1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề cương luật quốc tế

10 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ về những nguyên tắc của Luật quốc tế giải thích nội dung của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia như sau: 1 Các quốc gia bình đẳng

Trang 1

câu 1 : vai trò luật quốc tế trang 22 giáo trình

Câu 2: Trình bày các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế?

1 Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là một trong những nguyên tắc cơ bản được thừa nhận rộng rãi của Luật quốc tế hiện đại và được ghi nhận rộng rãi trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng.

Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là một nguyên tắc quan trọng trong chính sách đối ngoại và nhà nước ta.

Hiến chương Liên hợp quốc nguyên tắc bìng đẳng về chủ quyền của các quốc gia là nguyên tắc của Luật quốc tế và cũng là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của tổ chức quốc tế rộng rãi này

Điều 2, khoản 2 Hiến chương ghi rõ: Liên hợp quốc thành lập trên nguyên tắc bình đẳng

về chủ quyền giữa tất cả các nước thành viên.

Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ về những nguyên tắc của Luật quốc tế giải thích nội dung của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia như sau:

(1) Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý;

(2) Mỗi quốc gia đều được hưởng đầy đủ những quyền xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền;

(3) Mỗi quốc gia đều phải có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và thiện chí những nghĩa vụ quốc tế của mình đã tự nguyện cam kết;

Trong quan hệ quốc tế, nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia biểu hiện qua những quan điểm sau đây:

Thứ nhất, tất cả các quốc gia đều bình đẳng về mặt pháp lý Các quốc gia không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, có kinh tế và quốc phòng mạnh hay yếu, không phụ thuộc vào chế độ chính trị và xã hội của họ, đều là những thành viên bình đẳng của cộng đồng quốc

tế, có quyền giao tiếp với bất cứ nước nào, tổ chức nào mà họ muốn Mọi quuốc gia từ khi mới thành lập đều có quyền cơ bản đó, hoàn toàn không phụ thuộc vào sự công nhận của các quốc gia khác.

Thứ hai, tất cả các quốc gia đều có những quyền làm nghĩa vụ quốc tế cơ bản như nhau Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, các quốc gia có quyền như nhau không phụ thuộc vào quy chế thực tế của họ Đồng thời, các quốc gia cũng có nghĩa vụ như nhau, phải tôn trọng nhũng nguyên tắc cơ bản và các quy phạm mệnh lệnh khác của Luật quốc tế.

Thứ ba, tất cả các quốc gia đều có quyền như nhau được tôn trọng về quốc thể, về sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị độc lập.

Chính sách đối ngoại của các nước xuất phát từ quan điểm hoà bình, hợp tác, sẵn sàng quan hệ bình thường với các nước chế độ khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau bình đẳng, cùng có lợi.

Thứ tư, mỗi quốc gia có quyền được tự do tham gia vào việc giải quyết vấn đề liên quan đến lợi ích của họ không một quốc gia nào có quyền trước đó của một quốc gia khác Thực tiễn này dược áp dụng rộng rãi trong liên hợp quốc và một số tổ chức quốc tế khác Thứ năm, khi giải quyết những vấn đề quốc tế trong phạm vi các tổ chức và hội nghị

Trang 2

quốc tế, mỗi quốc gia đều sử dụng một lá phiếu có giá trị ngang nhau Trong phần lớp các

tổ chức quốc tế, các quốc gia không kể lớn hay nhỏ, đóng góp nhiều hay ít chi phí cho tổ chức quốc tế, đều sử dụng một chi phí như nhau.

Thứ sáu, các quốc gia ký điều ước với nhau phải trên cơ sở phải bình đẳng, không có một quốc gia nào có quyền áp đặt những điều kiện không bình đẳng đối với quốc gia khác Cho nên, mọi điều ước không bình đẳng do nước này dùng áp lực để áp buộc nước kia phải ký kết là nhưng điều ước không hợp pháp và do đó, không có hiệu lực pháp lý, bởi

và chúng đi ngược lại nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia.

Xuất phát từ nguyên tắc nêu trên, các quốc gia đồng thời có nghĩa vụ phải thực hiện đầy

đủ và thiện chí mọi nghĩa vụ quốc tế của mình đã tự nguyện cam kết.

Cuối cùng, bởi lẽ các quốc gia là những thành viên bình đẳng trong cộng đồng quốc tế, cho nên mọi quốc gia đều được hưởng quyền miễn trừ như nhau

2 Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác

Nguyên tắc không can thiệp là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, theo

đó tất cả các quốc giai chấp hành có nghĩa vụ không được tiến hành những hành động can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền của quốc gia khác

Nguyên tắc không can thiệp hệ quả của nguyên tắc chủ quyền quốc gia Việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, tức là tôn trọng quyền tối cao ở trong nước và quyền độc lập trong

quan hệ quốc tế của quốc gia, đương nhiên phải tôn trọng hoạt động thuộc thẩm quyền nội bộ của quốc gia đó, nên đòi hỏi các quốc gia không được can thiệp vào lình vực hoạt động này

Theo tuyên bố này, nội dung của nguyên tắc không can thiệp bao gồm:

- Cấm can thiệp vũ trang và những hình thức can thiệp hoặc đe doạ can thiệp khác nhằm chống lại chủ quyền, hoặc nền tảng chính trị, kinh tế, văn hoá của quốc gia khác

- Vấm dùng biện pháp kinh tế, chính trị, để bắt quốc gia khác phải phụ thuộc mình

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích, giúp đỡ những phần tử hoạt động phá hoại hoặc khủng bố nhằm lật đổ quốc gia khác

- Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ ở các quốc gia khác

- Mỗi quốc gia đều có quyền tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá, không có sự can thiệp của nước ngoài

Tóm lại, nguyên tắc không can thiệp ngày nay đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và được ghi nhận trong hầu hết văn bản pháp lý quốc tế hai bên cũng như nhiều bên

3 Nguyên tắc dân tộc tự quyết

Theo bản tuyên bố năm 1970 về những nguyên tắc của Luật quốc tế nội dung của nguyên tắc dân tộc tự quyết được giải thích như sau:

- Tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định quy chế chính trị của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài, và tự do quyết định sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hoá của dân tộc mình

- Tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền này của các dân tộc

- Tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ phải thúc đẩy các dân tộc thực hiện quyền tự quyết của họ

Trang 3

- Cấm không được thống trị và bốc lột dân tộc khác Phải xoá ngay lập tức chủ nghĩa thực dân.

- Các dân tộc thuộc địa có quyền sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đấu tranh giành độc lập Sau khi giành được độc lập, các dân tộc có thể thành lập quốc gia dân tộc độc lập của mình hay liên minh với quốc gia khác đã có hoặc các dân tộc khác cũng vừa mới giành được độc lập, dưới hình thức liên bang, hợp bang, theo cách nhìn nhận của mình

Các dân tộc dành được độc lập chính trị và đã thành lập được quốc gia độc lập của mình có thêm một cơ sở pháp lý một vũ khí có hiệu lực để cũng cố nền độc lập chính trị của mình và đấu tranh chống lại sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc nhằm giành được chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt với toàn bộ tài nguyên thiên nhiên của dân tộc và nhằm đấu tranh thiết lập một trực tự kinh tế quốc tế mới

4 Nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Theo tuyên bố năm 1970, nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế có những nội dung sau đây:

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác, kể cả

vi phạm biên giới quốc gia của nước khác, với giới tuyến ngừng bắn;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực chống lại nền độc lập chính trị của quốc gia khác;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực làm biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế;

- Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược;

- Cấm dùng vũ lực để ngăn cản các dân tộc thực hiện quyền dân tộc tự quyết cuả họ;

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích bọn phỉ, kể cả lýnh đánh thuê, để xâm lựơc lãnh thổ quốc gia khác;

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích ủng hộ hoặc tham gia vào những cuộc nội chiến hoặc khủng bố

ở nước khác;

- Cấm dùng vũ lực để chiếm đóng lãnh thổ quốc gia khác một cách trái với Hiến chương Liên hợp quốc;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia khác; tức xâm lược

vũ trang

5 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa bình.

Điều 2 khoản 3 Hiến chương Liên hợp quốc quy định: tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp của họ bằng những phương pháp hoà bình, làm sao để khỏi gây ra sự đe dọa cho hoà bình, an ninh thế giới và công lý

Trước hết, nội dung của nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hoà bình phải thể hiện ở chỗ các quốc gia có nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp và xung đột giữa họ với nhau chỉ bằng những phương pháp hoà bình

Theo Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên bố năm 1970 nêu lên một số phương pháp hoà bình, đó là: đàm phán, điều tra, trung gian hoà giải, trọng tài, Tòa án thông qua cơ các quan hay hiệp định khu vực, hoặc bằng những phương pháp hoà bình khác mà các bên tự chọn Rõ ràng, Luật quốc tế hiện đại chưa quy định hết những pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp quốc

tế, mà mới chỉ nêu lên một số phương pháp thông dụng nhất và giành cho các quốc gia quyền tự lựa chọn những phương hoà bình khác mà, theo họ là hợp lý Ngay cả đối với những phương

Trang 4

pháp đã nêu trên, Luật quốc tế hiện đại cũng không bắt buộc phải nhất thiết sử dụng phương pháp nào Quyền lựa chọn thuộc về các bên tranh chấp

Chỉ có một điều bắt buộc tất cả các quốc gia là: giải quyết tranh chấp quốc tế bằng những phương pháp hoà bình Mọi phương pháp bạo lực, cưỡng ép doạ dẫm, đều bị nghiêm cấm Căn cứ vào tuyên bố năm 1970, một khi các bên tranh chấp đã sử dụng phương pháp hoà bình này để giải quyết tranh chấp, nhưng chưa đạt được kết quả, thì phải tìm phương pháp hoà bình khác để giải quyết

6 Nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế (Pacta Sunt Servanda).

Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda được gải thích cụ thể trong tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế có nội dung bao gồm các điểm sau:

- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện một cách thiện chí những nghĩa vụ mà mình đã cam kết phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và Luật quốc tế hiện đại

Những nghĩa vụ đã cam kết ở đây chủ yếu gồm những nghĩa vụ phát sinh từ điều ước, và những

và những nghĩa vụ phát sinh từ các nguồn khác, ví dụ, từ tập quán quốc tế Nhưng tất cả những nghĩa vụ đó phải phù hơp với những điêu quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc mà trước hết là nhưng mục đích và nguyên tắc của tổ chức này

Như vậy, đối với những nghĩa vụ không phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc thì sẽ không được thi hành

Các quốc gia cũng sẽ không thi hành các cam kết bất bình đẳng Lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy không ít những điều ước quốc tế không hợp pháp Điển hình là hiệp ước Mu-ních ngày 29 tháng 9 năm 1938 Những điều ước như vậy không có giá trị pháp lý cho nên không thể ràng buộc các bên đã ký kết Vì vậy các quốc gia không có nghĩa vụ phải thực hiện chúng

- Nếu những cam kết phát sinh từ điều ước quốc tế trái với những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc thì những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc sẽ được ưu tiên thi hành Liên hợp quốc là tổ chức quốc tế rộng rãi nhất bao gồm hầu hết các quốc gia trên thế giới Việc tham gia Liên hợp quốc không cản trở các quốc gia ký kết những điều ước tay đôi, cũng như nhiêu bên Nhưng nội dung của những điều ước này không được trái với Hiến chương Liên hợp quốc(Điều

52 Hiến chương Liên hợp quốc) Do vậy, trong trường hợp những cam kết phát sinh từ điều ước quốc tế trái với nhưng cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc quy định, thì những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc sẽ được ưu tiên thi hành một cách nghiêm chỉnh (điều 103 hiến chương liên hợp quốc) Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda cũng không áp dụng với những điều ước khi ký kết vi phạm những quy định về thẩm quyền và thủ tục ký kết chúng

Trong thực tiễn, điều ước quốc tế, cam kết quốc tế cũng có thê không được thi hành khi những điều kiện để thi hành nó đã thay đổi về cơ bản (Rebus Sic Stantibus)

Tóm lại, có thể nêu tóm tắc nội dung của nguyên tắc pacta sunt servanda như sau: Các quốc gia

có nghĩa vụ phải thực hiện một cách thiện chí và đầy đủ những nghĩa vụ của mình, trước hết là những nghĩa vụ phát sinh từ những điều ước quốc tế được ký kết một cách hợp pháp và có nội dung không trái với những nguyến tắc cơ bản của Luật quốc tế

Câu 3: Các nguyên tắc cơ bản của Luật biển quốc tế?

1 Nguyên tắc tự do biển cả.

Đây là một nguyên tắc cơ bản, hình thành từ lâu đời của Luật biển Theo đó, biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển được khai thác, sử dụng và quản lý Công ước Luật biển 1982 cũgn tạo ra cơ sở pháp lý để các quốc gia được thự hiện quyền tự do biển cả

Trang 5

trong nhiều lĩnh vực khác nhau: tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, tự do xây dựng các đảo nhân tạo, tự do đánh bắt hải sản, tự do nghiên cứu khoa học Nguyên tắc tự do biển cả đóng vai trò là cơ sở pháp lý cho việc xác định và thiết lập chế độ pháp lý của các vùng biển khác nhau Ở đây có thể thấy, ở các vùng biển khác một số quyền tự do tương tự quyền tự do biển cả cũng được thừa nhận như quyền tự do hàng hải, tự do hàng không,

tự do lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Ngoài ra, nguyên tắc này còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh pháp lý đối với các hoạt đọng khai thác tìa nguyên thiên nhiên ở biển cả và đáy đại dương Mặt khác, nguyên tắc tự do biển cả

là cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề về khai thác tài nguyên thiên hiên ở thềm lục địa, đáy biển và vùng đặc quyền kinh tế Cuối cùng, nguyên tắc này cũng là cơ sở để thiết lập chế độ bay

tự do trên biển cả và eo biển quốc tế theo quy chế của không phận quốc tế

2 Nguyên tắc sử dụng hợp lý và bảo tồn tài nguyên biển.

Có thể nói, biển đã và đang đóng góp rất lớn vào đời sống của loài người Tuy vậy, đứng trước sự khai thác, sử dụng biển quá mức và vô kế hoạch như hiện nay, tài nguyên biển đang có nguy cơ bị cạn kiệt Một số loài sinh vật sống đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và sẽ không bao giờ khôi phục lại được Chính vì lẽ đó, nguyên tắc sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên biển thực

sự có ý nghĩa trong luật biển, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay Nguyên tắc này yêu cầu các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo sao cho hoạt động khai thác và sử dụng biển phải được tiến hành một cách hợp lý và kèm theo hoạt động bảo tồn

Nguyên tắc này được gián tiếp ghi nhận tại điều 116 của Công ước 1982: “Tất cả các quốc gia đều có quyền cho phép công dân của mình đánh bắt hải sản ở biển cả, với điều kiện: Tuân thủ các nghĩa vụ được ghi nhận trong Công ước, tôn trọng các quyền và lợi ích của quốc gia ven biển ” Một số quy định khác của Công ước 1982 cũng ghi nhận nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo tồn biển Điều 117 ghi nhận nghĩa vụ của các quốc gia có các biện pháp bảo tồn tài nguyên sinh vật biển cả đối với các công dân của mình; Điều 118 ghi nhận sự hợp tác của các quốc gia trong việc bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật trên biển; điều 119 ghi nhận việc bảo tồn tài nguyên sinh vật của biển cả; và điều 120 ghi nhận việc bảo tồn và quản lý các loài có vú ở biển

3 Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển.

Biển là nguồn cung cấp thức ăn, nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội, đồng thời biển cũng là môi trường sống của con người Theo đà phát triển kinh biển, môi trường biển đang bị suy thoái

và ô nhiểm nghiêm trọng Chính vì vậy, bảo vệ môi trường biển là góp phần vảo việc bảo vệ môi trường sống và tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của xã hội loài người Để làm được điều

đó đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực của từng quốc gia riêng lẻ mà còn là sự hợp tác của cộng đồng quốc tế Trong thời gian qua, nhiều thảo thuận đa phương đã được ghi nhận trong việc bảo vệ môi trường biển Chẳng hạn Công ước 1954 về ngăn ngừa ô nhiểm dầu trên biển; Công ước London năm 1972 về ngăn ngừa ô nhiểm biển tù các chất thải do tàu và các chất thải khác; Công ước

1973 về ngăn ngừa ô nhiểm từ các chất thải do tàu; Công ước Bruc-xen năm 1969 về các biện pháp chống ô nhiểm do các vụ tai nạn trên biển cả

Xác định bảo vệ môi trường biển cũng là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, Công ước luật biển 1982 cũng quy định về nguyên tắc này Theo đó, các quốc gia có nghĩa vụ bảo

vệ và giữ gìn môi trường biển Để thực hiện việc bảo vệ môi trường biển, Công ước có nhiều quy định: xác định các biện pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế và chế ngựô nhiểm môi trường biển; hợp tác trên phạm vi thế giới và khu vực nhằm bảo vệ và giữu gìn môi trường biển; trợ giúp kỷ thuật cho các nước đang phát triển trong việc bảo vệ và giữu gìn môi trường biển; giám sát việc đánh

cá và sinh thái biển

Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển cũng là một sự thể hiện mối quan hệ giữa sử dụng và bảo tồn trong khai thác môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng Do vậy, việc hiểu và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc này của các quốc gia có ý nghĩa to lớn trong việc bào tồn và duy trì

Trang 6

một môi trường sống bền vững cho xã hội loài người.

4 Nguyên tắc sử dụng biển cả vì mục đích hoà bình.

Biển cả hay biển quốc tế là vùng biển chung của cộng đồng, có diện tích rộng lớn, có nguồn tài nguyên phong phú Đây cũng là nơi mà hoạt động đánh bắt, khai thác của con người diễn ra khá hạn chế do nhiều nguyên nhân về mặt kỷ thuật, công nghệ Tuy vậy, biển cả cũng chính là nơi

dễ dẫn đến tình trạng suy thoái, cạn kiệt tài nguyên vì theo nguyên tắc chung, biển cả không thuộc về ai cả Chính vì vậy, biển cả cần phải được sử dụng đúng mục đích là vì hoà bình và lợi ích chung của nhân loại

Một trong những nội dung của nguyên tắc này là các quốc gia không được sử dụng vũ lực và

đe doạ dùng vũ lực ở vùng biển cả Điều này có nghĩa là cấm mọi hoạt động quân sự ở biển cả Trên cơ sở nguyên tắc này, Hiệp định về cấm phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí giết người hàng loạt khác ở đáy biển và biển cả được ký kết năm 1971 Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều nhà chuyên môn thì các quy định của Công ước 1982 về vấn đề này vẫn chưa cụ thể và chưa có một

cơ chế để thực thi trên thực tế Ví dụ trên thực tế nhiều cường quốc vẫn triển khai các tàu ngầm hạt nhân và tàu ngầm quân sự để nhằm kiểm soát vùng biển cả

Ngoài ra, nguyên tắc này cũng phải được hiểu thêm ở một khía cạnh khác đó là việc khai thác, sử dụng biển cả đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các quốc gia và hơn hết là phải có quy hoạch, kế hoạch nhằm đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng quốc tế

5 Nguyên tắc giữ gìn di sản chung của nhân loại.

Đây là một nguyên tắc đặc thù của luật biển, đặc biệt áp dụng cho vùng đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển-vùng biển được xem là di sản chung của nhân loại Theo nguyên tắc chung, vùng biển này là của chung, không thuộc về quyền sở hữu của bất kỳ một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào Trong thực tế thì việc khai thác và sử dụng vùng biển di sản này vẫn còn nhiều hạn chế do nhiều lý do Vấn đề quan trọng nhất đó là với khả năng công nghệ hiện tại của cong người, họ chưa thể tìm hiểu và đi xuống những độ sâu của vùng biển di sản Chính vị lẽ đó, hiện tại chúng ta vẫn chưa biết được chính xác ở vùng biển di sản tồn tại những loại tài nguyên gì, trữ lượng ra sao

Tuy vậy, việc quy định nguyên tắc giữ gìn di sản chung của nhân loại có ýnghĩa quan trọng trong việc hình thành và thực hiện chế độ pháp lý về khai thác tài nguyên thiên hiên ở đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển Nguyên tắc này bao gồm những nội dung sau:

• Không một quốc gia nào có thể đòi thực hiện chủ quyền hay các quyền thuộc chủ quyền khác ở một phần nào đó của vùng đáy biển và vùng lòng đất dưới đáy biển

• Không một quốc gia, pháp nhân hay cá nhân nào có thể chiếm đoạt bất cứ phần nào đó của vùng biển di sản

• Toàn thể loài người mà cơ quan Quyền lực quốc tế là đại diện có thẩm quyền tổ chức khai thác, quản lý và kiểm soát việc thực hiện các quyền đối với tài nguyên của vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển

• Hoạt động ở vùng đày biển và lòng đất dưới đáy biển được tiến hành vì lợi ích chung của nhân loại;

• Vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển chỉ có thể được sử dụng vào mục đích hoà bình

Câu 4: Quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải

Theo Điều 17 Công ước Luât biển 1982 thì“với điều kiện phải chấp hành Công ước, tàu thuyền của tất cả các quốc gia, có biển hay không có biển, đều được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải” Trên cơ sở quy định của Công ước Luật biển, tất cả tàu thuyền nước ngoài được

Trang 7

hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải của quốc gia ven biển.

1 Thứ nhất, giải thích một số thuật ngữ: “đi qua” và “đi qua không gây hại”.

Theo Điều 18 Công ước Luật biển 1982 thì đi qua lãnh hải được hiểu là: “a) Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thủy, không đậu lại trong một vũng tàu hoặc một công trình cảng ở bên ngoài nội thủy; hoặcb) Đi vào hoặc rời khỏi nội thủy, hoặc đậu lại hay rời khỏi một vũng tàu hay một công trình cảng trong nội thủy.”

Từ quy định trên có thể hiểu “đi qua” tức là đi qua lãnh hải để vào nội thủy; hoặc từ nội thủy đi

ra qua lãnh hải; hoặc đi qua lãnh hải mà không vào nội thủy Đi qua là trạng thái di chuyển liên tục của tàu thuyền, không được phép dừng lại (trừ trường hợp bất khả kháng như gặp sự cố thông thường về hàng hải, mắc cạn, hoặc vì mục đích cứu giúp người, phương tiện khác đang bị lâm nguy) Việc qua lại vô hại phải được tiến hành nhanh chóng và liên tục

Đi qua không gây hại được định nghĩa tại Điều 19 Công ước Luật biển 1982 như sau: “Việc đi qua là không gây hại, chừng nào nó không làm phương hại đến hòa bình, trật tự hay an ninh của quốc gia ven biển Việc đi qua không gây hại cần phải được thực hiện theo đúng với các quy định của Công ước vàcác quy tắc khác của pháp luật quốc tế”

Quyền đi qua không gây hại là một quyền mang tính tập quán Quyền này được thừa nhận vì lợi ích phát triển, hợp tác kinh tế và hàng hải của cả cộng đồng cũng như từng quốc gia Việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài bị coi là phương hại đến hòa bình, trật tự hay anh ninh của quốc gia ven biển nếu như ỏ trong vùng lãnh hải tàu thuyền tiến hành một hay bất kì hoạt động nào được quy định tại khoản 2 Điều 19 của Công ước Luật biển 1982

2 Thứ hai, về quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải theo quy định của Công ước Luật biển 1982.

Theo quy định của công ước Luật biển 1982, Điều 21 quy định các vấn đề cho phép các quốc gia ven biển có quyền ban hành các văn bản pháp luật và các quy tắc liên quan đến việc đi qua vô hại

Quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồng giao thông dành cho tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình Các tuyến đường này được định

ra phải phù hợp với các quy định của công ước

Các quốc gia ven biển không được quyền cản trở việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài Các quốc gia ven biển không được phép đưa ra các điều kiện cho tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình phải xin phép hoặc thông báo trước, cho dù quyền qua lại vô hại song song cùng chủ quyền quốc gia và không làm mất đi chủ quyền đó Theo quy định tại Điều

26, quốc gia ven biển cũng không được phép thu lệ phí đối với tàu thuyền nước ngoài qua đi qua lãnh hải Trừ trường hợp thu lệ phí để trả công cho các dịch vụ riêng đối với tàu thuyền mà quốc gia ven biển đã thực hiện như cung cấp lương thực, dai lắt tàu….Tuy nhiên, việc thu phí trong trường hợp này không được phân biệt đối xử giữa các tàu thuyền mang quốc tịch khác nhau Mặc dù chế độ đi qua không gây hại nhằm vì lợi ích chung của cả công đồng cũng như từng quốc gia để phát triển kinh tế, giao lưu hợp tác Tuy nhiên, quyền đi qua không gây hại không phải là quyền tuyệt đối Trong một số trường hợp cần thiết, quốc gia ven biển có thể thi hành các biện pháp cần thiết trong lãnh hải của mình để ngăn cản mọi việc đi qua có gây hại Để đảm bảo

an ninh quốc gia, quốc gia ven biển có thể tạm đình chỉ việc thực hiện quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài tại các khu vực nhất định trong lãnh hải của mình Việc tuyên bố tạm thời đình chỉ quyền qua lại vô hại chỉ có hiệu lực khi đã được thực hiện đúng thủ tục và không có sự phân biệt đối xử giữa các tàu thuyền nước ngoài

Trang 8

Theo Công ước 1982, trong vùng lãnh hải, tàu thuyền được phép đi qua không gây hại, bao gồm cả tàu quân sự Tuy nhiên, tàu ngầm phải đi ở tư thế nổi, tàu xi – teec (navires-citernes), các tàu chạy bằng động cơ năng lượng hạt nhân và các tàu chở các chất hay các nguyên liệu phóng xạ hoặc các chất khác vốn có nguy hiểm hay động hại có thể bị bắt buộc di chuyển theo tuyến đường nhất định để đảm bảo an ninh cho quốc gia ven biển Đối với tàu ngầm, sở dĩ phải đi nổi bởi vì đây là quyền đi qua không gây hại ở đây được hiểu là quyền đi qua không gây hại trên mặt nước Như vậy, tàu ngầm hoặc các phương tiện đi chuyển dưới mặt nước muốn hưởng quyền đi qua không gây hại thì phải đi ở tư thế nổi Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam, tàu quân

sự nước ngoài phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước khi thực hiện quyền đi qua không gây hại

Câu 5: So sánh quy chế pháp lý của nội thủy và lãnh hải?

Giống nhau:

• Nội thủy và lãnh hải đều là thuộc chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

• Đều phải tuân theo luật biển quốc tế.

• Đều phải tuân theo pháp luật quốc gia.

Khác nhau:

- Chủ quyền:

• Nội thủy: - Có chủ quyền hoàn toàn đầy đủ tuyệt đối Tàu thuyền nước ngoài vào phải xin phép trước.

• Lãnh hải: - Có chủ quyền hoàn toàn đầy đủ Khi vào lãnh hải không phải xin phép trước Và có thể qua lại vô hại.

- Quy chế pháp lý:

• Nội thủy: - Nội thủy gắn liền với lục địa và đặt dưới chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ

và tuyệt đối của quốc gia ven biển.

+ Chế độ qua lại của tàu thuyền nước ngoài:

Tàu quân sự: Về nguyên tắc bất kỳ tàu thuyền nào của nước ngoài muốn vào nội thủy của một nước ven biển phải xin phép trước và được phép vào mới được vào.

Tàu dân sự: Phải đi đến địa điểm đã quy định, chờ các lực lượng biên phòng, y tế, làm các thủ tục nhập cảnh và dẫn đường vào cảng.

• Lãnh hải: - Lãnh hải quốc gia ven biển có chủ quyền đầy đủ về lãnh hải của mình cũng như vùng trời ở phía trên, vùng đáy biển và lòng đất dưới lãnh hải.

+ Chế độ qua lại vô hại: Tàu thuyền đi trong tình trạng bình thường liên tục, không dừng lại, không thả neo, không có những hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển Việc qua lại phải nhanh chóng và liên tục.

Câu 6: Nhiệm vụ của tư pháp quốc tế

* Nhiệm vụ của Tư pháp quốc tế Việt Nam

Trong điều kiện hiện nay việc tăng cường hợp tác với tất cả các quốc gia, thực hiện việc đổi mới quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, tạo môi trường thuận lợi nhằm thu hút hoạt động đầu tư nước ngoài đã đặt ra trước khoa học Tư pháp quốc tế của nước ta những nhiệm vụ mới, liên quan đến việc xây dựng, soạn thảo những

Trang 9

văn bản pháp lý khác nhau điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, bảo hiểm và các quan hệ khác trong thực tiễn đời sống có yếu tố nước ngoài tham gia… Trên cơ sở này đã hình thành những nhiệm vụ chủ yếu của Tư pháp quốc tế ở Việt Nam đó là:

- Hoàn thiện về mặt pháp lý đối với quá trình hội nhập của nước ta trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế nói riêng và trong mọi mặt của đời sống xã hội của Nhà nước Việt Nam nói chung.

- Thúc đẩy việc áp dụng những hình thức hợp tác mới, sâu rộng hơn và mang lại hiệu quả hơn, trước hết là những hình thức khác nhau của hoạt động liên doanh, liên kết trong hoạt động kinh tế, thương mại.

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, của công dân, tổ chức và các công

ty của nước ngoài vào Việt Nam và của Việt Nam ở nước ngoài.

- Mở rộng việc bảo hộ các quyền hợp pháp của người nước ngoài ở Việt Nam trong các lĩnh vực khác nhau như: thương mại, đầu tư, lao động, hôn nhân và gia đình Bảo đảm các quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong tố tụng dân sự của người nước ngoài tại Việt Nam

và của công dân Việt Nam ở nước ngoài…

Trong thế kỷ của sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, của sự hợp tác trong điều kiện hội nhập kinh tế, văn hóa giữa các quốc gia, khi mà các hoạt động được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia nhưng có quan hệ đến các quốc gia khác và có thể mang lại một hậu quả pháp lý nhất định giữa các quốc gia thì sự hiểu biết về Tư pháp quốc tế có thể giúp các cơ quan có chức năng thẩm quyền trong việc bảo vệ có hiệu quả hơn tài sản quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân của Việt Nam ở nước ngoài.

Bên cạnh đó ý nghĩa thực tiễn to lớn của việc nghiên cứu và nắm vững những vấn đề của Tư pháp quốc tế là hết sức cần thiết không những cho các nhà ngoại giao, các nhà hoạt động kinh tế mà cũng hết sức cần thiết cho các Thẩm phán, Kiểm sát viên; Công chứng viên và các Luật gia, Luật sư làm việc trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau, ở trong nước cũng như ở nước ngoài, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực “ Theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc…”

Câu 7: Nguyên tắc của tư pháp quốc tế

- Nguyên tắc bình đẳng giữa các chế độ sở hữu

- Nguyên tắc bình đẳng không phân biệt đối xử (NT,MFN)

- Nguyên tắc có đi có lại

- Nguyên tắc tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong quan hệ dân sự có yếu

tố nước ngoài

Câu 8: Hệ thống quy phạm tư pháp quốc tế

Quy phạm xung đột

Là QPPL đặc biệt, mang tính chất đặc thù của TPQT

Ko trực tiếp điều chỉnh nội dung các quan hệ DS có YTNN

Chỉ đưa ra hệ thống pháp luật cần được áp dụng

Trang 10

Nội dung của quan hệ đó được giải quyết ntn phụ thuộc vào hệ thống PL mà QPXĐ dẫn chiếu đến

Quy phạm thực chất

Là quy phạm trực tiếp điều chỉnh nội dung các quan hệ dân sự có YTNN

Nội dung của quy phạm này thường quy định quyền và nghĩa vụ của các bên, các biện pháp, hình thức chế tài nếu có…

Quy phạm thực chất thống nhất: là QPTC do quốc gia thỏa thuận xây dựng nên thông qua việc ký kết, tham gia Điều ước quốc tế hoặc thừa nhận tập quán quốc tế

QPTC trong nước là QPTC do quốc gia đơn phương ban hành nên nhằm trực tiếp điều chỉnh các quan hệ dân sự có YTNN

Ngày đăng: 16/09/2022, 10:16

w