Vì sao?...17 Câu 4: Trong hai vụ việc trên, đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng các quy định của chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?...17 Câu 5: S
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG CAO
BÀI TẬP THẢO LUẬN THÁNG LẦN II
Bộ môn: Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Giảng viên:
THỰC HIỆN
TP.HỒ CHÍ MINH, THÁNG 11 NĂM 2022
Trang 2VẤN ĐỀ 2: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI PHÁT SINH TRONG TAI NẠN GIAO THÔNG
14
Quyết định số 23/2005/GĐT-DS ngày 02/02/2005 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao .14 Quyết định số 30/2006/HS-GĐT ngày 26/9/2006 của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao Tòa hình sự về vụ án: “Nguyễn Thị Tuyết Trinh phạm tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ.” 15 Câu 1: Thay đổi về các quy định liên quan tới Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao
độ gây ra giữa BLDS 2005 và BLDS 2015? 16 Câu 2: Xe máy, ô tô có là nguồn nguy hiểm cao độ không? Vì sao? 16
Trang 3Câu 3: Trong hai vụ việc trên, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay do hành vi
của con người gây ra? Vì sao? 17
Câu 4: Trong hai vụ việc trên, đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng các quy định của chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra? 17
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án vận dụng các quy định của chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 18
Câu 6: Trong Quyết định số 30, đoạn nào cho thấy Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại? 18
Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại 19
Câu 8: Trên cơ sở Điều 604 BLDS 2005, Điều 584 BLDS 2015, Tòa án có thể buộc Giang bồi thường thiệt hại không? Vì sao? 19
Câu 9: Theo Nghị quyết số 03, chi phí xây mộ và chụp ảnh có được bồi thường không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời 20
Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa phúc thẩm và của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến chi phí xây mộ và chụp ảnh 20
Câu 11: Trong Quyết định số 23, đoạn nào cho thấy Bình là người bị thiệt hại? 21
Câu 12: Ông Khánh có trực tiếp gây ra thiệt hại cho anh Bình không? Vì sao? 21
Câu 13: Tòa án buộc ông Khánh bồi thường cho anh Bình với tư cách nào? Vì sao? 21
Câu 14: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án buộc ông Khánh bồi thường cho anh Bình 21
Câu 15: Bình có lỗi trong việc để thiệt hại phát sinh không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? 22
Câu 16: Đoạn nào cho thấy, Tòa giám đốc thẩm không theo hướng buộc ông Dũng và ông Khánh bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Bình? 23
Câu 17: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm 23
Câu 18: BLDS và Nghị quyết số 03 có quy định cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại không? 24
Câu 19: Tòa giám đốc thẩm có theo hướng cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời 24
Câu 20: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa giám đốc thẩm theo hướng cho phép chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ được yêu cầu người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại bồi hoàn khoản tiền mà chủ sở hữu bồi thường cho người bị thiệt hại 25
VẤN ĐỀ 3: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HAY NGOÀI HỢP ĐỒNG 26
Quyết định số 451/2011/DS-GĐT ngày 20/6/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao .26
Bản án số 750/2008/DSPT ngày 17/07/2008 của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh 27
Trang 4Câu 1: Những điểm khác nhau cơ bản giữa bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 28 Câu 2: Trong hai vụ việc trên, có tồn tại quan hệ hợp đồng giữa bên bị thiệt hại và bên bị yêu cầu bồi thường thiệt hại không? Vì sao? 28 Câu 3: Trong hai vụ việc trên, Tòa án đã theo hướng quan hệ giữa các bên là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay trong hợp đồng? Vì sao? 29 Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa án trong hai vụ việc trên về vấn đề xác định bản chất pháp lý (trong hay ngoài hợp đồng) quan hệ bồi thường giữa các bên 29
VẤN ĐỀ 4: BUỘC TIẾP TỤC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ 31
Quyết định số 36/2013/KDTM-GĐT ngày 17/9/2013 của Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tối cao 31 Bản án số 418/2017/DS-ST ngày 29/9/2017 của Toà án nhân dân quận 10, Tp Hồ Chí Minh .31 Câu 1: Đối với vụ việc trong Quyết định số 36, đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đã buộc các bên tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng? 33 Câu 2: Hướng của Tòa án địa phương có được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 33 Câu 3: Vì sao Tòa án nhân dân tối cao theo hướng nêu trên? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? 33 Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao 34 Câu 5: Đối với vụ việc trong Bản án số 418, Công ty K có nghĩa vụ làm thủ tục để cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà chung cư không? Vì sao? 35 Câu 6: Nghĩa vụ làm thủ tục trên đã bị vi phạm chưa và Tòa án có buộc Công ty K tiếp tục làm thủ tục để cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà chung cư không? Vì sao? 36 Câu 7: Trên cơ sở văn bản, có quy định nào cho phép Tòa án buộc Công ty K tiếp tục làm thủ tục để cấp Giấy chứng nhận cho người mua nhà chung cư không? Nêu rõ cơ sở văn bản khi trả lời 36 Câu 8: Cho biết những cơ chế để việc buộc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hiệu quả trong thực tế 37
VẤN ĐỀ 5: TÌM KIẾM TÀI LIỆU 38
Yêu cầu 1: Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành Luật từ đầu năm 2019 đến nay (ít nhất 20 bài) Khi liệt kê, yêu cầu viết theo trật tự theo tên tác giả và việc liệt kê phải thỏa mãn những thông tin theo trật tự như đã yêu trong buổi thảo luận thứ 3 38 Yêu cầu 2: Cho biết làm thế nào để biết được những bài viết trên 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 6VẤN ĐỀ 1: XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI VẬT CHẤT ĐƯỢC BỒI THƯỜNG
Bị cáo: Lay Bun Thy
Bị hại: Được và Quang
Bị cáo Lay Bun Thy khoảng 18 giờ ngày 16/7/2016 có mâu thuẫn với Quang vàĐược tại quán “Hương Xưa” đã dùng súng bắn Được và Quang dẫn đến hậu quả
là Được thiệt mạng và Quang bị thương Lay Bun Thy là người trực tiếp xâmphạm đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại thì bị cáo phải có trách nhiệm bồithường Cho nên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân tỉnh An Giangbuộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho gia đình người bị hại Được bao gồm:chi phí mai táng, tiền vé máy bay và tiền bù đắp tổn thất về tinh thần Ngoài ra,còn cấp dưỡng nuôi cháu Lê Thành Đạt con của Được đến lúc trưởng thành
Bản án số 26/2017/HSST ngày 29/5/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Người bị hại: Anh Chu Văn D, sinh năm 1977 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Chu Đăng Đ, sinh năm 1955 (là
bố người bị hại D)
Trang 7Bị cáo: Nguyễn Văn A (tên gọi khác: A cong), sinh ngày 11/01/1997.
Do có mâu thuẫn nên Nguyễn Văn A đã đánh anh Chu Văn D và khiến anh tửvong Tranh chấp: Bồi thường thiệt hại khi tính mạng bị xâm phạm
Tòa tuyên Nguyễn Văn A phạm tội “cố ý gây thương tích”, tổng hợp hình phạt là
17 năm tù giam Buộc bị cáo phải bồi thường chi phí mai táng đối với người bịhại bồi thường tổn thất về tinh thần cho gia đình người bị hại Đồng thời thựchiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của người bị hại đến khi đủ 18 tuổi
Câu 1: Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về thiệt hại vật chất khi tính mạng bị xâm phạm.
Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về thiệt hại vật chất khi tínhmạng bị xâm phạm là:
Thứ nhất, xét về mặt chủ thể, người bồi thường ở BLDS 2005 là “người xâmphạm” đã được thay bằng “người chịu trách nhiệm bồi thường” Sự thay đổi này
đã mở rộng các đối tượng phải bồi thường, bao hàm cả các đối tượng không phải
là người xâm hại nhưng lại là đối tượng phải chịu trách nhiệm bồi thường trênthực tế
Thứ hai, so với BLDS 2005 thì ở BLDS 2015, mức phạt bồi thường thiệt hại ởcác trường hợp đều có chiều hướng tăng lên nhằm nâng cao sự mạnh mẽ và tínhrăn đe của pháp luật
Bộ luật dân sự 2005 Bộ luật dân sự 2015
Khoản 2 Điều 609: Thiệt hại về sức
khỏe bị xâm phạm:
Khoản 2 Điều 590: Thiệt hại về sứckhỏe bị xâm phạm:
Trang 8“2 Người xâm phạm sức khỏe của
người khác phải bồi thường thiệt hại
theo quy định tại khoản 1 Điều này và
một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất
về tinh thần mà người đó gánh chịu
Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh
thần do các bên thỏa thuận; nếu thỏa
thuận không được thì mức tối đa không
quá ba mươi tháng lương tối thiểu do
Nhà nước quy định.”
“2 Người chịu trách nhiệm bồi thườngtrong trường hợp sức khỏe của ngườikhác bị xâm phạm phải bồi thườngthiệt hại theo quy định tại khoản 1Điều này và một khoản tiền khác để bùđắp tổn thất về tinh thần mà người đógánh chịu Mức bồi thường bù đắp tổnthất về tinh thần do các bên thỏa thuận;nếu không thỏa thuận được thì mức tối
đa cho một người có sức khỏe bị xâmphạm không quá năm mươi lần mứclương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Câu 2: Nghị quyết số 03 của HĐTP có quy định chi phí đi lại dự lễ tang được bồi thường không? Vì sao?
Chi phí đi lại dự tang lễ tang chính là chi phí cúng tế thì theo Nghị quyết số 03của Hội đồng Thẩm phán quy định chi phí đi lại dự lễ tang không được bồithường Cụ thể tại khoản 2.2 Điều 2 trong phần xác định thiệt có quy định: “Chiphí hợp lý cho biệc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụngcần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chiphí khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung.Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ,bốc mộ, ”
Trang 9Câu 3: Trong thực tiễn xét xử trước đây, chi phí đi lại dự lễ mai táng có được bồi thường không? Nếu có, nêu vắn tắt thực tiễn xét xử đó?
Trong thực tiễn xét xử trước đây, chi phí dự lễ mai táng được bồi thường Quyếtđịnh số 20/HĐTP-HS ngày 24/12/2002 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao tómtắt như sau: “Ngày 28/11/1998, Trần Văn Bích điều khiển xe máy gây tai nạn chochị Hạnh và hậu quả là chị Hạnh tử vong Gia đình nạn nhân buộc bị cáo bồithường các khoản tiền hợp lý trong mai táng, trong đó gồm có: tiền chi phí máybay cho 10 người thân của nạn nhân…Theo quyết định của Tòa sơ thẩm và phúcthẩm thì chấp nhận bồi thường trên nhưng có sự khác nhau về số tiền bồi thường.Nhưng theo GĐT thì cần xem xét số người nói trên có quan hệ thân thích gần gũivới nạn nhân như cha mẹ, vợ chồng, anh, chị, em ruột, con đẻ đi bằng máy bay
để kịp dự tang lễ
Câu 4: Đoạn nào trong bản án của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang cho thấy Tòa án đã chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí vé máy bay? Đây có là chi phí đi lại dự lễ mai táng không?
Tại đoạn ra quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang: “Buộc bị cáo LayBun Thy có trách nhiệm bồi thường tiền chi phí mai táng, tiền tổn thất tinh thầncho người bị hại Lê Văn Được tổng cộng 242.400.000 đồng, có khấu trừ150.000.000 đồng gia đình bị cáo đã nộp tại quá trình điều tra, số tiền còn lại bịcáo phải nộp là 92.400.000 đồng”
Số tiền buộc bị cáo phải bồi thường là 242.400.000 đồng bao gồm cả chi phí maitáng 110.400.000 đồng, tiền vé máy bay từ Singapore về Việt Nam là 12.000.000đồng và cả tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 120.000.000 đồng Qua số tiền Tòa
án nhân dân tỉnh An Giang buộc bị cáo nộp có bao gồm cả tiền vé máy bay đó làchi phí đi lại dự lễ mai táng
Trang 10Câu 5: Trong vụ việc trên, nếu chi phí máy bay trên là chi phí đi lại dự lễ mai táng, việc cho bồi thường có thuyết phục không? Vì sao?
Trong vụ việc trên, nếu chi phí máy bay trên là chi phí đi lại dự lễ mai táng, việccho bồi thường là thuyết phục vì căn cứ theo khoản 1 Điều 591 BLDS 2015 quyđịnh về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm:
1 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luậtnày;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấpdưỡng
d) Thiệt hại khác do luật quy định
Ở đây chi phí máy bay là chi phí hợp lý cho việc mai táng, đây là chi phí đi lạicho người thân ở xa của người bị hại từ Singapore về Việt Nam dự tang lễ Vì từSingapore về Việt Nam chỉ có di chuyển bằng máy bay mới tham dự lịp tang lễcủa bị hại Được nên quyết định trên của Tòa là hợp lý và thuyết phục
Câu 6: Nếu chi phí trên là chi phí mà cháu nạn nhân bỏ ra để dự lễ tang thì chi phí đó có được bồi thường không? Vì sao?
Nếu chi phí cháu nạn nhân để dự tang lễ thì được bồi thường nhưng phải thỏamãn các điều kiện sau: “Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không cókhả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người kháccấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bịthiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng” theo nghị định số 03/2006/NQ-HĐTP
Trang 11Cụ thể, ví dụ Quyết định số 20/HĐTP-HS ngày 24/12/2002 của HĐTP Tòa ánnhân dân tối cao tóm tắt như sau: “Ngày 28/11/1998, Trần Văn Bích điều khiển
xe máy gây tai nạn cho chị Hạnh và hậu quả là chị Hạnh tử vong Gia đình nạnnhân buộc bị cáo bồi thường các khoản tiền hợp lý trong mai táng, trong đó cótiền chi phí máy bay cho 10 người thân của nạn nhân…” Theo Quyết định củaTòa án sơ thẩm và phúc thẩm thì chấp nhận bồi thường trên nhưng có sự khácnhau về số tiền bồi thường, trong vụ án ta có thể thấy hai tòa xác định chi phítheo ước tính chứ không nêu cụ thể rõ ràng những người nào là người được bồithường Tuy nhiên hướng giải quyết này không được Tòa giám đốc thẩm chấpnhận Theo Tòa giám đốc thẩm “Chi phí dự lễ tang cần được xem xét nhưng chỉchấp nhận đối với những người có quan hệ thân thích gần gũi với nạn nhân.”
Câu 7: Trong hai vụ việc trên, Tòa án đã buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho ai và không buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho ai? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trong bản án 26/2017/HSST ngày 29/05/2017 về tội cố ý gây thương tích
Tòa án đã buộc người gây thiệt hại bồi thường tiền cấp dưỡng cho cháu Chu Đức
P (con của nạn nhân): “Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải thực hiện nghĩa vụ cấpdưỡng cho cháu Chu Đức P, sinh ngày 30/12/1999 là con chưa thành niên củangười bị hại Chu Văn D số tiền 605.000đ/01 tháng Thời điểm cấp dưỡng kể từtháng 10 năm 2016 cho đến khi Chu Đức P đủ 18 tuổi.”
Người không được bồi thường tiền cấp dưỡng là ông Chu Đăng Đ (bố nạn nhân)
và bà Trần Thị E (mẹ nạn nhân) “Đối với khoản tiền gia đình người bị hại ChuVăn D yêu cầu là tiền nuôi dưỡng bố mẹ người bị hại về già do pháp luật khôngquy định nên không được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.”
Trong bản án số 26/2017/HSST ngày 07/03/2017 Tòa án đã buộc người gây thiệthại bồi thường tiền cấp dưỡng cho cháu Lê Thành Đạt (con của nạn nhân) cụ thể
Trang 12“Ngoài ra, còn cấp dưỡng nuôi cháu Lê Thành Đạt, sinh ngày 24/01/2016 (conanh Được) đến lúc trưởng thành (18 tuổi), mức cấp dưỡng bằng ½ tháng lương
cơ bản do Nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án.”
Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án liên quan đến người được bồi thường tiền cấp dưỡng.
Trong BLDS và Nghị định số 03/2016/NQ-HĐTP đều chưa cụ thể rõ số tiềnngười gây thiệt hại bồi thường cấp dưỡng nên trong trường hợp này, Tòa án đãquyết định số tiền cấp dưỡng “tương đương ½ mức lương cơ sở do pháp luật quyđịnh” là đúng luật
Mặc dù, Tòa án đã xem xét đến tình trạng thu nhập của người phải bồi thườngthiệt hại, nhưng theo quan điểm của nhóm thì so với thời điểm hiện tại số tiềnđược cấp dưỡng là khá ít, khó có thể đảm bảo chất lượng cuộc sống của ngườiđược cấp dưỡng Đồng thời, việc gây ra thiệt hại đến đến tính mạng đã ảnhhưởng rất nhiều đến cuộc sống của gia đình họ về mặt lâu dài, mất đi một nguồnthu nhập chính vì thế cần có những khoản tiền phù hợp hơn, đúng thời điểm củahiện tại để đảm bảo cuộc sống của người được cấp dưỡng ổn định Bởi lẽ, ngườicòn sống sẽ không bao giờ có cuộc sống như trước đây của họ dù cho có đượcbồi thường đi chăng nữa thì người chết cũng không thể sống lại với hiện trạngban đầu được
Câu 9: Trong bản án số 26, Toà án theo hướng tiền cấp dưỡng được thực hiện một lần hay nhiều lần?
Trong bản án số 26/2017/HSST ngày 29/05/2017 về tội cố ý gây thương tích,Tòa án theo hướng tiền cấp dưỡng được thực hiện nhiều lần Cụ thể “Gia đìnhngười bị hại yêu cầu cấp dưỡng một lần, bị cáo không đồng ý và có đề nghị giảiquyết theo quy định của pháp luật Do vậy Hội đồng xét xử cần buộc bị cáo phải
Trang 13cấp dưỡng hàng tháng là phù hợp quy định của pháp luật.” Và Quyết định: “Buộc
bị cáo Nguyễn Văn A phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Chu Đức P,sinh ngày 30/12/1999 là con chưa thành niên của người bị hại Chu Văn D số tiền605.000đ/01 tháng.”
Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết nêu trên của Toà án liên quan đến cách thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Trong bản án số 26/2017/HSST ngày 29/05/2017 về tội cố ý gây thương tích,Tòa án quyết định thời gian cấp dưỡng cho con của nạn nhân (cháu Chu Đức P)
là đến khi cháu P đủ 18 tuổi, điều này phù hợp với luật định (điểm b Khoản 2Điều 593 BLDS 2015) và thời điểm bắt đầu là thời điểm tính mạng bị xâm phạmcũng phù hợp với luật định (Nghị định số 03/2006/NQ-HĐTP) “Thời điểm cấpdưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.” Mức tiền cấpdưỡng là 605.000đ/01 tháng và việc cấp dưỡng được thực hiện nhiều lần
Theo quan điểm của nhóm em thì hướng giải quyết của Tòa án về thời điểm thựchiện nghĩa vụ cấp dưỡng là hợp lý vì việc cấp dưỡng nhằm thay thế người chếtthực hiện nghĩa vụ của mình nên việc xác định ngày phát sinh trách nhiệm cấpdưỡng là ngày người bị hại chết là thỏa đáng Tiền cấp dưỡng là tiền phục vụ chođời sống của người được cấp dưỡng, khoản tiền này phải trải dài nên việc cấpdưỡng nhiều lần là hợp lý nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống của người đượccấp dưỡng
Trang 14VẤN ĐỀ 2: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI PHÁT SINH TRONG TAI NẠN
Tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều xác định cả anh Bình (người có lỗi chính) ôngDũng và anh Khoa cùng gây ra tai nạn và thiệt hại cho anh Bình Tòa phúc thẩmthuộc ông Dũng và anh Khánh (chủ ô tô) bồi thường toàn bộ
Xét thấy, anh Khoa cũng có một phần lỗi; đồng thời Tòa không dành cho anhKhánh quyền khởi kiện yêu cầu anh Khoa bồi thường số tiền mà anh Khánh bồithường cho anh Bình do lỗi của anh Khoa là chưa hợp lý Quyết định hủy bán ánphúc thẩm; xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật
Trang 15Quyết định số 30/2006/HS-GĐT ngày 26/9/2006 của Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao Tòa hình sự về vụ án: “Nguyễn Thị Tuyết Trinh phạm tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ.”
Nguyễn Thị Tuyết Trinh nhờ Nguyễn Văn Giang chở bà Phê và bà Hi, khi đang
di chuyển thì đâm phải người bị hại là bà Nguyễn Thị Giỏi khiến bà tử vong(người đại diện hợp pháp là Phùng Thị Vời) Tại bản án hình sự sơ thẩm xử phạtNguyễn Thị Tuyết Trinh 18 tháng tù về tội “giao cho người không đủ điều kiệnđiều khiển các phương tiện giao thông đường bộ” nhưng được hưởng án treo;buộc bà Trinh, ông Dương Văn Mướt và Nguyễn Văn Giang (do cha, mẹ là ôngNguyễn Văn Trường và bà Lê Thị Lài đại diện) liên đới bồi thường 7.857.000đồng cho bà Phùng Thị Vời
Tại Bản án hình sự phúc thẩm đã giữ nguyên tội danh và hình phạt đối với bàTrinh, về trách nhiệm dân sự buộc bà Trinh, ông Dương Văn Mướt và NguyễnVăn Giang ( do cha, mẹ là ông Nguyễn Văn Trường và bà Lê Thị Lài đại diện)liên đới bồi thường 25.357.000 đồng cho bà Phùng Thị Vời; buộc ông NguyễnVăn Trường nộp 50.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm
Tòa giám đốc thẩm quyết định: Hủy Bản án hình sự phúc thẩm về quyết định
“Buộc Nguyễn Thị Tuyết Trinh, Dương Văn Mướt và Nguyễn Văn Giang docha, mẹ là ông Nguyễn Văn trường và bà Lê Thị Lài đại diện phải có trách nhiệmliên đới bồi thường thiệt hại cho nạn nhân do bà Phùng Thị Vời là con ruột củanạn nhân nhận số tiền: 25.357.000 đồng” và “Ông Nguyễn Văn Trường phải chịu50.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.” Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dântỉnh An Giang để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật Cácquyết định khác của Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên tiếp tục có hiệu lực phápluật
Trang 16Câu 1: Thay đổi về các quy định liên quan tới Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra giữa BLDS 2005 và BLDS 2015?
Giữa BLDS 2005 và BLDS 2015 có hai thay đổi khác biệt:
Tại khoản 3 và khoản 4 Điều 623 BLDS 2005 có liệt kê hai chủ thể phải chịutrách nhiệm bồi thường thiệt hại là "chủ sở hữu" và "người được chủ sở hữu giaochiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ" Còn tại khoản 3 và khoản 4 Điều
601 BLDS 2015 đã thay thế chủ thể “người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sửdụng nguồn nguy hiểm cao độ" thành "người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguyhiểm cao độ" Chúng ta có thể thấy, BLDS 2015 đã bao quát hết được nhữngtrường hợp bồi thường, mở rộng chủ thể liên đới chịu trách nhiệm bồi thường,bảo vệ quyền và lợi ích của người bị thiệt hại Việc sửa đổi này là một bước luậthóa hướng giải quyết của thực tiễn xét xử
Tại khoản 4 Điều 623 BLDS 2005 và khoản 4 Điều 601 BLDS 2015 có sự khácnhau ở từ "cũng" (quy định ở BLDS 2015 đã bỏ đi từ "cũng") Sự thay đổi này làhợp lý, vì không cần thiết chứng minh chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng
"cũng" có lỗi mà chỉ cần chứng minh họ có lỗi là đủ; bên cạnh đó, hướng thayđổi trên còn phù hợp với thực tiễn xét xử
Câu 2: Xe máy, ô tô có là nguồn nguy hiểm cao độ không? Vì sao?
Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể về khái niệm củanguồn nguy hiểm cao độ Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 601 BLDS 2015 quyđịnh: “Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới,
hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chấtcháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác dopháp luật quy định” Để xác định rõ hơn về phương tiện giao thông vận tải cơgiới, chúng ta cần liên hệ đến khoản 18 Điều 3 Luật Giao thông đường bộ 2008:
“Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô
Trang 17tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô
tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xetương tự” Từ đây, chúng ta có thể thấy xe máy, ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ
Câu 3: Trong hai vụ việc trên, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay do hành vi của con người gây ra? Vì sao?
Ở Quyết định số 23, thiệt hại là do hành vi của con người gây ra Đây là hành vianh Bình điều khiển xe đạp đi giữa hai làn đường dành cho xe cơ giới Ông Dũngđiều khiển xe máy nhưng không làm chủ tốc độ và tay lái, không đảm bảokhoảng cách an toàn khi tránh vượt, nên đã để xe máy va quệt với xe đạp của anhBình Còn anh Khoa điều khiển ô tô tuy đã phát hiện xe đạp của anh Bình, sau đó
là xe của ông Dũng, nhưng do không làm chủ tốc độ, tay lái nên đã để xe ôtôchèn qua xe đạp của anh Bình
Ở Quyết định số 30, thiệt hại là do hành vi của con người gây ra Đây là hành viGiang điều khiển xe mô tô gây tai nạn cho bà Giỏi khi bà đang đi bộ sang đường,tai nạn này khiến bà bị chấn thương sọ não và chết trên đường đưa đi cấp cứu
Câu 4: Trong hai vụ việc trên, đoạn nào của bản án cho thấy Tòa án đã vận dụng các quy định của chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra?
Đối với Quyết định số 23: “Mặt khác, như đã phân tích trên trong vụ án này anhKhoa cũng có một phần lỗi Tòa án cấp phúc thẩm buộc chủ phương tiện là ôngKhánh bồi thường cho anh Bình là đúng, nhưng lại áp dụng khoản 3 Điều 627 làkhông chính xác, mà phải áp dụng khoản 2 Điều 627 BLDS mới đúng”
Đối với Quyết định số 30: “Theo quy định tại Điều 623 BLDS 2005 (Điều 627BLDS 1995) về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và hướng
Trang 18dẫn tại điểm b khoản 2 mục III Nghị quyết số 03/2006/NQ - HĐTP ngày08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì “Trong trườnghợp chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ giao cho người khác chiếm hữu, sửdụng nguồn nguy hiểm cao độ không đúng quy định của pháp luật thì chủ sở hữuphải bồi thường thiệt hại”.
Câu 5: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án vận dụng các quy định của chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Theo nhóm chúng tôi, việc Toà án vận dụng các quy định của chế định bồithường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là hợp lý nhưng vẫn chưathuyết phục Bởi vì các loại thiết bị, máy móc, phương tiện, hệ thống điện, dâychuyền sản xuất trong nhà máy… luôn tiềm ẩn khả năng gây thiệt hại cho conngười, nhưng con người vẫn luôn sử dụng và làm chủ chúng để tạo ra phục vụcho các nhu cầu công việc cũng như nhu cầu hằng ngày trong cuộc sống Bêncạnh đó, bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là loại tráchnhiệm đặc biệt, vì thiệt hại xảy ra không phải do hành vi của con người mà dohoạt động luôn tiềm ẩn nguy hiểm của sự vật gây ra Theo Điều 601 BLDS 2015,người đang chiếm hữu các nguồn gây nguy hiểm cao độ phải bồi thường chongười bị thiệt hại dù cho người đang chiếm hữu không có lỗi, trừ trường hợp xảy
ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại
Câu 6: Trong Quyết định số 30, đoạn nào cho thấy Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại?
Trong Quyết định số 30, đoạn cho thấy Toà án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hạilà: “Trinh giao nguồn nguy hiểm cao độ (xe mô tô) cho Giang sử dụng trái phápluật, do đó Trinh là người có trách nhiệm bồi thường khi thiệt hại xảy ra”
Trang 19Câu 7: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại.
Theo nhóm chúng tôi, việc Toà án buộc bà Trinh bồi thường thiệt hại là chưa hợp
lý Vì căn cứ theo khoản 2 Điều 586 BLDS 2015: “Người từ đủ mười lăm tuổiđến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản củamình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần cònthiếu bằng tài sản của mình”, nhưng trong trường hợp này, Giang gây thiệt hạithì phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ thì bà Trinh mới bồithường phần còn thiếu Tuy nhiên, theo khoản 4 Điều 601 BLDS 2015: “Khi chủ
sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc đểnguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đớibồi thường thiệt hại”, ở đây bà Trinh biết Giang không đủ điều kiện để sử dụngphương tiện giao thông nhưng vẫn giao Giang điều khiển Vì thế bà Trinh vàGiang phải liên đới bồi thường thiệt hại
Câu 8: Trên cơ sở Điều 604 BLDS 2005, Điều 584 BLDS 2015, Tòa án có thể buộc Giang bồi thường thiệt hại không? Vì sao?
Trên cơ sở Điều 604 BLDS 2005 và Điều 584 BLDS 2015, Tòa án có thể buộcGiang bồi thường thiệt hại, vì hành vi của Giang đủ các yếu tố phát sinh tráchnhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Thiệt hại xảy ra: bà Giỏi bị chấn thương sọ não và chết trên đường đưa đicấp cứu
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế xảyra: Giang điều khiển xe mô tô khi chưa đủ tuổi, đụng vào bà Giỏi khiến bà
bị chấn thương sọ não và tử vong
- Lỗi của người gây ra thiệt hại: lái xe chở quá số người quy định, điềukhiển phương tiện giao thông khi chưa đủ tuổi, đâm xe vào người điđường
Trang 20Câu 9: Theo Nghị quyết số 03, chi phí xây mộ và chụp ảnh có được bồi thường không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo khoản 2 Mục II Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP thì chi phí xây mộ và chụpảnh không được bồi thường, đồng thời cũng được ghi nhận tại khoản 1 Điều 591BLDS 2015 (hay khoản 1 Điều 610 BLDS 2005):
“1 Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luậtnày;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;d) Thiệt hại khác do luật quy định”
Câu 10: Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa phúc thẩm và của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến chi phí xây mộ và chụp ảnh.
Tòa phúc thẩm và của Tòa giám đốc thẩm xét xử theo hướng không bồi thườngchi phí xây mộ và chụp ảnh là hoàn toàn hợp lý Việc phải bồi thường chi phímai táng được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 591 BLDS 2015 Ở Điểm 2.2khoản 2 Mục II của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP cũng quy định rõ loại chi phímai táng nào mới ổn Bên cạnh đó, xét trong thực tiễn cuộc sống, chi phí choviệc xây mộ và chụp ảnh là tuỳ thuộc vào điều kiện của từng hộ gia đình, vì thếnếu bắt buộc phải bồi thường loại chi phí đó, có thể sẽ phát sinh các vấn đề khác
do tham lam số tiền bồi thường gây ra Vì lẽ đó, Tòa phúc thẩm và Tòa giám đốcthẩm không đồng ý với việc bồi thường chi phí xây mộ và chụp ảnh là hoàn toànhợp lý
Trang 21Cđu 11: Trong Quyết định số 23, đoạn năo cho thấy Bình lă người bị thiệt hại?
Trong Quyết định số 23, đoạn cho thấy Bình lă người bị thiệt hại lă: “Vì vậy, Tòa
ân cấp sơ thẩm, phúc thẩm xâc định trong trường hợp năy cả anh Bình, ông Dũng
vă anh Khoa cùng có lỗi gđy ra vụ tai nạn trín vă gđy thiệt hại cho anh Bình(trong đó anh Bình có lỗi chính) lă có cơ sở đúng phâp luật”
Cđu 12: Ông Khânh có trực tiếp gđy ra thiệt hại cho anh Bình không? Vì sao?
Ông Khânh không trực tiếp gđy ra thiệt hại cho anh Bình Vì người điều khiểnôtô gđy tai nạn lă anh Khoa Ông Khânh chỉ lă chủ sở hữu của phương tiện đó vẵng đê giao phương tiện đó cho anh Khoa sử dụng, ông không trực tiếp cầm lâiphương tiện đó để gđy ra thiệt hại cho anh Bình
Cđu 13: Tòa ân buộc ông Khânh bồi thường cho anh Bình với tư câch năo?
Cđu 14: Suy nghĩ của anh/chị về việc Tòa ân buộc ông Khânh bồi thường cho anh Bình.
Theo nhóm chúng tôi, việc Toă ân buộc ông Khânh bồi thường cho anh Bình lăhợp lý, nhưng chưa triệt để Vì trong Quyết định số 23, Toă dđn sự không níu rõ