1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THẢO LUẬN TTDS LẦN 3

8 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 20,57 KB
File đính kèm THẢO LUẬN TTDS LẦN 3.zip (19 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM oOo BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 3 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Phần 1 Nhận định 1 Vụ án lao động có đương sự ở nước ngoài luôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa cấp tỉnh Nhận.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

oOo

-BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 3 THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Phần 1: Nhận định

1 Vụ án lao động có đương sự ở nước ngoài luôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa cấp tỉnh.

- Nhận định sai

- CSPL: Điều 37, Khoản 3 Điều 39 BLTTDS 2015

- CSLL: Xét theo thẩm quyền của Tòa án các cấp, căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 37 BLTTDS

2015 thì vụ án lao động có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa cấp tỉnh Tuy nhiên nếu xét theo thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, căn cứ Khoản 3 Điều 39 BLTTDS 2015 thì trường hợp vụ án dân sự đã được Tòa án thụ lý và đang giải quyết theo đúng quy định của Bộ luật này về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì phải được Tòa án

đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao dịch của đương sự Như vậy không phải vụ án lao động có đương sự nước ngoài nào cũng luôn thuộc thẩm quyền của Tòa cấp tỉnh, phải căn cứ vào thời điểm đương sự

ở nước ngoài đó là ngay từ đầu ở nước ngoài hay trong quá trình giải quyết vụ việc đương sự mới ra nước ngoài để xác định đúng thẩm quyền

2 Không phải mọi tranh chấp giữa các thành viên công ty, giữa thành viên công

ty với công ty với nhau đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.

- Nhận định đúng

- CSPL: Khoản 4 Điều 30 BLTTDS 2015

- CSLL: Căn cứ vào khoản 4 điều 30 BLTTDS 2015 thì tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết gồm có tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty Như vậy để tranh chấp giữa các thành viên của công ty với nhau thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thì cần thỏa điều

Trang 2

kiện liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

3 Toà án chỉ giải quyết việc xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha

mẹ khi có tranh chấp.

- Nhận định sai

- CSPL: Khoản 10 Điều 29 BLTTDS 2015

- CSLL: Không phải chỉ khi có tranh chấp thì Toà án mới giải quyết việc xác định cha mẹ con, trong trường hợp có yêu cầu xác định cha mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ thì Toà án cũng giải quyết

4 Trong mọi trường hợp, nguyên đơn chỉ có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết tranh chấp khi đương sự đã có thỏa thuận với nhau bằng văn bản.

- Nhận định sai

- CSPL: Điều 39, điều 40 BLTTDS 2015

- CSLL: Theo điểm b khoản 1 điều 39 BLTTDS 2015 thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết tranh chấp khi đương sự đã có thỏa thuận với nhau bằng văn bản nếu thỏa điều kiện sau: nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của BLTTDS 2015

- Bên cạnh đó, có tồn tại các trường hợp không cần các đương sự thỏa thuận bằng văn bản thì nguyên đơn vẫn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết tranh chấp Ví dụ tại điểm c khoản 1 điều 40 BLTTDS 2015 có nêu nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết hay điểm d khoản 1 điều 40 BLTTDS 2015 có nêu nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết

5 Tòa án nơi bị đơn cư trú là Tòa án nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú.

- Nhận định sai

Trang 3

- CSPL: Điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015, khoản 1 Điều 12 Luật cư trú (VBHN số 03/2013)

- CSLL: BLTTDS 2015 quy định: “Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định: Tòa án nơi bị đơn cư trú” Theo đó, định nghĩa: “Nơi cư trú của công dân

là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.” (khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú sửa đổi năm 2013)

Như vậy, ngoài Tòa án nơi bị đơn cư trú là nơi đăng ký thường trú (theo hộ khẩu) thì còn có nơi bị đơn đăng ký tạm trú, Tòa án nơi bị đơn có đăng ký tạm trú cũng có thẩm quyền giải quyết vụ việc

Phần 2: Bài tập

1.Xác định tư cách đương sự.

- Ông Đ: Người khởi kiện

- Ông Ph: Người bị kiện

2 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp

- Quan hệ hệ pháp luật tranh chấp là quan hệ tranh chấp về hợp đồng dân sự theo Khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015

3 Xác định Toà án có thẩm quyền.

- Xét thấy đây là tranh chấp hợp đồng dân sự có đương sự ở nước ngoài theo Khoản 3 Điều

26 BLTTDS 2015, căn cứ theo Khoản 3 Điều 35 BLTTDS 2015 thì Toà án có thẩm quyền xử

lý ở đây sẽ là Toà án TP Hồ Chí Minh

Phần 3: Phân tích án

Tóm tắt bản án

Nguyên đơn là ông Trần Minh Hoàng - Đại diện Hộ Kinh doanh Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương (gọi tắt là Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương), Bị đơn là Công ty Cổ phần Tập đoàn Khang Thông (Tên cũ: Công ty Cổ phần Xây dựng Thương mại Dịch vụ Khang Thông - gọi tắt là Công ty Khang Thông) Hai bên đã xác lập các hợp đồng mua bán cây ăn trái và cây kiểng số 29/HĐMC.2010, 41/HĐMC.2010, 46/HĐMC.2010.Tổng giá trị của 03 hợp đồng là 11.578.000.000 đồng, Bị đơn đã thực hiện một phần nghĩa vụ của 03 hợp đồng trên và còn nợ lại 10.031.000.000 đồng

Trang 4

Ngày 05/5/2016 Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn trả số tiền còn lại (10.031.000.000 đồng) và tiền lãi chậm thanh toán tính đến thời điểm nộp đơn khởi kiện là 5.433.980.000 đồng Tổng cộng là 15.464.980.000 đồng

Ngày 20/9/2017, Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện từ “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” sang khởi kiện: “Tranh chấp về đòi lại tài sản”, đòi số tiền 9.230.000.000 đồng mà Bị đơn chưa thanh toán cho Nguyên đơn phát sinh từ hợp đồng 29, 41 và 46 mà Nguyên đơn đã hoàn thành theo yêu cầu của Bị đơn

Ngày 05/02/2018, Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Bị đơn trả thêm

số tiền 2.456.115.000 đồng, tổng số tiền Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán là: 11.686.115.000

Ngày 21/6/2018, Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán số tiền là: 10.031.000.000 Đối với tiền lãi chậm trả, tạm tính là 1.655.115.000 đồng, Nguyên đơn xin rút lại không yêu cầu Bị đơn thực hiện nghĩa vụ này

Toà án nhận định tranh chấp này là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Công ty Khang Thông là Bị đơn có trụ sở tại Quận 1 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Toà án chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn, buộc Bị đơn trả số tiền 9.230.000.000 đồng và phải trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả

- Xác định vấn đề pháp lý có liên quan:

Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại về việc đòi lại tài sản

Thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại về việc đòi lại tài sản

1 Hoạt động mua bán giữa hai bên chịu sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật nào?

Ông Trần Minh Hoàng- Đại diện Hộ Kinh doanh Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương xác lập hợp đồng mua cây ăn trái và cây kiểng là hợp đồng 29, hợp đồng 41, hợp đồng 46 với Công

ty Cổ phần Tập đoàn Khang Thông Cả 2 bên đều là thương nhân, hoạt động nhằm mục đích sinh lợi nên hoạt động mua bán giữa hai bên được điều chỉnh theo Luật Thương mại năm

2005

2 Việc các bên ký kết biên bản thanh lý hợp đồng có làm cho quan hệ hợp đồng chấm dứt hay không?

Trang 5

Theo quy định tại Điều 422 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 thì các trường hợp chấm dứt hợp đồng khi: hợp đồng đã được hoàn thành, theo thỏa thuận của các bên, cá nhên giao kết hợp đồng chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại, hợp đồng bị hủy bỏ, đơn phương chấm dứt hợp đồng, hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn, chấm dứt theo Điều 420 BLDS 2015 Hiện nay, không có quy định cụ thể về việc thanh lý hợp đồng Tuy nhiên, trên thực kế thì các bên thực hiện việc thanh lý hợp đồng khi hai bên cùng đạt được mục đích của hợp đồng, hoặc hợp đồng chấm dứt trên sự thỏa thuận của các bên để ghi nhập việc 2 bên chấm dứt quyền và nghĩa vụ thông qua hợp đồng đã ký kết với nhau

Thông qua thanh lý hợp đồng kinh tế, các bên sẽ xác nhận mức độ thực hiện nội dung công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng của các bên, từ đó xác định nghĩa vụ của các bên sau khi thanh lý hợp đồng Đồng thời, các bên cũng sẽ xác định các khoản thuộc trách nhiệm tài sản, hậu quả pháp lý của các bên trong quan hệ hợp đồng do phải thanh lý trước khi hợp đồng kinh tế hết hiệu lực Kể từ thời gian các bên đã ký vào biên bản thanh lý, quan hệ hợp đồng kinh tế đó coi như đã được chấm dứt Riêng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên được xác nhận trong biên bản thanh lý vẫn có hiệu lực pháp luật cho đến khi các bên hoàn thành nghĩa vụ của mình Có thể nói, việc kí vào biên bản thanh lý hợp đồng sẽ làm chấm dứt quan hệ hợp đồng nhưng quyền và nghĩa vụ tồn đọng của mỗi bên vẫn phải thực hiện theo hợp đồng thanh lý

3 Phân biệt tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự, tranh chấp quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về hợp đồng kinh doanh thương mại.

Tiê

u

chí

Tranh chấp yêu cầu thực hiện

nghĩa vụ dân sự

Tranh chấp quyền sở hữu tài sản

Tranh chấp về hợp đồng kinh doanh thương mại

sở

phá

p lý

Điều 429 BLDS 2015, nghị

quyết 03/2012

BLDS 2015

Điều 319 Luật Thương mại 2005, khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015

Thờ

i

hiệ

u

3 năm kể từ ngày biết quyền,

lợi ích bị xâm phạm đối với

tranh chấp về hợp đồng

2 năm kể từ khi biết quyền, lợi

ích bị xâm phạm đối với những

tranh chấp thuộc khoản 4 Điều

23 nghị quyết 03/2012

Không áp dụng thời hiệu

2 năm kể từ khi biết quyền, lợi ích

bị xâm phạm (trừ một số trường hợp pháp luật có quy định khác)

Ví dụ đối với hợp đồng kinh doanh bảo hiểm là 3 năm kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp (Điều 30 Luật Kinh doanh bảo hiểm)

Trang 6

cứ

phá

t

sinh

Yêu cầu của nguyên đơn, xuất

phát từ hợp đồng, hành vi pháp

lý đơn phương, hay chiếm dụng

tài sản nhưng không có căn cứ

pháp luật, thực hiện công việc

không có ủy quyền giữa các

bên đã được thực hiện

Khi có yêu

nguyên đơn, xuất pháp từ hợp đồng, thỏa thuận hay hành vi pháp

phương

Khi có yêu cầu của nguyên đơn xuất phát từ mâu thuẫn giữa các bên trong hợp đồng về xác lập, thay đổi, thực hiện, kết thúc hợp đồng

Ch

thể

Cá nhân, tổ chức Cá nhân, tổ

chức

Các bên là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh

Hìn

h

thứ

c

Tranh chấp chủ yếu là yêu cầu

tòa án xác định nghĩa vụ dân sự

mà các bên phải thực hiện theo

đúng thỏa thuận và quy định

của pháp luật

(1) nghĩa vụ dân sự riêng rẽ

(2) nghĩa vụ dân sự liên đới

(1) tranh chấp

chiếm hữu tài sản

(2) tranh chấp

về quyền định đoạt tài sản (3) tranh chấp

về quyền sử dụng tài sản (4) tranh chấp

về quyền bề mặt

(5) tranh chấp

hưởng dụng

(1) tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

(2) tranh chấp hợp đồng cung cứng dịch vụ

(3) tranh chấp hợp đồng thuê, cho thê, thuê mua

(4) tranh chấp hợp đồng bảo hiểm (5) một số loại hợp đồng khác

4 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên?

Quan hệ tranh chấp giữa các bên là tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại theo khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015

Theo bản án thì đối tượng của hợp đồng là cây ăn trái, cây kiểng Phát sinh giữa hai công ty

có đăng ký kinh doanh và hoạt động nhằm mục đích sinh lợi

5 Trách nhiệm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc về chủ thể nào?

Trong tố tụng dân sự, việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung, vì việc này nhằm điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự Để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, cần

Trang 7

phải dựa vào yêu cầu của đương sự, quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội mà đương sự tham gia Trên thực tế, do quan hệ pháp luật đa dạng, tồn tại đan xen nên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp dựa vào yêu cầu của người khởi kiện là rất khó khăn Do

đó, trách nhiệm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ thuộc về Tòa án

6 Trường hợp quan hệ pháp luật tranh chấp mà người khởi kiện xác định khác với quan hệ pháp luật tranh chấp do Tòa án xác định thì Tòa án sẽ giải quyết như thế nào?

Trường hợp quan hệ pháp luật tranh chấp mà người khởi kiện xác định khác với quan hệ pháp luật tranh chấp do Tòa án xác định thì Tòa án sẽ giải quyết bằng cách xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp này

7 Khi thời hiệu khởi kiện đã hết Tòa án có được quyền đình chỉ giải quyết vụ án không? Tại sao?

Khi thời hiệu khởi kiện đã hết, Tòa án có được quyền đình chỉ giải quyết vụ án phụ thuộc vào yêu cầu áp dụng thời hiệu của đương sự Cụ thể như sau:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015 thì Tòa án chỉ được áp dụng quy định về hiệu

lực hiệu theo yêu cầu của một hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc

- Căn cứ vào điểm e, khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015 thì Tòa án được quyền đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm

ra bản án, quyết định giải quyết án và thời hiệu khởi kiện đã hết

8 Việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có ảnh hưởng đến việc xác định thời hiệu khởi kiện hay không?

Việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có thể ảnh hưởng đến việc xác định thời hiệu khởi kiện Theo quan điểm của nhóm 6, sự thay đổi yêu cầu khởi kiện là việc nguyên đơn đưa ra một yêu cầu khác với yêu cầu ban đầu của họ để Tòa án xem xét giải quyết trong cùng một vụ án, điều này sẽ làm thay đổi quan hệ pháp luật tranh chấp Bên cạnh đó, việc bổ sung yêu cầu khởi kiện cũng có thể làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp khác trong phạm vi khởi kiện ban đầu

Như vậy, với việc phát sinh các quan hệ tranh chấp mới, việc xác định thời hiệu khởi kiện của Tòa án sẽ bị thay đổi theo tình hình thực tế vụ án

Ngày đăng: 06/09/2022, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w