Trong vụ United Brands Co và vụ Hoffmann-La Roche, Toà án tối cao châu Âu định nghĩa về vị trí thống lĩnh thị trường như sau: Vị trí với tiềm lực kinh tế của một doanh nghiệp cho phép do
Trang 1ThS vò ThÞ ph−¬ng Lan *
rong quá trình đổi mới, Việt Nam cần
nhiều luật mới phù hợp với cơ chế
kinh tế thị trường đồng thời để điều tiết sự
phát triển của nền kinh tế theo định hướng
xã hội chủ nghĩa Một trong những đạo luật
quan trọng để thực hiện nhiệm vụ này là
Luật cạnh tranh Hiện nay, luật này đang
trong quá trình soạn thảo với sự chủ trì của
Bộ thương mại Gần đây, những tranh luận
về đạo luật này xuất hiện ngày càng nhiều trên
các phương tiện thông tin đại chúng Những
khái niệm mới trong pháp luật cạnh tranh như
“hành vi cạnh tranh không lành mạnh”, “độc
quyền”, “thống lĩnh thị trường” đang được
nhắc đến nhiều trong các cuộc tranh luận
Với thời gian xây dựng nền kinh tế thị
trường chưa lâu, pháp luật cạnh tranh hiện
vẫn còn rất mới mẻ đối với Việt Nam Vì
vậy, một trong những phương pháp hiệu
quả để hiểu về pháp luật cạnh tranh và
những khái niệm liên quan là tìm hiểu pháp
luật cạnh tranh của các nước đã có nền kinh
tế thị trường lâu đời, đặc biệt là những nền
kinh tế có ảnh hưởng lớn trong nền kinh tế
toàn cầu Bài viết này giới thiệu một trong
những khái niệm cơ bản trong pháp luật cạnh
tranh - khái niệm “thống lĩnh thị trường”
(market dominance), theo pháp luật của
Liên minh châu Âu - nền kinh tế lớn thứ ba thế giới Khi đề cập khái niệm này thường
có hai vấn đề lớn được đặt ra: Thứ nhất, khái niệm thống lĩnh thị trường hay vị trí thống lĩnh thị trường và ý nghĩa của nó; thứ hai, các yếu tố định lượng xác định vị trí thống lĩnh thị trường trong những trường hợp cụ thể Ở đây, tác giả chỉ tập trung làm rõ khái niệm và ý nghĩa của thống lĩnh thị trường trong pháp luật cạnh tranh Liên minh châu Âu Vấn đề liên quan tới các yếu tố định lượng xác định vị trí thống lĩnh thị trường sẽ được trình bày trong một nghiên cứu khác
1 Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường
Hai nguồn pháp quy quan trọng nhất điều chỉnh hoạt động cạnh tranh liên quan tới vị trí thống lĩnh thị trường trên thị trường kinh tế chung châu Âu là Điều 82 Hiệp định thành lập Cộng đồng chung châu
Âu (Hiệp định EC) và Quy định kiểm sát sát nhập số 4064/89 do Hội đồng châu Âu ban hành năm 1989 (Quy định số 4061/89)
và được sửa đổi bởi Quy định số 1310/97 ban hành năm 1997 Tuy nhiên, trong cả
T
* Giảng viên Khoa luật quốc tế Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2hai nguồn pháp quy này đều không định
nghĩa thuật ngữ thống lĩnh thị trường Điều
82 Hiệp định EC chỉ quy định chung là
cấm bất kì hành vi lạm dụng vị trí độc
quyền của bất kì doanh nghiệp hay nhóm
doanh nghiệp nào Trong khi đó Quy định
số 4061/89 thì quy định về các biện pháp
kiểm soát hoạt động sát nhập doanh nghiệp
có thể bị coi là có ảnh hưởng tiềm tàng tới
môi trường cạnh tranh của thị trường chung
Trên thực tế, khái niệm thống lĩnh thị
trường được Toà án tối cao châu Âu (the
European Court of Justice) phát triển thông
qua hệ thống các vụ tranh chấp do toà này
giải quyết Trong vụ United Brands Co và
vụ Hoffmann-La Roche, Toà án tối cao
châu Âu định nghĩa về vị trí thống lĩnh thị
trường như sau: Vị trí với tiềm lực kinh tế
của một doanh nghiệp cho phép doanh
nghiệp đó, thông qua khả năng tự hành
động một cách độc lập với các đối thủ cạnh
tranh, khách hàng hay người tiêu dùng, có
thể cản trở sự cạnh tranh hiệu quả trong thị
trường tương ứng.(1)
Theo định nghĩa này thì một doanh
nghiệp sẽ được coi là có vị trí thống lĩnh thị
trường khi doanh nghiệp đó có tiềm lực
kinh tế đủ lớn để có thể phớt lờ sức cạnh
tranh tiềm tàng từ các đổi thủ trong thị
trường tương ứng và đồng thời có thể vì thế
mà tự hành động một mình một kiểu, đôi
khi không theo quy luật tự nhiên của kinh tế
thị trường và vì vậy mà có khả năng cản trở
sự cạnh tranh hiệu quả trong thị trường
Tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp được
thể hiện qua quy mô vốn cố định và vốn lưu động của doanh nghiệp, quy mô nhân
sự, mạng lưới phân phối hàng hoá và đặc biệt là tỉ lệ thị phần mà doanh nghiệp này nắm giữ Đôi khi, uy tín và tính truyền thống của doanh nghiệp cũng được tính đến như là yếu tố quan trọng để đánh giá tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp
Với nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc xác định tiềm lực kinh tế của một doanh nghiệp song pháp luật Liên minh châu Âu lại không quy định bộ tiêu chuẩn cố định
về định lượng để xác định doanh nghiệp có
vị trí thống lĩnh thị trường Khi giải quyết vấn đề xác định vị trí thống lĩnh thị trường của một doanh nghiệp, các cơ quan hữu quan như Toà án tối cao châu Âu hay Uỷ ban châu Âu sẽ kết hợp việc cân nhắc tổng thể nhiều yếu tố có liên quan Dựa trên những yếu tố đó, các cơ quan hữu quan sẽ đánh giá xem với tiềm lực kinh tế và ảnh hưởng kinh tế như vậy, doanh nghiệp nọ có
đủ khả năng tự hành động một mình kiểu phớt lờ những tác động của các quy luật kinh tế thị trường hay không Chẳng hạn, liệu thị phần và uy tín của doanh nghiệp có
đủ lớn để cho phép doanh nghiệp tự mình tăng giá sản phẩm mà vẫn kinh doanh có hiệu quả hay không(?) hay với quy mô vốn lớn như vậy doanh nghiệp đó có thể hạ giá sản phẩm xuống trong một thời gian dài để loại trừ những đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn trong thị trường hay không(?) Một yếu tố khác mà các cơ quan hữu quan cũng sẽ xem xét là với tiềm lực kinh tế đó, doanh
Trang 3nghiệp đó có thể tự mình đưa ra những
chính sách có thể làm ảnh hưởng tới sự cạnh
tranh lành mạnh trong thị trường được
không(?) Ví dụ, nếu một doanh nghiệp có
tiềm lực kinh tế đủ lớn để áp đặt giá cả tới
các đối thủ cạnh tranh khác thì có thể đó là
dấu hiệu cho thấy vị trí thống lĩnh của
doanh nghiệp trong thị trường
2 Đặc trưng của vị trí thống lĩnh thị trường
Qua khái niệm trên, có thể thấy vị trí
thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp cho
thấy sức mạnh kinh tế vượt trội của doanh
nghiệp đó so với các doanh nghiệp khác trong
thị trường Sự vượt trội đó là rất lớn song nó
khác hoàn toàn với tiềm lực kinh tế thể hiện
trong “vị trí độc quyền” (monopoly) Với một
doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, trong thị
trường vẫn không loại trừ có sự cạnh tranh
đến từ các đối thủ yếu hơn doanh nghiệp
thống lĩnh Cho dù sự vượt trội của doanh
nghiệp thống lĩnh có lớn đến đâu thì sự
cạnh tranh trong thị trường vẫn tồn tại
Còn đối với vị trí độc quyền, trong thị
trường hoàn toàn loại trừ sự cạnh tranh đến
từ một đối thủ khác Thực tiễn kinh tế cho
thấy độc quyền doanh nghiệp - tức là sự
độc quyền hình thành một cách tự nhiên do
sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp - là rất
hiếm Phần lớn các trường hợp độc quyền
được hình thành do sự ưu ái về chính sách
của nhà nước - độc quyền nhà nước
Thống lĩnh thị trường cũng cần phải
được phân biệt với những hành vi cấu kết
kinh tế của những doanh nghiệp chi phối
thị trường (trường hợp oligopoly) Trong
trường hợp này có thể có một số nhỏ doanh nghiệp chi phối thị trường có những hành
vi hoặc chính sách kinh doanh giống nhau Tuy nhiên, đó không được coi là trường hợp của vị trí thống lĩnh thị trường Trong trường hợp oligopoly, tuy các chính sách kinh doanh có thể giống nhau và có vẻ như
là thống nhất nhưng thực chất là các bên có
sự trao đổi và bàn bạc với nhau giữa các doanh nghiệp độc lập Những hành vi này
có thể vi phạm pháp luật cạnh tranh thông thường nhưng không thuộc trường hợp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Trong trường hợp của vị trí thống lĩnh thị trường thì chỉ có một doanh nghiệp tham gia Trong thực tiễn người ta có thể thấy liên quan tới nhiều tên công ti, nhiều giám đốc, quan chức điều hành khác nhau nhưng những công ti đó đều nằm trong một tập đoàn thống lĩnh kinh tế lớn và phụ thuộc lẫn nhau về vốn hoặc nhân sự hoặc hạch toán hay ra chính sách Vì thế trong doanh nghiệp thống lĩnh thị trường, chính sách kinh doanh luôn thống nhất từ trên xuống dưới và do tự bản thân một mình doanh nghiệp đó làm ra, không nhất thiết phải có
sự phối hợp hay bàn bạc với những đối thủ cạnh tranh khác.(2)
3 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường
Một điểm mà pháp luật Liên minh châu
Âu hết sức lưu ý khi xem xét vị trí thống lĩnh thị trường trong bối cảnh pháp luật cạnh tranh đó tránh quy đồng giữa vị trí thống lĩnh thị trường với hành vi cạnh
Trang 4tranh không lành mạnh Bản thân vị trí
thống lĩnh thị trường không có nghĩa là vi
phạm pháp luật về cạnh tranh mà chính là
các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh mới
có thể ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường
cạnh tranh trên thị trường và có thể bị
phạt.(3) Theo Toà án tối cao châu Âu, một
hành vi của doanh nghiệp ở vị trí thống
lĩnh thị trường bị coi là lạm dụng vị trí
thống lĩnh hay không là căn cứ vào tác
động của hành vi đó đối với môi trường
cạnh tranh trong thị trường Đó có thể là
những hành vi làm ảnh hưởng tới cấu trúc
của thị trường và qua đó làm giảm hay cản
trở mức độ cạnh tranh trên thị trường
tương ứng.(4) Về nguyên tắc, tất cả những
hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường đều bị pháp luật cạnh tranh Liên
minh châu Âu cấm Để cụ thể hoá, Điều 82
Hiệp định EC đưa ra một số trường hợp
lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường điển
hình như:
- Áp dụng trực tiếp hoặc gián tiếp các
mức giá mua, bán, hay các điều kiện
thương mại không công bằng;
- Hạn chế sản xuất, thị trường, hay phát
triển kĩ thuật có hại tới người tiêu dùng;
- Áp dụng các điều kiện khác nhau cho
các giao dịch tương tự với những đối tác
thương mại khác nhau, qua đó đặt những
đối tác đó vào những vị thế cạnh tranh
khác nhau;
- Ra điều kiện hợp đồng đối với các đối
tác, qua đó buộc đối tác phải chấp nhận
những nghĩa vụ bổ sung mà xét về bản chất
thương mại không có liên quan gì tới đối tượng của hợp đồng
Đây chỉ là một số trường hợp điển hình nhất trong số các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền Trên thực tế, phép thử bao quát hơn vẫn là phép thử về tác động của hành
vi đối với môi trường cạnh tranh trong thị trường tương ứng Một hành vi, dù không nằm trong số những trường hợp điển hình trên, vẫn có thể bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh nếu nó do một doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thực hiện và có ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường cạnh tranh trong thị trường tương ứng
Về mặt tính chất của hành vi lạm dụng
vị trí thống lĩnh thị trường, pháp luật Liên minh châu Âu phân biệt hai loại hành vi: Hành vi lạm dụng mang tính bóc lột (exploitative abuses) và hành vi lạm dụng mang tính hạn chế cạnh tranh nói chung (anti-competitive abuses) Loại hành vi lạm dụng thứ nhất dễ phát hiện hơn vì nó có tác động hạn chế trực tiếp khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cạnh tranh trong thị
trường tương ứng Ví dụ, công ti thống lĩnh
thị trường ra các điều khoản giá cả không công bằng làm tăng đáng kể chi phí đầu vào của các đối tác và qua đó làm giảm trực tiếp khả năng cạnh tranh của hàng hoá của đối tác hay đưa ra các điều kiện thương mại bất bình đẳng cho các đối tác khác nhau khi thực hiện những giao dịch tương tự như đưa ra các điều kiện cung cấp hàng mà chỉ một số doanh nghiệp trong thị trường có thể đáp ứng được Các hành vi
Trang 5lạm dụng rơi vào loại thứ nhất này rất dễ bị
phát hiện và dễ bị cấm
Loại hành vi lạm dụng thứ hai, hành vi
hạn chế cạnh tranh nói chung thường khó bị
phát hiện hơn và vì thế cũng đòi hỏi sự cân
nhắc kĩ hơn từ phía các cơ quan chức năng
khi xem xét việc cấm hay không cấm
Những hành vi này đôi khi không tác động
trực tiếp hay trong một thời gian ngắn tới
năng lực cạnh tranh của các đối thủ trong
thị trường Thậm chí những hành vi đó có
thể có một số lí do tồn tại chính đáng nhưng
về tổng thể nó ảnh hưởng tiêu cực tới môi
trường cạnh tranh của thị trường vì thế
thường bị cấm Một trường hợp điển hình
của loại hành vi này là các điều khoản ràng
buộc bổ sung trong các hợp đồng (tying-in
practices), qua đó khách hàng cam kết chỉ
mua nguyên vật liệu từ nhà cung cấp -
doanh nghiệp thống lĩnh thị trường - và để
đổi lại khách hàng nhận được ưu đãi về giá
Các điều khoản này đã bị Toà án Liên minh
châu Âu tuyên bố là hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường.(5) Hay thậm chí nếu
doanh nghiệp thống lĩnh thị trường chỉ
muốn đưa vào hợp đồng điều khoản nói
rằng cho phép khách hàng tìm đến nhà cung
cấp khác có mức giá cung cấp thấp hơn với
điều kiện là cung cấp trước cho doanh
nghiệp thống lĩnh thị trường mức giá của
nhà cung cấp kia thì điều khoản đó cũng
vẫn bị coi là sự lạm dụng vị trí thống lĩnh
bởi lẽ nó cho phép doanh nghiệp thống lĩnh
thị trường định vị được đối thủ cạnh tranh
và ra tay trước, qua đó với tiềm lực kinh tế của mình có thể bóp chết đối thủ từ trong trứng nước
Một trường hợp khác khá phổ biến thuộc loại này là trường hợp cung cấp hàng với giá thấp hơn giá trị (predatory pricing) Đây là trường hợp doanh nghiệp thống lĩnh
ỷ vào tiềm lực kinh tế của mình, cung cấp hàng với giá rất thấp, đôi khi thấp hơn cả giá thành nhằm mục đích loại các đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường Về mặt danh nghĩa, điều này có thể có lợi cho người tiêu dùng trong một thời gian nào đó nhưng về lâu dài nó sẽ tác động tiêu cực tới cấu trúc cạnh tranh của thị trường Tuy nhiên, đây
là vấn đề rất phức tạp và rất khó xác định một cách chính xác Khi một doanh nghiệp bán hàng ra với giá thấp như vậy thì thường là họ có rất nhiều cách giải thích
Cơ quan chức năng sẽ phải xác định xem việc áp giá hàng hoá thấp như vậy là do cố tình hất cẳng đối thủ hay chỉ đơn thuần là
do kết quả của một dây chuyền kinh doanh hoạt động hiệu quả Hay thậm chí phải xem xét cả động cơ của doanh nghiệp khi
hạ giá sản phẩm là do muốn hấp dẫn khách hàng hay muốn loại trừ đối thủ ra khỏi cuộc chơi (6)
Ngoài hai trường hợp điển hình về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường mang tính chất hạn chế cạnh tranh nói chung trên đây còn có một số trường hợp khác nữa như hành vi từ chối cung cấp hàng, cấm đối tác không được nhập hàng của doanh
Trang 6nghiệp khác hay xuất hàng cho các doanh
nghiệp khác (7)
4 Phạm vi điều chỉnh của pháp luật
cạnh tranh Liên minh châu Âu đối với
các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
thị trường
Qua phân tích trên đây, có thể thấy
doanh nghiệp ở vị trí thống lĩnh thị trường
có vai trò khá đặc biệt trong pháp luật cạnh
tranh của Liên minh châu Âu nói riêng và
của trong pháp luật cạnh tranh nói chung
Nguyên tắc chung của pháp luật cạnh tranh
là cấm các hành vi có tác động trực tiếp
hạn chế cạnh tranh trên thị trường Những
hành vi nào có tác động này mà thường
phải là tác động một cách trực tiếp và thiệt
hại đối với những đối tác khác trên thị
trường đã được chứng minh thì mới bị
kiểm soát Tuy nhiên, do tầm ảnh hưởng
rộng và sâu của các doanh nghiệp thống
lĩnh thị trường đối với thị trường tương
ứng nên nguyên tắc này được áp dụng rộng
hơn một chút và vì thế cũng chặt chẽ hơn
một chút đối với các hành vi của doanh
nghiệp thống lĩnh thị trường Không chỉ
những hành vi trực tiếp ảnh hưởng tới khả
năng cạnh tranh của đối thủ bị kiểm soát
mà ngay cả những hành vi có tác động gián
tiếp hoặc thậm chí những hành vi chỉ cần
tiềm tàng ảnh hưởng tới cấu trúc cạnh
tranh của thị trường thôi cũng có thể bị
kiểm soát Một ví dụ minh hoạ điển hình là
Quy định về kiểm soát sát nhập số 4064/89
của Hội đồng châu Âu Quy định này kiểm soát các hoạt động sát nhập hoặc mua bán công ti của các doanh nghiệp thống lĩnh thị trường Hoạt động mua bán sát nhập công
ti tưởng chừng như chỉ là hoạt động nội bộ
và không liên quan tới các đối thủ cạnh tranh khác Nhưng ở đây dưới con mắt của các nhà lập pháp Liên minh châu Âu, nó có thể sẽ thay đổi cấu trúc thị trường và qua
đó thay đổi tương quan cạnh tranh trên thị trường tương ứng Và như thế, cần phải được kiểm soát Theo Quy định này, các
vụ sát nhập công ti thống lĩnh thị trường có quy mô tới một mức độ nhất định đều phải chịu sự kiểm soát của Uỷ ban châu Âu và nếu vụ sát nhập có những yếu tố ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường cạnh tranh trong thị trường tương ứng thì nó có thể bị cấm./
(1).Đoạn 65 vụ United Brands Co kiện Uỷ ban Châu
Âu số 27/76, phán quyết ra năm 1978; đoạn 39 vụ Hoffmannn - La Roche & Co AG kiện Uỷ ban Châu
Âu số 85/76, phán quyết ra năm 1979
(2).Vụ Hoffmann -La Roche, đoạn 39
(3).Josephine Steiner và Lorna Woods, Sách giáo khoa về Pháp luật EC (Textbook on EC Law), Nxb Blackstone, tái bản có bổ sung lần 7 (2001), tr 256; John Agnew, Pháp luật cạnh tranh (Competition Law), Nxb George Allen & Unwin (1985), tr 87 (4).Vụ Hoffmann-La Roche đoạn 91
(5).Toà án tối cao châu Âu đã phán quyết về vấn đề này trong vụ Hoffmann-La Roche (số 85/76)
(6).Xem: Vụ AKZO Chemie kiện Uỷ ban châu Âu (số 62/86)
(7).Josephine Steiner và Lorna Woods, tài liệu đã dẫn
ở chú thích số 3, tr 256 - 261