1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÀI sản RIÊNG của vợ, CHỒNG TRONG CHẾ độ tài sản PHÁP ĐỊNH TIỂU LUẬN LUẬT hôn NHÂN GIA ĐÌNH

13 162 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 49,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG TRONG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN PHÁP ĐỊNH CHƯƠNG MỘT: TÌM HIỂU VỀ CÁC LOẠI TÀI SẢN. CHƯƠNG HAI: CÁC LOẠI TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG. CHƯƠNG BA: CHỨNG MINH TÀI SẢN RIÊNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN. CHƯƠNG BỐN: ÁP DỤNG THỰC TIỄN. CHƯƠNG NĂM: MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG TRONG CHẾ ĐỘ TÀI

SẢN PHÁP ĐỊNH

Trang 2

NỘI DUNG BÀI LÀM

Mỗi quốc gia muốn tồn tại và phát triển đều phải đi cùng với luật pháp Việt Nam cũng là một đất nước đang phát triển, song song cùng sự phát triển là vô vàn khó khăn đến từ những vấn đề

xã hội, kinh tế, giáo dục… Từ đó các luật, bộ luật cũng không ngừng sửa đổi, làm mới để phù hợp với các quy định, chuẩn mực của xã hội Những loại luật, bộ luật, văn bản quy định có tính chất khác nhau nhưng vẫn quy về cùng một bản chất là quy định về những chuẩn mực đạo đức của con người Luật Hôn nhân gia đình 2014 sau nhiều lần sửa đổi bổ sung, hiện là Luật hoàn thiện nhất đến thời điểm bây giờ, điều chỉnh và quy định

về quyền lợi, nghĩa vụ, tài sản của đối tượng tham gia Luật Hôn nhân gia đình 2014 là một trong những văn bản Luật có tính hoàn thiện cao, quy định hầu hết những vấn đề liên quan đến kết hôn; tài sản trong hôn nhân; các quy định về hôn nhân; quyền của cha mẹ đối với con cái; bảo vệ quyền lợi, quy định trách nhiệm cho toàn bộ đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân gia đình 2014 Thêm vào đó, Luật hôn nhân gia đình 2014 còn có thêm các quy định về độ tuổi kết hôn, danh mục về các tập quán lạc hậu về vấn đề hôn nhân gia đình cần được xóa bỏ hoặc cấm áp dụng Trong vô vàn vấn đề xã hội phức tạp được Luật Hôn nhân gia đình 2014 điều chỉnh và áp dụng, tác giả chọn ra một vấn đề được cho là khó giải quyết bậc nhất khi các

vụ ly hôn có tranh chấp xảy ra, đó là tài sản riêng của vợ, chồng trong chế độ tài sản pháp định đi kèm với quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng

CHƯƠNG MỘT: TÌM HIỂU VỀ CÁC LOẠI TÀI SẢN

Đầu tiên, cần tìm hiểu về các chế độ tài sản trong quan hệ vợ chồng Việc đặt ra các nguyên tắc chung cho các chế độ tài sản trong quan hệ hôn nhân gia đình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho vợ, chồng được quy định rõ trong Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 Hiện nay trong điều 28 Luật HNGĐ 2014 quy định hai chế độ tài sản được áp dụng cho vợ chồng bao gồm: chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản luật định Chế

độ tài sản theo thỏa thuận được hai bên vợ, chồng thỏa thuận

và lập ra theo hướng dẫn của khoản 47, 48, 49 Luật HNGĐ

2014 Chế độ tài sản luật định do pháp luật quy định tại điều 33

=> 46, 59, 64 luật HNGĐ 2014 được áp dụng khi trong hôn nhân không có thỏa thuận về tài sản của vợ, chồng Dù cho có

Trang 3

thỏa thuận về tài sản giữa vợ và chồng hay không có thỏa thuận thì giữa vợ, chồng luôn có 2 loại tài sản là phần tài sản chung và tài sản riêng

Khi xảy ra các vụ ly hôn của các cặp vợ chồng, thường phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ được chia đôi, song trong thực tiễn có rất nhiều tranh chấp về tài sản riêng, phần lớn thường là các tranh chấp về tài sản riêng của mỗi người trong thời kỳ hôn nhân

Ở phần bài luận này, tác giả xin đưa ra các mục phân tích theo hướng dẫn của pháp luật về tài sản riêng và những áp dụng thực tiễn

CHƯƠNG HAI: CÁC LOẠI TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG:

1 Tài sản riêng có trước thời kỳ hôn nhân:

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được tặng cho riêng

Tài sản được hình thành từ từ tài sản riêng, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trước thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của

vợ, chồng 1

Tài sản được chia riêng theo Thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng trước khi kết hôn có hình thức văn bản được công chứng xác thực.2

Tài sản có trước khi kết hôn bao gồm: tiền tiết kiệm ngân hàng, vàng, xe cộ, bất động sản nếu không có thỏa thuận nhập vào tài sản chung thì những tài sản đó là tài sản riêng Vì thế, không cần làm bất cứ thủ tục nào để xác nhận đó là tài sản riêng của mình

1 Trích Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình 2014

2 Trích Điều 48 Luật hôn nhân gia đình 2014

Trang 4

Tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân:

Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật Hôn nhân gia đình 2014; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng

Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ

Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác

Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.3 Theo hướng dẫn trên, có một số ví dụ cụ thể về khoản trợ cấp được coi là tải sản riêng như sau: tiền thai sản của người vợ (tiền thai sản là khoản tiền được hưởng theo ưu đãi của pháp luật về lao động khi phụ

nữ sinh con có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và đáp ứng đầy đủ các điều kiện tại Luật BHXH) vì vậy tiền thai sản là tài sản riêng gắn liền với nhân thân của người vợ

Khoản 2 Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định: "Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ và chồng" Giả như anh A và chị B là vợ chồng, cùng đăng ký mua căn hộ chung cư thì trên giấy tờ phải ghi tên cả anh A và chị B

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản chung và riêng trong quá trình hôn nhân mà vợ, chồng có yêu cầu về việc chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản riêng góp và khối tài sản chung đó rồi sau đó mới chia tài sản chung trừ

trường hợp bên vợ, chồng có thỏa thuận khác Trường hợp trên được pháp luật quy định tại Khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân gia đình 2014

3 Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP

Trang 5

CHƯƠNG BA: CHỨNG MINH TÀI SẢN RIÊNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN:

Pháp luật hiện nay đã quy định rất cụ thể và vấn đề tài sản chung và riêng trước, trong và sau thời kỳ hôn nhân Nhưng việc

chứng minh tài sản riêng sau khi ly hôn không phải là việc dễ

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung 4

Để nhận được tài sản riêng sau ly hôn, pháp luật yêu cầu bên vợ hoặc chồng phải chứng minh được phần tài sản riêng có trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm:

Phần tài sản riêng thỏa thuận có công chứng Giấy tờ mua bán, tặng cho và các hóa đơn, chứng từ về tài sản có trước hôn nhân (giấy chứng nhận quyền sở hữu bất động sản, xe cộ,…)

Thực tế trong cuộc sống, thông thường là tài sản rất lớn, rất quan trọng thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu mới ghi tên của cả vợ chồng (nhà ở, quyền sử dụng đất,…) Có những loại tài sản khi đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận chỉ ghi tên của một người là vợ hoặc chồng (xe máy, xe ôtô, máy bay ) Phần tài sản vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân dù đại diện đứng tên vợ hoặc chồng nhưng khi ly hôn

không có tranh chấp sẽ được tính là tài sản chung Nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì bên vợ hoặc chồng phải chứng minh đó

là phần tài sản được thừa kế riêng, cho tặng riêng hoặc có được

từ nguồn tài sản riêng5 Trong thực tiễn cuộc sống, pháp luật đã quy định rõ về người đại diện tài sản vợ, chồng trong Điều 26 Luật Hôn nhân gia đình 2014

Thủ tục tách tài sản từ tài sản chung thành tài sản riêng hoặc nhập tài sản từ tài sản riêng thành tài sản chung chỉ có ý nghĩa

áp dụng đối với quyền sử dụng đất, nhà ở có thể đứng tên 2 người, các phương tiện khác như xe cộ chỉ ghi tên 1 người trên giấy tờ sở hữu (giấy chứng nhận quyền sở hữu xe) nên vợ,

4 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình 2014

5 Hướng dẫn tại điểm b Mục 3 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP

Trang 6

chồng sẽ đại diện cho nhau đứng tên trên giấy chứng nhận Khi xảy ra tranh chấp sẽ căn cứ xác định thời gian tạo lập tài sản để phân chia tài sản chung vợ chồng dù đứng tên một người thì người còn lại vẫn được phân chia Quy định cũng có thể áp dụng cho cổ phần, cổ phiếu và phần góp vốn trong các doanh nghiệp,

dự án Việc tách tài sản chung của vợ, chồng sẽ dẫn đễn những hậu quả pháp lý nhất định Khi chấp nhận thỏa thuận tách tài sản thì kết quả tài sản sẽ từ tài sản chung thành tài sản riêng và sau khi ly hôn chỉ có một người vợ hoặc chồng có quyền và nghĩa vụ đối với tài sản Nếu vẫn trong thời kỳ hôn nhân, tài sản riêng của vợ hoặc chồng khi thực hiện giao dịch như: mua bán, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh… chỉ cần ý kiến của một người sở hữu tài sản Phần tài sản riêng thỏa thuận có hợp đồng công chứng là minh chứng rạch ròi nhất nếu xảy ra ly hôn có tranh chấp về tài sản

Tìm hiểu căn cứ pháp lý về tài sản thỏa thuận, bao gồm: Luật Hôn nhân gia đình 2014, Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày

31/12/2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình Văn bản Luật và Nghị định ở trên quy định những điều về thời điểm xác lập thỏa thuận, hình thức và nội dung giúp các tranh chấp về tài sản riêng nếu có diễn ra sau này sẽ dễ dàng giải quyết hơn

Theo hướng dẫn của Điều 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP Phần tài sản mà vợ chồng được cho, tặng, thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân, có bằng chứng hợp pháp ( hợp đồng tặng cho, chứng

từ về phân chia di sản thừa kế, giấy chứng nhận đăng ký quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu đối với tài sản), nếu như trước đó không có thỏa thuận về việc nhập vào tài sản chung thì sẽ được coi là tài sản riêng của vợ hoặc chồng là người đợc tặng cho, thừa kế Khi ly hôn xảy ra tranh chấp thì phần tài sản đó được tính như tài sản riêng Trong thời kỳ hôn nhân, nếu bên vợ hoặc chồng dùng tài sản riêng để mua bất động sản hay những vật có giá trị lớn cần giấy chứng nhận quyền sử dụng, phải thông qua những thủ tục chứng nhận tài sản riêng có công chứng Về mặt thủ tục giấy tờ cần có được văn bản thoả thuận về tài sản riêng

có chữ ký xác nhận của vợ hoặc chồng và công chứng tại các cơ quan có thẩm quyền

Tác giả xin đưa ra một ví dụ về mặt thực tiễn Chị A và anh B kết hôn năm 2015, năm 2017 chị A dùng tiền đi làm tích góp được

Trang 7

mua cho ba mẹ ruột chị A căn nhà dưới quê trị giá 2 tỷ và đứng tên chị A Trong thời gian đó không có thoả thuận về phần tài sản riêng giữa chị A và anh B Năm 2020 chị A và anh B làm thủ tục ly hôn, anh B muốn tranh chấp căn nhà 2 tỷ với lý do lúc đó chỉ đại diện đứng tên chị A và phần tiền và công sức xây căn nhà lúc đó anh B cũng góp vào, bố mẹ chị A cho cả hai vợ chồng

để lập nghiệp Trường hợp này rất khó giải quyết vì chị A xây nhà bằng tiền do lao động và cũng không chứng minh được phần tiền lao động đó có đóng góp của anh A hay không Do đó, trong thời kỳ hôn nhân, bên vợ hoặc chồng muốn mua những tài sản có giá trị lớn nên lập các thoả thuận về tài sản riêng Trong trường hợp này, pháp luật sẽ xử lý đây là tài sản chung nhưng xác định đóng góp của chị A nhiều hơn anh B

CHƯƠNG BỐN: ÁP DỤNG THỰC TIỄN

Một số vụ việc tranh chấp tài sản xảy ra trong đời sống xã hội:

1 Tranh chấp về tài sản được cho, tặng riêng:

Chị A được cha mẹ ruột mua tặng riêng cho chiếc xe hơi trị giá 2

tỷ đồng sau khi kết hôn với anh B được 1 năm Khi ly hôn, anh B chồng chị A muốn chia tài sản là chiếc xe hơi với lý do “trong thời gian kết hôn bố mẹ vợ mua cho hai vợ chồng chị A và anh B chiếc xe hơi để tiện bề đi lại” Chị A lại khẳng định đây là tài sản riêng được cha mẹ cho riêng không liên quan gì đến anh B

nhưng không đưa được minh chứng, hóa đơn hay thỏa thuận về việc được cha mẹ cho, tặng riêng chiếc xe hơi Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình thì tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng Nếu từ ban đầu chị A không muốn nhập chiếc xe hơi làm tài sản chung với chồng thì bắt buộc phải làm thỏa thuận có công chứng về phần tài sản riêng, sau khi ly hôn chiếc xe hơi hoàn toàn là tài sản riêng của chị A

2 Án lệ số 03/2016/AL về tài sản được cho mượn, dùng tạm

Nội dung vụ án như sau: Anh Nam và chị Hồng kết hôn, được bố

mẹ anh Nam (tức bố mẹ chồng chị Hồng) cho một thửa đất để

Trang 8

làm ăn sinh sống Thửa đất vốn do Ủy ban nhân dân cấp đất giãn dân cho bố anh Nam nhưng ông chưa đi làm chứng tờ và chưa có sổ đỏ Theo lời khai của bố anh Nam, ông chỉ cho vợ chồng anh Nam và chị Hồng “mượn” đất để sinh sống chứ

không cho hẳn, song anh Nam và chị Hồng đã cất nhà ba tầng trên thửa đất của bố anh Nam, sau đó anh Nam tự ý đi làm công chứng và giấy tờ quyền sử dụng đất đứng tên anh Nam Sau khi

ly hôn và có tranh chấp về tài sản, chị Hồng khẳng định thửa đất là tài sản chung của hai vợ chồng, còn phía anh Nam và bố anh Nam khẳng định thửa đất chỉ là cho anh Nam, chị Hồng sử dụng tạm, không phải cho làm tài sản riêng vợ chồng, việc anh Nam đi làm chứng nhận sử dụng đất là tự ý và khẳng định đó vẫn là tài sản riêng của gia đình anh Nam chứ không hề thỏa thuận chia làm tài sản chung cho phía vợ chồng chị Hồng

Tại lần xét xử đầu tiên Bản án sơ thẩm số 03/2011/HNGĐ-ST ngày 17-5-2011, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố

Hà Nội đã quyết định chỉ có căn nhà ba tầng là thuộc tài sản chung của vợ chồng anh Nam chị Hồng, thửa đất thuộc về tài sản riêng của hộ gia đình anh Nam Bản án phúc thẩm số

105/2011/LHPT cũng giữ nguyên giống bản án sơ thẩm nhưng khi đến Hội đồng xét xử giám đốc thẩm Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao thì đưa ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm trên để xét xử lại với các lý do: Anh Nam và chị Hồng xây nhà trên thửa đất của bố anh Nam trong khoảng thời gian dài nhưng phía gia đình anh Nam không có phản ứng ngăn cản hay can thiệp cũng như ngầm công nhận đây là tài sản chung của vợ chồng anh Nam chị Hồng

Nhận định trên góc nhìn pháp luật: Phía gia đình anh Nam cho

vợ chồng anh Nam chị Hồng mượn đất để sinh sống tạm thời nhưng không có thỏa thuận cũng như chứng từ cụ thể Anh Nam khi đi làm quyền sử dụng đất đứng tên riêng anh Nam nhưng không có thỏa thuận thửa đất là tài sản riêng hay chứng cứ được

bố anh Nam cho, tặng riêng anh Nam trông thời kỳ hôn nhân Khi anh Nam và chị Hồng cất nhà trên thửa đất cũng không ai trong gia đình anh Nam có khiếu nại hay kiện cáo như thầm thừa nhận tài sản chung của vợ chồng anh Nam chị Hồng Từ đó khi có tranh chấp về ly hôn và tài sản riêng thì rất khó xác minh được thửa đất hiện là tài sản chung hay riêng gia đình anh Nam Pháp luật công nhận thửa đất là tài sản chung của anh Nam chị Hồng nhưng phần tài sản góp của anh Nam nhiều hơn là hợp lý với cả gia đình anh Nam và cả chị Hồng

Trang 9

Bình luận của tác giả: Thửa đất của gia đình anh Nam nếu từ ban đầu được thống nhất với chị Hồng là chỉ cho “mượn” để làm

ăn và có thỏa thuận bằng chứng từ rằng đấy là tài sản riêng của anh Nam thì sau khi ly hôn tranh chấp thì tòa mới nhận định thủa đất là tài sản riêng của anh Nam được Chị Hồng và anh Nam đã cất nhà 3 tầng trên đất (tài sản chung) mà không ai trong gia đình anh Nam khiếu nại xem như ngầm thừa nhận thửa đất là tài sản chung của vợ chồng anh Nam chị Hồng Chị Hồng cùng anh Nam có hai người con nên việc tranh chấp thửa đất cũng là vì con là hợp lý và chị Hồng cũng có góp công sức và tài sản để xây nên căn nhà 3 tầng

3 Tranh chấp về tài sản là hoa lợi, lợi tưc phát sinh từ tài sản

riêng:

Chị X có một cửa hàng quần áo trước khi kết hôn với anh Y Sau khi kết hôn với anh Y, chị X có làm bản thỏa thuận rằng cửa hàng quần áo là tài sản riêng của chị X và có công chứng tại văn phòng Sau 4 năm chung sống, chị X và anh Y làm thủ tục ly hôn, phần tiền lãi của cửa hàng quần áo mỗi năm được 100 triệu VNĐ và sau 4 năm thu được 400 triệu VNĐ được gửi trong tài khoản ngân hàng và chưa sử dụng đến Chị X muốn được sở hữu toàn bộ số tiền vì cho rằng đây là lợi tức sinh ra từ tài sản riêng của chị X có thỏa thuận công chứng

Trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật, cửa hàng quần áo là tài sản riêng của chị X vì được thành lập và đưa vào hoạt động trước khi đăng ký kết hôn với anh Y (Khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình 2014, tài sản có được trước khi kết hôn

là tài sản riêng) dù chị X có làm thủ tục công chứng hay không, trừ trường hợp chị X làm thủ tục nhập cửa hàng quần áo làm tài sản chung Về khoản tiền lãi phát sinh từ cửa hàng quần áo trong 4 năm kết hôn, pháp luật quy định đó là tài sản chung của

vợ chồng (điều 40 Luật Hôn nhân gia đình 2014, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng được chia như tài sản chung), trừ trường hợp chị X có thỏa thuận công chứng với anh Y về phần lợi tức đó là tài sản riêng của chị X

riêng:

Trang 10

Ông A là thương binh, mỗi tháng được nhận được khoản trợ cấp của nhà nước được các cơ quan có thẩm quyền thông qua

Nhưng ông A phải thực thiện nghĩa vụ cấp dưỡng với mẹ ông A

là cụ C đã 80 tuổi và không có khả năng chăm sóc cho bản thân Thu nhập duy nhất của ông A đến từ khoản trợ cấp nhà nước ông A, song ông A không sử dụng khoản trợ cấp để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cụ C mà đẩy hoàn trách nhiệm chăm sóc và cấp dưỡng cụ C cho vợ mình là chị B Câu hỏi đặt ra là chị

B có thể tự ý quyết định phần trợ cấp dành cho thương binh của nhà nước cấp cho anh A hay không?

Đầu tiên Theo quy định chính xác của Khoản 3 Điều 11 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ thì khoản trợ cấp cho ông A là người có công với cách mạng thuộc

về tài sản riêng gắn liền với nhân thân của ông A Tuy nhiên, phần tiền trợ cấp mặc dù là tài sản riêng của ông A, nhưng do ông A còn nghĩa vụ cấp dưỡng cụ C nên chị B có quyền quản lý,

sử dụng phần tiền trợ cấp thương binh tức tài sản riêng của ông

A và việc cấp dưỡng cụ C theo hướng dẫn của Khoản 3 Điều 44 Luật Hôn nhân gia đình 2014 “nghĩa vụ riêng của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó” Nếu như chị B là người không có thu nhập hoặc thu nhập thấp, khoản trợ cấp thương binh của ông A cũng phải thông qua sự định đoạt, đồng

ý của chị B (khoản 4 điều 44 Luật Hôn nhân gia đình 2014)

CHƯƠNG NĂM: MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT:

5 Vợ hoặc chồng chết, người còn lại sẽ được nhận 1 phần tài sản riêng của người đã chết sau khi chia tài sản chung

Trong trường hợp người vợ hoặc chồng chết hay được Tòa án tuyên là đã chết thì người còn lại sẽ được quản lý tài sản chung của người đã chết, trừ trường hợp người đã chết có di chúc chỉ định người khác quản lý tài sản hoặc di chúc chỉ định người thừa

kế khác6 Người vợ hoặc chồng còn sống sẽ nhận được một nửa phần tài sản chung theo vợ chồng và phần tài sản riêng được thừa kế từ vợ hoặc chồng đã chết theo Bộ Luật Dân Sự 2015 Người vợ hoặc chồng còn sống sẽ được hưởng phần tài sản riêng của người đã chết theo thứ tự hàng thừa kế thứ nhất7 Dù cho

6 Điều 66 Luật hôn nhân gia đình 2014

7 Điều 651 Bộ Luật Dân Sự 2015

Ngày đăng: 06/01/2022, 12:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w