1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THẢO LUẬN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH BUỔI THỨ 4-5 VẤN ĐỀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT GIỮA CHA, MẸ, CON QUAN HỆ CẤP DƯỠNG GIỮA CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH

28 15 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Hệ Pháp Luật Giữa Cha, Mẹ, Con; Quan Hệ Cấp Dưỡng Giữa Các Thành Viên Gia Đình
Thể loại Thảo luận
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 206,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm về pháp luật thực định về việc bảo đảm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ: Quyền khai sinh cho trẻ là một trong những quyền đầu tiên của trẻ em được ghi nhận tại khoản 1 Điều 11 L

Trang 1

THẢO LUẬN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH BUỔI THỨ 4-5 VẤN ĐỀ: QUAN HỆ PHÁP LUẬT GIỮA CHA, MẸ, CON; QUAN HỆ CẤP DƯỠNG GIỮA CÁC THÀNH VIÊN GIA ĐÌNH

I LÝ THUYẾT: TRẢ LỜI/PHÂN TÍCH/LÀM SÁNG TỎ CÁC CÂU HỎI

1 Phân tích nguyên tắc và căn cứ xác định con chung của vợ chồng.

Nguyên tắc xác định con chung của vợ chồng là con sinh ra trong thời kỳ Hôn nhânhoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng Việc xác địnhcon chung của vợ chồng trên cơ sở suy đoán pháp lý có thể chia thành hai trường hợp:

- Trường hợp thứ nhất: con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân:

+ Con do người vợ có thai trước thời kỳ hôn nhân và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân,đứa trẻ này được xác định là con chung của vợ chồng trừ trường hợp người chồngkhông thừa nhận đứa trẻ do người vợ sinh ra là con của vì nó thỏa mãn được nguyêntắc mà pháp luật hôn nhân gia đình đặt ra cho con chung của vợ chồng là sinh ra trongthời kỳ hôn nhân

+ Người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân.Trường hợp này đứa trẻ dĩ nhiên là đáp ứng được yêu cầu là sinh ra trong thời kỳ hônnhân của cha mẹ và việc coi đứa trẻ là con chung của vợ chồng là hoàn toàn hợp lý, trừtrường hợp người chồng có chứng cứ khác chứng minh rằng đứa trẻ đó không phải làcon mình

- Trường hợp thứ hai: con sinh ra do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân vàsinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt Đây là trường hợp đứa trẻ được mang thai trongthời kỳ hôn nhân nhưng được sinh ra khi người chồng đã chết hoặc đã ly hôn này vềmặt pháp luật được suy đoán là cha của trẻ em đó Con sinh ra trong vòng 300 ngày kể

từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hônnhân

- Trường hợp thứ ba: Sự thừa nhận con chung trên cơ sở tự nguyện của cha mẹ.Pháp luật công nhận người con sinh ra trước thời kỳ hôn nhân của cha mẹ cũng là conchung của họ với điều kiện là phải có sự thừa nhận tự nguyện của cha, mẹ

2 Trình bày các hình thức và thủ tục xác định con sinh ra do sinh đẻ Quan điểm của bạn về pháp luật thực định với việc bảo đảm quyền được khai sinh của trẻ em?

Các hình thức và thủ tục xác định con sinh ra do sinh đẻ là:

- Thủ tục hành chính:

Trang 2

+ Thủ tục hành chính được tiến hành trong trường hợp cha mẹ nhận con tại cơ quanhành chính nhà nước Cơ quan có thẩm quyền giải quyết là UBND cấp xã, nơi cư trúcủa người nhận hoặc được nhận là cha, mẹ, con.

+ Điều kiện: việc nhận cha, mẹ cho con là hoàn toàn tự nguyện và không có tranhchấp

+ Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định vàchứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch Khiđăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt

+ Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tạikhoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp,công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con

ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục chongười yêu cầu

+ Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngàylàm việc

+ Khi giải quyết vụ việc, Tòa án có trách nhiệm kiểm tra các chứng cứ do cha mẹđứa trẻ cung cấp và kết luận vụ việc

Quan điểm về pháp luật thực định về việc bảo đảm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ:

Quyền khai sinh cho trẻ là một trong những quyền đầu tiên của trẻ em được ghi

nhận tại khoản 1 Điều 11 Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em

có quyền được khai sinh và có quốc tịch”, cũng như được ghi nhận trong các văn kiện

quốc tế, chẳng hạn tại khoản 1 Điều 7 Công ước của Liên hợp quốc về quyền của trẻ

em có quy định như sau: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh

ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời, và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc”; và theo Nguyên tắc 3 trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959 ghi nhận: “Trẻ

em sinh ra có quyền được khai sinh”.

Hiện nay việc bảo đảm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ còn được ghi nhận tại Điều

13 Luật trẻ em năm 2016: “Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có

Trang 3

quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.” Và

khoản 1, 3, 4 Điều 30 của BLDS năm 2015

Như vậy, có thể thấy quyền khai sinh là một trong những quyền nhân thân quantrọng của trẻ em không chỉ được quy định trong luật quốc tế mà luật Việt Nam cũngghi nhận quyền khai sinh cho trẻ em Qua các điều luật được nêu trên cho thấy việckhẳng định sự bảo vệ của Nhà nước đối với giá trị của quyền khai sinh Theo đó, việcthực hiện quyền khai sinh cho trẻ em trước hết trách nhiệm thuộc về gia đình, cụ thể làcha, mẹ, ông, bà, những người thân thích khác có trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ em.Điều này được quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

và khoản 1 Điều 14 Nghị định 71/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi

hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em: “Cha mẹ, người giám

hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn” Bên cạnh việc đăng ký khai

sinh cho trẻ, cần phải có những hướng xử lý đối với những hành vi vi phạm quy định

về đăng ký khai sinh cho trẻ Nếu vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tạiĐiều 27 Nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/9/2013 quy định xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và giađình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

3 Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của việc nhận nuôi con nuôi?

 Khái niệm: Là chế định pháp luật nhằm xác lập giữ người nhận nuôi và ngườiđược nhận nuôi các quan hệ gần gũi- quan hệ cha mẹ - các con

 Mục đích: mục đích việc nuôi con nuôi là bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Luật nuôi con nuôi 2010 quy định tại:

“Điều 2 Mục đích nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì lợiích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôidưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình.”

 Ý nghĩa: góp phần đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nuôi connuôi theo tinh thần bảo vệ, giáo dục trẻ em, đồng thời thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đápứng quyền làm cha, làm mẹ trong trường hợp nhất định

4 Phân tích các điều kiện nhận nuôi con nuôi và căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo Luật NCN năm 2010.

Điều 14 Điều kiện đối với người nhận con nuôi

1 Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

Trang 4

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng,giáo dục con nuôi;

d) Có tư cách đạo đức tốt

2 Những người sau đây không được nhận con nuôi:

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe,nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợchồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấpngười chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em

3 Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồnglàm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụngquy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này

Phân tích: Từ quy định của luật nuôi con nuôi 2010 Pháp luật Việt Nam đã quy

định rõ việc nhận con nuôi phải tuân thủ các điều kiện tại khoản 1 Điều 14 thì mới coi

là hợp pháp Người nhận nuôi phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về:

 Độ tuổi đây là yếu tố thể hiện trình độ nhận thức cũng như kinh nghiệm của conngười đánh giá mức độ nhận thức Đánh giá độ tuổi để đánh giá xem một người có thểđảm nhận trách nhiệm nuôi dạy một đứa trẻ hay không?

 Năng lực nhận thức (năng lực hành vi dân sự của người nhận nuôi) thể hiện khảnăng nhận thức và làm chủ hành vi của con người, người có năng lực hành vi dân sựđầy đủ không bị mất hay bị hạn chế là yếu tố quan trọng khả năng chăm sóc và nuôidạy con nuôi

 Điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáodục con nuôi cũng rất quan trọng để đảm bảo cho đữa trẻ được nhận nuôi có đủ điềukiện để sinh hoạt học tập, vui chơi, được chăm sóc sức khỏe, phát triển toàn diện,…

 Cơ chế hạn chế những người không được nhận con nuôi giúp bảo vệ con nuôi khỏinhững tác động tiêu cực nhằm bảo đảm sự phát triển toàn diện, đầy đủ và an toàn

Căn cứ chấm dứt việc nhận con nuôi.

Điều 25 Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Việc nuôi con nuôi có thể bị chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1 Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;

2 Con nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe,nhân phẩm, danh dự của cha mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha mẹ nuôi hoặc con nuôi

có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi;

Trang 5

3 Cha mẹ nuôi bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe,nhân phẩm, danh dự của con nuôi; ngược đãi, hành hạ con nuôi;

4 Vi phạm quy định tại Điều 13 của Luật này

Phân tích

Những người có quyền yêu cầu toà án chấm dứt việc nuôi con nuôi: con đã thànhniên, cha, mẹ đẻ, người giám hộ của con nuôi, cha, mẹ nuôi Căn cứ chấm dứt là việccon nuôi đã đủ độ tuổi thành niên có khả năng lao động chăm sóc bản thân, con nuôixâm phạm nghiêm trọng đến quyền và nghĩa vụ của chính mình và cha mẹ nuôi bị toà

án kết tội và ngược lại Hoặc các bên vi phạm Điều 14 luật nuôi con nuôi 2010

Điều 13 Các hành vi bị cấm

1 Lợi dụng việc nuôi con nuôi để trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục;bắt cóc, mua bán trẻ em

2 Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi

3 Phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi

4 Lợi dụng việc cho con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số

5 Lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng,người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước

6 Ông, bà nhận cháu làm con nuôi hoặc anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi

7 Lợi dụng việc nuôi con nuôi để vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức,truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

5 Các nghĩa vụ và quyền nhân thân của cha mẹ đối với con?

Các nghĩa vụ và quyền nhân thân của cha mẹ đối với con được quy định tại cácĐiều 69, 71, 72 của Luật hôn nhân và gia đình 2014

Điều 69 Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1 Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để conphát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của giađình, công dân có ích cho xã hội

2 Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưathành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng laođộng và không có tài sản để tự nuôi mình

3 Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên,con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự

4 Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hônnhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đãthành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không đượcxúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

Trang 6

Điều 71 Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

1 Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng conchưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khảnăng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình

2 Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mấtnăng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều conthì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ

Điều 72 Nghĩa vụ và quyền giáo dục con

1 Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con họctập

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòathuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan,

tổ chức trong việc giáo dục con

2 Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham giahoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con

3 Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáodục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được

6 So sánh quan hệ cha, mẹ con phát sinh do sự kiện sinh và quan hệ cha, mẹ con phát sinh do sự kiện nhận nuôi con nuôi.

Giống nhau:

- Đều làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con

- Theo khoản 1 Điều 20 Luật nuôi con nuôi 2010 và khoản 1 Điều 78 Luật hôn nhân

và gia đình 2014 thì quyền và nghĩa vụ giữa quan hệ cha, mẹ và con phát sinh do sựkiện sinh và quan hệ cha, mẹ con phát sinh do sự kiện nhận nuôi con nuôi là như nhau.Khác nhau:

Quan hệ cha, mẹ con phát sinh

do sự kiện sinh

Quan hệ cha, mẹ con phát sinh

do sự kiện nhận nuôi con nuôi

- Con được sinh ra trong thời hạn

300 ngày kể từ thời điểm chấm

Được xác lập theo quy định củaPháp luật tại các cơ quan có thẩmquyền

Trang 7

dứt hôn nhân được coi là con dongười vợ có thai trong thời kỳhôn nhân.

- Con sinh ra trước ngày đăng kýkết hôn và được cha mẹ thừanhận là con chung của vợ chồng

mẹ

Theo Điều 78 Luật Hôn nhân giađình 2014, quan hệ giữa cha mẹnuôi và con nuôi có thể chấm dứttrong trường hợp có quyết địnhcủa Tòa án

7 Giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng có thể phát sinh quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản nào? Nêu căn cứ phát sinh các quyền và nghĩa vụ đó.

 Quan hệ nhân thân giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng

Điều 79 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền, nghĩa vụ của chadượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng như sau:

“1 Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáodục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 69, 71

và 72 của Luật này

2 Con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế cùngsống chung với mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71”

a/ Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáodục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình:

Nghĩa vụ và quyền của cha dượng, mẹ kế đối với con riêng (Điều 69,71,72 của Luậthôn nhân và gia đình 2014)

Điều 69 của Luật hôn nhân và gia đình quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

“1 Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục đểcon phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảocủa gia đình, công dân có ích cho xã hội

2 Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưathành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng laođộng và không có tài sản để tự nuôi mình

3 Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên,con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự

Trang 8

4 Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hônnhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đãthành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không đượcxúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.”.

Điều 71 của Luật hôn nhân và gia đình Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

“1 Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡngcon chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không cókhả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.”

Điều 72 Nghĩa vụ và quyền giáo dục con

“1 Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho conhọc tập

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòathuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan,

tổ chức trong việc giáo dục con

2 Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham giahoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con

3 Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáodục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được.”

b/ Con riêng có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cha dượng, mẹ kế cùngsống chung với mình (Điều 70,71 LHNGĐ 2014):

Điều 70 Quyền và nghĩa vụ của con

“1 Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp vềnhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được pháttriển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức

2 Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữgìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình

3 Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không

có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung vớicha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc

Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không tráivới quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

4 Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nângcao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình Khi sống cùng với cha mẹ,con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm

Trang 9

bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầucủa gia đình phù hợp với khả năng của mình.

5 Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản củagia đình.”

Điều 71 Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

“2 Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹmất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiềucon thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.”

- Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Theo đó, để được hưởng quyền thừa kế di sản giữa con riêng và bố dượng, mẹ kếthì pháp luật quy định họ phải có quan hệ chăm sóc nhau như cha con, mẹ con

Vậy các trường hợp con riêng được nhận tài sản thừa kế từ bố dượng, mẹ kế là

- Người có di sản để lại di chúc cho con riêng

Bởi quyền để lại tài sản sau khi chết là quyền của người để lại di sản Do đó, khi đểlại di sản thừa kế, người lập di chúc hợp pháp để tài sản của mình cho con riêng thìngười con riêng được quyền hưởng thừa kế

- Khi cha dượng, mẹ kế chung sống với con riêng

Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bốdượng, mẹ kế

“Điều 654 Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như chacon, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy địnhtại Điều 652 và Điều 653 của bộ luật này”

Theo đó, con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhưcha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và được thừa kế thế vị được quyđịnh tại Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể, trường hợp con của người để lại di sảnchết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần

di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trướchoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản màcha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống

8 Phân tích nội dung cơ bản của chế định hạn chế quyền cha mẹ đối với con chưa thành niên và nêu quan điểm cá nhân về mặt tích cực, hạn chế của chế định này.

Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có liệt kê các trường hợp mà cha, mẹ

bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên, bao gồm:

Trang 10

1 Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh

dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nôm,chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

2 Phá tán tài sản của con;

3 Có lối sống đồi trụy;

4 Xíu giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội

Phạm vi hạn chê quyền

Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cánhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối vớicon chưa thành niên, ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dụccon, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con

Thời gian hạn chế quyền

Tòa án ra quyết định hạn chế một hoặc một số quyền của cha, mẹ đối với con chưathành niên trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm Tòa án có thể xem xét việc rút ngắnthời hạn này

Người có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1 Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về

tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưathành niên

2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự,

có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:– Người thân thích;

– Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

– Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

– Hội liên hiệp phụ nữ

3 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện ra các hành vi vi phạm của cha mẹthuộc một trong các trường hợp hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thànhniên thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức bên trên để yêu cầu Tòa án hạn ché quyềncủa cha, mẹ đối với con chưa thành niên

Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên

Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thànhniên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con,quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con

Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thànhniên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trongcác trường hợp sau đây:

Trang 11

 Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên;

 Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưngkhông đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con;

 Một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác địnhđược bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên

Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiệnnghĩa vụ cấp dưỡng cho con

o Tích cực: bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em

o Bất cập:

 Thứ nhất, về cơ quan có quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em Vậy cơ quanquản lý nhà nước về gia đình và trẻ em nào có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyềncủa cha mẹ đối với con chưa thành niên vẫn còn chưa quy định cụ thể

 Thứ hai, cần hướng dẫn rõ ràng hơn về những hành vi của cha, mẹ có thể bị hạnchế quyền đối với con chưa thành niên

Hiện nay những trường hợp cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niênchỉ được quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Nhữnghành vi này có thể xảy ra hàng ngày ở nhiều nơi Tuy nhiên, thế nào là “vi phạmnghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con”, thế nào là

“Phá tán tài sản của con” và thế nào là “Có lối sống đồi trụy” thì cần được hướng dẫn

cụ thể Tránh trường hợp hiểu không đúng dẫn đến sự tùy tiện ra quyết định hạn chếquyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, thậm chí là không đúng quy định phápluật Đáng lẽ, tính chất mức độ hành vi của cha, mẹ là chưa nghiêm trọng hoặc chưathể coi là phá tán tài sản của con… nhưng Tòa án ra quyết định hạn chế quyền trôngnom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hoặc hạn chế quyền quản lý tài sản riêng củacon hoặc ngược lại nhưng Tòa án không chấp nhận yêu cầu hạn chế quyền của cha

mẹ đối với con chưa thành niên

 Thứ ba, về thời hạn Tòa án hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên

và trình tự thủ tục xét rút ngắn thời gian

Khoảng thời gian từ 01 đến 05 năm là rất rộng Điều này sẽ dẫn đến tình trạng cùngtính chất, mức độ của hành vi nhưng mỗi Tòa án lại có quyết định thời hạn khác nhau.Cha, mẹ có thể có một hoặc nhiều hành vi quy định tại khoản 1 Điều 85 Luật Hônnhân và Gia đình năm 2014 nên vấn đề thời hạn Tòa án ra quyết định hạn chế quyềncủa cha mẹ đối với con chưa thành niên theo hướng phân biệt trường hợp có một hành

vi có thể là từ 01 đến 03 năm nhưng với trường hợp có 02 hành vi trở lên thì có thể tối

đa là 05 năm Ngoài ra, điều kiện, trình tự, thủ tục xét rút ngắn thời hạn hạn chế quyềncủa cha mẹ đối với con chưa thành niên cũng như điều kiện để Tòa án xét rút ngắn thờihạn này cũng cần được hướng dẫn cụ thể hơn

Trang 12

9 Phân tích các điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên gia đình.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những trường hợp phát sinh nghĩa

vụ cấp dưỡng như sau: Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con (Điều 110); nghĩa

vụ cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ (Điều 111); nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị,

em (Điều 112); nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu (Điều 113);nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột (Điều 114) và nghĩa vụcấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn (Điều 115) Điều kiện chung để phát sinhnghĩa vụ cấp dưỡng bao gồm:

1 Người được cấp dưỡng và người có nghĩa vụ cấp dưỡng có quan hệ hôn nhân,quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng

Theo khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã xác định rõ:

“Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau;giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này” Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014cũng đã mở rộng phạm vi quy định về quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú,cậu, bác ruột và cháu ruột (Điều 114), đây là quy định mới so với các văn bản LuậtHôn nhân và gia đình trước đó Việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng trước hết xuất phát

từ ý thức, trách nhiệm của bên thực hiện cấp dưỡng Pháp luật cũng đã đưa ra các chếtài nhằm xử lý những trường hợp trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, không chỉ trong phápluật dân sự, Hôn nhân và gia đình mà còn trong pháp luật hình sự, Việc bảo đảmthực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thông qua lương tâm, đạo đức, dư luận xã hội và cả cácbiện pháp cưỡng chế thi hành Quan hệ huyết thống là gốc rễ hình thành mối quan hệgắn bó, khăng khít giữa các thành viên trong gia đình Khi các thành viên trong giađình không thể trực tiếp chăm sóc nhau thì họ thực hiện nghĩa vụ thông qua việc cấpdưỡng

2 Người được cấp dưỡng và người có nghĩa vụ cấp dưỡng không cùng sống chungvới nhau hoặc người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thì buộcphải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng (khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh trong điều kiện nhất định Quan hệ cấp dưỡng làquan hệ phát sinh, tức là khi quan hệ nuôi dưỡng không thực hiện được hoặc thực hiệnkhông đầy đủ thì lúc đó quan hệ cấp dưỡng mới xuất hiện Trong thực tế, không chỉ dongười có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng không thực hiện nghĩa vụ đó thì nghĩa vụ cấpdưỡng mới phát sinh

3 Người được cấp dưỡng là người chưa thành niên hoặc là người đã thành niên màkhông có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khókhăn, túng thiếu (khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014)

Trang 13

Bất kỳ thành viên nào trong gia đình cũng có thể rơi vào hoàn cảnh không đầy đủhoặc thiếu hụt về phương diện nào đó; song chỉ khi người đó có sự thiếu hụt về vậtchất, làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ thì nghĩa vụ cấp dưỡng mới đặt ra.Điều này biểu hiện ở chỗ, người đó gặp khó khăn, túng thiếu hoặc không có khả nănglao động và không có tài sản để tự nuôi mình Trong quan hệ cấp dưỡng này, chủ thểkhông chỉ là thành viên gia đình trong mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng

mà còn phải thoả mãn những điều kiện nhất định về độ tuổi, tình trạng nhân thân, tàisản

4 Người có nghĩa vụ cấp dưỡng là người đã thành niên, có tài sản để thực hiệnnghĩa vụ cấp dưỡng (Quy định từ Điều 110 đến Điều 114 Luật Hôn nhân và gia đình2014)

Khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, luôn có sự chuyển giao một phần lợi ích nhấtđịnh từ phía người cấp dưỡng sang người được cấp dưỡng Trường hợp bên có nghĩa

vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế, không thể thực hiện việc cấpdưỡng thì tuy nghĩa vụ cấp dưỡng chưa chấm dứt, nhưng ý nghĩa thực tế của nghĩa vụnày cũng hầu như không có, bởi vì lợi ích tài sản của nghĩa vụ không còn tồn tại Quan

hệ cấp dưỡng không mang tính đền bù ngang giá do yếu tố tình cảm giữa các chủ thể.Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện một cách tự nguyện, không tính toán đến giá trị tàisản đã cấp dưỡng, không đòi hỏi người được cấp dưỡng phải hoàn lại một số tiềntương ứng Do nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ được đặt ra khi có những điều kiện nhất định

Do đó, bên có nghĩa vụ cấp dưỡng phải là người đã thành niên và có tài sản để thựchiện nghĩa vụ cấp dưỡng

II TÌNH HUỐNG

2.1 Ngày 20/02/2016, ông Lãm và bà Duy ly hôn theo quyết định số

07/2016/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện P Phán quyết sơ thẩm có hiệu lựccông nhận sự thỏa thuận của bà Duy và ông Lãm như sau: Bà Duy được quyền trựctiếp nuôi dưỡng con chung của họ là Nguyễn An, sinh ngày 8/4/2014 cho đến khi trẻthành niên và có khả năng lao động Ông Lãm không phải thực hiện nghĩa vụ cấpdưỡng nuôi con và được quyền lui tới thăm nom con mà không ai được cản trở; khicần thiết, các bên có thể yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật Sau khi ly hôn, bà Duy và cháu An về sống chung với ông Hiệp Ngày 24/12/2016,ông Hiệp và bà Duy đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn Năm

2017, qua xét nghiệm ADN cho kết quả cháu An là con đẻ, ông Hiệp yêu cầu cơ quannhà nước có thẩm quyền thừa nhận ông là cha ruột của cháu An để ông làm thủ tục cảichính hộ tịch cho trẻ

Trang 14

Hãy xác định cơ quan có thẩm quyền và đường lối giải quyết của cơ quan đó trước yêu cầu của ông Hiệp trên cơ sở pháp luật, biết rằng:

i) Bà Duy thống nhất với yêu cầu của ông Hiệp, thừa nhận ông Hiệp là cha ruột của cháu An;

ii) Ông Lãm không thể hiện ý kiến (bằng văn bản) theo yêu cầu của cơ quan chức năng trước yêu cầu được thừa nhận cháu An là con của ông Hiệp.

Trong tình huống trên cho thấy qua xét nghiệm ADN thì cháu An là con đẻ của ôngHiệp với bà Duy Và bà Duy cũng thống nhất với yêu cầu của ông Hiệp, thừa nhận ôngHiệp là cha ruột của cháu An Nên căn cứ theo khoản 1 Điều 88 LHNGĐ 2014 có quy

định: “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng” thì việc xác định con chung thuộc trường hợp sinh ra trước kết

hôn được cha mẹ thừa nhận

Thẩm quyền xác định cha, mẹ, con trong tình huống trên sẽ tiến hành theo thủ tụchành chính Vì ông Lãm không có tranh chấp về việc xác định cháu An là con đẻ củaông Hiệp và bà Duy (ông Lãm không thể hiện ý kiến bằng văn bản theo yêu cầu của cơquan chức năng trước yêu cầu được thừa nhận cháu An là con ông Hiệp) Và việc ôngHiệp, bà Duy nhận lại cháu An là hoàn toàn tự nguyện Căn cứ theo Điều 24 Luật Hộ

tịch 2014 có quy định: “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký nhận cha, mẹ, con.” Như vậy, cơ

quan có thẩm quyền giải quyết là UBND cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc đượcnhận là cha, mẹ, con

Căn cứ theo Điều 25 Luật Hộ tịch 2014 và Điều 14 Thông tư 04/2020 thì người yêucầu đăng ký nhận cha, mẹ, con phải nộp đầy đủ các giấy tờ, chứng cứ để chứng minh

có quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch Như vậy, trong tìnhhuống trên, ông Hiệp đã có chứng cứ là kết quả xét ngiệm ADN của cháu An để chứngminh ông Hiệp và cháu An có quan hệ cha con với nhau Và trong thời hạn 03 ngàylàm việc kể từ ngày nhận đủ các giấy tờ, nếu việc ông Hiệp nhận cha con là đúng vàkhông có tranh chấp gì thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng ôngHiệp, bà Duy ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo cho Chủ tịch UBND cấp xã cấp tríchlục cho ông Hiệp

2.2 Anh Trung và chị Hà là vợ chồng hợp pháp Họ có con chung là Ngân, sinh

năm 2009 Năm 2014, anh Trung và chị Hà được Tòa án giải quyết cho ly hôn Theophán quyết của Tòa án, anh Trung được quyền trực tiếp nuôi con chung đến tuổi thànhniên và có khả năng lao động còn chị Hà có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

Tháng 8, 2016, chị Hà ra nước ngoài định cư và chung sống như vợ chồng với anhThụy (Anh Thụy là người Việt Nam định cư tại Liên Bang Nga từ năm 1995) Ngay

Ngày đăng: 24/11/2022, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w