Trên cơ sở đó, Luật DN sửa đổi 2014 đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi quy định giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh không bắt buộc ghi ngành nghề kinh doanh; Tách bạch giấy c
Trang 11 Những điểm mới của luật doanh nghiệp liên quan đến thành lập doanh nghiệp:
Các điểm nổi bật của Luật doanh nghiệp sửa đổi 2014 vừa được Quốc hội khoá 13 thông qua ngày 26/11 đã được phổ biến tới các doanh nghiệp Theo đó, Luật doanh nghiệp sửa đổi 2014 có những điểm mới nổi bật như sau:
Một là, đăng kí kinh doanh.
Luật doanh nghiệp sửa đổi năm 2014 với mục tiêu đưa doanh nghiệp trở thành công
cụ kinh doanh rẻ hơn và an toàn hơn nhằm hấp dẫn nhà đầu tư, tăng cường thu hút đầu
tư và huy động tốt mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh
Trên cơ sở đó, Luật DN sửa đổi 2014 đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi quy định giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh không bắt buộc ghi ngành nghề kinh doanh; Tách bạch giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh; Bãi bỏ các yêu cầu và điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng kí thành lập doanh nghiệp; Hài hoà thủ tục đăng kí doanh nghiệp với thuế lao động, bảo hiểm xã hội; Doanh nghiệp tự quyết con dấu, nội dung và hình thức con dấu; Doanh nghiệp có thể
có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật
Hai là về góp vốn điều lệ kinh doanh.
Về vấn đề vốn, nhằm giải quyết những vướng mắc, tranh chấp phát sinh trong thực tiễn áp dụng các quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005 Theo đó Luật DN sửa đổi
2014 đã có áp dụng thống nhất thời hạn phải thanh toán đủ phần vốn góp khi thành lập công ty; Thống nhất các khái niệm về vốn công ty cổ phần như cổ phần được quyền phát hành và cổ phần đã phát hành; Chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần không phải là công ty cổ phần đại chúng
Ba là, mô hình quản trị công ty cổ phần.
Theo đó trên thế giới có nhiều mô hình quản trị công ty cổ phần như: Mô hình hội đồng hai cấp, mô hình hội đồng một cấp Ở Việt Nam trước đó đã quản lý công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp ban hành 2005 Theo đó, cấu trúc gồm: Đại hội đông Hội đồng quản trị, Giám đốc/tổng giám đốc và ban kiểm soát
Nhưng tới mô hình tổ chức quản trị theo Luật doanh nghiệp 2014 cấu trúc mô hình sẽ gồm Đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị (thành viên, thành viên độc lập), Giám đốc/tổng giám đốc
Bốn là, điểm mới trong quản lý doanh nghiệp nhà nước.
Trang 2Luật DN 2014 bổ sung một chương hoàn toàn mới về doanh nghiệp nhà nước Đây là nội dung lâu nay chưa có luật nào quy định cụ thể Trong đó, quy định về các lĩnh vực kinh doanh của nhà nước Ngoài ra luật còn quy định về cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động, công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin bất thường
Bốn lĩnh vực doanh nghiệp nhà nước được kinh doanh:
- Doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội
- Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh
- Doanh nghiệp hoạt dộng trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên
- Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực cho sự phát triển các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế
Năm là Doanh nghiệp có thể có nhiều người đại diện pháp luật
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Tùy thuộc vào nhu cầu quản trị của mỗi doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền quyết định số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ cụ thể của người đại diện theo pháp luật tại điều lệ.
Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam Nếu hết thời hạn ủy quyền mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác, người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc, hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Đây là điểm mới, tiến bộ của Luật Doanh nghiệp 2014 khi đưa ra cơ chế giải quyết trong trường hợp người đại diện theo pháp luật thường xuyên vắng mặt tại Việt Nam.
Thời gian cấp Giấy phép kinh doanh là 3 ngày làm việc và nội dung Giấy phép không có nội dung ngành nghề kinh doanh
Khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, trong một số trường hợp, cơ quan đăng ký kinh doanh có thể yêu cầu người đăng ký nộp Phiếu lý lịch tư pháp.
Luật Doanh nghiệp 2014 đã rút ngắn thời hạn xem xét, cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp còn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ trong khi theo quy định hiện nay (Luật doanh nghiệp 2005) là 10 ngày làm việc.
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bản điện tử và
sẽ không có nội dung ngành, nghề kinh doanh Điều này dẫn đến việc khi thay đổi ngành, nghề kinh
Trang 3doanh, doanh nghiệp chỉ phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh để được bổ sung trong hồ
sơ đăng ký doanh nghiệp mà không phải đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới như hiện nay.
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc khi thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải công bố công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Trong khi theo quy định hiện nay, doanh nghiệp được lựa chọn phương thức công bố như đăng trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong 3 số liên tiếp.
Sáu là, Doanh nghiệp có quyền quyết định hình thức, số lượng, nội dung con dấu
Theo quy định hiện nay, mỗi doanh nghiệp chỉ được sử dụng một con dấu, trừ một số trường hợp được chấp thuận sử dụng con dấu thứ hai và phải được đăng ký mẫu tại cơ quan công an Kể từ ngày 01/07/2015, doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng, nội dung con dấu của doanh nghiệp nhưng phải bảo đảm thể hiện nội dung về tên và mã số doanh nghiệp, đồng thời phải được thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Bảy là, Thời hạn góp vốn rút ngắn còn 90 ngày
Chủ sở hữu, thành viên công ty TNHH phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong khi quy định hiện tại về thời thời hạn góp vốn tối đa là 36 tháng Tuy nhiên, đối với các công ty TNHH được thành lập trước ngày 01/07/2015, thời hạn góp vốn vẫn được thực hiện theo quy định tại Điều lệ công ty.
Tám là, Doanh nghiệp xã hội
Nếu như theo Luật Doanh nghiệp 2005, Nhà nước chỉ khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thì theo quy định mới, các doanh nghiệp xã hội được thành lập với các tiêu chí, quyền và nghĩa vụ được quy định chi tiết, cụ thể hơn.
II Những điểm mới so với luật cũ
1 Tách riêng thủ tục thành lập doanh nghiệp với thủ tục về đầu tư dự
án theo Luật Đầu tư
Vấn đề bất cập ở luật doanh nghiệp 2005
So sánh quốc tế và khu vực, thủ tục thành lập doanh nghiệp và khởi sự kinh doanh ở nước ta vẫn còn phức tạp, tốn kém về thời gian và chi phí Xét về mức độ phức tạp và tốn kém về chi phí tuân thủ, thủ tục thành lập doanh nghiệp
và khởi sự kinh doanh năm 5 2013 của nước ta vẫn ở thứ hạng thấp, đứng thứ
109 trên 189 quốc gia và nền kinh tế 1 Nguyên nhân chính của việc nước ta được
Trang 4xếp hạng thấp so với thế giới bao gồm: - Theo cách tính của Ngân hàng thế giới, khởi sự kinh doanh ở nước ta gồm 10 bước với tổng thời gian vào khoảng 34 ngày:
1 Đăng ký kinh doanh và mã số thuế 14 ngày 200.000 phí
165.000đ-370.000đ tùy loại dấu
5 Công bố nội dung đăng ký kinh
doanh trên cổng thông tin đăng ký
doanh nghiệp quốc gia (NBRS)
6 Nộp thuế môn bài ( thực hiện đồng
7 Mua hóa đơn hoặc in hóa đơn
( thực hiện đồng thời thủ tục khác) 10 ngày
8 Đăng ký lao động với sở lao động
thương binh và xã hội ( thực hiện
đồng thời thủ tục khác)
1 ngày
9 Đăng ký bảo hiểm xã hội (thực hiện
10 Đăng ký thỏa ước tập thể (thực
hiện đồng thời thủ tục khác) 7 ngày
Thủ tục khởi sự ở nước ta được đánh giá khó khăn hơn nhiều so với một
số nước xung quanh như: Malaysia (xếp hạng 16), Thái Lan (xếp hạng 91), Singapore (xếp hạng 1),… Thủ tục khởi sự kinh doanh ở Malaysia gồm 3 thủ tục với thời gian khoảng 6 ngày, cụ thể như sau:
Trang 52 Công ty chuẩn bị hồ sơ thành lập 3 ngày 1000 MYR
3 Nộp các hồ sơ cần thiết thông qua
bộ phận một cửa của CCM và lấy
các kết quả: chứng nhận thành lập
công ty, đăng ký thuế, đăng ký với
quỹ lao động (EPF), đăng ký bảo
hiểm xã hội và với Inland Revenue
Board
1-2 ngày 1000 MYR (phí
đăng ký) + 220 MYR tem + 100 MYR phong bì thư
Thủ tục khởi sự kinh doanh ở Thái Lan xếp hạng 91, bao gồm 4 bước với tổng thời gian khoảng 27.5 ngày
ST
T
1 Kiểm tra và giữ tên doanh nghiệp Gần 1 ngày với
thủ tục online
Không phí
2 Nộp tiền góp vốn vào tài khoản ở
ngân hàng
4 Phê duyệt bản ghi nhớ thành lập
doanh nghiệp, nộp hồ sơ đăng ký
doanh nghiệp và hồ sơ theo quy
định của Luật lao động
1 ngày cho đăng ký và 21 ngày cho phê duyệt hồ sơ theo Luật lao động
750 THB đăng ký bản ghi nhớ; từ
500 THB – 25000 THB cho phí góp vốn (tính theo giá trị góp vốn) +
7500 THB phí đăng ký doanh nghiệp
Cùng với Luật Đầu tư 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã chính thức bãi
bỏ nội dung Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có thể đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài muốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam đều phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư sau đó sẽ thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp
2014 đã tách riêng thủ tục thành lập doanh nghiệp với các thủ tục về đầu tư dự
án Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là hình thức để Nhà nước ghi nhận sự
Trang 6hình thành và việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp Tại thời điểm thành lập doanh nghiệp, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp chưa phát sinh, do vậy Luật đã tách biệt rõ giữa thủ tục thành lập doanh nghiệp với thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận đầu tư và việc đảm bảo các điều kiện kinh doanh trong quá trình đi vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
2 Thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới cho các loại hình doanh nghiệp, đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh); đăng ký thay đổi nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được rút ngắn từ 05 ngày làm việc xuống còn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 27 và Khoản 3 Điều 31 Luật Doanh nghiệp 2014:Thời hạn để Cơ quan Đăng ký kinh doanh xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng
ký doanh nghiệp và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới; đăng ký thay đổi nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ Như vậy, so với Luật Doanh nghiệp năm 2005, thì thời hạn xem xét, cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp giảm 02 ngày làm việc
3 Về Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: Được thể hiện dưới hình
thức văn bản hoặc bản điện tử Theo quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm
2014 thì nội dung của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ còn 4 nội dung chính: tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; thông tin chi tiết nhân thân của cá nhân là người đại diện theo pháp luật, chủ DNTN, thành viên hợp danh, thành viên công ty và thông tin của thành viên tổ chức; vốn điều lệ của doanh nghiệp
Như vậy, trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sẽ không có nội dung ngành, nghề kinh doanh kinh doanh và danh sách cổ đông sáng lập (đối với Công
ty cổ phần) Điều này dẫn đến việc khi thay đổi ngành, nghề kinh doanh; thay đổi
cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần và cổ đông là nhà đầu tư nước
ngoài, doanh nghiệp chỉ phải thông báo với cơ quan đăng ký kinh doanh để được
bổ sung trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp mà không phải đăng ký thay đổi nội
dung đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới như hiện nay (Điều 32 Luật Doanh nghiệp năm 2014) Như vậy, mỗi khi Doanh nghiệp thay đổi, bổ sung nhành nghề kinh doanh; thay đổi cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần, sẽ không mất thời gian và thủ tục để chờ cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Điều quan trọng hơn cả là việc bỏ ghi ngành nghề kinh doanh trong Giấy CNĐKDN; bỏ việc xác định vốn pháp định, chứng chỉ hành nghề Điều này
đã hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh tất cả ngành nghề mà pháp luật không
Trang 7cấm theo quy định tại Hiến pháp, làm cho doanh nghiệp trở thành công cụ kinh doanh thực sự an toàn, đa công năng và rẻ hơn
Theo quy định tại Điều 33 Luật Doanh nghiệp: Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc khi thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải công bố công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng
ký doanh nghiệp Đây là điểm mới trong lần sửa đổi này Bởi theo quy định hiện nay, doanh nghiệp được lựa chọn phương thức công bố như đăng trên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc một trong các loại tờ báo viết hoặc báo điện tử trong 3 số liên tiếp
4 Về Phiếu lý lịch tư pháp trong Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp: Theo quy
định tại Khoản 2 Điều 18 quy định: trong một số trường hợp, khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, Cơ quan Đăng ký kinh doanh có thể yêu cầu người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh Đây là quy định mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 Tuy nhiên, về cơ bản phiếu lý lịch tư pháp không phải là tài liệu bắt buộc trong Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp bởi nếu bắt buộc sẽ làm tăng thêm thời gian thành lập doanh nghiệp tạo ra gánh nặng chi phí tuân thủ rất lớn cho cả cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, sẽ có tác động không thuận lợi cho môi trường đầu tư, kinh doanh ở nước ta
5 Về vấn đề người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp: Theo quy
định tại Khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014: Công ty TNHH và công
ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật Như vậy, so với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định Công ty hoàn toàn có thể tự quyết định, chỉ định một người đại diện theo pháp luật hoặc trong trường hợp cần thiết thì có quyền tự chủ quyết định việc có nhiều người đại diện theo pháp luật, số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định tại Điều lệ Công ty
Ngoài ra theo quy định tại Khoản 7 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tóa án
6 Về con dấu của doanh nghiệp: Theo quy định tại Điều 44 Luật Doanh
nghiệp năm 2014: Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu doanh nghiệp Và trước khi sử dụng con dấu, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với Cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
Như vậy, đây là cách tiếp cận mới hoàn toàn về con dấu doanh nghiệp, dù chưa thể bỏ hoàn toàn việc sử dụng con dấu nhưng đã có bước cải cách lớn Trước đây việc cấp, sử dụng con dấu của doanh nghiệp do Bộ Công an quy định thì nay
Trang 8theo Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Thay vì phải đăng ký với cơ quan Công an như hiện nay, Doanh nghiệp chỉ cần thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp Quy định này giúp doanh nghiệp đỡ phiền hà, tốn kém về chi phí, thời gian Theo xu hướng phát triển phương thức giao dịch điện tử, thì việc dùng con dấu sẽ không còn ý nghĩa nữa Vì vậy, việc cải cách về con dấu là hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thế giới Hiện nay, con dấu doanh nghiệp còn bị ràng buộc bởi nhiều quy định về giao dịch trong một số bộ luật, nếu bỏ hoàn toàn sẽ phát sinh số lượng công việc rất lớn và
có thể chưa đảm bảo chặt chẽ trong quản lý
7 Về vốn điều lệ và thời hạn góp vốn của công ty:
Vấn đề bất cập ở luật cũ:
Tổng kết thi hành Luật Doanh nghiệp cho thấy thực hiện các quy định về góp vốn thành lập doanh nghiệp có môt số bất cập sau đây: - Các khái niệm về vốn công ty, đặc biệt các khái niệm về vốn công ty cổ phần chưa được quy định đủ rõ ràng, chưa thật chặt chẽ Do đó, gây khó khăn và không thống nhất trong thực hiện;
dễ bị lạm dụng, gây nhầm lẫn cho các bên có liên quan Cùng một khái niệm về vốn, nhưng giữa Luật doanh nghiệp và văn bản hướng dẫn thi hành sử dụng thuật ngữ khác nhau Luật doanh nghiệp sử dụng thuật ngữ “cổ phần được quyền chào bán”; trong khi đó, Nghị định 102/2010/ND-CP sử dụng thuật ngữ khác “cổ phần
đã phát hành”, “cổ phần được quyền phát hành” (Điều 6(5)) - Quy định về tiến độ
có thể kéo dài đến 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn đã không đạt được mục tiêu dự kiến
mà còn gây ra tác động không mong muốn như: nhầm lẫn về vốn điều lệ, cơ cấu sở hữu thực tế của doanh nghiệp Qua đó, có thể làm phát sinh các mâu thuẫn, tranh chấp không đáng có trong nội bộ công ty có liên quan
Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định các nguyên tắc để xác định, đăng ký vốn thực góp của công ty, giải quyết tình trạng vốn không có thực (ảo) nhưng không thể xử lý được như hiện nay Trong đó điểm mới nhất là cho phép Công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần được giảm vốn điều lệ
Theo đó, Công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên nếu không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn quy định như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp thì được quyền đăng ký điều chỉnh giảm vốn bằng giá trị số vốn thực góp Trong trường hợp này, chủ sở hữu, thành viên, cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ vốn điều lệ đã đăng ký góp,
số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị phần
Trang 9vốn góp, mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công
ty phát sinh trong thời hạn cam kết góp
Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp cũng có thể điều chỉnh giảm vốn bằng cách hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ của Công ty theo các điều kiện quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014
Luật Doanh nghiệp năm 2014 áp dụng thống nhất thời hạn phải thanh toán
đủ phần vốn góp khi thành lập công ty, quy định rút ngắn thời hạn góp vốn đối với chủ sở hữu, thành viên công ty TNHH phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong khi quy định hiện hành về thời hạn góp vốn tối đa đối với Công ty TNHH một thành viên và hai thành viên trở lên là 36 tháng
8 Về điều kiện tiến hành họp và thông qua nghị quyết Đại hội đồng cổ đông công ty:
Chính thức thay đổi theo đúng thông lệ quốc tế khi giảm tỷ lệ dự họp từ 65% (Luật Doanh nghiệp năm 2005) xuống còn 51% Và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông được thông qua khi được số cổ đông đại diện cho ít nhất 51% tổng
số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông dự họp tán thành (Luật Doanh nghiệp năm 2005 là 65%; trường họp thông qua nghị quyết dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản là ít nhất 75%)
Luật quy định về thành viên hội đồng quản trị độc lập, không tham gia điều hành trực tiếp doanh nghiệp; Bãi bỏ việc Đại hội đồng cổ đông bầu trực tiếp Chủ tịch hội đồng quản trị
9 Về doanh nghiệp xã hội: Đây là một khái niệm mới được luật hóa quy
định cụ thể tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Doanh nghiệp xã hội không phải là một loại hình doanh nghiệp mà cũng giống như doanh nghiệp thông thường khác được tổ chức và hoạt động theo một trong các loại hình doanh nghiệp nhất định như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…, chỉ phân biệt ở mục tiêu hoạt động và mục đích việc sử dụng lợi nhuận của doanh nghiệp Theo quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì doanh nghiệp xã hội là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này, mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng và sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký Ngoài các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp xã hội còn
có một số quyền và nghĩa vụ quy định tại Khoản 2 Điều 10 Luật Doanh nghiệp
Trang 1010 Doanh nghiệp Nhà nước quy định tại Chương IV Luật Doanh nghiệp 2014 Đây là chương mới hoàn toàn so với Luật Doanh nghiệp năm 2005: Khái niệm Doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại Khoản 8 Điều 4 Luật
Doanh nghiệp năm 2014 đã có sự thay đổi so với trước đây: thay vì quy định Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Trong Chương này cũng nêu rõ hơn địa vị pháp lý tập đoàn kinh tế, bổ sung quy định rõ hơn về hình thức công ty mẹ - công ty con; cấm các công ty con trong cùng một nhóm công ty cùng nhau góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau; bổ sung quy định nhằm minh bạch hóa cơ cấu và mối quan hệ giữa các công ty trong tập đoàn kinh tế, như công khai điều lệ hoặc thỏa thuận về quy chế hoạt động chung tập đoàn…
11 Về tổ chức lại, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:
- Luật Doanh nghiệp năm 2014 không yêu cầu các công ty cùng loại mới được hợp nhất, sáp nhập, chia, tách đồng thời quy định rõ ràng về quyền lợi, nghĩa
vụ, trách nhiệm cũng như trình tự thủ tục, hồ sơ thực hiện các loại thủ tục này Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ cho phép các công ty cùng loại hình mới được hợp nhất hay sáp nhập Đây là điểm đổi mới hết sức quan trọng, điều này sẽ góp phần thúc đẩy thị trường mua bán doanh nghiệp (M&A) trong thời gian tới
- Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: Điều 211 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định 5 trường hợp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp so với 8 trường hợp bị thu hồi quy định tại Khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp năm 2005 Đồng thời Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng có các quy định nhằm giúp doanh nghiệp rút khỏi thị trường thuận lợi hơn, nhanh hơn và rẻ hơn bằng các quy định: giải thể tự động Theo đó, trong thời hạn 180 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải thể theo quy định mà không nhận được ý kiến về việc giải thể từ doanh nghiệp hoặc phản đối của bên có liên quan bằng văn bản hoặc trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan Đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp
12 Một số nội dung khác:
- Luật Doanh nghiệp năm 2014 có những quy định mang tính định hướng, gợi mở về thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, trao cho doanh nghiệp tự do, tự nguyện, cam kết, thoả thuận theo các quy định của Pháp luật: cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật; cho phép công ty cổ phần có thể chọn một trong hai mô hình tổ chức, quản lý; cho phép lựa chọn cách