Huy động nguồn vốn trong dân cư cho phát triển kinh tế thành phố Hà Nội
Trang 1-NHTM: Ngân hàng thương mại.
-TPCQĐP: Trái phiếu chính quyền địa phương.
-UBCKNN: Ủy ban chứng khoán nhà nước.
-TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán.
Trang 2MỞ ĐẦU
Với vị thế là thủ đô,trung tâm chính trị văn hóa giáo dục của cả nước,vàcùng với cả nước,Hà Nội đã tiến hành các công cuộc đổi mới sâu sắc toàndiện các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và đã thu được những thànhtựu quan trọng.Thành phố Hà Nội đứng thứ hai trong cả nước về tốc độ pháttriển kinh tế,về đóng góp ngân sách nhà nước cũng như tiềm năng và thực tếhuy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Xét trên phạm vi quốc gia và từng địa phương,bên cạnh việc huy độngvốn từ ngân sách,từ các nguồn đầu tư nước ngoài,thì nguồn vốn dân cư dàihạn là vô cùng quan trọng.Nhiều năm qua.Hà Nội đã quan tâm và đạt đượcmột số kết quả tích cực bước đầu trong việc thu hút nguồn vốn dân cư chophát triển kinh tế-xã hội thủ đô,song trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập và vấn
đề mới được đặt ra,đòi hỏi được nhận thức và giải quyết vấn đề phải làm saohuy động vốn tối đa các nguồn vốn dân cư cho phát triển kinh tế của thủ
đô.Đây cũng chính là mục tiêu chủ yếu của chuyên đề thực tập”Huy động nguồn vốn trong dân cư cho phát triển kinh tế thành phố Hà Nội”.
Nhận thức về các nguồn vốn,trong đó có vốn dân cư chưa hoàn toànđược hiểu thống nhất và càng chưa từng được chuẩn hóa trong bất kỳ mộtđịnh nghĩa và văn bản tài liệu chính thức nào.Nói cách khác,khái niệm vốndân cư là có tính mở cao và khá linh hoạt trong thực tế sử dụng của các cơquan Nhà nước,cũng như trong nhiều tài liệu và nghiên cứu khoa học khácnhau.Tiếp cận dưới góc độ tài chính học và để tránh những phức tạp về lýthuyết cũng như khắc phục những hạn chế về số liệu thống kê và tránh trùnglặp với các đề tài khác đã được thực hiện,nên trong chuyên đề này vốn dân cưđược giới hạn là tiền tích lũy trong dân tức bằng tổng các khoản thu trừ đitổng các khoản chi dùng thường xuyên bắt buộc hàng ngày cho sinh hoạt và
Trang 3chi thiết yếu khác của hộ gia đình dân cư.Đồng thời,các kênh huy động vốndân cư được giới hạn ở một số kênh chính thức trên thị trường vốn,thị trườngchứng khoán Hà Nội,như phát hành trái phiếu qua kho bạc nhà nước cho thuNSNN,tiền tiết kiệm gửi ngân hàng và các tổ chức tín dụng,các khoản tiềnmua công trái và chứng khoán doanh nghiệp khác trên TTCK…
Mặc dù có nhiều cố gắng song do thời gian nghiên cứu và khả năng cóhạn chế nên bài viết này không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Emrất mong nhận được ý kiến góp ý của các thầy cô giáo và các bạn quan tâmđến vấn đề này
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo T.SNguyễn Hồng Minh đã giúp em hoàn thành đề tài này
Trang 4Chương1:Thực trạng huy động nguồn vốn dân cư cho đầu
tư phát triển.
1.1.Khái quát về tình hình kinh tế-xã hội của thành phố Hà Nội
Hà Nội - mảnh đất có truyền thống nghìn năm văn hiến và lừng lẫy chiếncông đánh giặc, nơi định đô của các vương triều phong kiến tự chủ ViệtNam tự hào là trung tâm đầu não chính trị của Nhà nước dân chủ nhândân đầu tiên ở Đông Nam Á với bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9-
1945, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngay từ buổi đầucách mạng, Hà Nội đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc.Ngày 2-9-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng công bố bản Tuyên ngônđộc lập tại quảng trường Ba Đình Là trái tim đất nước, Hà Nội hội tụ các cơquan lãnh đạo của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các đoàn thể xãhội Thủ đô cũng là nơi diễn ra các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các
kỳ họp Quốc hội, mà từ đó đã đưa ra các nghị quyết, đường lối, sách lược đốinội và đối ngoại cho từng giai đoạn xây dựng và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.Đại sứ quán của nhiều quốc gia trên thế giới đều đặt ở Hà Nội Mọi hoạt độngngoại giao, thăm viếng, trình quốc thư, hội đàm, ký hiệp ước hữu nghị và hợptác được tiến hành tại đây Người Hà Nội còn giữ mãi hình ảnh những ngàyhoạt động tưng bừng và sôi động; những cuộc đón tiếp anh em bầu bạn từ bốnphương xa đến với Việt Nam Hà Nội tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc
tế lớn mà Việt Nam đăng cai như Hội nghị cấp cao các nước có sử dụng tiếngPháp, Hội nghị cấp cao các nước ASEAN
Nếu như cách đây gần 1000 năm, Thăng Long đã có Văn Miếu-Quốc TửGiám, trường đại học đầu tiên của nước ta, thì nay Hà Nội là nơi tập trung 44trường đại học và cao đẳng của đất nước, với hơn 330 nghìn học sinh - sinhviên Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tất cả các trường ở Việt Nam đềudùng tiếng Việt Bên cạnh đó là 25 trường trung học chuyên nghiệp với 15
Trang 5nghìn học viên, tăng gấp 13 lần năm học sau giải phóng Tính bình quân cứ 3người Hà Nội có một người đang đi học Nhiều học sinh Hà Nội đạt giải caotrong các kỳ thi quốc gia và quốc tế Hà Nội còn là địa phương đầu tiên trong
cả nước được công nhận phổ cập xong cấp trung học cơ sở, có một số trườngđặc biệt dạy trẻ em khuyết tật
Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế
Hà Nội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ Tốc độ tăng trưởng GDPbình quân của thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996–2000
là 10,38% Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng
từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam Theo sốliệu năm 2000, GDP của Hà Nội chiếm 7,22% của cả quốc gia và khoảng41% so với toàn vùng Đồng bằng sông Hồng
Giai đoạn phát triển của thập niên 1990 cũng cho thấy Hà Nội đã cónhững thay đổi về cơ cấu kinh tế Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngànhcông nghiệp tăng mạnh từ 29,1% lên 38% thì nông–lâm nghiệp và thuỷ sản từ9% giảm xuống còn 3,8% Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng giảm trong khoảngthời gian này, từ 61,9% xuống còn 58,2% Ngành công nghiệp của Hà Nộivẫn tập trung vào 5 lĩnh vực chính, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất côngnghiệp, là cơ–kim khí, điện–điện tử, dệt–may–giày, chế biến thực phẩm vàcông nghiệp vật liệu Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm BátTràng, may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà cũng dần phục hồi và pháttriển
Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng,trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu Hà Nội là một trong những địaphương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệuUSD và 290 dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diệnnước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp
Trang 6Nhưng đi đôi với sự phát triển kinh tế, những khu công nghiệp này đangkhiến Hà Nội phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường Bên cạnh nhữngcông ty nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọngtrong nền kinh tế Hà Nội Năm 2003, với gần 300.000 lao động, các doanhnghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất công nghiệp cùa thành phố.Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần 500.000 lao động.Tổng cộng, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu tư xã hội,hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩu của
Hà Nội Sau khi mở rộng địa giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có3,2 triệu người đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếulao động có trình độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đàotạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu
cơ cấu ngành kinh tế Hà Nội còn phải đối đầu với nhiều vấn đề khó khănkhác Năng lực cạnh tranh của nhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫnmôi trường đầu tư của thành phố còn thấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tếvẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩmchủ lực mũi nhọn Chất lượng quy hoạch phát triển các ngành kinh tế ở HàNội không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềm năng kinh tế trongdân cư
Thành phố Hà Nội có số dân khoảng 6,1 triệu ngưới.Dân cư Hà Nội phân
bố không đều giữa các lãnh thổ hành chính và giữa các vùng sinh thái Mật độdân số trung bình của Hà Nội là 2881 người/km2 (mật độ trung bình ở nộithành 19163 người/km2, riêng quận Hoàn Kiếm là 37265 người/km2, ở ngoạithành 1721 người/km2) Mật độ này cao gấp gần 12 lần so với mức trung bìnhcủa cả nước, gần gấp đôi mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng và làthành phố có mật độ cao nhất cả nước
Trang 7Việc dân số tăng quá nhanh cùng quá trình đô thị hóa không được quyhoạch tốt đã khiến Hà Nội trở thành một thành phố chật chội, ô nhiễm và giaothông nội ô thường xuyên ùn tắc Nhiều di sản kiến trúc của thành phố đangdần biến mất, thay thế bởi những ngôi nhà ống nằm lộn xộn trên khắp các conphố Hà Nội còn là một thành phố phát triển không đồng đều với nhiều khuvực ngoại thành lạc hậu, nơi người dân vẫn chưa có được những điều kiệnsinh hoạt thiết yếu.
Hà Nội là trung tâm chính trị,kinh tế văn hóa giáo dục của cả nước.Bêncạnh đó còn nhiều bất cập như mật độ dân số tăng nhanh cộng với quy hoạchkiến trúc đô thị còn lộn xộn vì vậy nhất thiết phải tăng cường thu hút vốn chođầu tư phát triển để xây dựng Hà Nội thành một thành phố bền vững trongtương lai.Bên cạnh việc huy động vốn từ ngân sách,từ các nguồn vốn nướcngoài thì nguồn vốn trong dân cư về dài hạn là vô cùng quan trọng.Thực tếphát triển thế giới cho thấy,bất kỳ nước nào cũng đều sử dụng nguồn lực nội
bộ là chính.Nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài,dù là viện trợ,cho vay hay đầu tư
từ nước ngoài cũng không thể thay thế nguồn vốn trong nước.Hơn nữa cácnguồn vốn nước ngoài không phải là vốn cho không mà đều có điều kiện vàphụ thuộc vào rất nhiều yếu tố.Về lâu dài vốn vay phải trả cả gốc lẫn lãi,cònFDI phải dành một phần cho chuyển lãi và vốn gốc về chính quốc
Xét dưới góc độ tổng quát,nguồn vốn trong dân cư có vai trò:
-Lăm tăng vốn đầu tư toàn xã hội,trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tưtrong nước
-Đáp ứng sự linh hoạt phương thức,qui mô,lĩnh vực đầu tư,từ đó gópphần làm tăng hiệu quả đầu tư của xã hội
Với GDP bình quân đầu người vào mức cao của cả nước thì việc huyđộng tối đa các nguồn vốn dân cư cho đầu tư phát triển kinh tế là cần thiếthơn bao giờ hết
Trang 81.2.Thực trạng huy động nguồn vốn dân cư cho đầu tư phát triển.
Để thực hiện được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội thì cần phải cómột nguồn vốn lớn.Chính sách huy động và sử dụng vốn là một bộ phqqnjquan trọng trong chính sách tài chính -tiền tệ quốc gia,nó liên quan đến chínhsách phân phối thu nhập trong phạm vi toàn xã hội,tác động trực tiếp đến cácmối quan hệ tích lũy,tiêu dùng và các chính sách tiền tệ tín dụng
Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp hoá và hiện đạihoá trong 20 năm đầu của thế kỷ 21, Việt Nam phải hoàn tất củng cố hệ thống
cơ sở hạ tầng Điều này yêu cầu một nguồn vốn khổng lồ, bao gồm quỹ Nhànước và vốn từ các cá nhân cả trong nước và nước ngoài, cũng như sự hợp tácchặt chẽ giữa Nhà nước và cá nhân trong việc phát triển hệ thống cơ sở hạtầng quốc gia nói chung và cơ sở hạ tầng giao thông nói riêng
Theo báo cáo Phát triển Việt Nam 2007 của ngân hàng Thế giới, đầu tưhàng năm của Việt Nam vào cơ sở hạ tầng chiếm từ 9-10% GDP (tỉ lệ caonhất so với tiêu chuẩn quốc tế) Tuy nhiên, cả Ngân hàng Thế giới và Ngânhàng Phát triển Châu Á đều cho rằng, để duy trì tỉ lệ hiện tại, Việt Nam nêntăng đầu tư vào cơ sở hạ tầng đến 11-12% trong tổng GDP
Theo Thứ trưởng Sở Kế hoạch Đầu tư Nguyễn Bích Đạt, đầu tư vào pháttriển cơ sở hạ tầng phải gấp 2 lần tỉ lệ tăng trưởng kinh tế, nếu không, mọi thứ
sẽ phải được bố trí lại
Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp phát triển vào năm
2020, Việt Nam phải xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và toàn diện.Giai đoạn 2007-2008, đất nước cần khoản 30 tỉ USD/năm để phát triển cơ sở
hạ tầng Hiện tại, gần 40% trong tổng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng làđược cung cấp từ nguồn vốn quốc tế, trong khi đó, chỉ 15% là từ tư nhân
Đối với nhu cầu đầu tư vốn để nâng cao hệ thống giao thông cho đếnnăm 2020, mỗi năm Việt Nam cần 117.744 tỉ VND (gần 7,4 tỉ USD), trong
Trang 9khi hiện tại, khả năng đáp ứng nhu cầu trên chỉ ở mức 2-3 tỉ USD, chủ yếu từngân sách Nhà nước, ODA và trái phiếu Chính phủ Theo Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam (BIDV), con số này chỉ đáp ứng 20-30% tổng nhucầu
Hà Nội là trung tâm tài chính-tiền tệ lớn nhất Miền Bắc và đứng thứ haiđất nước sau thành phố Hồ Chí Minh.Trong những năm qua,Hà Nội đã thuhút được khá nhiều nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế-xã hội
Phương hướng và nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đã được khẳngđịnh và thể chế hóa qua nghị quyết của Bộ chính trị về phương hướng,nhiệm
vụ phát triển thủ đô trong thời kỳ 2001-1010 và Pháp lệnh Thủ đô,theo đómục tiêu đề ra là đến năm 2010,tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng nămcủa Hà Nội đạt khoảng 9%,GDP bình quân đầu người đạt2100-2200USD/người,cơ cấu kinh tế là:dịch vụ 56%.công nghiệp 42%,nôngnghiệp 2%
Để thực hiện được các mục tiêu nói trên,việc huy động tối đa các nguồnlực tài chính cho đầu tư phát triển thủ đô đóng vai trò quyết định.Theo ướctính,trong thời kỳ 2001-2010,nhu cầu về vốn đầu tư phát triển trên địa bànthành phố Hà Nội 329.000 tỷ đồng,bình quân hàng năm nhu cầu về vốn là32.900 tỷ đồng
1.3.Kết quả huy động nguồn vốn trong dân cư cho đầu tư phát triển kinh tế qua các kênh chính thức chủ yếu.
1.3.1.Huy động nguồn vốn dân cư cho NSNN theo kênh phát hành trái phiếu chính phủ thông qua kho bạc nhà nước.
Việt Nam bắt đầu tiến hành huy động vốn thông qua phát hành trái phiếuthí điểm từ 1991 và tính đến 2005, Bộ Tài chính đã huy động được 200 ngàn
tỷ đồng Trong đó, giai đoạn 2000-2005 là huy động nhiều nhất Hiện nay,
Trang 10trái phiếu Chính phủ đang là lượng hàng hoá lớn nhất trên thị trường chứngkhoán Việt Nam.
Trong giai đoạn 2001 - 2005, Chính phủ đã phát hành khoảng gần 60.000
tỉ đồng trái phiếu; trong đó 50.000 tỉ đồng phát hành qua Kho bạc Nhà nước,8.000 tỉ đồng phát hành qua đấu giá trên Trung tâm Giao dịch chứng khoán
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.Toàn bộ số vốn phát hành trái phiếuChính phủ nói trên được Bộ Tài chính để Tổng công ty Công nghiệp tàu thủyViệt Nam vay lại đầu tư cho các dự án đóng tàu
Bảng 1: Các đợt huy động vốn của kho bạc Hà Nội.
Trang 11Về huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ (TPCP), tính đếnhết ngày 24/12/2008, Kho bạc Nhà nước đã huy động được trên 39.627 tỷđồng, bằng 63,6% kế hoạch được giao Trong năm 2008, đã có 70 thành viênthị trường tham gia vào thị trường đấu thầu TPCP, 40 thành viên bảo lãnhphát hành.
Trong 2 năm 2005 và 2006,Hà Nội đã phát hành TPCQĐP qua KBNNthành phố thu được 1500 tỷ đồng dùng để đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị(cầuNhật Tân và đường 5 kéo dài).Thời hạn huy động chủ yếu là 5 năm với lãisuất gần 8%
Trang 12Ngày 1/4/2009, UBND TP Hà Nội vừa phê duyệt kế hoạch đầu tư 400 tỷđồng đợt 1 năm 2009 theo cơ chế cấp phát các dự án xây dựng hạ tầng kỹthuật, và nhà ở xã hội trên địa bàn Thủ đô
Cụ thể, ngân sách TP sẽ tạm ứng 200 tỉ đồng thực hiện các dự án đầu tưtheo cơ chế cấp phát thuộc kế hoạch năm 2008 nhưng mất cân đối nguồn dohụt thu nguồn tiền sử dụng đất, tiền bán nhà phục vụ tái định cư thuộc kếhoạch thu năm ngoái, chuyển tiếp sang kế hoạch đầu tư năm 2009
Một số dự án thuộc kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản điều chỉnh năm
2008 giao Kho bạc Nhà nước thành phố thanh toán như: Nhà NƠ1 đô thị mớiĐịnh Công; Nhà N1A, N1B, N5A, N5BC, N5D đô thị mới Trung Hòa - NhânChính; cụm nhà ở cao tầng trên ô đất N2A, N2B, N2C, N2D, N2E, N2F cũngthuộc khu Trung Hòa - Nhân Chính
1.3.2.Huy động vốn dân cư qua kênh ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Với mục đích huy động nguồn vốn lớn trong dân cư,hệ thống ngân hàng
đã thực hiện nhiều cải cách theo hướng thị trường hóa và hiện đại hóa nhằmtăng cường khả năng huy động vốn và tăng cường lòng tin của công chúngtrong hệ thống ngân hàng
Bên cạnh đó,ngân hàng cũng đưa ra quy chế mới về tiết kiệm của cánhân và hộ gia đình.Nội dung cải cách gồm:
-Quy định đối tượng gửi tiết kiệm bao gồm cả cá nhân nước ngoài đangsinh sống và làm việc tại Việt Nam
-Cho phép các TCTD được tự quy định các điều kiện và điều khoản đốivới hoạt động gửi tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình.Nội dung cải cách baogồm:
Trang 13-Quy định đối tượng gửi tiết kiệm bao gồm cả cá nhân nước ngoài đangsinh sống và làm việc tại Việt Nam.
-Cho phép các tổ chức tín dụng được tự quy định các điều kiện và cácđiều khoản đối với hoạt động gửi tiết kiệm như thời hạn,các hình thức huyđộng…
-Cho phép tổ chức tín dụng tổ chức việc nhận và chi trả tiền gửi tiếtkiệm tại các địa điểm giao dịch khác nhau trong cùng hệ thống
-Cho phép tổ chức tín dụng áp dụng chức năng thanh toán đối với tàikhoản riền gửi tiết kiệm của người gửi tiền trong một số trường hợp
Đánh giá việc huy động vốn của thành phố Hà Nội trong thời gian qua:Tốc độ tăng trưởng tổng nguồn vốn huy động bình quân của các TCTDcủa thành phố Hà Nội giai đoạn 2001-2005 đạt trên 23% /năm(dự kiến năm
2006 vốn huy động tăng hơn 30% so với năm 2005).thấp hơn mức tăngtrưởng bình quan của toàn ngành ngân hàng(24%/năm).Tiền gửi của dân cư
và các doanh nghiệp ,đặc biệt là nguồn vốn có thời hạn trên 1 năm tăng khátrong những năm gần đây đã tạo được thế chủ động trong cho vay và đầu tưtrung và dài hạn.Đây là yếu tố quan trọng đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triểnkinh tế-xã hội và phát triển các ngân hàng trên địa bàn
Bảng 2:Nguồn huy động vốn của các tổ chức dân cư thông qua hệ
thống ngân hàng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Trang 14Nguồn:Tổng cục thống kê Hà Nội.
Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng đã tìm mọi biện phápđẩy mạnh huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế thông qua phát triểnmạng lưới các chi nhánh trực thuộc,các phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm,mởrộng phạm vi và nâng cao chất lượng thanh toán.Các phương thức huy độngvốn và công cụ lãi suất đã được đáp ứng một cánh linh hoạt đa dạng
Đặc biệt các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng còn quan tâm
và chú trọng hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống,pháttriển dịch vụ ngân hàng hiện đại đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng,đápứng nhu cầu ngày càng tốt hơn của khách hàng và đáp ứng nhu cầu của pháttriển kinh tế,bao gồm:dịch vụ thanh toán,dịch vụ ngân quỹ.dịch vụ thu đổingoại tệ,nhận và chi trả kiều hối.dịch vụ tư vấn , thanh toán liên ngân hàngqua mạng máy vi tính,chuyển tiền điện tử.dịch vụ rút tiền tự động(qua máyATM),ngân hàng điện tử…Kết quả thu nhập từ hoạt động dịch vụ của cá ngânhàng và tổ chức tín dụng không ngừng được nâng lên
Các dịch vụ ngân hàng hiện đại được ứng dụng với những tiện ích docông nghệ mới hiện đại mang lại đã có ý nghĩa kinh tế xã hội,khuyến khíchdân cư mở rộng giao dịch với ngân hàng,giảm lượng tiền mặt trong lưuthông,góp phần phát triển thương mại điện tử.Hiện nay ngân hàng nhà nướcViệt Nam và tất cả các ngân hàng thương mại đã xây dựng website để giớithiệu về hoạt động của mình,thông tin các dịch vụ ngân hàng.trên 80% nghiệp
Trang 15vụ ngân hàng được tin học hóa,công nghệ tin học được ứng dụng trực tiếp vàocông tác thanh toán.Đồng thời phần lớn các ngân hàng thương mại đã giaodịch một cửa,đặc biệt là trong giao dịch nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm,ápdụng phần mềm vi tính cho quá trình giao dịch nhận và chi trả tiền gửi tiếtkiệm,tiền gửi tài khoản cá nhân,áp dụng mã số hóa tiền gửi tiết kiệm,áp dụngphần mềm vi tính cho quá trình giao dịch nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệmnhằm nâng cao chất lượng dịch vụ nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm của dâncư.
1.3.3.Huy động vốn trong dân cư qua trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội.
TTCK Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới.TTCKbước vào giai đoạn bùng nổ về quy mô,đặc biệt là thị trường cổ phiếu.Kể từkhi thành lập tính đến ngày 31/3/2009,có 177 công ty đăng ký giao dịch trênTTGDCK Hà Nội TTCKVN đã thực sự thể hiện được vai trò là kênh dẫn vốnquan trọng của nền kinh tế Theo thống kê của UBCKNN, năm 2007TTCKVN đã huy động được 90.000 tỷ đồng vốn cho các doanh nghiệp baogồm cả hoạt động phát hành, đấu giá trên thị trường chính thức:
UBCKNN đã cấp phép chào bán cổ phiếu cho 179 công ty, với tổngcộng 2.460 triệu cổ phiếu được phát hành ra công chúng, tương ứng vớikhoảng 48.000 tỷ đồng, gấp 25 lần năm 2006
UBCKNN cũng tổ chức phát hành được 3.468 triệu trái phiếu, tươngđương 3.750 tỷ đồng cho 3 NHTM cổ phần;
UBCKNN chấp thuận phát hành 25 triệu chứng chỉ quỹ, tương đương
250 tỷ đồng cho quỹ đầu tư tăng trưởng Manulife
Trải qua nhiều thăng trầm, TTCKVN năm 2007 vẫn đạt được mức tăngtrưởng vượt bậc, giá trị vốn hóa thị trường đạt 43,7% GDP - một con sốkhông nhỏ so với một thị trường còn non trẻ như Việt Nam Trong đề án phát
Trang 16triển thị trường vốn của Bộ Tài chính trình Chính phủ trong năm 2007, mốc
50% GDP vào năm 2010 và đến năm 2020 đạt 70% GDP
Tính đến 31/12/2008, tổng số doanh nghiệp niêm yết tại đây đã tăng lên
168 công ty, với tổng giá trị niêm yết đạt hơn 21,715 tỷ đồng, giá trị vốn hóa
thị trường đạt 55.174 tỷ đồng Mặc dù thị trường sụt giảm so với thời điểm
cuối năm 2007, giá trị vốn hóa thị trường giảm trên 40%, nhưng quy mô niêm
yết trong năm 2008 đã tăng mạnh: số lượng công ty niêm yết tăng 50%, khối
lượng niêm yết tăng 62,8%
Bảng 3:Quy mô niêm yết trên TTGDCK Hà Nội.
Sốlượng
Giá trịniêm
yết(tỷđồng)
Sốlượng
Giá trịniêm
yết(tỷđồng)
Sốlượng
Giá trị niêmyết(tỷ đồng)
Trang 17Tính đến thời điểm ngày 31/3/2006.trên TTGDCK Hà Nội có 10 công
ty thực hiện đăng ký giao dịch cổ phiếu với vốn hóa trên thị trường trên 2.300
tỷ đồng và 6 loại trái phiếu với tổng trị giá 1.060 tỷ đồng.Nhưng đến ngày22/12/2006,đã có đến 87 tổ chức đăng ký giao dịch cổ phiếu trên thị trường là32.096 tỷ đồng và 90 loại trái phiếu với tổng giá trị là 18.140 tỷ đồng
Năm 2007 đã diễn ra nhiều cuộc đấu giá và IPO các doanh nghiệp lớnvới số lượng cổ phần chào bán đạt mức kỷ lục trong lịch sử 7 năm hoạt độngcủa TTCK với một số tên tuổi tiêu biểu sau:
Tên doanh
nghiệp
Vốn điềulệ(tỷ đồng)
Số lượng cổphiếu đấu giá
Giá trúngthầu bìnhquân(đồng/cổphiếu)
Thời gian đấugiá
Trang 18Nếu tính đến thời điểm ngày 31/12/1007 thì tổng số đợt đấu giá đã thựchiện là 53 đợt.Tổng số đợt nhà đầu tư tham gia đăng ký đấu giá là 59.808,có17.973 nhà đầu tư đã trúng giá trong đó có 17.602 nhà đầu tư cá nhân trúngthầu và 371 nhà đầu tư có tổ chức trúng thầu.Như vậy trung bình có 1129 nhàđàu tư tham gia vào một đợt đấu giá.
THỐNG KÊ HOẠT ĐỘNG ĐẤU GIÁ CỔ PHẦN TẠI TTGDCKHN (chỉ bao gồm các đợt đấu giá do TTGDCKHN chủ trì)
Cập nhật: 1/1/2007 - 31/12/2007
1 Tổng số đợt đấu giá đã thực hiện 53
3 Tổng giá trị cổ phần bán đấu giá 3 311 345 180 000
4 Tổng số nhà đầu tư đăng ký tham
gia đấu giá
59 808
5 Tổng số cổ phần đăng ký mua 1 207 024 357
6 Tổng số nhà đầu tư tham gia hợp lệ 51 0
7 Tổng số nhà đầu tư trúng giá:
Tổ chức:
Cá nhân:
17 973371
Trang 19Năm 2006
1 Tổng số đợt đấu giá đã thực hiện 40
3 Tổng giá trị cổ phần bán đấu giá 2.599.590.120.000
gia đấu giá
29.633
6 Tổng số nhà đầu tư tham gia hợp lệ 29.347
Trang 201 Tổng số đợt đấu giá đã thực hiện 28
3 Tổng giá trị cổ phần bán đấu giá 2.128.186.749.750
4 Tổng số nhà đầu tư đăng ký tham gia
đấu giá
4.085
5 Tổng số cổ phần đăng ký mua 238.686.830
6 Tổng số nhà đầu tư tham gia hợp lệ 4.075
7 Tổng số nhà đầu tư trúng giá 2.880
b.Hoạt động giao dịch trên TTGDCK Hà Nội
Hastc-Index kết thúc năm 2008 với mức giảm 0.32 điểm xuống 105,12điểm Khối lượng giao dịch khớp lệnh toàn thị trường đạt 5,19 triệu cổ phiếu,tương đương 118,6 tỷ đồng Tính chung giao dịch thỏa thuận, tổng khối lượnggiao dịch phiên này là 6,13 triệu cổ phiếu, tương đương 166,79 tỷ đồng.Trong đó, cổ phiếu ACB giao dịch thỏa thuận 500.000 đơn vị và khối ngoại
Trang 21mua thỏa thuận 600.000 cổ phiếu KBC.Ba cổ phiếu có dư mua trần nhiều nhấtphiên đều là 3 cổ phiếu nhỏ: HNM có dư mua trần 195.500 cổ phiếu (giá10.300 đồng); POT (dư mua 133.000 cp giá 8.900 đồng), V11 (dư mua77.400 cp giá 11.800 đồng); HBE (dư mua 82.300 cp giá 9.700 đồng) Các cổphiếu tăng giá mạnh nhất phiên này trên sàn Hà Nội là SPP, VBH, NPS vàKBC (cũng tăng 1.000 đồng), VTL tăng 900 đồng Ngoài KBC giao dịchkhớp lệnh 38.200 cổ phiếu, các mã còn lại đều giao dịch dưới 1.000 đơnvị.Như vậy, kết thúc phiên giao dịch ngày 31/12/2008, Hastc-Index đã để mất217,22 điểm so với đầu năm
GTGD(1000đ)
Hastcindex(31/12)
KLGD(CP)
GTGD(1000đ)
Trang 22gấp gần 2,5 lần năm 2007 Khối lượng giao dịch bình quân phiên trong năm
2008 đạt 6,17 triệu cổ phiếu, tăng 148% so với năm 2007 Giá trị giao dịchbình quân phiên đạt 230 tỉ đồng/phiên.Trong năm 2008, HASTC đã nhậnđược 76 bộ hồ sơ từ các doanh nghiệp xin niêm yết và đã chấp thuận đưa 53
cổ phiếu vào giao dịch
Kênh chứng khoán đang dần thể hiện vai trò thu hút vốn đầu tư của dâncư,bên cạnh kênh truyền thống là ngân hàng và các kênh khác như bảohiểm,bất động sản…Đến cuối năm 2006,số lượng của nhà đầu tư chứngkhoán mở tại các công ty chứng khoán chỉ đạt 86.184 tài khoản, nhưng đếncuối năm 2007 toàn thị trường có 327.000 tài khoản giao dịch mở tại các công
ty chứng khoán(tăng 240.816 tài khoản,tương đương 279% so với cuối năm2006).Khối lượng các nhà đầu tư cá nhân chiếm khoảng 80-90% tài khoảngiao dich trên thị trường.Với đà tăng trưởng như hiện nay,số lượng các nhàđầu tư sẽ tăng lên từ 3-4 lần so với hiện tại,đạt khoảng 900-1000 nghìn tàikhoản.Sự gia tăng về số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán là một dấuhiệu khả quan về sự quan tâm và tham gia vào TTCK của công chúng đầutư.Hơn nữa so với các năm trước,năm nay các nhà đầu tư cũng đã trưởngthành hơn,và ngày càng tỏ ra chuyên nghiệp hơn.Trình độ và nhu cầu về đầu
tư chứng khoán của các nhà đàu tư cá nhân hay tổ chức ngày một tăng.Tâm lýđầu tư theo phong trào đã giảm thiểu đáng kể, góp phần tạo sự ổn định cho thịtrường
1.3.4.Huy động vốn qua các doanh nghiệp bảo hiểm.
Bảo hiểm là ngành dịch vụ có vị trí quan trọng trong nền kinh tế.Bảohiểm không chỉ thực hiện việc huy động vốn cho nền kinh tế mà còn góp phầnđảm bảo ổn định tài chính cho các cá nhân,gia đình,cho mọi tổ chức và cácdoanh nghiệp
Trang 23Thị trường bảo hiểm là nơi dẫn vốn để cho các doanh nghiệp bảo hiểmthực hiện các vai trò trung gian trung gian tài chính;vai trò nhà đầu tư có tổchức và vai trò các tổ chức phát hành.
Với vai trò là trung gian tài chính,các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt độngtrên lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đã khẳng định là một kênh huy động vốnquan trọng của nền kinh tế.Bảo hiểm con người là công cụ hữu hiệu để huyđộng những nguồn tiền nhàn rỗi nằm ở các tầng lớp dân cư trong xã hội.Khikinh tế phát triển,đời sống nhân dân ngày càng cao sẽ xuất hiện nhu cầu tiếtkiệm hoặc đầu tư số tiền mặt tạm thời nhàn rỗi.Ở các nước đang phát triểnhoặc chậm phát triển thường thiếu các công cụ để đáp ứng nhu cầu này,vìvậy bảo hiểm con người,đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ ra đời đã giúp các cánhân và các tổ chức thực hiện nhu cầu một cách có hiệu quả.Do đối tượngrộng,lại vừa mang tính tiết kiệm,vừa mang tính rủi ro,hơn nữa,do cơ chế vàcách thức đóng phí thuận lợi,cho nên bảo hiểm nhân thọ có nhiều ưu điểmhơn hẳn gửi tiền tiết kiệm
Có thể thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn đang là một trong nhữngthị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh và ấn tượng nhất trong khu vực và trênthế giới,với tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn1993-2005 đạt khoảng 29%/năm.Trong một thập kỷ qua,tỷ trọng doanh thubảo hiểm trên GDP đã tăng từ 0.37%(năm 1993) lên 2,0% năm 2005.Đến hếtnăm 2005,các doanh nghiệp đã đầu tư trở lại nền kinh tế gần 20.000 tỷVND(khoảng 1,2 tỷ USD)
Cơ cấu đầu tư từ nguồn tiết kiệm bảo hiểm đã chuyển mạnh từ đầu tưngắn hạn sang đầu tư dài hạn,dưới các hình thức:mua TPCP,đầu tư vào cổphiếu niêm yết và chưa niêm yết,đầu tư vào các dự án phát triển kết cấu hạtầng như giao thông,năng lượng, khu đô thị,khu công nghiệp,các dự án sản
Trang 24xuất,dịch vụ…Tỷ trọng đầu tư trung và dài hạn ngày càng tăng,trong đó tỷtrọng đàu tư TPCP năm 2005 đã tăng 1,5 lần so với năm 2003.
Một số công ty bảo hiểm đã thành lập công ty chứng khoán,công tyquản lý quỹ đầu tư để chuyên nghiệp hóa hoạt động kinh doanh,cung cấpthêm các dịch vụ tài chính cho thị trường qua đó góp phần tạo thêm kênh huyđộng vốn đầu tư quan trọng cho nền kinh tế,nhất là vốn từ các tầng lớp dâncư.Chính sự tham gia tích cực và ngay từ đầu của các doanh nghiệp bảo hiểmvào thị trường vốn và các TTCK Việt Nam là yếu tố quan trọng góp phần vào
sự phát triển của thị trường
Với vai trò là các nhà đầu tư có tổ chức,các doanh nghiệp bảo hiểm thuhút được lượng vốn nhàn rỗi lớn,bằng các đặc thù của các loại hình bảohiểm,các doanh nghiệp bảo hiểm huy động được cả vốn ngắn hạn và dài hạntrên thị trường.Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có nguồn vốn dài hạntrên thị trường vốn.Vai trò của bảo hiểm nhân thọ không chỉ thể hiện trongtừng gia đình đối với từng cá nhân trong việc góp phần ổn định cuộc sống màcòn thể hiện rõ trên phạm vi xã hội,bảo hiểm nhân thọ góp phần thu hút vốnđàu tư nước ngoài,huy động vốn trong nước từ những nguồn tiền mặt nhàn rỗinằm trong dân cư.Nguốn vốn này không chỉ có tác dụng đầu tư dài hạn màcòn góp phần thực hiện tiết kiệm,chống lạm phát và tạo thêm công ăn việclàm cho người lao động Ngành bảo hiểm được đánh giá là kênh huy độngvốn tiềm năng đầu tư vào nền kinh tế quốc dân lớn thứ hai-sau ngành ngânhàng
Theo đánh giá của cục thống kê,GDP bình quân đầu người trong giaiđoạn năm 2003-2004 đã tăng lên 30% so với giai đoạn 2001-2002.Mức thunhập bình quân cao hơn cũng giúp cho người dân tiết kiệm được nhiều hơn.Tổng mức tiết kiệm của các hộ gia đình trong năm 2004 là 114.400 tỷđồng(7.2 tỷ USD) trong khi các kênh vốn như tiền gửi ngân hàng,TTCK,bất
Trang 25động sản và bảo hiểm chỉ thu hút khoảng được 70.000 tỷ đồng,vẫn còn 42.000
tỷ đồng nữa đang đợi đầu tư vào nền kinh tế,đó cũng chính là cơ hội chongành bảo hiểm phát triển
Việt Nam có dân số là 83 triệu người với 60% dân số dưới 30 tuổi.Hiệnnay theo đánh giá chỉ có khoảng 8% dân số tham gia vào thị trường bảohiểm,như vậy vẫn còn là một khoảng trống rất lớn để mở rộng thị trường (đặcbiệt là bảo hiểm nhân thọ)
Thị trường bảo hiểm năm qua đã đạt được những kết quả đáng khíchlệ,song quy mô thị trường bảo hiểm vẫn còn nhỏ,chưa xứng đáng với tiềmnăng.Thủ đô Hà Nội là một trong 2 địa bàn(Hà Nội và thành phố Hồ ChíMinh) có hoạt động kinh doanh bảo hiểm lớn nhất cả nước
Bảng 7:Một số chỉ tiêu bảo hiểm chủ yếu
1.Kết cấu thị trường
.Doanh nghiệp môi giới bảo
Trang 26người(nghìn đồng)
3.Đầu tư trở lại nền kinh
tế(tỷ đồng)
1.232 2.664 9.955 14.602 21.195 26.906
4.Giải quyết công ăn việc
làm(lao động và đại lý bảo
hiểm)
7.000 30.000 76.600 125.100 136.700 143.540
Nguồn:Niên giám bảo hiểm năm 2005.
Trong giai đoạn 2001-2006 và năm 2006,thị trường bảo hiểm Việt Namnói chung và thị trường thành phó Hà Nội nói riêng đã đạt được tốc độ tăngtrưởng nhanh,đóng góp cho việc giảm thiểu các rủi ro trong sản xuất kinhdoanh và đời sống của xã hội;cải thiện môi trường đầu tư;giảm bớt gánh nặngcho NSNN,góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội
Trong số 32 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên thị trườngViệt Nam thì hầu hết các doanh nghiệp này đều có trụ sở tài thành phố HàNội.Sự tăng trưởng và phát triển về cả quy mô và chất lượng của các doanhnghiệp bảo hiểm trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đưa thị trường bảo hiểmthủ đô thành một bộ phận quan trọng trong phát triển thị trường bảo hiểm ViệtNam.Năm 2004,doanh thu phí trên toàn thành phố Hà Nội chiếm khoảng46.8% so với doanh thu toàn thị trường.trong khi đó hoạt động đầu tư của cácdoanh nghiệp trên địa bàn này cũng chiếm trên 60% tổng số tiền các doanhnghiệp đầu tư trở lại nền kinh tế
Tổng doanh thu bảo hiểm bình quân năm 24%/năm,trong đó bảo hiểmphi nhân thọ tăng khoảng 16,5%/năm và bảo hiểm nhân thọ tăng khoảng28%/năm
Tổng doanh thu bảo hiểm năm 2003 là 1.390 tỷ đồng,tăng so với năm
2002 là 33,6%,trong đó bảo hiểm nhân thọ đạt doanh thu 60.575 tỷ đồng(tăng38,7%) với tổng số hợp đồng bảo hiểm mới là 2.070.816 hợp đồng(tăng 16,4
% so với năm 2002)và tổng số hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực đến cuối năm
Trang 272003 là 5.606.237 hợp đồng tăng 16,4% so vơi năm 2002) và tổng số hợpđồng có bảo hiểm hiệu lực đến cuối năm 2003 là 5.606.237 hợp đồng,tăng41% so với năm 2002.Tuy nhiên tỷ lệ này mới tương đương 6% dân số ViệtNam và còn qua thấp.tốc độ tăng trưởng toàn thị trường bảo hiểm năm 2003đạt 48%,trong đó tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ là 53% củabảo hiểm phi nhân thọ là 40%.Tổng số vốn đầu tư lại nền kinh tế đạt khoảng14.602 tỷ đòng.
Mức phí bảo hiểm thu được toàn thị trường tính đến cuối năm 2004 đãđược trên 12.479 tỷ đồng,trong đó bảo hiểm nhân thọ là 7.711 tỷ đồng.Năm2005,tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ,là 8.023 tỷ đồng,đầu tư đạt 2.120
tỷ đồng,tăng trưởng 10% so với năm 2004.Tổng vốn đầu tư vào nền kinh tếquốc dân là 26.276 tỷ đồng,trong đó tiền gửi và mua TPCP là 1.216 tỷđồng,cho vay và ủy thác đầu tư 2.155 tỷ đồng.So với năm 2004 ,tốc độ tăngtrưởng năm 2005 có phần tăng chậm lại.Trong năm 2005,cạnh tranh trên thịtrường bảo hiểm diễn ra khá gay gắt,các doanh nghiệp đua nhau hạ phí ,mởrộng điều khoản bảo hiểm,hạ thấp mức khấu trừ nên giá trị tài sản được bảohiểm tăng 50% so với năm 2004 nhưng phí bảo hiểm lại chỉ tăng 16%.Doanhthu của bảo hiểm nhân thọ năm 2005 chỉ tăng 5,5 % so với năm 2004.Đâyđược coi là năm khó khăn nhất.có tốc độ tăng thấp nhất của bảo hiểm nhânthọ Việt Nam .Số lượng hợp đồng khai thác mới chỉ đạt 882.929 giảm982.860 hợp đồng so với năm 2004 và chỉ bằng 49% so với năm 2004.Sốlượng hợp đồng đến cuối kỳ chỉ đạt 5.102.751 bằng 78% năm 2004,giảm1.447.154 hợp đồng.Phí bảo hiểm thực thu năm 2005 là 1.335 tỷ đồng bằng66% so với năm 2004.Doanh thu phí bảo hiểm đạt 80.128 tỷ đồng,tăng 5.5%
so với năm 2004.Số lượng hợp đồng khai thác mới chỉ đạt 882.929 giảm982.860 hợp đồng so với năm 2004 và chỉ bằng 49% so với năm 2004.Sốlượng hợp đồng đến cuối lỳ chỉ đạt 5.102.751 bằng 78% năm 2004,giảm
Trang 281.447.154 hợp đồng.Phí bảo hiểm thu năm 2005 là 1.335 tỷ đồng bằng 66%
so với năm 2004.Số lượng đại lý bảo hiểm đến cuối năm 2005 là 91.734người,bằng 96% so với năm 2004.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là docác doanh nghiệp bảo hiểm chưa nắm bắt kỹ càng về nhu cầu của thị trườngbảo hiểm để ra những sản phẩm phù hợp.Các doanh nghiệp bảo hiểm chưaphân tích rõ ràng chất lượng đại lý nên việc tuyển dụng,đào tạo đại lý vất vả
và số đại lý nghỉ việc giữa chừng ngày càng tăng.Ngoài ra NHTM tăng lãisuất tiền gửi tiết kiệm tới 8%-9%/năm,chỉ số giá cả tăng 8,5 %/năm cũng làmảnh hưởng đến tâm lý người tham gia bảo hiểm nhân thọ với hợp đồng dàihạn từ 10 năm,20 năm…
Năm 2006 thị trường bảo hiểm Việt Nam tiếp tục duy trì mức tăngtrưởng ổn định,doanh thu đạt gần 18.000 tỷ đồng,tăng 10%so với năm2005.Trong đó doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đạt 7000 tỷ đồng,bảohiểm nhân thọ đạt 8300 tỷ đồng và doanh thu từ hoạt động đàu tư đạt 2.700 tỷđồng.Đến cuối năm 2006,ngành bảo hiểm đã đầu tư lại nền kinh tế khoảng34.400 tỷ đồng,tăng trên 7.500 tỷ đồng so với năm 2005
Năm 2008, tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ toàn thị trườngđạt xấp xỉ 10.900 tỷ đồng, tăng trưởng 30%, vượt chỉ tiêu chiến lược thịtrường bảo hiểm đến năm 2010 tới 21% (chỉ tiêu đặt ra là 9.000 tỷ đồng).Top
5 doanh nghiệp bảo hiểm có doanh thu cao là Bảo Việt 3.305 tỷ đồng, PVI2.016 tỷ đồng, Bảo Minh 1.981 tỷ đồng, PJICO 1.061 tỷ đồng, PTI đạt 429 tỷđồng Chính vì vậy, đối với bảo hiểm phi nhân thọ, việc chấm dứt tình trạngcác nghiệp vụ bảo hiểm kinh doanh có kết quả âm đang được đặt lên hàng đầu
vì bị hạn chế nguồn bù đắp từ lãi đầu tư Không nên quá chú trọng tăngtrưởng doanh thu chiếm lĩnh thị phần mà quên đi hiệu quả kinh doanh.Doanhnghiệp bảo hiểm nên nhìn nhận rõ liệu việc hạ phí bảo hiểm để giành giậtdịch vụ khách hàng hay tăng cường chất lượng dịch vụ khách hàng, xử lý
Trang 29thiên tai, tai nạn và bồi thường kịp thời, đầy đủ, nâng cao uy tín doanh nghiệp
sẽ đem lại niềm tin cho khách hàng.Khối doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọcũng đạt doanh thu 10.334 tỷ đồng Top 5 doanh nghiệp bảo hiểm có doanhthu cao là Prudential 4.270 tỷ đồng, Bảo Việt 3.425 tỷ đồng, Manulife 1.072
Trên phạm vi toàn quốc,kể từ ngày 8/6/1992 thực hiện chỉ thị số 202/CTcủa chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhànước thành công ty cổ phần và sau nhiều lần đổi mới các quy định các chínhsách (NĐ 28,NĐ 44,NĐ 64,NĐ 187) nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hóa cácdoanh nghiệp nhà nước ,gắn việc cổ phần hóa với việc phát triển TTCK,đếnhết năm 2008 đã có trên 3.863 DNNN và bộ phận DNNN chuyển đổi thànhcông ty cổ phần.Kết quả thực hiện được thể hiện ở bảng sau
Trang 30Bảng 8: Số lượng DNNN của Việt Nam cổ phần hóa qua các năm
Bảng trên cho thấy tiến trình cổ phần hóa ngày càng được đẩy mạnh,do
đó số lượng doanh nghiệp được cổ phần hóa tăng nhanh,liên tục(trừ 2 năm2007,2008)
Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp,hìnhthức cổ phần hóa phổ biến nhất là bán một phần vốn Nhà nước hiện có tạidoanh nghiệp kết hợp với phát hành thêm cổ phiếu(chiếm 43,4%) tiếp đó làbán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp kết hợp với phát hànhthêm cổ phiếu(chiếm khoảng 43,4 %),tiếp đó là bán một phần vốn nhà nướchiện có tại doanh nghiệp(26%).còn lại là bán toàn bộ vốn Nhà nước tại doanhnghiệp (15,5%) và giữ nguyên vốn Nhà nước và phát hành thêm cổphiếu(15,1%)
Trang 31Tình hình sắp xếp, đổi mới DNNN tính đến 31-12-2008 (số doanh nghiệp
cổ phần hóa nằm trong số doanh nghiệp sắp xếp lại)
Thứ hai,chuyển biến từ việc chỉ cổ phần hóa các DNNN quy mô nhỏ vềvốn và lao động,làm ăn thua lỗ,nay sang cả những doanh nghiệp làm ăn có lãivới các ngành trọng yếu của nền kinh tế(như điện lực,xi măng,viễnthông,hàng không),với kết quả hoạt động sau cổ phần hóa ngày càng tiến bộ
Thứ ba,việc cổ phần hóa không chỉ nhằm thu hút vốn của các nhà đầu
tư ,của những người lao động trong doanh nghiệp,mà còn thu hút cả vốnnhững người nông dân cung cấp nguyên liệu cho sản xuất côngnghiệp ,chuyển họ thành những cổ đông,gắn bó họ với sự phát triển củadoanh nghiệp
Thứ tư,việc chuyển từ cổ phần hóa theo hướng cơ bản khép kín,nội bộchuyển sang hình thức đấu giá công khai ,bán cổ phần ra bên ngoài để thu hútcác nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước Đây được coi là sự chuyển biến
Trang 32“có chất “ nhất thể hiện sự thay đổi căn bản về quan điểm và chủ trương về cổphần hóa,góp phần tạo ra sức bật mạnh mẽ để đẩy nhanh ,mạnh mẽ đến tiếntrình cải các hệ thống DNNN một cách công khai minh bạch và tạo điều kiệncho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước cùng tham gia Trong số gần3.000 doanh nghiệp cổ phần thì Nhà nước nắm 46,5% vốn điều lệ.Cổ đông làngười lao động chiếm 15,1%.
Bảng 9:Một số đặc điểm của các DNNN sau khi cổ phần hóa.
2002 2003 2005 2006 2007Vốn điều lệ trung bình 7,0 6,6 10,3 12,6 14,5
Tỷ trọng vốn điều lệ của DNNN
lớn hơn 10 tỷ đồng(%)
Nợ ngân hàng trung bình (tỷ đồng) 5 6 8 9 19
Số nhân công trung bình 247 218 184 237 304
Tỷ lệ nhà nước nắm giữ trong cac
scong ty cổ phần hóa nắm giữ trên
Cổ phần hóa các DNNN thường giao dịch đóng với bên ngoài ,nhưng sốliệu trên bảng cho thấy tình hình ngày càng giảm đi.Tỷ lệ các DNNN cổ phầnkhông bán cổ phiếu ra bên ngoài giảm từ 52% năm xuống còn 29% năm2006.Trong năm 2005,phần vốn bán ra bên ngoài chiếm chưa đến 9% tổng sốvốn của các doanh nghiệp này nhưng đến năm 2006 con số này đã tăng lên
Trang 3314%.Tỷ lệ này được dự đoán sẽ tăng lên khi các DNNN lớn hơn được cổ phầnhóa.
Với 2242 DNNN được cổ phần hóa năm 2005,các tổ chức và các cá nhân
đã đầu tư 12.411 tỷ đồng mua cổ phiếu,nhà nước đã có 10.169 tỷ đồng(chiếm58% tổng số vốn nhà nước cổ phần hóa )để đầu tư trở lại vào DNNN hoặcvào các mục đích khác nhằm khuyến khích doanh nghiệp phát triển
Trên địa bàn Hà Nội,CPH DNNN cũng phát triển mạnh và phản ánhkết quả đặc điểm chung nêu trên của quá trình cổ phần hóa DNNN trên toànquốc
Về công tác cổ phần hóa DNNN địa phương:
Hà Nội đã tích cưc triển khai công tác cổ phần hóa DNNN địaphương.thành ủy đã ban hành chỉ thị số 10-CT/TU,chương trình18-CTr/TU,kế hoạch 20-KH/TU(khóa XIII) và chương trình 13-CTr/TU(khóaXIII),trong đó xác định những nhiệm vụ,mục tiêu về cổ phần hóa DNNN địaphương.Ban chỉ đạo đổi mới DNNN thành phố được thành lập.Danh sách và
lộ trình các DNNN trong diện cổ phần hóa được xây dựng và đôn đốc thựchiện với các nhiệm vụ cụ thể được giao cho từng bộ phận,cá nhân có tráchnhiệm…
Ngày 7/5/2003,chính phủ có quyêt định số 86/2003/QĐ-TTg về việcphê duyệt phương án tổng thể sắp xếp,đổi mới DNNN thuộc thành phố HàNội giai đoạn 2003-2005.Ngay sau đó,thành phố đã có chỉ thị số 20-CT/TUngày 18/6/2003 và UBND Thành phố có tờ trình số 25/TTr-TB ngày19/6/2003 về “Một số biện pháp đẩy nhanh tiến độ sắp xếp và đổi mới DNNNthuộc thành phố Hà Nội”;Quyết định số 2063/QĐ-UB về quy trình sắpxếp ,cổ phần hóa và quyết định số 3287/QĐ-UB về quy trình sắp xếp,cổ phầnhóa và quyết định số 3287/QĐ-UB về quy chế thuê tư vấn công ty cổ phầnhóa
Trang 34Nhìn chung mặc dù có sự chững lại vào những năm 2000-2002,songviệc sắp xếp,đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN được thành
ủy và UBND Thành phố đặc biệt quan tâm,chỉ đạo theo đúng chủ trươngchính sách của Đảng và Nhà nước.Từ năm 1998 đến 30/6/2004,thành phố đãhoàn thành cổ phần hóa 11 doanh nghiệp(trong đó cổ phần hóa bộ phận 20doanh nghiệp,cổ phần toàn bộ 91 doanh nghiệp)và thành lập 114 công ty cổphần
Các mục tiêu của cổ phần hóa bước đầu đạt kết quả tốt.Sau cổ phầnhóa,bình quân vốn doanh nghiệp đạt gần 4,6 tỷ đồng,tăng gấp 2,2 lần.Hầu hết
cá doanh nghiệp đều có mức doanh thu lợi nhuận và nộp ngân sách nhà nướccao hơn khi còn là DNNN(tăng khoảng 15-20%).Đa số các công ty cổ phầnđều có cổ tức chia cho cổ đông và tỷ lệ cổ tức chia cho cho các cổ đông và tỷ
lệ cổ tức thường cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng.Đào tạo vàđào tại lại 2.500 lao động,tuyển thêm 622 lao động mới.Ý thức, năng suất laođộng và thu nhập của người lao động được cải thiện.Huy động thêm được351,4 tỷ đồng tiền vốn từ các cổ đông,vốn nhà nước trong các doanh nghiệp
cổ phần hóa được bảo toàn và tiếp tục tăng trưởng…
Chất lượng công tác sắp xếp,cổ phần hóa được nâng cao:Các tồn tại tàichính,lao động của doanh nghiệp được săp xếp,cổ phần hóa cơ bản được xử
lý Phương án sản xuất kinh doanh sau sắp xếp,cổ phần hóa được xây dựngcông phu và có tính khả thi cao…Đa phần các doanh nghiệp sau sắp xếp,cổphần hóa hoạt động ổn định ,có hiệu quả hơn so với khi còn là DNNN.Đặcbiệt,các mục tiêu cổ phần hóa DNNN đều được thực hiện:
+ Cổ phần hóa đã tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu,đồng thời tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong doanh nghiệp.
Trang 35Theo số liệu tổng hợp của 58 doanh nghiệp cổ phần hóa năm 2005,tổngvốn điều lệ của 58 công ty cổ phần là 622.497 triệu đồng,trong đó nhà nướcgiữ 212.972 triệu đồng,tương đương :34,2%,cán bộ công nhân viên trongdoanh nghiệp giữ 392.899 triệu đồng,chiếm 53% và tổng giá trị cổ phần bánđấu gái cho các nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp là :79.626 triệuđồng,chiếm 12,8%.Chính sách cổ phần hóa cho phép đại đa số người lao độngtrở thành cổ đông của công ty cổ phần.Người lao động-cổ đông là chủ thực sựphần vốn góp của mình,có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp với tinh thầndân chủ trách nhiệm cao như:Tham dự đại hội đồng cổ đông để thông quađiều lệ công ty ,bầu các thành viên Hội đồng quản trị và ban kiểm soát ,biểuquyết các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh daonh của doanhnghiệp …làm cho cơ chế quản lý doanh nghiệp thay đổi theo chiều hướng tíchcực,hoạt động quản lý năng động,có hiệu quả và thích nghi với nền kinh tế thịtrường.Chính sách cổ phần hóa cho phép đại đa số người lao động trở thành
cổ đông của công ty cổ phần.Người lao động-cổ đông là chủ thực sự phần vốngóp của mình có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp một cách có hiệu quảbằng việc dự Đại hội đồng cổ đông để thông qua các điều lệ công ty,bầu cácthành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát,biểu quyết các vấn đề liênquan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chiến lượckinh doanh,kế hoạch phát triển dài hạn hàng năm,tăng giảm vốn điều lệ,đầu tưsản xuất phân chia lợi nhuận …Nhờ đó họ nâng cao được tính chủ động,ýthức kỷ luật,tinh thần tự giác,tiết kiệm trong sản xuât kinh doanh,góp phầnlàm cho hiệu quả hoạt đọng của doanh nghiệp ngày một tăng
Việc kiểm tra,giám sát của người lao động-cổ đông và xã hội đối vớicông ty cổ phần thực sự có hiệu quả,tài chính của công ty cổ phần được minhbạch,công khai,cùng với những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ
Trang 36cổ đông tạo điều kiện cho việc thực hiện quy chế dân chủ trong doanh nghiệpmột cách đầy đủ và triệt để.
+Cổ phần hóa trở thành giải pháp cơ bản và quan trọng nhất trong cơ cấu lại DNNN,để DNNN có cơ cấu thích hợp ,quy mô lớn,tập trung vào những ngành những lĩnh vực then chốt của thành phố.
Thông qua việc cổ phần hóa số lượng DNNN được giảm bớt,đồng thờiDNNN có bước cơ cấu lại quan trọng.Từ chỗ DNNN rất phân tán ,dán trảitrong tất cả các ngành,lĩnh vực này tập trung vào những ngành lĩnh vực thenchốt của thành phố cần ưu tiên để phát triển:cung cấp nước sạch;vận chuyểnhành khách công cộng bằng xe bus;đầu tư phát triển hạ tầng đô thị ;kinhdoanh thương mại hiện đại…
+Cổ phần hóa đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh.
Các doanh nghiệp cổ phần hóa tạo hàng hóa cung cấp cho các hoạt độngcủa TTGDCK Hà Nội.Ngược lại,TTGDCK Hà Nội ra đời có tác động thúcđẩy tiến trình cổ phần hóa được nahn hơn,đồng thời là kênh huy động vốn chodoanh nghiệp vừa rẻ vừa tiện lợi
TTGDCK Hà Nội đi vào hoạt động sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cáccông ty cổ phần được tham gia niêm yết trên sàn sàn giao dịch để huy độngvốn ,tạo nhiều cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư
+ Cổ phần hóa mang lại cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động ,có hiệu quả và thích nghi với nền kinh tế thị trường.
Chuyển sang công ty cổ phần ,doanh nghiệp hoat động theo có chế thịtrường,tự chủ,tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhtrước pháp luật và trước cổ đông.Theo luật doanh nghiệp mô hình tổ chứcquản lý công ty cổ phần thể hiện sự phân định rõ ràng vè quyền hạn và tráchnhiệm của chủ sở hữu và người sử dụng tái sản của công ty để kinh doanh.Vì
Trang 37vậy đa số các công ty cổ phần phải tiến hành rà soát lại và xây dựng mới cácnội quy hoạt động như:Quy chế tài chính;quy chế lao động,tuyển dụng,đề bạtcán bộ;xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm của ban lãnh đạo,của người laođộng của cổ đông,có cơ chế phân phối rõ ràng;thực hiện tinh giản bộ máyquản lý,hợp lý hóa các bộ phận sản xuất kinh doanh;…trên cơ sở đó nâng caonăng suất lao động,chất lượng sản phẩm,hạ giá thành,nâng cao hiệu quả kinhdoanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cùng với quá trình sắp xếp lại DNNN theo phương án sắp xếp tổng thể
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt,cơ cấu DNNN thuộc thành phố có sựthay đổi theo chiều hướng tích cực,như:Số lượng DNNN giảm dần từ 222doanh nghiệp (năm 2001) xuống còn 208 doanh nghiệp(1/1/1/2003) và đén31/12/2004 dự kiến còn 82 doanh nghiệp.Các DNNN được giữ lại tạp trungvào các ngành nghề:Điện tử -thông tin,cơ kim khí;dệt may –da giày;chế biếnthực phẩm;giao thông đô thị;thương mại-du lịch.Đồng thời quy mô vốnDNNN từ 17,4 tỷ đồng/doanh nghiệp năm 2002),dự kiến sẽ tăng đạt 48,3 tỷđồng/doanh nghiệp(năm 2005)
Tính đến thời điểm 31/3/2006,trên TTGDCK Hà Nội có 10 doanhnghiệp thực hiện đăng ký giao dịch cổ phiếu với vốn hóa trên thị trường trên
2300 tỷ đồng và 6 loại trái phiếu với tổng trị giá 1.060 tỷ đồng.Tính đến hếtngày 31/3/2006,TTGDCK Hà Nội đã tổ chức được trên 100 phiên giao dịchthành công với giá trị trung bình hơn 4 tỷ đồng/1 phiên
Trang 38Bảng 10-Các doanh nghiệp đăng ký giao dịch trên TTGDCK Hà Nội
(tính đến hết ngày 31/3/2006)
Đơn vị:triệu đồng
BBS Công ty cổ phần bao bì xi măng Bút Sơn 40.00
CID Công ty cổ phần xây dựng và phát triển cơ sở
VSH Công ty cổ phần thủy điện Vĩnh sơn sông Hinh 1.225.000
Nguồn: http://www.ssc.gov.vn
Cổ phần hóa đã gây được tiếng vang trong toàn xã hội,mở ra cơ hội huyđộng vốn cho doanh nghiệp cũng như cơ hội đầu tư cho các nhà đàu tư cánhân.Mặt khác cổ phần hóa cũng làm cho người lao động từ người làm công
ăn lương đã có cơ hội làm chủ doanh nghiệp,cổ phần hóa đã trực tiếp tác độngđến đời sống,việc làm của người lao động,từ đó góp phần phổ biến chứngkhoán và đầu tư chứng khoán trong dân chúng.Việc tham gia nghiêmtúc,nhiệt tình của công chúng đầu tư trong các phiên đấu giá của công ty trênTTGDCK Hà Nội thời gian qua cho thấy không chỉ người lao động làm việctại các công ty được đấu giá mà cả công chúng đàu tư đã khá quan tâm đếnviệc đầu tư,kinh doanh cổ phiếu và trái phiếu
Bên cạnh sự bùng nổ về giao dịch chứng khoán trên sàn giao dịch ,thìgiao dịch các loại cổ phiếu diễn ra hết sức sôi động trên thị trường OTC
Trang 39Thực tiễn thời gian qua cho thấy trong số hàng ngàn các công ty vàdoanh nghiệp cổ phần hóa,trong đó chỉ có một số lượng nhỏ công ty đượcniêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán,còn lại một số lượng cổ phiếu lớncủa công ty chưa niêm yết được giao dịch trên thị trường OTC.Thậm chí cónhững cổ phiếu được đánh giá là có tính thanh khoản cao và hấp dẫn hơn cảcác cổ phiếu được niêm yết trên sàn giao dịch Hà Nội.
Cùng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế của đất nước và quátrình hội nhập ngày càng sâu rộng,số lượng các loại hình doanh nghiệp ngoàinhà nước ngày càng tăng.Tổng số lượng các doanh nghiệp ngoài nhà nướctính đến năm 2005 đã tăng lên gấp 5 lần từ năm 2000,từ 3.658 doanh nghiệplên 16.641 doanh nghiệp.Trong đó loại hình công ty cổ phần không có vốnnhà nước tăng từ 151 doanh nghiệp trong năm 2000 lên đến 4.495 doanhnghiệp năm 2005.Sự tăng trưởng nhanh chóng này cho thấy môi trường kinhdoanh của nhà nước đang được cải thiện và ngày càng khẳng định được vaitrò của dân cư trong hoạt động kinh doanh