháng, năm sinh Ví dụ, người nữ sinh ngày 10/01/1997 thì đến ngày

10/01/2015 người nữ sẽ được tính là đủ 18 tuổi

Như vậy, nếu nam, nữ kết hôn khi chưa đủ các điều kiện

về tuổi thì được xác định là kết hôn trái luật và tại thời điểm Tòa án giải quyết việc hủy kết hôn trái luật mà nam, nữ đã đủ tuổi, cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì nam, nữ này vẫn được công nhận là vợ, chồng hợp pháp

2.2 Lừa dối, cưỡng ép… kết hôn

Trường hợp này, điểm d.2 khoản d Điều 2 Nghị quyết

02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn sau khi bị ép buộc, lừa dối hoặc cưỡng ép mà bên bị ép buộc, lừa dối, cưỡng ép đã biết, thông cảm

và tiếp tục chung sống hòa thuận thì không hủy việc kết hôn trái luật này

5 Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau mà không ĐKKH và hậu quả pháp lý của việc chung sống với nhau như vợ chồng Phân tích các trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng đồng thời vi phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân

sự , hành chính , hình sự có thể được xác định

Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau

mà không ĐKKH: việc nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không ĐKKH thì không được pháp luật công nhận quan hệ vợ chồng Khi một hoặc hai bên có yêu cầu Tòa án giải quyết nếu có xung đột xảy ra thì Tòa án thụ lý giải quyết

và tuyên bố không công nhận họ là vợ chồng

Các trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng đồng thời

vi phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân sự , hành chính , hình sự có thể được xác định.

Trường hợp hành vi chung sống như vợ chồng ở mức độ ít nghiêm trọng,

có thể bị áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính Theo quy định tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

- Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn với người khác; chưa có vợ hoặc

có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có vợ hoặc có chồng

- Đang có vợ hoặc có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác

- Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người

mà mình biết rõ là đang có vợ hoặc có chồng

6

Ngày đăng: 29/09/2022, 21:56

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w