Vai trò của vốn trong doanh nghiệp Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp.Vốn là điều kiện không thể thiếuđược để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành hoạt động sản xu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ ĐẦU TƯ
ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM
Đề tài : Nguồn vốn trong doanh nghiệp Phân tích thực trạng huy động và sử dụng
vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước.
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Từ Quang Phương Nhóm thực hiện : 14
Trưởng nhóm : Trần Thị Thủy Danh sách thành viên :
Trần Thị Thủy Kinh tế Đầu tư 50D CQ502591 28/01/1990
Nguyễn Việt Cường Kinh tế Đầu tư 50D CQ500329 23/04/1990
Ngô Thị Trang Kinh tế Đầu tư 50D CQ502758 15/06/1989
Hoàng Đức Thuận Kinh tế Đầu tư 50D CQ503865 10/11/1989
Nguyễn Quang Minh Kinh tế Đầu tư 50D CQ503418 12/04/1990
Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Từ Quang
Phương đã giúp đỡ nhiệt tình để chúng em có thể hoàn thành đề tài
nghiên cứu này!
Trang 3MỤC LỤC 3
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN……… .6
1 Nguồn vốn trong doanh nghiệp……… 6
1.1 Khái niệm,bản chất, vai trò……… 6
1.2 Các nguồn hình thành vốn……….11
1.2.1 Nguồn vốn chủ sở hữu……….11
1.2.1.1 Vốn góp ban đầu……… 11
1.2.1.2 Lợi nhuận giữ lại……… 12
1.2.1.3 Phát hành cổ phiếu……… 13
1.2.1.4 Các quỹ ( Funds)……… 16
1.2.1.5 Các nguồn khác………17
1.2.2 Nguồn vốn nợ………
17 1.2.2.1 Phát hành trái phiếu………17
1.2.2.2 Tín dụng ngân hàng………18
1.2.2.3 Tín dụng thương mại……… 20
1.2.2.4 Tín dụng thuê mua……….21
1.2.2.5 Tín dụng đầu tư………23
1.2.2.6 Quỹ đầu tư mạo hiểm……… 24
2 Huy động và sử dụng vốn trong doanh nghiệp………25
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn………25
2.1.1 Các nhân tố vĩ mô………
25 a) Tình hình thị trường………25
b) Các cơ chế chính sách……… 26
2.1.2 Các nhân tố vi mô………
27
Trang 4a) Chi phí vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp……… 27
b) Tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp……… 29
c) Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp………29
2.2 Vấn đề sử dụng vốn……… 30
2.2.1 Mục đích sử dụng vốn………
30 2.2.2 Nội dung……….30
2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn……… 31
Chương III: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DNNN GIAI ĐOẠN 2001-2010………32
1 Tình hình hoạt động của các DNNN giai đoạn 2001-2010……….32
2 Thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển……… 35
2.1 Vốn ngân sách nhà nước……… 35
2.2 Vốn cổ phần……… 37
a) Cổ phần hóa DNNN……….37
b) Phát hành cổ phiếu trên TTCK……… 40
2.3 Vốn tín dụng ngân hàng……… 41
2.4 Vốn tín dụng đầu tư……… 43
2.5 Tín dụng thuê mua……… 43
2.6 Phát hành trái phiếu……….45
3 Thực trạng sử dụng vốn đầu tư phát triển……….47
3.1 Đầu tư xây dựng cơ bản………
47 3.2 Đầu tư nghiên cứu triển khai KHCN……… 49
3.3 Đầu tư nguồn nhân lực……….49
3.4 Đầu tư khác……… 50
4 Kết quả, hạn chế và tồn tại trong hoạt động huy động và sử dụng vốn đầu tư………… 52
4.1 Kết quả……… 52
4.2 Hạn chế và tồn tại……… 56
Trang 55 Nguyên nhân của tồn tại trên………61
Chương III : NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DNNN………64
1 Định hướng chủ yếu………64
2 Giải pháp nâng cao khả năng huy động vốn ……… 66
2.1 Tầm vĩ mô………66
2.2 Tầm vi mô………68
3 Giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả vốn………69
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI NÓI ĐẦU
Vốn là một yếu tố đầu vào đặc biệt quan trọng, là điều kiện cần thiết để đảm bảo các mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững của bất kỳ đơn vị kinh doanh nào, là nguồn gốc của mọi đồng lãi được sinh ra Sự cần thiết không thể thiếu được của vốn đầu
tư được thể hiện qua hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước đều cần thiết phải có vốn
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất cung ứng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ trên thị trường với mục đích đem lại lợi nhuận.Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định bao gồm vốn
cố định, vốn lưu động và các vốn chuyên dùng khác Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải
tổ chức huy động và sử dụng vốn sao có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấp hành luật pháp Trong mỗi Doanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện cần thiết để quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Đồng thời là điều kiện tiền đề để đưa nền kinh tế quốc dân đi lên và phát triển mạnh mẽ Hiệu quả nền kinh tế là thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh, phản ánh khả năng phát triển của doanh nghiệp Do vậy, việc đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi đơn vị là rất cần thiết và quan trọng Nó đòi hỏi phải đánh giá một cách toàn diện, để từ
Trang 6đó tìm ra những nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh tạiDoanh nghiệp.
Nguồn vốn được xem như một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng đối với mỗidoanh nghiệp Có được một nguồn vốn ổn định thì hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp mới có hiệu quả, thu được lợi nhuận cao
Nhận thấy sự cần thiết của nguồn vốn đối với doanh nghiệp thì nhóm thực hiện
nghiên cứu đề tài : “Phân tích nguồn vốn trong doanh nghiệp Phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước”
Do thời gian và tài liệu tham khảo có hạn, và vốn kiến thức hiểu biết của nhóm thựchiện đề tài về vấn đề chưa thật sự sâu sắc nên khó tránh khỏi sai sót Kính mong thầy côgóp ý để bài viết nhóm 14 được hoàn thiện hơn
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1 Nguồn vốn trong doanh nghiệp
1.1 Khái niệm, bản chất , vai trò của nguồn vốn
1.1.1 Khái niệm:
- Vốn là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư Các nguồnlực có thể là của cải vật chất tài nguyên thiên nhiên là sức lao động và tất cả các tài sảnvật chất khác
- Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện dưới dạng giá trịđược chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Đây là thuậtngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đápứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội
1.1.2 Bản chất của nguồn vốn:
- Theo kinh tế học cổ điển : điển hình là Adam Smith, một đại diện của trường pháikinh tế học cổ điển đã khằng định: “Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp tăng giá vốn Laođộng tạo ra sản phẩm để tích lũy cho quá trình tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu đichăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn sẽ không bao giờ tăng lên” Như vậy theo
Trang 7Adam Smith thì bản chất của nguồn vốn đó là tiết kiệm Chỉ có tiết kiệm mới có thể tạo
ra nguồn vốn Tiết kiệm tăng bao nhiêu thì nguồn vốn sẽ tăng bấy nhiêu
- Theo kinh tế học chính trị Mac – Lenin : Sang thế kỷ XIX,khi nghiên cứu về vấn đềcân đối kinh tế kinh tế ,về các mối quan hệ giữa các khu vưc của nền sản xuất xã hội,vềcác vấn đề có liên quan trực tiếp đến tích luỹ,C.Mac đã chứng minh rằng : Trong một nềnkinh tế với hai khu vực ,khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệutiêu dùng Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vực đều bao gồm (c+v+m) trong đó c là phầntiêu hao vật chất ,(v+m) là phần giá trị mới sáng tạo ra Khi đó, điều kiện để đảm bảo táisản xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v+m)của khu vực Ilớn hơn tiêu hao vật chất (c) của khu vực II Tức là :
( v + m)I > (c)IIHay nói cách khác:
(c + v + m)I > cII + cIĐiều này có nghĩa rằng, tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi hoàntiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế ( của cả hai khu vực) mà còn phải dư thừa đểđầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo
Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c + v + m)II < (v + m)I + (v + m)II
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sảnxuất ra của khu vực II Chỉ khi điều kiện này được thỏa mãn, nền kinh tế mới có thể dànhmột phần thu nhập để tái sản xuất mở rộng Từ đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽ gia tăng.Như vậy, để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy mô cho đầu tư,một mặt phải tăng cường sản xuất ở khu vực I, đồng thời phải sử dụng tiết kiệm tư liệusản xuất ở cả hai khu vực Mặt khác, phải tăng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khuvực II, thực hành tiết kiệm trong sinh hoạt ở cả hai khu vực
Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của Mác, con đường cơbản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành
Trang 8tiết kiệm ở cả trong sản xuất và trong tiêu dùng Hay nói cách khác, nguồn lực cho đầu tưtái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích luỹ của nềnkinh tế
- Theo kinh tế học hiện đại: JohnMaynard Keynes: Quan điểm về bản chất của nguồnvốn đầu tư lại tiếp tục được nhà kinh tế học hiện đại chứng minh Trong tác phẩm nổitiếng ‘ Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi xuất và tiền tệ’ của mình, John Maynardkeynes đã chứng minh được rằng: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyểnvào tiêu dùng Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra của thunhập so với tiêu dùng:
Tức là:
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư
Tiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùng
mà người ta gọi là tiết kiệm không thể khác với phần gia tăng năng lực sản xuất mà người
ta gọi là đầu tư
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng Trong đó,phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệm củachính phủ Điểm cần lưu ý là tiết kiệm và đầu tư xét trên góc độ toàn nền kinh tế khôngnhất thiết được tiến hành cùng bởi một cá nhân hoặc doanh nghiệp nào Có thể có cá
Trang 9nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có tích luỹ nhưng không trực tiếp tham giađầu tư Trong khi đó, có một số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiện đầu tư khi chưa hoặctích luỹ chưa đủ Khi đó, thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiếtkhoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang cho người có nhu cầu sử dụng.
Ví dụ, nhà đầu tư có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu ( nếu đáp ứng được một số điềukiện nhất định và tuân thủ quy trình thủ tục nhất định ) để huy động vốn thực hiện một dự
án đầu tư nào đó từ các doanh nghiệp, hộ gia đình hay các cá nhân - người dư thừa haytạm thời dư thừa vốn
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phảibao giờ cũng được thiết lập Phần tích luỹ của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tưtại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang nước khác để thực hiện đầu tư.Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tếphải huy động tiết kiệm từ nước ngoài Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa tiếtkiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai
CA = S – I
Trong đó : CA là tài khoản vãng lai (current account)
Như vậy, trong nền kinh tế mở, nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ nội bộ của nềnkinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài.Khi đó, đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong những nguồn vốn đầu
tư quan trọng của nền kinh tế Nếu tích luỹ của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trongnước trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu tư vốn nướcngoài hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế
1.1.3 Vai trò của vốn trong doanh nghiệp
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp.Vốn là điều kiện không thể thiếuđược để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.Trongmọi loại hình doanh nghiệp,vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuấtkinh doanh.Trong quản lí tài chính,các doanh nghiệp cần chú ý quản lí việc huy động và
Trang 10sử dụng vốn,sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả tàichính.
*Điều kiện tiên quyết để thành lập doanh nghiệp
Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp.Về mặt pháp lí,mỗidoanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn nhất định và phải lớn hơn hoặcbằng mức vốn pháp định do Nhà nước qui định đối với mỗi lĩnh vực kinh doanh đó.Nhưvậy vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn tại của doanh nghiệp trước phápluật
Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tùy vào qui mô,ngành nghề,loại hình doanhnghiệp.Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành nghề có liên quan đếntài chính như Chứng khoán,Bảo hiểm,Kinh doanh vàng và Kinh doanh tiền tệ
Đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước không qui định giátrị vốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có thể dao động từ hàng triệu đếnhàng tỷ đồng tùy khả năng của người thành lập doanh nghiệp
*Cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và loại hình sảnxuất kinh doanh nào.Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất cơ bản P=f(K,L,T) vốn Kchính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản xuất,bên cạnh các yếu tố lao động L và côngnghệ T.Hơn nữa,trong hàm sản xuất này thì vốn có thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi
vì lao động và công nghệ có thể mua được khi có vốn
Sau khi thành lập,doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất kinh doanh Hoạt động thực
tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền đề chi tiêu,mua sắm nguyên vật liệu,máy móc,trảlương Số tiền này không thể lấy ở đâu khác ngoài nguồn vốn của doanh nghiệp.Khinguồn vốn tạm thời không đáp ứng đủ nhu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh thìdoanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về ngân quĩ.Các hoạt động hàng ngày củadoanh nghiệp tạm thời bị đình trệ,suy giảm.Nếu tình hình này không được khắc phục kịpthời,doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng khó khăn tài chính triền mien,hoạt động sản xuấtkinh doanh bị gián đoạn,tâm lý cán bộ công nhân viên hoang mang,mất uy tín với bạn
Trang 11hàng,chủ nợ và ngân hàng.Những khó khăn này có thể nhanh chóng đưa công ty đến kếtcục cuối cùng là phá sản,giải thể,hoặc bị sát nhập với công ty khác.
*Cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh
Vốn không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sẳn xuất kinh doanh mà còngiúp doanh nghiệp mở rộng và phát triển.Trong quá trình phát triển của mình,doanhnghiệp luôn mong muốn mở rộng sản xuất kinh doanh,giữ vững và vươn lên trong thịtrường.Để làm được điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục đổi mới,đầu tư,tái đầutư,cải tiến máy móc,thiết bị,công nghệ,hệ thống phân phối sản phẩm…Kỷ nguyên củacông nghệ và sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ càng tạo sức ép cho doanh nghiệp;buộcphải liên tục tự làm mới mình,đổi mới không ngừng nếu không muốn giẫm chân tại chỗhay bị tụt hậu.Để làm được tất cả những công việc đó doanh nghiệp không thể không cầnđến nguồn vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
Thực tế cho thấy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong các doanhnghiệp ở Việt Nam hiện nay là rất lớn.Nhiều doanh nghiệp do không có nguồn vốn bổsung kịp thời,đủ lớn nên đã bị mất đi vị trí của mình trên thị trường
Vốn còn là nhân tố cực kỳ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnhtranh trên thị trường.Vốn không những là cơ sở để doanh nghiệp có thể nâng cao khảnăng sản xuất,tăng cường mạng lưới phân phối mà còn có thể giúp doanh nghiệp vượtqua các đối thủ cạnh tranh
Như vậy,vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Doanh nghiệp cần phải nhận thức vấn đề này một cách rõ ràng,từ đó phải
có một chính sách huy động vốn nhanh chóng,hiệu quả để có thể tồn tại và không ngừngphát triển trên thương trường
Trang 12vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở hữu của doanhnghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của doanhnghiệp
Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của nhà nước.Chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước chính là nhà nước Hiện nay, cơ chế quản lítài chính nói chung và quản lí vốn của doanh nghiệp nhà nước nói riêng đang có nhữngthay đổi để phù hợp với tình hình thực tế
Đối với doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp chủ sở hữu phải có số vốn cần thiết đểxin đăng ký thành lập doanh nghiệp, đặc biệt đối với một số ngành nghề phải quy địnhvốn pháp định như chứng khoán, bảo hiểm, tín dụng, ngân hàng,… Chẳng hạn với công
ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định để hình thành công ty Mỗimột cổ đông đóng góp là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạntrên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạngtương đối khác nhau do đó, cách thức huy động vốn của các công ty này cũng khác nhau
1.2.1.2 Thu nhập giữ lại
Nguồn vốn từ thu nhập giữ lại là bộ phận lợi nhuận được sử dụng tái đầu tư, mởrộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tài trợ bằng thu nhập giữ lại - nguồn vốn nội bộ là một phương thức tạo nguồn tàichính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm đước chiphí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài
Để có được lợi nhuận để lại thì trước tiên doanh nghiệp phải đang hoạt động, cólợi nhuận và được phép tiếp tục đầu tư
Đối với doanh nghiệp nhà nước việc tái đầu tư còn phụ thuộc vào chính sách táiđầu tư của nhà nước
Đối với công ty cổ phần việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố nhạycảm Đó là mối quan hệ giữa việc chi trả cổ tức và giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư Khicông ty để lại lợi nhuận, tức là cổ đông không được nhận cổ tức, bù lại họ có quyền sởhữu số cổ phần tăng lên của công ty
Trang 13Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tài trợ bằngnguồn vốn nội bộ Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu lâu dài, nhưngmặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kì trước mắt (ngắn hạn) do cổđông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn Nếu tỷ lệ chi trả cố tức thấp, hoặc số lãiròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm sút.
Khi giải quyết vấn đề này cần lưu ý một số yếu tố có liên quan như:
- Tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
- Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước
- Sự xếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của công ty,tâm lý và đánh giá của công chúng về cổ phiếu đó
- Hiệu quả của việc tái đầu tư từ nguồn thu nhập để lại
Ưu điểm:
- Doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên ngoài
- Tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
- Giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân hàng,tổ chứctín dụng hoặc với các cổ đông
- Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh,tạo cơ hội chocông ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo
Nhược điểm :
- Hạn chế về quy mô đầu tư nếu chỉ dựa vào nguồn vốn này , doanh nghiệp khó có thể đủ vốn cho các dự án mở rộng và đầu tư theo chiều sâu
- Khi doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có thể làm cho giá
cổ phiếu trên thị trường giảm,ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp
- Dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt do cổ đông chỉ nhậnđược một phần cổ tức nhỏ hơn
1.2.1.3 Phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Phát hành cổ phiếu là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp và là nguồn tàichính dài hạn rất quan trọng của doanh nghiệp.Thực hiện thông qua thị trường tài chính
Trang 14Doanh nghiệp có thể phát hành 2 loại cổ phiếu:
Cổ phiếu thường :
Cổ phiếu thường( còn gọi là cổ phiếu thông thường)là loại cổ phiếu thông dụng nhất,đồng thời là chứng khoán quan trọng nhất được trao đổi, mua bán trên thị trường chứngkhoán
Sau khi phát hành phần lớn cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư- các cổ đông.Những cổ phiếu này gọi là những cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường Công ty pháthành có thể mua lại những cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó, chúngđược gọi là cổ phiếu ngân quỹ Việc mua bán những cổ phiếu này phụ thuộc vào một sổyếu tố như:
Tình hình biến động vốn và khả năng đầu tư
Tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường
Chính sách đối với việc sáp nhập hoặc thôn tính công ty
Tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của uỷ ban chứng khoán nhà nước
Ưu điểm : - Có thể huy động lượng vốn cần thiết cho chủ thể phát hành
- Yêu cầu nâng cao tính minh bạch và công khai
Nhược điểm : - Tính cạnh tranh và rủi ro cao
- Phải tạo được sự hấp dẫn cần thiết cho loại cổ phiếu phát hành
- Nguy cơ bị các đối thủ khác thôn tính nếu không có biện pháp tínhtoán tỷ lệ cổ phần tối thiểu để giữ vững quyền kiểm soát doanh nghiệp
Cổ phiếu ưu đãi : Được hiểu là loại cổ phiếu phát có kèm theo một số điều kiện ưu
tiên cho nhà đầu tư sở hữu nó Thường chỉ chiểm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổphiếu được phát hành Tuy nhiên trong một số trường hợp việc sủ dụng cổ phiếu ưutiên là thích hợp
Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó thường có cổ tức cổ định Người chủ sở hữu cổphiếu này có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông thông thường Nếu số lãi chỉ
Trang 15đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không được nhận cổtức của kỳ đó.
Các cổ phiếu ưu đãi có thể được chính công ty phát hành thu lại khi công ty cầnthiết
Một vấn đề rất quan trọng cần đề cập khi phát hành cổ phiếu ưu tiên là thuế Khácvới chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty,cổ tức được lấy từ lợinhuận sau thuế Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu tiên
Ưu điểm : Quy mô huy động rộng rãi hơn
Yêu cầu công khai, minh bạch buộc DN phải sử dụng vốn có hiệu quả Tạo thêm sự hấp dẫn đối với các cổ đông
Nhược điểm : Tính cạnh tranh và rủi ro lớn hơn, việc phân phối cổ tức : trích từ lợi
nhuận sau thuế
Chứng khoán có thể chuyển đổi
Ở một số nước,các công ty có thể phát hành những chứng khoán kèm theo nhữngđiều kiện có thể chuyển đổi được.Nói chung,sự chuyển đổi và lựa chọn cho phép các bên
có thể chọn một cách thức đầu tư có lợi và thích hợp.Có một số hình thức chuyển đổinhư:
- Giấy đảm bảo:người sở hữu giấy đảm bảo có thể mua một số lượng cổ phiếu thườngđược quy định trước với giá cả và thời gian xác định
- Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu cho phép có thể chuyển đổi thành một số lượngnhất định các cổ phiếu thường Nếu thị giá của cổ phiếu tăng lên thì người giữ trái phiếu
có cơ may nhận được lợi nhuận cao
Hợp đồng góp vốn đầu tư – Hướng huy động vốn mới cho nhiều doanh nghiệp
Ngày 24/11/2010 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 12 đã thông qua Luật Sửa đổi, Bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán Trong đó vấn đề đuợc khá nhiều nhà đầu tư quan tâm là “Hợp đồng góp vốn đầu tư”đuợc bổ sung vào điều 6 của Luật chứng khoán
Trang 16Theo Luật Chứng khoán sửa đổi thì “Hợp đồng góp vốn đầu tư là hợp đồng góp vốn bằng tiền hoặc tài sản giữa các nhà đầu tư với tổ chức phát hành hợp đồng nhằm mục đích lợi nhuận và được phép chuyển đổi thành chứng khoán khác.”
Như vậy, theo như định nghĩa mà Luật Chứng khoán sửa đổi đưa ra thì doanh nghiệp
có thể đi vay nhà đầu tư một khoản tiền X, khi đến hạn trả nợ thì thay vì trả tiền cho nhà đầu tư thì doanh nghiệp có thể hoán chuyển khoản tiền X thành số cổ phần tương ứng, hay nói cách khác đây chính là việc hoán chuyển nợ thành vốn cổ phần
Có thể nói hình thức này khá giống với hình thức trái phiếu chuyển đổi được các doanh nghiệp sử dụng trước đây, là việc hoán chuyển nợ thành vốn cổ phần Tuy nhiên, với trái phiếu chuyển đổi thì doanh nghiệp phát hành phải làm ăn có lãi trong năm trước
đó mới được huy động bằng hình thức này, trong khi đó với Hợp đồng góp vốn đầu tư, thì đây là sự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của hai bên nên sẽ không có sự ràng buộc
về lỗ lãi
Hợp đồng góp vốn đầu tư là sự thỏa thuận giữa hai bên nên tới một thời điểm nhất định, tùy vào tình hình thị trường, nhà đầu tư có quyền chọn lựa giữa việc nhận lại tiền hay chuyển thành cổ phiếu, tất cả vấn đề này sẽ được thỏa thuận trong Hợp đồng giữa haibên khi ký kết ban đầu
Nói một cách khác thì Hợp đồng góp vốn đầu tư sẽ là một sự kết hợp giữa Phát hànhriêng lẻ và Trái phiếu chuyển đổi
1.2.1.4 Các quỹ ( Funds)
Quĩ phát triển kinh doanh: là loại quĩ được hình thành từ chính hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp Quĩ này sẽ được dùng để bổ sung vốn điều lệ cho doanh nghiệp
Quĩ dự trữ tài chính: loại quĩ này được dùng để
- Bù đắp những tổn thất , thiệt hại về tài sản, công nợ không đòi được xảy ra trong quátrình kinh doanh
- Bù đắp khoản lỗ của doanh nghiệp theo quyết định của Hội đồng quản trị hoặc đại diệnchủ sở hữu
Trang 17 Quĩ khen thưởng và phúc lợi: 2 loại quĩ này thường được dùng để :
Quỹ khen thưởng phúc lợi không phải là một loại quỹ bắt buộc, tuy nhiên tất cả cácdoanh nghiệp đều không thể thiếu được quỹ này bởi vì số tiền trong quỹ sẽ được sử dụngvào mục đích phúc lợi hoặc khuyến khích, khen thưởng nhân viên khi đạt được kết quảtốt trong công việc
Quĩ khấu hao:
Quĩ khấu hao là nguồn vốn hình thành bằng tiền trích khấu hao tài sản cố định
Quĩ khấu hao gồm hai phần: Quĩ khấu hao cơ bản và Quĩ khấu hao sửa chữa lớn Qũikhấu hao cơ bản dùng để mua sắm, thay thế những tài sản cố định bị đào thải bằng nhữngtài sản cố định mới (tái sản xuất toàn bộ tài sản cố định) Quĩ khấu hao sửa chữa lớn dùng
để sửa chữa, thay thế những bộ phận, chi tiết cơ bản bị hao mòn của tài sản cố định (táisản xuất từng bộ phận của tài sản cố định) Dưới chủ nghĩa xã hội, việc sử dụng quĩ khấuhao không giới hạn trong phạm vi xí nghiệp, nhà nước có thể tập trung một bộ phận vàongân sách, điều hoà vì lợi ích chung của toàn xã hội (những quy định cụ thể tuỳ theo từnggiai đoạn phát triển của nền kinh tế)
1.2.1.5. Các nguồn khác
- Chênh lệch giá do đánh giá lại tài sản,…
- Nguồn cấp phát kinh phí : quỹ quản lý của cấp trên, nguồn kinh phí sự nghiệp đối với các doanh nghiệp nhà nước
Phân loại:
Trang 18Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại trái phiếu này thường được sử dụng nhiềunhất, phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp Lãi suất được ghi ngay trênmặt trái phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó Tính hấp dẫn của trái phiếuphụ thuộc vào những yếu tố sau:
Lãi suất của trái phiếu
Kỳ hạn của trái phiếu
Uy tín của doanh nghiệp
Trái phiếu có lãi suất thay đổi: thực ra lãi suất của loại trái phiếu này phụ thuộcvào nguồn lãi suất quan trọng khác Trong điều kiện có mức lạm phát khá cao và lãi suấtthị trường không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếunày Tuy nhiên loại trái phiếu này có một vài nhược điểm là doanh nghiệp không thể biếtchắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu, điều này gây khó khăn một phần cho việc lập
kế hoạch tài chính; việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do doanhnghiệp phải thông báo điều chỉnh lãi suất
Trái phiếu có thể thu hồi: tức là doanh nghiệp có thể mua lại vào một thời gian nào
đó Loại trái phiếu này phải được quy định ngay từ đầu để khách hàng biết Loại tráiphiếu này có những ưu điểm như: có thể sử dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn sửdụng, khi không cần thiết doanh nghiệp có thể mua lại các trái phiếu đó và thay bằngnguồn tài chính khác Tuy nhiên nếu không có hấp dẫn nào đó thì trái phiếu này khôngđược ưa thích
1.2.2.2 Nguồn vốn tín dụng ngân hàng
♦ Vai trò:
Vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đốivới sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốcdân Sự hoạt động và phát triển của các công ty, các doanh nghiệp đều gắn liền với cácdịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các
Trang 19nguồn vốn tín dụng Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không
sử dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thươngtrường
Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngắn hạn ngân hàng đểđảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có
đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp
♦ Phân loại
Về mặt thời hạn, vốn vay ngân hàng có thể được phân thành ba loại:
Vay dài hạn: thường tính từ 3 năm trở lên, có nơi tính 5 năm Có lãi suất cao, vì mangnhiều rủi ro cho người cho vay
Vay trung hạn: Từ 1 đến 3 năm Có lãi suất thấp hơn vay dài hạn
Vay ngắn hạn : dưới 1 năm Có lãi suất thấp nhất
Theo tính chất và mục đích sử dụng, có thể phân thành các loại:
Vay để đầu tư tài sản cố định
Vay đầu tư tài sản lưu động
Vay theo dự án
Hạn chế
Điều kiện tín dụng: các doanh nghiệp muốn vay vốn tại các ngân hàng thương mại
cần đáp ứng được những yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng của ngân hàng Trước tiênngân hàng phải phân tích hồ sơ xin vay vốn, đánh giá các thông tin liên quan đến dự ánđầu tư hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn.Doanh nghiệp phảixuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu
Các điều kiện đảm bảo tiền vay: khi doanh nghiệp xin vay vốn, nói chung các
ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có bảo đảm tín dụng, phổ biến nhất
là bằng tài sản thế chấp Việc yêu cầu người vay có tài sản thế chấp trong nhiều trườnghợp làm cho bên đi vay không thể đáp ứng được các điều kiện đi vay, kể cả các thủ tục
Trang 20pháp lí về giấy tờ… Do đó, doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận với nguồnvốn ngân hàng.
Sự kiểm soát của ngân hàng: một khi doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng, doanh
nghiệp cũng phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốnvay Nói chung thì sự kiểm soát này không gây ra vấn đề gì quá lớn cho doanh nghiệp,tuy nhiên trong một số trường hợp điều đó cũng làm cho DN có cảm giác bị kiểm soát
Lãi suất vốn vay: Phản ánh chi phí sử dụng vốn Lãi suất vốn vay ngân hàng phụ
thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ Nếu lãi suất vay quá caothì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp
Sử dụng vốn vay phải chú ý đến cơ cấu vốn của doanh nghiệp, kế hoạch sử dụng vốnphải đảm bảo hợp lí, đúng mục đích, quản lí sử dụng đúng quỹ tiền mặt, kì trả nợ và kìthu tiền, kế hoạch sản xuất kinh doanh phải được bám sát thực tế… nếu không vốn vay
sẽ trở thành một gánh nặng đối với doanh nghiệp
Ưu điểm : Mở rộng quy mô vốn cho các doanh nghiệp, đảm bảo vốn cho quá trình sản
xuất kinh doanh và đặc biệt là các dự án cần quy mô vốn lớn, đầu tư theo chiều sâu Đồng thời dưới áp lực trả nợ khiến cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các DN
Nhược điểm : phụ thuộc vào chủ nợ, rủi ro tín dụng lớn.
1.2.2.3 Tín dụng thương mại
● Khái niệm
Tín do dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được biểuhiện dưới các hình thức mua bán chịu hàng hoá Tín dụng thương mại xuất hiện là do sựtách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng Do đặc tính thời vụ trong sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm khiến các doanh nghiệp phải mua bán chịu hàng hóa
Mua bán chịu được coi là một hình thức tín dụng và nó chứa đầy đủ nội dung cơbản của khái niệm tín dụng là vì:
+ Người bán chuyển giao cho người mua được sử dụng vốn tạm thời trong một thời hạn
Trang 21+ Đến thời hạn đã được thoả thuận, người mua hoàn lại vốn cho người bán dười hìnhthức tiền tệ và cổ phần lãi suất.
●Vai trò
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các doanh nghiệp thườngxuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một mặt đáp ứng được nhu cầuvốn của các doanh nghiệp tạm thời thiếu, đồng thời giúp cho các doanh nghiệp tiêu thụđược hàng hoá của mình Mặt khác, sự tồn tại của hình thức tín dụng này giúp cho cácdoanh nghiệp khai thác được vốn nhằm đáp ứng kịp thời hoạt động sản xuất kinh doanh
Ưu điểm:
- Tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh do doanh nghiệp sẽ vay trực tiếp bằng nguyên vật liệu và số lượng có thể thay đổi mỗi kỳ khi kí hợp đồng
- Giúp doanh nghiệp mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền
- Chủ động khi huy động vốn: chủ động về thời gian, số lượng, nhà cung ứng
- Huy động nhanh chóng dễ dàng
- Không phải chịu sự giám sát của ngân hàng cũng như các cơ quan nhà nước
- Ngoai ra, đối với doanh nghiệp làm chủ nợ: có thể vay ngân hàng thông qua hình thức chiết khấu thương phiếu (bán hoặc cầm cố)
● Hạn chế
- Hạn chế về quy mô tín dụng: Tín dụng thương mại là do các doanh nghiệp cung cấp và
họ chỉ cung cấp với khả năng giới hạn của họ Nếu người đi vay có nhu cầu cao hơn thìngười cho vay không thể đáp ứng đươc
- Hạn chế về thời hạn cho vay: Điều kiện kinh doanh và chu kì sản xuất của các doanhnghiệp có thể không phù hợp với nhau, vì vậy mà khi thời hạn mà người cho vay muốncung cấp và người đi vay có nhu cầu không phù hợp nhau thì tín dụng này không thể xảyra
- Hạn chế về phương hướng: Tín dụng thương mại được cung cấp dưới hình thức hànghóa, vì vậy mà doanh nghiệp chỉ có thể cung cấp được tín dụng cho một số doanh nghiệp
Trang 22nhất định, những doanh nghiệp cần hàng hoá đó để sử dụng cho sản xuất hoặc dự trữ đểbán ra
1.2.2.4 Tín dụng thuê mua
* Khái niệm chung.
Tín dụng thuê mua là một hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tài sản, máy móc thiết bị Nó có lịch sử khá lâu đời, song chỉ phát triển mạnh ở những nước có nền kinh tế phát triển Đây là một hình tức tín dụng trung và dài hạn đặc biệt rất thông dụng trong việc tài trợ các doanh nghiệp Ở nước ta hình thức tín dụng nay mới được hình thành và phát triển
Quan hệ tín dụng thuê mua được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa người đi thuê tàisản và người cho thuê Thỏa thuận thuê mua là một hợp đồng giữa hai hay nhiều bên, liênquan đến một hay nhiều tài sản Người cho thuê sẽ chuyển giao tài sản cho người đi thuê trong một khoảng thời gian nhất định Đổi lại người đi thuê phải trả một số tiền cho chủ tài sản tương ứng với quyền sử dụng Có hai phương thức giao dịch chủ yếu là phương thức thuê vận hành (operating lease) & phương thức thuê tài chính (capital lease)
Thuê vận hành (Operating Lease)
Là quan hệ trong đó người thuê không có nghĩa vụ đối với các chi phí có liên quan tới
sự hao mòn, chi phí bảo dưỡng, bảo hành hay các nghĩa vụ đối với tài sản của bên cho thuê Bên thuê sẽ sử dụng tài sản thuê trong khoảng thời gian ngắn, sau đó trả lại bên cho thuê hoặc mua lại nếu muốn
Thuê tài chính
Một tài sản được coi là tài sản thuê tài chính khi có đầy đủ 4 đặc trưng:
Bên thuê được quyền lựa chọn mua lại hoặc thuê tiếp khi hợp đồng hết hạn
Bên thuê phải thuê trong ít nhất 60% thời gian sử dụng hữu ích của thiết bị thuê
Bên thuê nếu mua lại phải đã trả ít nhất số tiền tương đương với giá trị ban đầu của thiết
bị thuê
Bên thuê nếu mua lại phải được quyền mua với giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của thiết bị thuê vào thời điểm mua lại
Trang 23Thường thì tài sản thuê vận hành là các máy móc thiết bị có giá trị, dễ bị lạc hậu nên cácdoanh nghiệp lựa chọn cách thuê tài chính để đảm bảo được khả năng đổi mới công nghệ.
Ưu điểm :
- Cho thuê tài chính cho phép DN sử dụng linh hoạt đồng vốn của mình vào mục đích khác, nhằm mang lại lợi ích nhiều hơn thay vì phải đầu tư vốn để mua tài sản cố định, giúp DN tận dụng được cơ hội kinh doanh
- Sử dụng cho thuê tài chính sẽ không làm ảnh hưởng tới hạn mức tín dụng của doanh nghiệp khi doanh nghiệp đi vay vốn ngân hàng
- Cho thuê tài chính có phương thức thanh toán tiền thuê linh hoạt phù hợp với chu chuyển vốn của doanh nghiệp
- Phí thuê tài chính được hạch toán vào giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp giảm nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước
- Sử dụng tài sản thuê không nhất thiết phải có tài sản thế chấp
- Cho thuê tài chính giúp DN có nhiều cơ hội chủ động trong lựa chọn thiết bị, dễ dàngđổi mới công nghệ, tiếp cận và sử dụng những máy móc, thiết bị hiện đại nhất , từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tận dụng được cơ hội kinh doanh
Nhược điểm :
Mặc dù cho thuê tài chính là loại hình cấp tín dụng trung và dài hạn khá phổ biến trên thế giới và có nhiều lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên, sau 11 năm có mặt, thị trường cho thuê tài chính Việt Nam chỉ có 12 công ty được thành lập dưới các hình thức sở hữu khác nhau
Vốn điều lệ trung bình của một doanh nghiệp cho thuê tài chính là 150 tỉ đồng - rất nhỏ so với vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại (thường là trên 1.000 tỉ đồng)
Và hiện có nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả
1.2.2.5 Tín dụng đầu tư
Tín dụng đầu tư phát triển là một hình thức nhằm thực hiện chính sách đầu tư pháttriển của Nhà nước, thể hiện mối quan hệ vay - trả giữa Nhà nước (hiện nay là Ngân hàngPhát triển Việt Nam đại diện cho Nhà nước) với các pháp nhân và thể nhân hoạt độngtrong nền kinh tế, được Nhà nước cho vay với lãi suất ưu đãi cho từng đối tượng cụ thể
Trang 24nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định theo định hướngcủa Nhà nước
Khái niệm tín dụng đầu tư phát triển chỉ ra đời khi việc sử dụng vốn ngân sách Nhànước cho đầu tư phát triển chuyển từ việc cấp phát không hoàn lại sang hình thức cho vay
có hoàn lại là chủ yếu Giống như các hình thức tín dụng khác, tín dụng đầu tư phát triểnkhông chỉ giúp cho nền kinh tế tập trung được lượng vốn cần thiết mà còn có tác dụngnâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn cho đầu tư phát triển.Đối với doanh nghiệp thì tín dụng đầu tư cũng là một kênh huy động vốn quan trọng,thông qua các ưu đãi: lãi suất thấp hơn lãi suất ngân hàng, thời hạn vay dài hơn, hỗ trợ lãisuất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư Điều này có thể làm giảm chi phí vốn vay củadoanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sử dụng vốn vào sản xuất kinhdoanh….Tuy nhiên không phải DN nào cũng được tiếp cận với loại tín dụng này, chỉnhững DN có trên 20% vốn tự có và đảm bảo các điều kiện theo đúng Luật định thì cóthể vay tín dụng đầu tư do tính chất giới hạn của nguồn vốn ngân sách
1.2.2.6 Quỹ đầu tư mạo hiểm
Tài chính là bài toán mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải đối mặt và đi tìm lời giảithỏa đáng Bài toán này phát sinh từ quá trình tìm kiếm, phát triển một ý tưởng khoa học,công nghệ trở thành một phát minh, một sản phẩm mới và thương mại hóa sản phẩm.Điều này đối với công ty lớn thì không quá khó khăn bởi họ thường dành một khoản đáng
kể cho công tác R&D, nhưng quả là nan giải khi những phát minh, ý tưởng mới đầy tiềmnăng lại xuất hiện ở những người mới khởi nghiệp hoặc các công ty còn non trẻ
Vốn mạo hiểm chính là lời giải cho bài toán nhu cầu tài chính của doanh nghiệp.
Vốn mạo hiểm là khoản đầu tư do những tổ chức chuyên môn hoá thực hiện tới nhữnghãng tăng trưởng cao, rủi ro cao và thường là có công nghệ cao đang cần vốn cổ phần đểtài trợ cho phát triển sản phẩm hoặc tăng trưởng Vốn mạo hiểm được cung cấp dướinhiều hình thức khác nhau, trong đó điển hình nổi bật là việc tài trợ vốn thông qua cácquỹ đầu tư mạo hiểm Về bản chất, đó là một quỹ đầu tư nhưng mục tiêu hoạt động của
họ là nhắm vào những dự án có độ rủi ro cao nhằm tìm kiếm những khoản lợi nhuận caohơn mức thông thường Tham gia vào quá trình này có 3 đối tượng chủ yếu: nhà đầu tư –
Trang 25người bỏ vốn nhưng không trực tiếp quyết định đầu tư; nhà tư bản mạo hiểm- người đứng
ra huy động vốn, quản lý nó và trực tiếp quyết định nên đầu tư vào đâu nhằm mục đíchsinh lợi tối đa; và còn lại chính là các đối tượng nhận đầu tư: những công ty trẻ, những dự
án về sản phẩm dịch vụ công nghệ mới đầy tiềm năng …
Những ưu thế của vốn mạo hiểm so với các nguồn vốn khác:
Tiếp cận nguồn vốn tín dụng dưới bất kỳ hình thức nào là điều khó khăn Yêu cầu vềtài sản đảm bảo cũng như các quy định trong thẩm định khác đã không thể tạo cơ hội chocác công ty, đặc biệt khi người sáng lập công ty chỉ mới có ý tưởng là “tài sản” chínhyếu Các phương pháp đánh giá và mục tiêu đánh giá đầu tư với các công ty tư nhân củacác chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm trong trường hợp này phù hợp hơn các phươngpháp và mục tiêu của ngân hàng Có 4 điểm chính tạo nên khoảng cách giữa ngân hàngvới các doanh nghiệp vừa và nhỏ: tài sản thế chấp; ấn tượng không tốt do nhận định: quy
mô nhỏ gắn liền với rủi ro; lãi suất thực tiền vay ngân hàng là khá cao; chi phí cho cáckhoản vay ngân hàng sẽ càng tăng do quá trình thẩm định Từ đó đẫn đến kết quả là: cácngân hàng dường như tỏ thái độ đối với DN vừa và nhỏ rằng: nên để họ tìm kiếm nguồnvốn thay thế từ các quỹ mạo hiểm
Một khi thiếu vốn, nhu cầu này được giải quyết bằng 2 cách: tài trợ nợ hoặc vốn chủ sởhữu Khi xét ở góc độ tài chính, cấu trúc vốn của công ty loại này thường có xu hướngkhông tài trợ bằng nợ bởi lẽ rủi ro kinh doanh được xác định là khá cao nên đã không chophép công ty gia tăng thêm rủi ro tài chính nếu muốn giữ mức độ rủi ro của công ty ở mộtmức độ hợp lý Còn phát hành chứng khoán thì không thể thực hiện được
Hình thức đầu tư mạo hiểm là nắm giữ cổ phần, tham gia chia sẻ thành công nếu công typhát đạt, song cũng gánh chịu rủi ro nếu thất bại Chính điều này đảm bảo rằng nhữngkhuyến khích đối với các nhà đầu tư và các doanh nhân khởi nghiệp là thống nhất vớinhau
2. Huy động và sử dụng vốn trong doanh nghiệp
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp:
2.1.1 Các nhân tố vĩ mô
Trang 26a) Tình hình thị trường
Thị trường tài chính
Có thể nói trong nền kinh tế thị trường hiện nay, thị trường tài chính đóng một vai tròđặc biệt quan trọng Thị trường tài chính có vai trò là kênh dẫn vốn từ người tiết kiệm đếnngười kinh doanh, giúp việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn không chỉ đối với người có tiềnđầu tư mà còn với người vay tiền để đầu tư, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triểnkinh tế xã hội của quốc gia Dòng vốn đó từ người cho vay đến người vay thông qua haicon đường đó là : tài chính trực tiếp, và tài chính gián tiếp ( thông qua các trung gian tàichính ) Hơn nữa với việc phát triển của thị trường tài chính sẽ thúc đẩy quá trình luânchuyển vốn và cung cấp các công cụ tài chính đa dạng cho người đầu tư
Như vậy một thị trường tài chính phát triển lành mạnh sẽ là một nhân tố quan trọngảnh hưởng tới việc huy động nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp
Ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
Sự ổn định của kinh tế vĩ mô cũng được coi là ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huyđộng các nguồn vốn đầu tư của DN, đặc biệt là trong việc ổn định giá trị tiền tệ trong việckiềm chế lạm phát và khắc phục hậu quả của tình trạng giảm phát nếu xảy ra đối với nềnkinh tế Chẳng hạn như nếu lạm phát xảy ra và dẫn đến tình trạng giá cả leo thang và sẽlàm ảnh hưởng tới sự gia tăng của lãi suất Lãi suất càng cao thì xu hướng tiết kiệm cànglớn và từ đó tiềm năng của vốn đầu tư càng cao, tuy nhiên tăng lãi suất cũng tương đươngvới việc tăng chi phí sử dụng vốn trong đầu tư cao hơn Điều này sẽ làm giảm lợi nhuậnthực của các nhà đầu tư, và tạo nên một cản trở khó khăn cho các DN thực hiện quá trìnhhuy động vốn Đảm bảo sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô cũng tạo các điều kiện huyđộng nguồn vốn bên ngoài làm cho DN có thể huy động được nhiều nguồn đa dạng vàphong phú hơn Vì vậy nhà nước cần có các chính sách để thực hiện ổn định kinh tế vĩ
mô nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN huy động vốn một cách hiệu quả thực hiệnquá trình sản xuất kinh doanh
b) Cơ chế chính sách của nhà nước:
Có thể nói các chính sách của nhà nước cũng có những ảnh hưởng không nhỏ đối vớiviệc huy động vốn của DN Chính sách của nhà nước định hướng cho các DN, tạo điều
Trang 27kiện và khuyến khích cho DN có thể huy động vốn Đặc biệt trong nền kinh tế thị trườnghiện nay cạnh tranh là xu hướng tất yếu Nhà nước cần có các chính sách để khuyếnkhích, định hướng các hoạt động thu hút và cung ứng của các DN để cho các DN côngkhai minh bạch hơn trong tài chính, sử dụng nguồn vốn huy động một cách có hiệu quả.
Chính sách tài chính: chính sách tài chính là chính sách thông qua chế độ thuế và
đầu tư công để tác động đến nền kinh tế Các chính sách về thuế có ổn định thì các doanhnghiệp nhà nước cũng mới ổn định sản xuất, tạo tăng trưởng, có lợi nhuận và tăng thêmvốn huy động vào sản xuất
Chính sách tiền tệ : tác động thông qua nhân tố: yếu tố lãi suất, lạm phát, hoạtđộng của ngân hàng trung ương, thu chi ngân sách nhà nước, tỷ giá hối đoái đều ảnhhưởng tới hoạt động huy động vốn của DN
2.1.2 Các nhân tố vi mô ( các nhân tố bên trong doanh nghiệp)
a) Chi phí vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Vốn là nhân tố cần thiết của sản xuất Cũng như bất kỳ một nhân tố nào khác, để sửdụng vốn, doanh nghiệp cần phải bỏ ra một chi phí nhất định Chi phí vốn là khoản tiền
mà doanh nghiệp phải trả để được sử dụng một lượng vốn nhất định (hay chính là tỷ lệsinh lợi cần thiết mà người chủ sở hữu khoản tiền đó yêu cầu) và là nhân tố ảnh hưởnglớn đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp
Trên thực tế, các nhà đầu tư chỉ chấp nhận tài trợ vốn cho doanh nghiệp khi họđược trả một khoản lãi xứng đáng và thông thường những người này luôn mong muốnmột mức lãi suất cao Tuy nhiên doanh nghiệp thì cần phải cân nhắc sao cho lợi nhuậnthu được từ nguồn vốn huy động đó không làm giảm lợi nhuận kỳ vọng dành cho chủ sởhữu doanh nghiệp trong tương lai
Cơ cấu vốn cho tất cả các loại hình doanh nghiệp gồm hai loại cơ bản là vốn
chủ sở hữu và vốn vay Một doanh nghiệp ít nợ, nhiều vốn tự có thì rủi ro thấp nhưnghiệu quả kỳ vọng lại không cao Trong khi đó, nếu tăng vốn thông qua vay nợ, chủ doanhnghiệp có thể tăng được thu nhập trên vốn chủ sở hữu mà vẫn nắm quyền kiểm soát vàđiều hành doanh nghiệp Tuy nhiên, nếu tỷ lệ nợ quá cao mà đồng tiền không đạt đượcnhư kỳ vọng thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán
Trang 28Do đó, trong quản trị tài chính, các nhà quản lý phải xây dựng phương án cơ cấuvốn tối ưu, bảo đảm tỷ lệ hợp lý giữa vốn chủ sở hữu và nợ vay sao cho lợi ích thu được
là cao nhất Đó là cơ cấu hướng tới sự cân bằng giữa rủi ro và lãi suất nhằm tối đa hóa giátrị của doanh nghiệp
Trên cơ sở cơ cấu vốn tối ưu (cơ cấu mục tiêu) được thiết lập phù hợp với tình hình
cụ thể của doanh nghiệp, các nhà quản lý mới tiến hành huy động vốn theo cách giữ cơcấu vốn thực tế theo cơ cấu vốn tối ưu sao cho lợi nhuận thu được là cao nhất Có bốnyếu tố chủ yếu tác động đến những quyết định về cơ cấu vốn doanh nghiệp
Thứ nhất, rủi ro trong kinh doanh được coi là một trong những yếu tố tác động đếnviệc lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, đốivới những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có độ rủi ro kinh doanh lớn thì việc sửdụng cơ cấu thiên về vốn vay chưa phải là một giải pháp huy động tối ưu
Thứ hai: vấn đề về thuế thu nhập doanh nghiệp Trong trường hợp thuế suất thuếthu nhập doanh nghiệp cao thì việc sử dụng nợ nhiều hơn sẽ có lợi vì khi sử dụng nợ,phần lãi vay phải trả được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ trước khi tính thuế thu nhậpdoanh nghiệp và nhờ đó hạ thấp được chi phí thực tế của nợ
Thứ ba, khả năng huy động vốn của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường thayđổi hay khả năng linh hoạt tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có khả năngđảm bảo nguồn vốn ổn định để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình trongthời gian dài sẽ dễ dàng hơn trong việc kêu gọi nguồn tài trợ từ các nhà đầu tư
Thứ tư, quan điểm của các nhà quản lý về việc sử dụng vốn Có những nhà quản lýsẵn sàng chấp nhận mạo hiểm sử dụng nhiều nợ hơn để tăng lợi nhuận, song có nhữngngười lại thích sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn vì mục tiêu an toàn cho doanh nghiệp Bốn yếu tố trên quyết định rất lớn đến mục tiêu cơ cấu vốn của doanh nghiệp.Trong những thời kỳ khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của nền kinh tế và củadoanh nghiệp, các nhà quản lý sẽ đưa ra một cơ cấu vốn tối ưu để trên cơ sở đó, doanhnghiệp tìm kiếm các nguồn đầu tư cho phù hợp
Trên thực tế vì mục tiêu kinh doanh với thu nhập kỳ vọng, các doanh nghiệp luônhướng tới cơ cấu vốn có chi phí vốn trung bình thấp nhất Việc xác định chí phí vốn sau
Trang 29thuế bình quân gia quyền (WACC) của doanh nghiệp dựa trên chi phí nhân tố cấu thànhcủa nguồn vốn bao gồm chi phí nợ vay sau thuế và chi phí vốn chủ sở hữu được tính theocông thức:
WACC = Rd (1 – T) (D/V) + (E/V) Re
Trong đó: D và E là giá trị thị trường của các khoản nợ và vốn cổ phần của doanhnghiệp, V = D + E là tổng giá trị thị trường của doanh nghiệp, Rd và Re là chi phí vốnvay và chi phí vốn cổ phần, T là thuế suất thu nhập doanh nghiệp, D/V là tỷ lệ nợ, E/V là
tỷ lệ vốn chủ sở hữu
Do mỗi nguồn vốn huy động với phương thức khác nhau, với quy mô, cơ cấu vốn
và yêu cầu, mục đích sử dụng nguồn vốn huy động được là khác nhau nên chi phí vốnvay sẽ khác nhau, co thể với cùng một lượng vốn được huy động nhưng tỷ lệ của cácnguồn vốn khác nhau thì chi phí vốn sau thuế bình quân gia quyền cũng khác nhau
Vì thế, khi quyết định lựa chọn một nguồn vốn nào đó cho kế hoạch kinh doanhcủa mình, doanh nghiệp luôn phải cân nhắc chi phí vốn và tỷ trọng của chúng sao cho chiphí trung bình của vốn là thấp nhất Như vậy có thể thấy chi phí vốn và cơ cấu vốn có ảnhhưởng mạnh mẽ và trực tiếp tới việc huy động vốn của doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽhuy động nguồn vốn nào, vơi quy mô là bao nhiêu không chỉ phụ thuộc vào chi phí phảitrả cho nguồn vốn đó mà còn phụ thuộc vào cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp đã đặt ra
b) Tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp chỉ có nhu cầu huy động thêm vốn khi tình hình hoạt động kinhdoanh ổn định và phát triển Ngược lại, nếu doanh nghiệp đang “ăn nên làm ra”, có tìnhhình tài chính lành mạnh thì khả năng huy động vốn cũng cao hơn, doanh nghiệp sẽ dễdàng hơn trong việc kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư để tài trợ cho nhu cầu mở rộng quy môkinh doanh của mình Bên cạnh đó, trình độ quản trị doanh nghiệp của lãnh đạo doanhnghiệp và bộ phận tham mưu cho ban lãnh đạo, đặc biệt người đứng đầu doanh nghiệp cóvai trò hết sức quan trọng quyết định hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp cũng như sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 30c) Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt kếtquả cao nhất với chi phí thấp nhất Một doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng vốn cao đồngnghĩa với việc doanh nghiệp làm ăn có lãi, hiệu quả sản xuất, kinh doanh cao
Hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tốkhách quan và chủ quan như cơ chế, chính sách của nhà nước, việc nắm vững và sử dụngcác nguồn nhân lực của doanh nghiệp, cách thức tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh,việc lựa chọn và thực thi các chiến lược kinh doanh
Để nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn, các doanh nghiệp cầnnâng cao trình độ quản lý doanh nghiệp, lựa chọn phương án kinh doanh hiệu quả, tínhtoán và dự báo về nhu cầu vốn cũng như nguồn vốn tài trợ, tăng cường công tác quản lý
và nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản cố định, tăng cường công tác quản lý tài sản lưuđộng, không ngừng nâng cao tốc độ chu chuyển nguồn vốn, tiết kiệm vốn trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh
2.2.Vấn đề sử dụng vốn
2.2.1.Mục đích
Trong nền kinh tế, mọi loại hình DN đều có thể tham gia hoạt động sản xuất kinhdoanh trên tất cả các lĩnh vực được Nhà nước cho phép hoạt động như công nghiệp, nôngnghiệp, xây dựng, dịch vụ, ….Các DN với chức năng của mình tham gia hoạt động sảnxuất kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời Nhưng cũng có các
DN hoạt động ngoài mục tiêu lợi nhuận, khi tham gia sản xuất kinh doanh còn thực hiệnnhiều mục tiêu khác của Nhà nước như phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, chốngđộc quyền, hạn chế sự lệ thuộc của nền kinh tế…
2.2.2.Nội dung
DN sử dụng vốn để tiến hành các dự án đầu tư Hoạt động đầu tư chủ yếu của DN là:
Trang 31+ Đầu tư xây dựng cơ bản: bao gồm các hoạt động xây lắp, mua sắm máy móc và thiết
bị Đây là hoạt động đầu tư quan trọng trong DN, là hoạt động tạo ra cơ sở vật chất kỹthuật cho DN Trong DN vốn chi cho hoạt động này chiếm một tỷ trọng rất lớn Thườngchiếm trên 50% vốn bỏ ra ban đầu của DN
+ Đầu tư bổ sung hàng dự trữ: để cho DN luôn trong thế chủ động đáp ứng được nhu cầu
thị trường và hoạt động một cách hiệu quả Nhiều DN tỷ trọng vốn đầu tư cho mua sắmhàng dự trữ là lớn
+ Đầu tư nghiên cứu triển khai (R&D) công nghệ khoa học - kỹ thuật nâng cao chất
lượng sản phẩm dịch vụ của DN Đây là hoạt động quan trọng nằm trong chiến lược hoạtđộng của DN vì khoa học công nghệ càng ngày càng phát triển Nếu DN không đầu tưcho hoạt động này thì sẽ bị tụt hậu và không thể cạnh tranh được trên thị trường
+ Đầu tư phát triển nguồn nhân lực(NNL): NNL là yếu tố quan trọng trong hàm sản xuất
của DN Một DN có chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ có nhiều tiềm năng để đưa DN đilên và luôn phát triển
+ Đầu tư cho hoạt động quảng cáo, tiếp thị sản phẩm:
Quảng cáo không thể thiếu trong kinh doanh Quảng cáo, tiếp thị giúp cho sản phẩm
và dịch vụ của DN có thể đến với khách hàng Hiện nay, trong các DN thì hoạt độngquảng cáo và tiếp thị diễn ra liên tục và hoạt động này sử dụng một lượng vốn chiếm tới5% trong vốn chi cho hoạt động trong DN
+ Các hoạt động đầu tư khác.
Đầu tư bất động sản, đầu tư tài chính, đầu tư tín dụng chứng khoán….các hoạt động
này không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ cho DN nhưng nó mang lại một nguồnthu nhập đáng kể cho DN
2.2.3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồnlực khan hiếm DN huy động vốn và thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh của mìnhvới mục tiêu thu được lợi nhuận trong tương lai Nói cách khác mục đích của việc sửdụng vốn là thu lợi nhuận cho nên hiệu quả của việc sản xuất kinh doanh vốn dựa trên sựđánh giá dựa, sự so sánh tương đối giữa lợi nhuận và vốn bỏ ra để có được lợi nhuận đó
Trang 32Và vì thế thông thường trong đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư người ta thường đánhgiá thông qua các chỉ tiêu sau:
a) Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là tỷ lệ của tổng số lợi nhuận sau thuế thu được từcác hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát sinhtrong năm của DN chia cho tổng doanh thu thuần của DN do tiêu thụ sản phẩm hàng hóa,cung cấp các dịch vụ và các thu nhập khác
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh kết quả tiêu thụ được một đồng doanhthu thì có được bao nhiêu đồng lợi nhuận
b) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn là tỷ lệ của tổng số lợi nhuận sau thuế thu được từ các hoạtđộng sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động khác phát sinh trong nămcủa DN chia cho tổng nguồn vốn bình quân năm của DN
Tổng nguồn vốn bình quân năm = ( tổng nguồn vốn đầu năm + tổng nguồn vốn cuối
năm ) / 2
c) Hệ số vòng quay vốn lưu động.
Hệ số vòng quay vốn lưu động là chỉ tiêu thể hiện kết quả cuối cùng của việc luân chuyểnvốn lưu động để bảo đảm quá trình sản xuất - kinh doanh được liên tục và có hiệu quả.Được tính bằng cách so sánh hai đại lượng: khối lượng giá trị sản phẩm thực hiện trongnăm (hoặc quý), và số dư bình quân vốn lưu động trong cùng kì
H (hệ số luân chuyển) = giá trị sản phẩm thực hiện / vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này nói lên trong một năm ( quý ), vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng Sốvòng quay càng nhiều thì hiệu quả đồng vốn đem lại càng cao
Trang 33Chương II : Thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển trong doanh
nghiệp nhà nước giai đoạn 2001-2010.
1 Tình hình hoạt động của các DNNN giai đoạn 2001-2010
Giai đoạn 2001-2010, hoạt động của các DNNN có những điểm chính như sau:
Tiếp tục nhiệm vụ cải cách DNNN, thực hiện chủ trương sắp xếp( giải thể, sáp nhập và
cổ phần hóa DN làm ăn không hiệu quả) từ những năm 90, cụ thể chính thức thực hiện
vào năm 1992 Hiện nay, tính đến 01/07/2010, số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hiện
còn 1.546 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó: 7 công ty mẹ theo mô hình tập
đoàn; 11 tổng công ty 91, 77 công ty 90, 421 doanh nghiệp thành viên 100% vốn của tập
đoàn, 1.026 công ty nhà nước độc lập, 3 ngân hàng thương mại Như vậy số DNNN cần
sắp xếp chưa đạt được mục tiêu đề ra trước đó là chỉ còn 700-800 DNNN vào năm 2010
Tuy nhiên số lượng DNNN ngày càng giảm
Bảng 1 Số lượng DNNN từ năm 2001 đến năm 2009
Mục tiêu
800
700-Nguồn : Tổng cục thống kê
Trang 34Dựa trên căn cứ phân chia doanh nghiệp Việt Nam theo thành phần kinh tế , bộphận DNNN là thành phần kinh tế quan trọng trong nền kinh tế, đặt trong mối quan hệvới các thành phần kinh tế khác thì bộ phận này được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu
Trang 35Thứ nhất, trong 10 năm trở lại đây tỷ lệ đóng góp của khu vực DNNN cho ngân sách nhà
nước trung bình chưa tới 20% và ngày một giảm so với chính mình cũng như so với khuvực tư nhân (bao gồm khu vực DNDD và FDI) Nếu như trong giai đoạn 2001-2005,DNNN đóng góp 19,6% cho ngân sách, cao gần gấp rưỡi so với khu vực tư nhân, thìtrong giai đoạn 2006-2009, tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 17%, tức là chỉ bằng bốn phầnnăm so với khu vực tư nhân
Thứ hai, đóng góp của khu vực DNNN vào GDP cũng đi theo xu hướng tương tự Trong
giai đoạn 2006-2009, khu vực DNNN trung bình chỉ tạo ra khoảng 28% GDP, giảm từmức 30% của giai đoạn 2001-2005
Hơn nữa, đóng góp của khu vực DNNN vào tăng trưởng GDP đã giảm từ mức 33% tronggiai đoạn 2001-2005 xuống 19% trong giai đoạn 2006-2009, nguyên nhân là do tốc độtăng GDP của khu vực DNNN giảm từ 7,6% xuống 4,0% - tức là chỉ bằng một nửa so vớikhu vực tư nhân
Thứ ba, về phương diện lao động - việc làm, kết quả điều tra doanh nghiệp của Tổng cục
Thống kê cho thấy tỷ trọng lao động của khu vực DNNN giảm rất nhanh từ mức 44%trong giai đoạn 2001-2005 xuống chỉ còn 24% trong giai đoạn 2006-2008 Không nhữngthế, tỷ lệ tạo ra việc làm mới cũng giảm một cách tương ứng từ -4% xuống -22%, tức làDNNN không những không tạo ra việc làm mới mà còn cắt giảm lao động, do vậy đặtgánh nặng tạo việc làm mới hoàn toàn trên vai của khu vực tư nhân, chủ yếu là của khuvực dân doanh
Thứ tư, nếu nhìn vào hoạt động sản xuất công nghiệp, lĩnh vực trung tâm trong chiến lược
phát triển theo hướng công nghiệp hóa của Việt Nam, thì vai trò của khu vực DNNNcũng hết sức khiêm tốn Nếu như vào năm 1995, tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp củakhu vực nhà nước và tư nhân là 50%-50%, thì đến năm 2009, tỷ lệ này chỉ còn là 20-80%
Trang 36Không những thế, tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của khuvực nhà nước (theo giá cố định) đã giảm từ 29% trong giai đoạn 2001-2005 xuống chỉcòn 8% trong giai đoạn 2006-2009 Trong khi đó, đóng góp của khu vực dân doanh tăng
từ 34% lên 46% trong cùng thời kỳ
Qua những số liệu trên, có thể thấy “bức tranh toàn cảnh” của các DNNN : quy mô vốnvẫn ở mức cao, nhiều ưu đãi nhưng vẫn hoạt động kém hiệu quả
2 Thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển của DNNN
2.1 Vốn ngân sách nhà nước
Vốn ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với các DNNN tại Việt Nam vì :
Là nguồn vốn góp ban đầu để hình thành nên các DNNN trong đó chủ sở hữu có thể lànhà nước hoặc nhà nước giữ vai trò chi phối các quyết đinh hoạt động của doanh nghiệp.Đồng thời nguồn vốn này góp phần quyết định quy mô của doanh nghiệp, ngành nghềlĩnh vực hoạt động Bên cạnh đó, trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vốnngân sách là nguồn vốn bổ sung quan trọng để các DNNN có thể thực hiện được mục tiêuKT-XH
Thực tế ở Việt Nam cho thấy : nguồn vốn các doanh nghiệp nhà nước huy động từngân sách chiếm tỷ trọng lớn 60-70% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm 9% tín dụngnhà nước và được hưởng các ưu đãi trong việc sử dụng các nguồn lực khác Bởi vì Nhànước là chủ sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) vì là người cấpvốn đầu tư ban đầu và đầu tư bổ sung cho doanh nghiệp Như vậy, cho dù theo quy địnhcủa pháp luật, DNNN có quyền sử dụng, định đoạt vốn và tài sản trong kinh doanh để tạo
ra lợi nhuận, nhưng vai trò chủ sở hữu đối với các tài sản trong doanh nghiệp vẫn thuộc
về Nhà nước Chính vì vậy các DNNN ở Việt Nam được hưởng nhiều “đặc quyền đặclợi”
Với vai trò “đầu tầu” cho nền kinh tế, giữ vị trí chủ chốt , nguồn vốn đầu tư và tíndụng từ ngân sách nhà nước tập trung vào khu vực DNNN chiếm tỷ trong lớn nhất
Trang 37Bảng 3 Phân bổ nguồn vốn ngân sách cho DNNN
Khu vực DNNN
Nguồn : Tổng cục thống kê, Bộ tài chính, Quỹ tiền tệ quốc tế
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, giai đoạn 2000-2005 vốn ngân sách dành cho khuvực các DNNN vẫn ở mức cao ( trên 50%) nhưng giai đoạn sau có xu hướng giảm dần(44.6%) Trong khi đó các DN dân doanh và DN có vốn FDI có tỷ trọng nhỏ hơn nhưng
có xu hướng tăng : từ 26.4% tăng đến 27.7% đối với DN dân doanh và từ 17% tăng đến27.8% đối với doanh nghiệp FDI
Năm 2011, Nhà nước vẫn có những kế hoạch phân bổ nguồn ngân sách cho cácDNNN, cụ thể đó là các Tổng công ty, các Tập đoàn kinh tế Theo Nghị quyết phân bổngân sách trung ương năm 2011 được thông qua sáng 15/11/2010, Quốc hội đã chấpthuận chi cho 5 tập đoàn và Tổng công ty 91, trong đó vốn ngoài nước là 1.090 tỷ đồng
hỗ trợ cho Tổng công ty đường sắt Việt Nam, đồng thời đề nghị Chính phủ bố trí ngânsách Nhà nước cho một số tập đoàn, tổng công ty Đồng thời Quốc hội thông qua nghịquyết phân bổ số tiền 3.500 tỷ đồng đầu tư cho Tập đoàn dầu khí Việt Nam ( PetroVietnam) Để lý giải cho việc này, theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, việc đầu tư và đểlại cho Petro Vietnam là thực hiện chiến lược phát triển mạnh ngành dầu khí đến năm
2015 và định hướng đến năm 2025 theo Quyết định số 386/QĐ-TTg ngày 9/3/2006 củaThủ tướng Chính phủ, kết luận của Bộ Chính trị
Như vậy việc Nhà nước “rót vốn” cho các DNNN mà cụ thể ở đây là các Tổng công tyNhà nước, các Tập đoàn kinh tế ,các công ty nhà nước chính là một nội dung trong Đầu
tư công, việc dùng ngân sách để chi cho các “đầu tàu” của nền kinh tế một mặt giúp địnhhướng nền kinh tế, một mặt là trụ cột giúp cho nền kinh tế có thể đứng vững và thíchnghi kịp thời đối với những thay đổi từ bên ngoài cũng như những thay đổi từ bên trongnền kinh tế